Điều 8 của Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng Mục đích của các khoản cho vay ngắn hạn là nhằm bổ sung số vốn lưu động còn thiếu cho các doanh nghiệp trong khi mục
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀN THIỆN THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI
LÊ HẢI ANH
HÀ NỘI - 2009
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đến các Thầy cô giáo
trong khoa Kinh tế và quản lý - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội về sự hướng dẫn,
khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn TS Trần Việt Hà về sự hướng
dẫn nhiệt tình và những ý kiến đóng góp để luận văn được hoàn thành
Xin gửi lời cảm ơn các cán bộ thuộc Viện sau đại học - Trường Đại học Bách
khoa Hà Nội, những cán bộ và ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP Các doanh nghiệp
Ngoài quốc doanh Việt Nam về sự giúp đỡ, những sự hỗ trợ và đặc biệt trong việc
cung cấp các tài liệu, số liệu có liên quan phục vụ cho những nghiên cứu trong luận
văn
Cuối cùng, tôi bày tỏ lòng biết ơn Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Quản lý -
Trường đại học Bách khoa Hà nội, các bạn bè cũng như gia đình về những ý kiến
đóng góp và tạo cho tôi những điều kiện quí báu mà thiếu nó tôi đã không thể hoàn
thành luận văn này
Do hạn chế về thời gian cũng như về phạm vi nghiên cứu, luận văn sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp
của các thầy cô giáo, các bạn bè và đồng nghiệp
Học viên
Lê Hải Anh
Trang 3VPBANK: Ngân hàng thương mại cổ phần Các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh Việt Nam
Trang 4DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
I SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Quy trình thẩm định dự án cho vay của ngân hàng 20
Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức tại VPBank Hà Nội 41
Sơ đồ 2.2: Quy trình nghiệp vụ tín dụng tại VPBank Hà Nội 47
Sơ đồ 2.3: Bộ máy tổ chức tại nhà máy sản xuất khí công nghiệp 58
II BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của VPBank Hà Nội 42
Bảng 2.2: Tình hình sử dụng vốn của VPBank Hà Nội 44
Bảng 2.3: Tình hình dư nợ tại VPBank Hà Nội 45
Bảng 2.4: Kế hoạch nhân sự của dự án 59
Bảng 2.5: Các hạng mục công trình xây dựng 63
Bảng 2.6: Tổng mức đầu tư của dự án 64
Bảng 2.7: Nguồn vốn đầu tư của dự án 64
Bảng 2.8: Cân đối nguồn vốn đầu tư và thành phần vốn đầu tư 66
Bảng 2.9: Doanh thu của dự án 66
Bảng 2.10: Chi phí của dự án 67
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU 10
CHƯƠNG I : THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11
1.1 Tổng quan về cho vay theo dự án của ngân hàng thương mại 11
1.1.1 Khái niệm và những hoạt động cơ bản của NHTM 11
1.1.2 Hoạt động cho vay theo dự án của NHTM 12
1.1.2.1 Hoạt động cho vay của NHTM 12
1.1.2.2 Hoạt động cho vay theo dự án trung và dài hạn của NHTM 14
1.2 Thẩm định tài chính dự án cho vay của NHTM 17
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết thẩm định tài chính dự án cho vay 17
1.2.1.1 Khái niệm 17
1.2.1.2 Sự cần thiết thẩm định tài chính dự án cho vay 18
1.2.2 Quy trình thẩm định dự án cho vay của ngân hàng 19
1.2.3 Nội dung thẩm định tài chính dự án cho vay 21
1.2.3.1 Thẩm định vốn đầu tư của dự án 21
1.2.3.2 Thẩm định nguồn vốn, cơ cấu vốn, sự bảo đảm của nguồn vốn tài trợ cho dự án 23
