1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc của ngành công nghiệp thuộc da việt nam

134 268 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 642,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu đề ra các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm của da thuộc là thực hiện định hướng phát triển ngành công nghiệp phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.. X

Trang 1

Luận văn thạc sỹ khoa học

Một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc của ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam

Ngành : Quản trị kinh doanh Lớp : K4B Cao học QTKD, khóa 2004-2006

(143 - Nguyễn Ngọc Vũ - Hà Nội)

Học viên : vũ NGọC GIANG

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYễN VĂN THANH

Hà nội, 9/2006

Trang 2

PHầN Mở ĐầU

1 Tính cấp tiết của việc thực hiện đề tài……… 1

2 Mục đích của đề tài……… 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 2

4 Phương pháp nghiên cứu……… 2

5 Những đóng góp của luận văn……… 3

6 Kết cấu của luận văn……… 3

Chương I: cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài về chất lượng sản phẩm 1.1 Cơ sở lý luận về sản phẩm, công nghệ và chất lượng ……… 4

1.1.1 Sản phẩm……… 4

1.1.1.1 Khái niệm sản phẩm……… 4

1.1.1.2 Phân loại sản phẩm……… 5

1.1.1.3 Cấp sản phẩm……… 5

1.1.2 Chất lượng sản phẩm……… 6

1.1.2.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm……… 6

1.1.2.2 Định nghĩa chất lượng sản phẩm……… 6

1.1.2.3 Các thuộc tính chất lượng sản phẩm……… 7

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm……… 8

1.1.4 Một số khái niệm cơ bản về công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần của công nghệ………

10 1.1.4.1 Định nghĩa công nghệ……… 10

1.1.4.2 Các bộ phận cấu thành một công nghệ……… 11

1.1.4.3 Đánh giá trình độ công nghệ……… 13

Trang 3

1.2.3 Một số nét về ngành công nghiệp thuộc Da và tiêu thụ sản

phẩm da thuộc trên thế giới……… 17

1.2.4 Những thách thức sắp tới của ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam……… 20

1.2.5 Chiến lược ngành công nghiệp thuộc Da nước ta đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020……… 21

1.2.6 Khái quát về công nghệ thuộc da……… 22

1.2.7 Các sản phẩm da thuộc……… 25

1.2.8 Chất lượng sản phẩm da thuộc……… 26

1.2.9 Nhận xét về chương I và nhiệm vụ của chương II………… 28

Chương II: Thực trạng ngành công nghiệp thuộc Da Việt nam 2.1 Vị trí của ngành công nghiệp thuộc Da……… 30

2.1.1 Vai trò, vị trí của ngành công nghiệp sản xuất da thuộc và các sản phẩm từ da……… 30

2.1.2 Khái quát quá trình phát triển của ngành công nghiệp thuộc Da nước ta……… 31

2.2 Thực trạng ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam……… 33

2.2.1 Về cơ cấu sở hữu, quy mô và năng lực sản xuất……… 33

2.2.2 Một số nhận xét chung về thực trạng ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam……… 35

2.2.2.1 Theo vị trí địa lý……… 35

2.2.2.2 Theo quy mô và năng lực sản xuất……… 36

2.2.2.3 ảnh hưởng của công nghệ thuộc da đối với môi trường…… 40

Trang 4

2.3.2 Thành phần con người (H)……… 55

2.3.3 Thành phần thông tin (I)……… 64

2.3.4 Thành phần tổ chức (O)……… 70

2.4 Phân tích và đánh giá việc sử dụng các nguồn nguyên liệu và hóa chất của ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam hiện nay……… 77

2.4.1 Về nguồn da nguyên liệu……… 77

2.4.1.1 Số lượng đàn trâu bò trong cả nước……… 77

2.4.1.2 Sản lượng da trâu bò nguyên liệu……… 78

2.4.1.3 Quy mô chăn nuôi trâu bò trong gia trại ……… 78

2.4.1.4 Phương thức chăn nuôi và ảnh hưởng của yếu tố này đến chất lượng da trâu bò……… 79

2.4.1.5 Đánh giá về chất lượng da nguyên liệu tại các lò mổ và cơ sở bảo quản da……… 80

2.4.2 Về hoá chất……… 84

2.4.2.1 Tình hình chung……… 84

2.4.2.2 Thực trạng về hoá chất……… 85

2.5 Đánh giá chung về chất lượng của sản phẩm da thuộc Việt Nam và một số vấn đề của ngành công nghiệp thuộc Da… 88

2.6 Những nhiệm vụ cần thực hiện của luận án ở chương 3…… 89

Trang 5

của ngành công nghiệp thuộc da việt nam

3.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển của ngành thuộc Da 91

3.1.1 Cơ sở xác định mục tiêu ……… 91

3.1.2 Chính sách phát triển ngành thuộc Da ……… 92

3.1.3 Mục tiêu của ngành và dự báo nhu cầu về da thuộc thành phẩm……… 93

3.1.3.1 Mục tiêu chung……… 93

3.1.3.2 Mục tiêu cụ thể……… 93

3.1.3.3 Dự báo nhu cầu về da thuộc thành phẩm……… 93

3.1.3.4 Phương hướng phát triển……… 93

3.2 Một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm của ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam……… 94

3.2.1 Giải pháp 1: Nâng cao trình độ công nghệ ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam……… 94

3.2.2 Giải pháp 2: Khai thác và sử dụng tối ưu nguồn da nguyên liệu và hóa chất cho ngành công nghiệp thuộc Da………… 104

3.2.2.1 Da nguyên liệu……… 104

3.2.2.2 Hoá chất……… 112

Kết luận và khuyến nghị

Danh mục các tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 6

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của việc thực hiện đề tài

Ngày nay, trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa về kinh tế, chất lượng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có một vai trò hết sức quan trọng và đang trở thành một thách thức to lớn đối với mọi quốc gia Trong quá trình hội nhập, thị trường thế giới đã không ngừng mở rộng và trở nên tự do hơn Chất lượng sản phẩm và dịch vụ lại càng có vị trí quyết định trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp

Trong cơ chế mở cửa của nền kinh tế đất nước, ngành công nghiệp thuộc Da đã có những bước tiến bộ, chất lượng da thuộc dần tăng lên, các sản phẩm được sản xuất, chế biến từ da thuộc đã bắt đầu có sức canh tranh trên thị trường Tuy nhiên chất lượng da thuộc thành phẩm còn hạn chế, chưa ổn định, nên ảnh hưởng đến việc cung cấp tại chỗ nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất giầy dép xuất khẩu, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của ngành

Việc nghiên cứu đề ra các giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm của da thuộc là thực hiện định hướng phát triển ngành công nghiệp phục

vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc trong nước nhằm tăng tính cạnh tranh của sản phẩm, làm cho sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng để phục

vụ xuất khẩu tại chỗ, hạn chế một phần da nhập khẩu là một thách thức lớn

đối với ngành và phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế Đây cũng là một tiêu chí giúp các doanh nghiệp trong ngành phát triển bền vững

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, với sự trăn trở nghề nghiệp và mong muốn ngành công nghiệp thuộc Da nước nhà phát triển, mong muốn các doanh nghiệp dần khẳng định được mình bằng thương hiệu và chất lượng da thành phẩm, góp phần cho ngành Da Giầy khẳng định là một trong những ngành có sản phẩm xuất khẩu chủ lực trong nền kinh tế đất nước, tôi mạnh

Trang 7

dạn lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản

phẩm da thuộc của ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam”.

2 Mục đích của đề tài

- Nghiên cứu và phân tích một số lý luận cơ bản về sản phẩm, chất lượng, chất lượng sản phẩm, đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần công nghệ (kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức)

- Phân tích thực trạng ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam; các yếu

tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm da thuộc

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc của ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất

da thuộc trên phạm vi cả nước

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu thực trạng chăn nuôi, giết

mổ trâu, bò trên cả nước; thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm da thuộc của các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da từ khâu nguyên liệu đầu vào đến da thành phẩm

4 Phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận khoa học vận dụng trong đề tài này là hệ thống lý luận

về sản phẩm, chất lượng, chất lượng sản phẩm, đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần công nghệ (kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức); các chủ trương của Đảng và Nhà nước về ngành công nghiệp thuộc Da

- Phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong đề tài này là:

+ Phương pháp hồi cứu số liệu từ các tài liệu có liên quan đến đề tài

+ Phương pháp khảo sát điều tra thu thập dữ liệu

+ Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh, dự báo

+ Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia

Trang 8

+ Từ việc phân tích, đánh giá, nhận xét, rút ra các kết luận cần thiết, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm da thuộc, từ đó đưa ra một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc của ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam

5 Những đóng góp của luận văn

- Luận văn đã hệ thống hóa các lý luận về sản phẩm, chất lượng, chất lượng sản phẩm, đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần công nghệ (kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức), khái quát về công nghệ thuộc da, ảnh

hưởng của các yếu tố đến chất lượng sản phẩm da thuộc

- Đề xuất được một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc của ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp, cơ

sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm da thuộc; các Hội, Hiệp hội Da Giầy và các

đơn vị quan tâm đến ngành công nghiệp thuộc Da nước nhà

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bầy gồm có 3 chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài về chất lượng sản phẩm

+ Chương 2: Thực trạng ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam

+ Chương 3: Một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm

da thuộc của ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam

Trang 9

I Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài về chất lượng sản phẩm

Theo Marx: “Sản phẩm là kết tinh của lao động”,[1,19]

Theo tiêu chuẩn của hệ thống quản lý chất lượng về cơ sở và từ vựng ISO 9000 : 2000, sản phẩm được định nghĩa là “kết quả của các hoạt động hay các quá trình” Mặt khác, trong phần thuật ngữ lưu ý: “Sản phẩm cũng có nghĩa là dịch vụ”,[1,19]

Như vậy, bất kỳ một yếu tố vật chất hoặc một hoạt động nào do tổ chức tạo ra nhằm đáp ứng các yêu cầu bên trong và bên ngoài tổ chức đều được gọi

là sản phẩm Theo ngôn ngữ marketing, sản phẩm là tất cả những gì có thể thỏa mãn được nhu cầu hay mong muốn của khách hàng và được chào bán trên thị trường

Sản phẩm được hình thành từ các thuộc tính vật chất hữu hình và vô hình tương ứng với hai bộ phận cấu thành là phần cứng, phần mềm của sản phẩm

Phần cứng của sản phẩm là các thuộc tính vật chất hữu hình thể hiện dưới một hình thức cụ thể rõ ràng bao gồm những vật thể bộ phận và những sản phẩm được lắp ráp, nguyên vật liệu đã chế biến

Phần mềm của sản phẩm bao gồm các loại dịch vụ cung cấp cho khách hàng các yếu tố như thông tin, khái niệm các dịch vụ đi kèm… đáp ứng những nhu cầu tinh thần, tâm lý xã hội của khách hàng.[1,19],[12,5-7]

Trang 10

1.1.1.2 Phân loại sản phẩm

Để tạo điều kiện dễ dàng trong công tác quản lý và tổ chức sản xuất, kinh doanh trên thị trường, người ta đưa ra những căn cứ khác nhau để phân loại sản phẩm như:

- Theo chức năng, công dụng của sản phẩm,

- Theo đặc điểm công nghệ sản xuất,

- Theo nguyên liệu sản xuất,

1.1.1.3 Cấp sản phẩm

Căn cứ vào thành phần hợp thành của sản phẩm, có thể chia ra 3 cấp sản phẩm:

- Cấp 1: Sản phẩm cơ bản là những sản phẩm có đặc tính kỹ thuật cơ

bản mà khách hàng mong đợi khi mua để thoả mãn các yêu cầu của họ

- Cấp 2: Sản phẩm thực hay sản phẩm cụ thể là những sản phẩm, ngoài

những đặc tính kỹ thuật cơ bản, còn có những thông tin khác về nhãn hiệu, mẫu mã, bao bì, cấp chất lượng, thời hạn sử dụng…

- Cấp 3: Sản phẩm gia tăng bao gồm thêm những thông tin và dịch vụ

chuyên biệt khác, như: cách bán và giao hàng, cách lắp đặt, cam kết dịch vụ hậu mãi (cách bảo trì, cách liên hệ với khách hàng…).[1,21]

Trang 11

1.1.2 Chất lượng sản phẩm

1.1.2.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm

Tùy theo đối tượng sử dụng, từ “chất lượng” có ý nghĩa khác nhau Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận Chất lượng

được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả,[5, 1]

Do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của

họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau

ở những góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ sản phẩm, từ người sản xuất hay từ đòi hỏi của thị trường cho phù hợp.[12,9-10]

Trong nền kinh tế thị trường, định nghĩa về chất lượng gắn bó chặt chẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả:

- “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng” (Tổ chức kiểm tra chất lượng châu Âu - European Organization for Quality Control),[1,24]

- “Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng đều và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp nhận” (W Edwards Deming),[1,24],[2,2]

- “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” (Philip B Crosby),[1,24],[2,2]

Trang 12

- “Chất lượng là sự phù hợp với mục đích hoặc sự sử dụng” (J.M Juran) Định nghĩa này khác với định nghĩa thường dùng là “phù hợp với quy cách đề ra”,[1,24],[2,2]

- “ Chất lượng là những đặc điểm tổng hợp của sản phẩm, dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, dịch vụ đáp ứng mong đợi của khách hàng”

(A Feigeinbaum),[1,24],[2,2]

- Theo ISO 9000 : 2000: “Chất lượng là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình thoả mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan” “Yêu cầu là những nhu cầu hay mong

đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc”,[1,25],[2,2],[9],[12]

Như vậy, việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng là điều quan trọng nhất trong việc đánh giá chất lượng của bất cứ sản phẩm hay dịch vụ nào và chất lượng là phương diện quan trọng nhất của sức cạnh tranh

1.1.2.3 Các thuộc tính chất lượng sản phẩm[1,25]

Những thuộc tính chung nhất phản ánh chất lượng của sản phẩm bao gồm:

- Các thuộc tính kỹ thuật phản ánh công dụng, chức năng của sản phẩm

được quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo và các đặc tính về cơ, lý, hóa của sản phẩm

- Các yếu tố thẩm mỹ đặc trung cho sự truyền cảm, sự hợp lý về hình

thức, dáng vẻ, kết cấu, kích thước, tính cân đối, mầu sắc, trang trí, tính thời trang

- Tuổi thọ của sản phẩm là khả năng làm việc bình thường theo đúng

tiêu chuẩn thiết kế trong một thời gian nhất định

- Độ tin cậy của sản phẩm là yếu tố đảm bảo cho tổ chức có khả năng

duy trì và phát triển thị trường của mình

- Độ an toàn của sản phẩm và mức độ gây ô nhiễm của sản phẩm là

hai yêu cầu bắt buộc khi đưa sản phẩm lưu thông thị trường

Trang 13

- Tính tiện dụng: tính sẵn có, dễ vận chuyển, bảo quản, dễ sử dụng

- Tính kinh tế của sản phẩm là ít tiêu hao nguyên liệu, năng lượng

Những thuộc tính vô hình khác cũng có ý nghĩa rất quan trọng với khách hàng như: tên, nhãn hiệu, danh tiếng của sản phẩm

Dưới góc độ kinh doanh có thể phân loại thành hai nhóm thuộc tính sau:

- Thuộc tính công dụng - phần cứng (giá trị vật chất) - là bản chất, cấu

tạo của sản phẩm, các yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ Phần này chiếm khoảng 10-40% giá trị của sản phẩm

- Thuộc tính được cảm thụ bởi người tiêu dùng - phần mềm (giá trị tinh

thần) - là uy tín của sản phẩm, xu hướng, thói quen tiêu dùng, đặc biệt là các dịch vụ trước và sau khi bán Phần này chiếm khoảng 60-80% giá trị của sản phẩm, thậm chí có thể lên tới 90% giá trị sản phẩm

Như vậy, chất lượng của sản phẩm được tạo ra bởi toàn bộ thuộc tính của sản phẩm có khả năng thoả mãn nhu cầu vật chất hữu hình và vô hình của người tiêu dùng [1, 25-27],[9],[11],[12,13-16]

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm[1,35-39]

Có thể chia thành hai nhóm yếu tố chủ yếu, đó là nhóm yếu tố bên ngoài và nhóm yếu tố bên trong tổ chức, doanh nghiệp

1.1.3.1 Nhóm yếu tố bên ngoài tổ chức, doanh nghiệp

1.1.3.1.1 Nhu cầu của nền kinh tế

Chất lượng sản phẩm luôn phụ thuộc bởi hoàn cảnh, điều kiện và nhu cầu nhất định của của nền kinh tế, thể hiện ở các mặt:

- Nhu cầu của thị trường: Trước khi thiết kế, sản xuất sản phẩm, phải

nghiêm túc nghiên cứu thị trường, môi trường kinh tế - xã hội, yêu cầu chất lượng, thói quen tiêu dùng, phong tục tập quán, văn hóa, lối sống, khả năng thanh toán của khách hàng…để có đối sách đúng đắn

Trang 14

- Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất: Đó là khả năng kinh tế (tài

nguyên, tích lũy, đầu tư…) và trình độ kỹ thuật (chủ yếu là trang thiết bị công nghệ và kỹ năng)

- Chính sách kinh tế: hướng đầu tư, hướng phát triển loại sản phẩm,

mức thỏa mãn các loại nhu cầu được thể hiện trong các chính sách kinh tế

1.1.3.1.2 Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật

Hướng chính của việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là:

- Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế: Bằng nghiên cứu, xác

lập các loại vật liệu mới hoặc tạo nên những tính chất đặc trưng mới cho sản phẩm tạo thành, hoặc thay thế cho sản phẩm cũ nhưng duy trì tính chất cơ bản của sản phẩm

- Cải tiến hay đổi mới công nghệ: Công nghệ chế tạo càng tiến bộ,

càng có khả năng tạo ra sản phẩm có chất lượng cao hơn

- Cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới: bằng cách cải tiến,

nâng cao tính năng kỹ thuật hay giá trị sử dụng của sản phẩm hiện có

1.1.3.1.3 Hiệu lực của cơ chế quản lý

Khả năng nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi tổ chức, doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào cơ chế quản lý, chính sách của Nhà nước như: chính sách

đầu tư, chính sách giá, chính sách thuế, tài chính, chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển, cách thức tổ chức quản lý của Nhà nước về chất lượng…

1.1.3.2 Nhóm yếu tố bên trong tổ chức, doanh nghiệp

1.1.3.2.1 Con người

Bao gồm tất cả các thành viên trong tổ chức, doanh nghiệp từ cán bộ lãnh đạo đến nhân viên thừa hành Năng lực, phẩm chất của mỗi thành viên và mối liên kết giữa các thành viên ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm

1.1.3.2.2 Máy móc thiết bị

Máy móc thiết bị là yếu tố có tác động rất lớn trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm và nâng cao năng suất lao động

Trang 15

1.1.3.2.3 Nguyên vật liệu

Nguồn vật tư, nguyên, nhiên, vật liệu được bảo đảm những yêu cầu chất lượng và được cung cấp đúng số lượng, đúng thời hạn sẽ tạo điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm

1.1.3.2.4 Phương pháp

Với phương pháp công nghệ thích hợp, với trình độ tổ chức quản lý và

tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức có thể khai thác tốt nhất các nguồn lực hiện có, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm

Ngoài các yếu tố trên, chất lượng sản phẩm còn bị chi phối bởi các yếu

tố khác như: thông tin, môi trường, đo lường, hệ thống.[1,34-38],[12,40]

Nhìn chung chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng chủ yếu của trình độ công nghệ Chất lượng sản phẩm tốt hay xấu phụ thuộc vào mức độ tinh xảo, tính hiện đại của các thành phần công nghệ: kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức

1.1.4 Một số khái niệm cơ bản về công nghệ và đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần của công nghệ

1.1.4.1 Định nghĩa công nghệ

Công nghệ được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa trên những

căn cứ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, cùng với sự phát triển của quá trình chuyển giao công nghệ, khái niệm công nghệ được mở rộng:

- Theo ủy ban kinh tế và xã hội khu vực châu á - Thái Bình Dương

(ESCAP): Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để

chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ,[3,10]

Theo đó, công nghệ là việc áp dụng các thành tựu khoa học sản xuất và

đời sống bằng cách sử dụng phương tiện kỹ thuật, các phương pháp sản xuất

Trang 16

và quản lý với tư cách là những kết quả của các hoạt động nghiên cứu-phát triển, trong đó toàn bộ tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng và kỹ xảo được con người tích luỹ và tạo ra trong toàn bộ quá trình phát triển

Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất ra vật chất mới dùng công nghệ mà được mở rộng như: công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng, công nghệ du lịch, công nghệ văn phòng…

Trong Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam, quan niệm: “ Công nghệ

là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”,[3,11]

Căn cứ vào tính chất phổ biến và nguồn gốc của công nghệ, các công nghệ có thể chia thành 2 nhóm: công nghệ mới và công nghệ truyền thống:

- Công nghệ truyền thống là công nghệ đã được áp dụng từ lâu quen

thuộc có tính truyền thống Tiêu biểu cho các công nghệ này là những công nghệ cổ truyền sản xuất sản phẩm thủ công truyền thống

- Công nghệ mới là những công nghệ được đưa vào ứng dụng chưa lâu,

thậm chí hoàn toàn mới, đang trong giai đoạn thử nghiệm

Công nghệ truyền thống cải tiến cũng có thể đạt trình độ cao và đem lại hiệu quả lớn Ngược lại có nhiều loại công nghệ mới nhưng có thể trở thành lạc hậu do luôn có sự xuất hiện những công nghệ hiện đại, hiệu quả cao hơn,[14,7]

Công nghệ thuộc da thực hiện tại các cơ sở sản xuất hiện nay là một dạng công nghệ truyền thống cải tiến thông qua sử dụng các thiết bị mới, hoá chất mới tạo ra các sản phẩm mới có tính thời trang theo yêu cầu thị trường

1.1.4.2 Các bộ phận cấu thành một công nghệ,[27,11-14],[4,7]

Công nghệ gồm bốn thành phần cơ bản có sự tác động đồng bộ qua lại với nhau để tạo ra bất kỳ một sự biến đổi mong muốn, đó là:

a Thành phần kỹ thuật (Technoware - T): phần công nghệ hàm chứa

trong các vật thể như các phương tiện kỹ thuật, công cụ, máy móc thiết bị, vật

Trang 17

liệu, các cấu trúc hạ tầng khác… gọi là phần cứng của công nghệ Đây là cốt lõi của hoạt động chuyển hoá, nhưng do con người lắp đặt, vận hành

b Thành phần con người (Humanware - H): gồm những kinh nghiệm,

kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề thành thạo, khéo léo, có tính sáng tạo, khả năng phối hợp và đạo đức nghề nghiệp Đây là yếu tố chìa khoá của hoạt

động sản xuất, nhưng phải hoạt động theo hướng dẫn, theo bí quyết mà phần thông tin cung cấp, đưa ra các quyết định trong quản lý

c Thành phần thông tin (Inforware-I): bao gồm các dữ liệu về phần kỹ

thuật, phần con người và phần tổ chức.Ví dụ, dữ liệu kỹ thuật như: các thông

số về đặc tính thiết bị, số liệu về vận hành và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao

và dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật

d Thành phần tổ chức (Orgaware - O): bao gồm các thiết chế tổ chức,

các thẩm quyền, trách nhiệm, sự liên kết, phối hợp, quản lý, kể cả quy trình

đào tạo công nhân, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần con người

Hình 1: Mối quan hệ giữa các thành phần công nghệ,[4,7],[27,15],[14,8]

Trang 18

• T là cốt lõi, do H triển khai, lắp đặt, vận hành

• H là chìa khóa của hoạt động sản xuất, chịu chi phối của I và O

• I là cơ sở cho H ra quyết định

• O liên kết các thành phần, tạo môi trường và động lực cho con người hoạt động

Phần kỹ thuật là cốt lõi của bất kỳ công nghệ nào Nhờ máy móc, thiết

bị, phương tiện, con người tăng được sức mạnh cơ bắp và trí tuệ, vì so với con người trong quá trình biến đổi, máy móc: nhanh hơn, mạnh hơn, phức tạp hơn

và chính xác hơn

Để dây chuyền công nghệ có thể hoạt động được, cần có sự liên kết giữa phần kỹ thuật, phần con người và phần thông tin Con người làm máy móc hoạt động, đồng thời con người có thể cải tiến, mở rộng các tính năng của

nó Con nguời quyết định hiệu quả của phần kỹ thuật Điều này liên quan đến thông tin mà con người được trang bị và hành vi (thái độ) của họ dưới sự điều hành của tổ chức

Phần thông tin biểu hiện các tri thức được tích lũy trong công nghệ , nó giúp trả lời câu hỏi: “Làm cái gì” và “Làm như thế nào” Phần thông tin được coi là sức mạnh của công nghệ, nhưng lại phụ thuộc con người trong quá trình

bổ sung, cập nhật các thông tin của công nghệ

Phần tổ chức đóng vai trò điều hòa, phối hợp ba thành phần trên của công nghệ để thực hiện hoạt động biến đổi một cách hiệu quả Đây là động lực của một công nghệ,[27,11-14],[4,7]

1.1.4.3 Đánh giá trình độ công nghệ

Thông thường người ta đánh giá trình độ công nghệ trên hai phần:

- Đánh giá định tính đặc trưng công nghệ dựa trên cấp bập tinh xảo (sophistication) của bốn thành phần công nghệ (T-H-I-O) được thể hiện ở bảng dưới đây:

Trang 19

Bảng 1: Cấp bậc tinh xảo của các thành phần công nghệ,[4,7]

Kỹ thuật (T) Con người (H) Thông tin (I) Tổ chức (O)

Phương tiện thủ

công

Khả năng vận hành

Dữ kiện phổ biến Cơ cấu đứng vững

Dữ kiện đặc trưng hóa

Cơ cấu mạo hiểm

Phương tiện

chuyên dụng

Khả năng sao chép

Dữ kiện ứng dụng Cơ cấu bảo vệ

Phương tiện tự

động

Khả năng thích ứng

Dữ kiện nhận thức

+ Hệ số đóng góp của công nghệ (TCC) của một công ty cho biết sự

đóng góp của công nghệ trong toàn bộ hoạt động chuyển đổi vào đầu ra của công ty, là hàm lượng công nghệ tăng thêm (TCA) trên một đơn vị đầu ra

TCC = TβT HβH IβI OβO

Trong đó:

* T, H, I, O là hệ số đóng góp riêng ứng với từng thành phần công nghệ Trị số của hệ số đóng góp thành phần phụ thuộc độ phức tạp và độ hiện đại của nó, qui ước: 0< T, H, I, O ≤1

Trang 20

*βT, βH, βI, βO là cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ tương ứng, nó thể hiện tầm quan trọng của mỗi thành phần công nghệ trong một công nghệ, qui ước: βT + βH + βI + βO = 1,

Cường độ đóng góp của một thành phần công nghệ thể hiện tiềm năng của thành phần công nghệ đó trong việc nâng cao giá trị của hàm hệ số đóng góp TCC

15 triệu sqft cho nhu cầu này Do đó cần tập trung đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng nhanh lĩnh vực thuộc da cả về số và chất lượng,[15,22]

1.2.1 Vài nét về lịch sử ngành thuộc Da thế giới [37,1]

Cách đây 3000 năm trước công nguyên những người thợ thủ công Ai - Cập đã biết dùng cây cam thảo để chuyển hóa da sống thành da thuộc Có nhiều cách để bảo quản da nhưng dùng tannin thảo mộc là phương pháp cổ xưa nhất cho đến nay chúng ta vẫn áp dụng

Sau đó, những người thợ thủ công Tây Ban Nha đã phát triển kỹ thuật thuộc da như áp dụng cơ giới hóa, trang trí màu sắc trên tấm da trong các thế

kỷ XVI và XVII Máy móc thiết bị rất đơn giản Quy trình công nghệ thuộc da rất ít thay đổi hầu như suốt thế kỷ

Đến thế kỷ thứ XVIII cuộc cách mạng công nghiệp đã làm lên những thay đổi ngoạn mục và vĩ đại như: sáng chế ra các máy móc thiết bị tinh xảo,

Trang 21

đa chức năng; phát triển các kỹ thuật, công nghệ mới; các nhà máy lớn được thành lập và dần thay thế những cơ sở nhỏ lẻ trước đây

Thế kỷ XX là minh chứng về sự tiến bộ nhảy vọt về chất lượng da thuộc Da thuộc được dùng như các vật dụng bảo hộ và thời trang Người ta dùng hóa chất để thuộc da Nguyên liệu đầu vào của quá trình thuộc da là da sống của bò, trâu, lợn, dê, cừu, kanguru…

Những sản phẩm được chế biến từ da để phục vụ con người như: giầy dép, quần áo, túi, cặp, sắc, ví, da mềm bọc đệm salon, ôtô

Da động vật sẽ được bảo quản sau khi lột mổ và trước khi đưa vào thuộc bằng cách dùng muối khô rắc lên bề mặt con da hoặc ướp da bằng muối ướt hay bảo quản da bằng nước biển

Người ta thuộc da bằng các loại hóa chất khác nhau Có thể làm thay

đổi mặt da tự nhiên theo ý muốn như đánh mặt để làm da nubuk, dùng lak in

để tạo ra các vân hoa trang trí trên mặt da Ngoài ra, có thể nhuộm da với các màu khác nhau, sản xuất da với công nghệ khác nhau

Ngày nay có khoảng 1,5 tỷ mét vuông da thành phẩm được chế biến thành giầy dép, quần áo và các đồ da khác và có khoảng 500.000 tấn da đế

được đưa vào sản xuất Như vậy sản phẩm da đã khẳng định vị trí quan trọng không thể thiếu được của mình trong đời sống sinh hoạt cũng như trong công

nghiệp

1.2.2 Lịch sử ngành Da Giầy Việt Nam [20,4-5]

Ngành Da Giầy Việt Nam được khai sinh cách đây hơn 500 năm và có

bề dầy lịch sử phát triển khá phong phú

Vào năm ất Sửu (năm 1465) đời vua Lê Mạc, ông Nguyễn Thới Trung thi đỗ Đệ Tam Giáp (tương đương tiến sỹ) và đã được nhà vua bổ làm quan với chức Thừa Chánh Sứ Vào năm Đinh Sửu (năm 1487), thời vua Lê Thánh Tông

Trang 22

trị vì đất nước, ông được cử đi sứ Trung Quốc cùng với ba người bạn đồng học

và cùng quê là Phạm Đồng Khánh, Phạm Đức Chính và Nguyễn Sỹ Bân

Sau khi hoàn thành công vụ tại Bắc Kinh, cả bốn vị sứ giả Việt Nam đã

đến Hàng Châu, một trong những trung tâm thuộc da làm giầy dép lâu đời của Trung Quốc lúc bấy giờ Họ tìm đến gia đình họ Lũ, vốn là một trong những gia đình có tiếng trong nghề thuộc da làm giầy dép, hia hài của Hàng Châu để học hỏi, thu lượm, tích luỹ cách thức thuộc da làm giầy

Về nước, các vị sứ giả đã đem sản phẩm mà mình tự làm được trong quá trình học nghề dâng lên vua Lê Thánh Tông Nhà vua hạ chỉ cho các vị sứ giả được đem nghề thuộc da truyền bá rộng rãi trong dân chúng

Nguyễn Thới Trung và ba vị sứ giả Việt Nam được nhà vua cũng như nhân dân yêu mến và phong là các Ông tổ nghề Da Giầy Việt Nam Bốn làng Văn Lâm, Phong Lâm, Trúc Lâm và Nghĩa Hy xưa thuộc tổng Phan Xá, phủ

Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương là quê hương của các Ông tổ nghề Da Giầy

Đến đầu thế kỷ XX , nghề Da Giầy đã được phổ biến và phát triển rộng khắp, đáng chú ý là phường thợ da giầy ở đất Tả Khánh Thụy thuộc huyện Thọ Xương Ngày giỗ tổ của nghề Da Giầy thủ công Việt Nam được lấy là ngày 28 tháng 3 âm lịch hàng năm

1.2.3 Một số nét về ngành công nghiệp thuộc Da và tiêu thụ sản phẩm da thuộc trên thế giới

Da thuộc được dùng chủ yếu để sản xuất giầy và đồ da Công nghiệp thuộc da và chế biến các sản phẩm từ da thuộc ngày một phát triển, nhất là ở những nước đang phát triển và một số nước công nghiệp mới

Với các nước đang phát triển như nước ta, công nghiệp thuộc da chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, bởi các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, công nghiệp thuộc da phát triển sẽ giúp các nước này dần loại

bỏ việc xuất khẩu da sống, các loại da bán thành phẩm, làm giảm việc nhập

Trang 23

khẩu da thuộc thành phẩm, tạo điều kiện tăng giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu chế biến từ da thuộc

Các công đoạn đến thuộc phèn xanh, nửa hoàn thành và hoàn thành da

đều có cơ hội sử dụng linh hoạt các nguyên nhiên liệu, hóa chất trong nước và của các nước đang phát triển

Thứ hai, ngành Da không nhất thiết đòi hỏi quy mô lớn Từng doanh nghiệp, cơ sở vừa và nhỏ có thể tập trung trong cụm công nghiệp để phân công sản xuất có tính chuyên môn hóa nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng và mang tính cạnh tranh

Thứ ba, do nhu cầu da thuộc ngày càng tăng cho chế biến hàng tiêu dùng và xuất khẩu nên thúc đẩy các nước đang phát triển phải chú trọng chăn nuôi đại gia súc, giết mổ lấy thịt, lột da theo phương pháp công nghiệp, dần khắc phục tình trạng vừa phung phí nguyên liệu da sống,[13,9-10]

Người ta chia các nước cung cấp sản phẩm da thành bốn nhóm:

- Các nước phát triển trong khoảng thập niên cuối của thế kỷ XX như Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu

- Các nước đã có ngành công nghiệp thuộc da phát triển một thời gian

và đã có những kinh nghiệm và thành công nhất định như: Braxin, Hàn Quốc,

Đài Loan

- Các nước có ngành công nghiệp thuộc da phát triển như: ý, Pháp,

Đức, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ và một vài nước khác

Trang 24

Thứ hai, một số nước đang phát triển đang trở thành nguồn cung cấp da nguyên liệu quan trọng

Thứ ba, xu hướng kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các nước phát triển ngày càng nghiêm ngặt và thắt chặt

Hiện nay Châu Âu nói chung, trong đó ý là một trong những nước có ngành Công nghiệp Da - Giầy phát triển nhất thế giới, theo đó ngành chế tạo máy móc thiết bị và ngành hóa sản xuất hóa chất phục vụ công nghiệp thuộc

da cũng đứng vị trí hàng đầu

Họ sản xuất da với mức độ chuyên môn hoá rất cao, sản xuất từ khâu nguyên liệu ban đầu (da nguyên liệu) cho đến da thành phẩm Hầu hết các nhà máy và các cơ sở thuộc da đều nằm trong vùng qui hoạch khu công nghiệp chuyên ngành, tiện lợi cho việc thực hiện chuyên môn hoá cho từng loại sản phẩm đầu ra hoặc ở từng phần trong công nghệ, tùy thuộc vào năng lực của doanh nghiệp mà phân công sản xuất từng loại sản phẩm cho phù hợp (da phèn xanh, da mộc, da hoàn thành), đồng thời có điều kiện xây dựng hệ thống

xử lý chất thải (rắn, lỏng, khí) chung cho toàn khu công nghiệp

Trình độ công nghệ ngành thuộc da ở các nước phát triển rất cao đứng

đầu là ý, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Mỹ… Những năm 70, 80 của thế kỷ trước sản lượng da thuộc thành phẩm của các nước này chiếm tới 70% sản lượng da thuộc trên thế giới Song hiện nay năng lực sản xuất và sản lượng này đã giảm nhiều Họ chuyển sang nhập khẩu giầy dép và da bán thành phẩm (da phèn xanh, da mộc) để gia công tiếp là chủ yếu để sản xuất các mặt hàng da chất lượng cao, vì thế doanh thu của ngành này lại tăng lên đáng kể.[13],[15]

Nếu như vào những năm 90, các nước phát triển chiếm 61% sản lượng

da thuộc thế giới thì 10 năm sau chỉ còn lại 44% Các nước châu Âu cũng vậy, sản lượng da thuộc giảm từ 38% xuống còn 26% Mặt khác, các nước này

đang có xu hướng chỉ tập trung sản xuất các sản phẩm da thuộc có chất lượng cao từ nguyên liệu bán thành phẩm nhằm giảm nhẹ chi phí xử lý môi trường

Trang 25

Thực tế này đã thúc đẩy ngành công nghiệp thuộc da của các nước đang phát triển giữ vai trò quan trọng trên thị trường thế giới và dần dần loại bỏ truyền thống xuất khẩu da sống, nhập khẩu da thuộc, xuất khẩu da bán thành phẩm, mở ra khả năng xuất khẩu da thành phẩm và các sản phẩm chế biến từ

da thuộc

Trong những năm gần đây, một số nước như: Trung Quốc, ấn Độ, và Hàn Quốc vv đang dẫn đầu về sản xuất da thuộc, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trên thị trường thế giới là da bò mềm (Nappa) Dự báo đến năm 2010 sản lượng da thuộc của thế giới khoảng 18 tỷ sqft da các loại

Theo dự báo từ 5-10 năm tới các nước phát triển phải nhập khẩu da phèn và da mộc từ các nước đang phát triển khoảng 350 triệu sqft da bò, 400 triệu sqft da dê, cừu và xu thế còn tiếp tục kéo dài đến ngoài 2020

Hiện nay ngành công nghiệp thuộc da ở các nước phát triển đã đạt đến mức độ cao về trình độ công nghệ, chất lượng sản phẩm gần như hoàn hảo, tập trung chủ yếu vào các loại sản phẩm mẫu thời trang, còn các nước đang phát triển giữ vai trò chủ đạo về sản xuất da thuộc, ước tính chiếm khoảng 60 - 70% sản lượng da trên toàn cầu Đây cũng là thách thức và cơ hội thuận lợi để thúc đẩy ngành công nghiệp thuộc Da nước nhà phát triển mạnh trong những

giai đoạn sắp tới.[25,7-9]

1.2.4 Những thách thức sắp tới của ngành thuộc Da Việt Nam

Ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam là ngành còn non trẻ, mới phát triển khoảng hơn 15 năm lại đây Nhưng sự phát triển không có quy hoạch, tự phát và đôi chỗ manh mún Trước thềm hội nhập, ngành đang phải đối chọi với rất nhiều vấn đề lớn:

- Phải quy hoạch lại các doanh nghiệp thuộc Da vào các khu công nghiệp và nâng cấp, cải tạo lại một số cơ sở

- Trình độ công nghệ lạc hậu khoảng 20 - 30 năm so với thế giới Phải nâng cấp trình độ công nghệ của ngành nhưng nguồn tài chính hạn hẹp

Trang 26

- Chất lượng da nguyên liệu quá xấu và số lượng không đủ, lại bị xuất lậu theo đường tiểu ngạch ước tới 40%

- Chăn nuôi, giết mổ không công nghiệp và bảo quản da nguyên liệu tùy tiện Diện tích da nhỏ, chất lượng kém

- Ngành công nghiệp hóa chất cho thuộc da hầu như không có gì

- Nguồn nhân lực quản lý, kỹ thuật viên, công nhân lành nghề quá mỏng và hàng năm ít được nâng cấp và không được cung cấp thêm

- Chất lượng da thành phẩm đi từ da nguyên liệu trong nước thấp, chủ yếu phục vụ tiêu dùng nội địa

- Nhu cầu da thành phẩm cho xuất khẩu tại chỗ rất lớn

- Nước láng giềng có ngành công nghiệp thuộc Da tương đối phát triển, thu hút phần lớn da nguyên liệu sống và cũng bằng đường tiểu ngạch những sản phẩm từ da của họ chất lượng vừa phải, mẫu mã đẹp, đa dạng, giá rẻ đã chiếm lĩnh thị trường nước ta

Do vậy, việc tìm những giải pháp hữu hiệu để ngành công nghiệp thuộc

Da phát triển nhằm nâng cao chất lượng của da thành phẩm đạt chất lượng xuất khẩu là nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết

1.2.5 Chiến lược phát triển ngành thuộc Da nước ta đến 2010, tầm nhìn

đến năm 2020

- Khai thác tối đa mọi nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế

đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu (cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)

- Tăng nhanh đàn gia súc; khuyến khích phát triển chăn nuôi theo mô hình trang trại; hướng tới chăn nuôi, giết mổ công nghiệp và bảo quản da sống

đúng kỹ thuật nhằm đáp ứng nguồn da nguyên liệu cả về số lượng và chất lượng Trước mắt, khai thác và sử dụng tốt mọi nguồn da sẵn có

- Thực hiện nhanh việc sắp xếp lại lĩnh vực thuộc da nhằm đáp ứng nhu cầu da thuộc thành phẩm (cả về số và chất lượng) cho giầy dép xuất khẩu

Trang 27

- Quy hoạch, xây dựng khu công nghiệp thuộc da xa khu dân cư Di dời các cơ sở thuộc da vào các khu công nghiệp chuyên ngành

- Tập trung đầu tư chiều sâu, bổ sung máy móc thiết bị đồng bộ, hiện

đại Nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và quản lý nhằm khai thác tốt hơn năng lực thuộc da hiện có Đặc biệt là nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa các mặt hàng da thuộc

- Bổ sung nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cho độ ngũ quản lý, kỹ thuật và công nhân lành nghề

- Lựa chọn công nghệ tiên tiến, hạn chế tối đa và không gây ô nhiễm

môi trường trong lĩnh vực thuộc da

1.2.6 Khái quát về công nghệ thuộc da

Thuộc da là quá trình cơ, lý, hóa để bảo quản protein colagen trước các tác động của môi trường, nói cách khác: quá trình thuộc da là quá trình đưa chất thuộc vào trong cấu trúc sợi da, làm biến đổi tính chất và tăng độ bền của cấu trúc sợi da, da thu được gọi là da thuộc

Sau khi thuộc, da còn phải trải qua công đoạn hoàn thành (ướt và khô)

để tăng cường các tính chất hữu ích của da thuộc

Phần việc cuối cùng trong công đoạn hoàn thành khô là trau chuốt da [32,9],[22,6]

Công nghệ thuộc da có tính đặc thù khác với các công nghệ khác là:

- Nguồn nguyên liệu da động vật sống, rất khác nhau về chất lượng, trọng lượng giữa các con da, cấu trúc, độ dầy của các phần trong một con, độ tuổi, giống (đực cái), vùng chăn nuôi Sự khác nhau này gây nên sự không

đồng đều về nguyên liệu đầu vào trong khi yêu cầu của sản phẩm đầu ra phải

đồng đều về chất lượng

- Thời gian thực hiện công nghệ dài ngày (10-15 ngày), triển khai trên

20 công đoạn, sử dụng khoảng 40-50 loại hoá chất và trên 20 loại máy móc thiết bị, sử dụng rất nhiều nước (khoảng 50 m3 nước/tấn da nguyên liệu)

Trang 28

- Để biến đổi từ nguồn da sống sang da thành phẩm, công nghệ thuộc

da cần phải trải qua hàng loạt quá trình xử lý cơ- lý- hoá với tính chất nhạy cảm cao và thao tác kỹ thuật tỷ mỉ, chính xác

- Yêu cầu của công nghệ phải xử lý sao cho từ nguồn da nguyên liệu không đồng đều trở thành sản phẩm da hoàn thành có chất lượng tương đương nhau ở các phần trong cùng một con và đều đặn trong cùng một lô xuất thuộc

đồng thời đáp ứng được các tính chất phù hợp với từng loại sản phẩm (da mũ giầy, da áo, da túi ) Đây chính là điểm mấu chốt trong chuyển đổi từ da sống sang da thuộc, yêu cầu trình độ công nghệ cao, kinh nghiệm và lòng yêu nghề mới tạo ra được sản phẩm đạt chất lượng

- Đây là loại công nghệ khó thực hiện chuẩn xác và gây ô nhiễm,[14,4] Các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da trong nước chủ yếu đang tập trung quan tâm về nâng cao chất lượng sản phẩm, chưa chú ý nhiều đến an toàn vệ sinh môi trường và xử lý các chất thải do doanh nghiệp gây ra làm ảnh hưởng

đến sức khoẻ người lao động và gây ô nhiễm môi trường xung quanh

Việc tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát các công đoạn trong công nghệ ở các doanh nghiệp còn lỏng lẻo, chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của công nghệ gây ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp

Thực trạng phát triển sản xuất và trình độ công nghệ không đồng đều hiện nay ở các loại hình doanh nghiệp (tư nhân, cổ phần và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) dẫn đến chất lượng da thành phẩm rất khác nhau ở các khu vực Chỉ các doanh nghiệp được đầu tư đầy đủ mới có đầu ra đạt chất lượng xuất khẩu

Do đó, cho thấy tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ công nghệ

ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng da thành phẩm và hiệu quả sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp

Sau đây là sơ đồ tổng hợp hình khối tóm tắt các công đoạn trong công nghệ thuộc da:

Trang 29

Hình 1: Sơ đồ tổng hợp các công đoạn trong công nghệ thuộc da [21,86]

- Nguyên liệu

- Hồi tươi -Tẩy lông - Ngâm vôi -Tẩy lông - Làm mềm

Da mộc bán thành phẩm

Da hoàn thành

Trang 30

Sơ đồ trên biểu thị toàn bộ công nghệ thuộc da nêu ở trên thể hiện công nghệ gồm 24 công đoạn chính, những công đoạn đó thực hiện sự biến đổi từ

da nguyên liệu đến da thành phẩm thông qua những tác động hoá học, cơ học

và hoá lý

Quy trình công nghệ sản xuất được chia thành ba phần chính: Chuẩn bị thuộc - Thuộc - Hoàn thành

Phần chuẩn bị thuộc và phần thuộc gồm các công đoạn nặng nhọc và

độc hại do sử dụng nhiều hoá chất có độc tố cao như: sunphua natri (Na2S), chất thuộc crôm làm tăng lượng BOD, COD và crôm trong nước thải, gây ô nhiễm đến nguồn nước và thuỷ sinh vật

Phần hoàn thành ít gây ô nhiễm môi trường nhưng đòi hỏi công nghệ ở

mức cao hơn đồng thời phải có kinh nghiệm nghề nghiệp và sáng tạo trong công việc, phẩm cấp của sản phẩm được thể hiện chủ yếu ở phần công nghệ này Đây cũng là lý do vì sao trong hơn thập kỷ qua các nước phát triển có xu hướng chuyển dịch phần chuẩn bị thuộc và phần thuộc sang các nước đang phát triển và chỉ gĩư lại thực hiện phần hoàn thành của công nghệ.[14,18-19]

(Xem các bảng trình bày chi tiết về sử dụng máy móc thiết bị và hoá chất trong từng công đoạn ở phần phụ lục)

Qua đây ta thấy quy trình công nghệ sản xuất da thuộc rất phức tạp, kéo rất dài thời gian Chất lượng của da thành phẩm phụ thuộc vào hàng loạt điều kiện như: chất lượng da nguyên liệu sống, hóa chất, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất và những người quản lý, thực hiện quy trình…

1.2.7 Các sản phẩm da thuộc

Thuộc da chủ yếu tạo ra hai sản phẩm chính:[33,4]

- Sản phẩm da mềm: phương pháp thuộc chủ yếu là thuộc crôm, còn gọi

là thuộc xanh Da thành phẩm là nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất giầy, dép, cặp, túi, ví, bọc đệm, quần áo…

Trang 31

- Sản phẩm da cứng: phương pháp thuộc chủ yếu là thuộc tanin Da thành phẩm chủ yếu làm đế giầy, phục vụ ngành dệt như da take, da gông…

Hiện nay, các doanh nghiệp, cơ sở thuộc da nước ta sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào hầu hết là da bò, một ít da trâu và da lợn Hầu hết các doanh nghiệp trong ngành chủ yếu sản xuất các loại da mềm để phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu tại chỗ Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, các doanh nghiệp thuộc da chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu xuất khẩu tại chỗ cho các doanh nghiệp sản xuất giầy và chế biến đồ da trong nước

Theo Thời báo Kinh tế Việt Nam[23], (29/12/2005, Hoàng Lộc, Tr.6): Nhu cầu da bò nguyên liệu rất lớn và ngày càng tăng nhưng ngành thuộc da trong nước không theo kịp nhu cầu của thị trường, các nhà máy sản xuất giầy dép chủ yếu sử dụng da bò nhập khẩu từ nước ngoài Điều này được chứng minh qua những số liệu thống kê: năm 2003, ngành giầy buộc phải nhập khẩu

220 triệu sqft da (dùng làm nguyên liệu mũ giầy, vật liệu lót, đế giầy) 9 tháng đầu năm 2005, giá trị nhập khẩu sản phẩm da các loại đạt hơn 463.300.000 USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm 2004

Năm 2005, các nhà máy thuộc da của Việt Nam và nước ngoài đầu tư tại Việt Nam mới chỉ sản xuất và đáp ứng được khoảng gần 20% nhu cầu da thuộc của cả nước, 80% còn lại phải nhập khẩu Mục tiêu phát triển ngành thuộc da ở trong nước đến 2010 khiêm tốn ở mức 80 triệu sqft là quá bé nhỏ

so với tổng nhu cầu dự báo là 350 triệu sqft Đây là vừa là cơ hội, vừa là thách

Trang 32

Ngành công nghiệp Da Giầy Việt Nam nói chung và công nghiệp thuộc

Da nói riêng là ngành mới phát triển, nên thời gian qua công tác tiêu chuẩn hóa và quản lý chất lượng vẫn chưa được quan tâm đúng mức Trong xu thế hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, việc nâng cao chất lượng của sản phẩm da thuộc là yêu cầu, thách thức lớn đối với ngành Bởi tại chất lượng sản phẩm da thuộc của Việt Nam mới ở mức đạt mức chất lượng da thành phẩm xuất khẩu tại chỗ, nhưng chỉ một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất da thuộc đạt được chất lượng này

Chất lượng sản phẩm da thuộc thông thường được xem xét trên hai khía cạnh:

- Các chỉ tiêu cơ, lý, hóa được xác định theo các tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành, ISO hoặc theo các yêu cầu của khách hàng tùy theo loại sản phẩm

+ Các mẫu được phân tích trên các thiết bị phân tích chuyên ngành

- Các chỉ tiêu cảm quan như: độ mềm mại, độ bóng, độ đàn hồi, độ thẩm thấu hơi nước…chủ yếu theo kinh nghiệm của các chuyên gia giỏi nghề,

có thâm niên cao và chuyên môn sâu

Hiện tại, chất lượng sản phẩm da thuộc ở đa số các cơ sở sản xuất da của ta còn chưa đạt yêu cầu xuất khẩu tại chỗ, thậm chí người tiêu dùng khó tính trong nước còn khó chấp nhận:

- Các chỉ tiêu cơ, lý, hóa của da chưa đạt yêu cầu

Trong quá trình sản xuất da thông thường người ta phân loại chất lượng

da theo công đoạn sản xuất:

Trang 33

- Trước khi đưa da nguyên liệu sống vào bảo quản: phải phân loại da theo giống, trọng lượng, chất lượng bề mặt, có thể theo vùng chăn nuôi để thuận tiện cho việc xuất thuộc theo mặt hàng và lựa chọn quy trình công nghệ

- Sau khi thuộc (đối với da phèn xanh): chủ yếu phân loại chất lượng theo mặt da để làm các mặt hàng tương thích

- Trước khi hoàn thành: phân loại chủ yếu theo chất lượng bề mặt da để

đưa ra phương pháp xử lý trước khi đưa vào trau chuốt và định hướng quy trình công nghệ trau chuốt

- Da thành phẩm: phân loại chất lượng để định giá sản phẩm để đưa ra thị trường

Việc phân loại thường là những công nhân có thâm niên và có kinh nghiệm, lành nghề đảm nhận

Theo lý thuyết và kinh nghiệm chuyên gia, ngoài một số yếu tố khác, hiện tại có những yếu tố chính tác động đến chất lượng da thuộc Việt Nam của quá trình sản xuất da là:

1 Trình độ công nghệ của ngành

2 Nguyên vật liệu và hóa chất đầu vào

Trong khuôn khổ của đề tài này, tác giả chỉ xét trên những khía cạnh cơ

bản có ảnh hưởng trực tiếp rất lớn đến chất lượng đầu ra của sản phẩm

1.2.9 Nhận xét về chương 1 và nhiệm vụ của chương 2

Chương 1 đã khái quát những lý luận cơ bản về:

- Sản phẩm, chất lượng sản phẩm, các thuộc tính của chất lượng sản phẩm, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm,

- Đánh giá trình độ công nghệ theo các thành phần công nghệ (kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức),

- Sản phẩm da thuộc và quy trình công nghệ sản xuất da thuộc, các khía cạnh xem xét về sản phẩm da thuộc

Có thể tóm tắt như sau:

Trang 34

Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hay một quá trình Nó thoả mãn nhu cầu hay mong muốn của khách hàng và được chào bán trên thị trường Sản phẩm gồm hai phần: phần cứng và phần mềm Phần cứng thể hiện dưới một hình thức cụ thể như sản phẩm da thuộc là dạng nguyên liệu đã qua chế biến Phần mềm của sản phẩm là các loại thông tin, dịch vụ đi kèm đáp ứng nhu cầu tinh thần, tâm lý xã hội của khách hàng

Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Công nghệ gồm bốn thành phần: kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức có mối quan

hệ hữu cơ chặt chẽ do con người điều hành để sản xuất ra các sản phẩm phục

vụ nhu cầu của xã hội

Công nghệ thuộc da của ta hiện nay là dạng công nghệ truyền thống cải tiến thông qua việc sử dụng thiết bị, hóa chất mới tạo ra các sản phẩm theo nhu cầu của thị trường Là yếu tố quyết định chính cho chất lượng da thành phẩm

Chất lượng của sản phẩm có thể hiểu là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc một quá trình thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan, như sản phẩm da xuất khẩu phải đảm bảo các yêu cầu về đặc tính kỹ thuật, yêu cầu cảm quan và dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng

Chất lượng da thuộc thành phẩm phụ thuộc rất nhiều vào hàng loạt các

điều kiện như da nguyên liệu sống, hóa chất đầu vào, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất, những người nghiên cứu, đề xuất, giám sát và thực hiện các quy trình công nghệ… (các thành phần công nghệ)

Như vậy nhiệm vụ của chương 2 là phân tích thực trạng ngành công nghiệp thuộc da theo các thành phần công nghệ, thực trạng việc sử dụng nguyên liệu và hóa chất đầu vào và từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc ở chương 3

Trang 35

II Thực trạng ngành công nghiệp thuộc da Việt Nam 2.1 Vị trí của ngành công nghiệp thuộc Da

2.1.1 Vai trò, vị trí của ngành công nghiệp thuộc Da và các sản phẩm từ

da thuộc

Thuộc da và sản xuất các sản phẩm từ da thuộc được phát triển mạnh trong giai đoạn phát triển kinh tế mà ngành công nghiệp này cần nhiều nhân công, giá nhân công tương đối rẻ để hướng mạnh về xuất khẩu như nước ta hiện nay Chất lượng sản phẩm của cả hai đều lệ thuộc nhiều vào tính nghiêm túc và tay nghề của công nhân, sự nhậy bén về đổi mới sản phẩm Đặc biệt là việc tổ chức quản lý sản xuất chặt chẽ và trình độ công nghệ cao

Da thuộc và các sản phẩm chế biến từ da thuộc có tiềm năng xuất khẩu lớn, giá trị cao hơn nhiều so với các sản phẩm cùng loại được sản xuất từ các vật liệu khác

Ngày nay, nền kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, mức sống của người dân được nâng lên, nhu cầu về các sản phẩm chế biến từ da thuộc trên thị trường nội địa cũng tăng lên như:

+ Khi đời sống càng cao thì các sản phẩm tiêu dùng từ da thuộc là thời trang không thể thiếu của trang phục đúng mốt, hiện đại của nhiều người

+ Nhu cầu bảo hộ lao động và phục vụ cho các lực lượng có nhu cầu sắc phục, đồng phục

+ Một số mặt hàng da phục vụ cho các ngành công nghiệp chưa thay thế được bằng các vật liệu khác một cách thuyết phục

+ Da thuộc là nguồn khởi đầu giải quyết được nhiều công ăn việc làm tiếp theo cho người lao động làm giầy, dép và chế biến đồ da

+ Thuộc da phát triển đồng hành với sự tăng trưởng chăn nuôi đại gia súc, dần dần loại bỏ được việc xuất khẩu da nguyên liệu muối với giá trị thấp

và giảm dần lượng da thành phẩm phải nhập khẩu cho công nghiệp sản xuất giầy dép

Trang 36

Như vậy, về tổng thể thuộc da phát triển được trên mọi vùng kinh tế trọng điểm, trong khu công nghiệp nếu đáp ứng đủ các điều kiện riêng của nó như: Không đòi hỏi quy mô sản xuất lớn, có thể phát triển từng xí nghiệp riêng lẻ nhưng theo chuyên môn hóa

Ngành công nghiệp thuộc Da của nước ta phát triển vừa có ý nghĩa kinh

tế lại vừa có ý nghĩa xã hội rất lớn.[13,3-5]

2.1.2 Khái quát về quá trình phát triển của ngành công nghiệp thuộc Da nước ta

Nghề thuộc Da đã tồn tại ở nước ta trên 500 năm, chủ yếu ở trình độ thủ công và làng nghề Năm 1912 chủ tư bản Pháp mới cho đầu tư xây dựng Nhà máy Da Thụy Khuê (Hà Nội) để sản xuất da công nghiệp phục vụ cho nhà máy Dệt Nam Định, đến gần cuối những năm 90 của thế kỷ trước toàn bộ nhà máy đã di chuyển vào thành phố Vinh (Nghệ An)

Những năm 50 và 60 của thế kỷ trước, song song với sự phát triển của các làng nghề thủ công ở Hải Dương, Hưng Yên, Chợ Lớn, một số chủ tư nhân người Việt Nam lập ra các nhà máy Vina Da, Bình Lợi Da, Đôna Da (ở Sài Gòn và Biên Hòa) và đã cùng với nhà máy Da Thụy Khuê sản xuất da thuộc

để đóng giầy da quân sự, buôn bán da muối và một phần phục vụ người tiêu dùng khác

Đến năm 1986 Công ty Cổ phần da Tây Đô (thành phố Cần Thơ) chập chững bước vào làng thuộc Da Việt Nam với quy trình sản xuất ban đầu rất thủ công, sản phẩm duy nhất là da phèn xanh Sau đó đã vươn lên dẫn đầu về năng suất và chất lượng trong một thời gian

Từ đó thuộc da Việt Nam trở thành một ngành công nghiệp trải qua nhiều thăng trầm cho tới ngày nay

Khi đó, công nghệ sản xuất da thuộc chủ yếu là sử dụng công nghệ truyền thống đơn giản, làm bằng thủ công, thiết bị thô sơ, lạc hậu và hoá chất

Trang 37

đa phần tự điều chế lấy từ nguyên liệu trong nước Sản phẩm tạo ra ở mức thấp cấp, cung cấp cho nhu cầu quốc phòng và sản xuất công nghiệp như: da làm bao súng, bao đạn, giầy quân đội, da curoa, da vòng phục vụ ngành dệt

Các cơ sở sản xuất còn ít, nhỏ lẻ, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm da động vật chưa nhiều, mặt khác ngành này còn ít được quan tâm từ phía Nhà nước và chưa có giao lưu với nước ngoài, do đó trình độ công nghệ còn rất thấp

Năm 1989 các tổ chức phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP, UNIDO)

đã tài trợ cho viện nghiên cứu Da Giầy dự án VIE 85/013 Một xưởng thực nghiệm thuộc da mini tương đối hoàn chỉnh, hiện đại vào lúc đó đã ra đời

Đây là bước ngoặt đánh dấu cho ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam tiếp xúc, sử dụng hóa chất và công nghệ tiên tiến của nước ngoài

Nhìn chung, ngành công nghiệp thuộc Da nước ta còn nhiều yếu kém,

sự phát triển chưa được đồng đều trong cả nước, tập trung nhiều ở phía Nam Sản phẩm da thuộc phần lớn phục vụ tiêu dùng nội địa, khoảng gần 20% da thành phẩm xuất khẩu tại chỗ nhưng chủ yếu từ da nguyên liệu nhập ngoại

Vấn đề đặt ra cho ngành là làm thế nào để nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc của nước ta, đáp ứng dần việc thay thế da nhập ngoại hiện nay khi nguồn da nguyên liệu còn nhiều vấn đề về chất lượng chưa thể giải quyết trong một thời gian ngắn

Từ hơn 10 năm trở lại đây, khi Đảng và Nhà nước có chính sách đổi mới, mở cửa các nhà máy và các cơ sở thuộc da trong cả nước có điều kiện tiếp xúc, quan hệ với nước ngoài, đặc biệt là các chuyên gia công nghệ, các hãng hoá chất và thiết bị của các nước trên thế giới, do đó sản phẩm da thuộc ngày một nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng Năm 2004 cả nước sản xuất

được 39 triệu sqft da các loại, chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng nội địa và một phần xuất khẩu tại chỗ.[15,9],[13] Năm 2005 đã đạt 43,7 triệu sqft.[21,PL] Hàng năm, ngành sản xuất Giầy phải nhập khẩu một lượng lớn da thuộc các loại cung cấp cho các nhà máy và các cơ sở sản xuất chế biến sản phẩm

Trang 38

xuất khẩu Năm 2003 nhập trên 200 triệu sqft và năm 2004 nhập xấp xỉ 300

triệu sqft [như phân tích ở trên] Da thành phẩm của ta đạt yêu cầu xuất khẩu

tại chỗ chủ yếu được sản xuất từ nguyên liệu nhập ngoại

Hiện nay, chúng ta đã đưa ra nhiều giải pháp để cải thiện môi trường Đó

là di chuyển các cơ sở sản xuất có chất thải độc hại khỏi khu dân cư, nội đô đến các khu công nghiệp tập trung và phải xây dựng hệ thống xử lý chất thải

Các cơ sở thuộc da trong nước trước đây thường xây dựng ở vị trí ven đô, gần sông ngòi để tiện nguồn nước sử dụng và thải chất lỏng ra sông Hiện nay do quá trình đô thị hóa rất nhanh các cơ sở này đều nằm trong nội đô, diện tích chật hẹp không thể xây dựng hệ thống xử lý chất thải hoàn chỉnh hoặc đầu tư đơn giản

do chi phí không sinh lợi

Việc phát triển sản xuất tự phát, manh mún, đầu tư chiều sâu không

đồng bộ, trình độ công nghệ trung bình khá, không đều, quản lý công nghệ còn yếu, nguồn nhân lực làm công tác R & D, kỹ thuật cao…rất ít và chưa sâu dẫn đến chất lượng da thành phẩm chưa đạt đồng đều, việc tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm da thuộc là một yêu cầu rất cấp bách và cần thiết,[19,13-15],[14],[22]

2.2 Thực trạng ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam

2.2.1 Về cơ cấu sở hữu, quy mô và năng lực sản xuất

Trước năm 1990, cả nước chỉ có 2 doanh nghiệp thuộc da Trung ương (Da Thụy Khuê và Da Sài Gòn), 3 doanh nghiệp thuộc da địa phương (Da Vinh - Nghệ An, Da Thái Bình và Da Tây Đô - Cần Thơ); một số cơ sở tư nhân như: làng thuộc da Phú Thọ Hòa (thành phố Hồ Chí Minh), Da Đại Lợi (Hà Nội) và làng thuộc da Phố Nối (Hưng Yên) Năng lực sản xuất hạn chế, chất lượng không cao, chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa

Từ năm 1990 lại đây, cùng với sự phát triển của cơ chế thị trường ngành công nghiệp thuộc Da đang tồn tại và phát triển nhiều loại hình doanh nghiệp, nhiều hình thức sở hữu khác nhau

Trang 39

B¶ng 2 C¸c doanh nghiÖp, c¬ së thuéc da c¶ n−íc.[19, Phô lôc]

Lo¹i h×nh doanh nghiÖp Sè l−îng

§¬n vÞ tÝnh: 1000 sqft

1997 2000 2002 2003 2004 2005

1 S¶n phÈm da thuéc 9700 15.000 25.000 32.000 39.000 43.700

Trang 40

2.2.2 Một số nhận xét chung về thực trạng ngành công nghiệp thuộc Da Việt Nam

2.2.2.1 Theo vị trí địa lý:[19,12-14]

a Khu vực phía Bắc và miền Trung:

Chỉ có một doanh nghiệp lớn là công ty cổ phần Da Vinh - Nghệ An, công suất thiết kế khoảng 2,5 triệu sqft năm, tuy nhiên thực tế chỉ thực hiện

b Khu vực miền Nam:

Năng lực sản xuất da thuộc của các doanh nghiệp lớn chủ yếu nằm ở phía Nam, tập trung một số vùng như: thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ Sản lượng da thuộc chiếm khoảng 75 - 80% tổng sản lượng trong cả nước

Các doanh nghiệp nổi trội hơn hẳn như: cơ sở thuộc Da Hưng Thái và công ty TNHH thuộc Da Đặng Tư Ký - thành phố Hồ Chí Minh là hai doanh nghiệp đang phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng sản phẩm, được các chuyên gia nước ngoài đánh giá rất cao và có nhiều triển vọng

Một số công ty 100% vốn nước ngoài như: Samwoo, Green Tech, Tong Hong chủ yếu thực hiện công nghệ cán tráng màng PU trên da váng nhập ngoại phục vụ cho xuất khẩu tại chỗ và tiêu thụ nội địa Riêng công ty Da

Ngày đăng: 15/07/2017, 20:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w