1.2.3.3 Thẩm định doanh thu, chi phí, giá thành và lợi nhuận dự kiến của dự án.24 1.2.3.4 Thẩm định dòng tiền dự kiến hàng năm 25
1.2.3.5 Thẩm định lãi suất chiết khấu của dự án 26
1.2.3.6 Thẩm định chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án 28
1.2.3.7 Phân tích rủi ro của dự án 33
Trang 61.3 Nhân tố ảnh hưởng đến thẩm định tài chính dự án cho vay của NHTM
35
1.3.1 Nhân tố chủ quan 35
1.3.1.1 Trình độ cán bộ thẩm định: 35
1.3.1.2 Chất lượng, phương pháp thu thập thông tin khách hàng 36
1.3.1.3 Công nghệ và trang thiết bị ngân hàng 37
1.3.1.4 Việc tuân thủ quy trình thẩm định tài chính dự án của ngân hàng37 1.3.2 Nhân tố khách quan 38
1.3.2.1 Điều kiện kinh tế xã hội 38
1.3.2.2 Cơ chế chính sách, pháp luật của Nhà nước 39
1.3.2.3 Năng lực tài chính, quản lý, quản trị của chủ dự án 39
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN CHO VAY TẠI VPBANK HÀ NỘI 40
2.1 Tổng quan về VPBank Hà Nội 40
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 40
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy 40
2.2 Tình hình hoạt động của VPBank Hà Nội trong giai đoạn 2006 - 2007 42
2.2.1 Tình hình huy động vốn 42
2.2.2 Tình hình sử dụng vốn 44
2.3 Thực trạng thẩm định tài chính dự án tại VPBank Hà Nội 47
2.3.1 Quy trình thẩm định tài chính dự án tại VPBank Hà Nội 47
2.3.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư tại VPBank Hà Nội 47
2.3.2 Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư tại VPBank Hà Nội 48
2.3.3 Ví dụ minh họa: Thẩm định dự án xây dựng nhà máy sản xuất khí công nghiệp Cát Thành của Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Nam Hoa .53
2.3.3.1 Hồ sơ pháp lý và tên khách hàng 53
2.3.3.2 Thẩm định tài chính dự án 54
Trang 72.4 Đánh giá thực trạng thẩm định tài chính dự án cho vay tại VPBank Hà Nội 72
2.4.1 Kết quả đạt được 72
2.4.2 Hạn chế 73
2.4.3 Nguyên nhân 75
2.4.3.1 Nguyên nhân chủ quan 75
2.4.3.2 Nguyên nhân khách quan 78
CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN CHO VAY TẠI VPBANK HÀ NỘI 81
3.1 Định hướng hoạt động của VPBank Hà Nội 81
3.2 Giải pháp hoàn thiện thẩm định tài chính dự án 84
3.2.1 Hoàn thiện quy trình và phương pháp thẩm định 84
3.2.2 Xây dựng hệ thống thông tin và chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp 86
3.2.3 Chuẩn hoá đội ngũ CBTD 87
3.2.4 Thực hiện tái thẩm định 87
3.2.5 Cải cách hành chính 88
3.3 Tái thẩm định tài chính dự án xây dựng nhà máy sản xuất khí công nghiệp Cát Thành với các giải pháp vừa nêu 89
3.4 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện thẩm định tài chính dự án cho vay tại VPBank Hà Nội 91
3.4.1 Kiến nghị với chủ đầu tư 91
3.4.2 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 92
3.4.3 Kiến nghị với nhà nước 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta đang thực hiện cải cách, mở cửa nền kinh tế, mời gọi đầu tư nước
ngoài, thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO, Vì thế việc tạo vốn và sử dụng
vốn như thế nào cho hiệu quả đang là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp
và ngân hàng hiện nay
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, về số lượng và quy mô đầu tư dẫn đến
nhu cầu về vốn đầu tư là rất lớn, đã vượt qua khả năng vốn chủ sở hữu của chủ
đầu tư Do đó chủ đầu tư cần đến hệ thống ngân hàng thương mại - một trong
những tổ chức tín dụng quan trọng trong nền kinh tế và cụ thể là cho các dự án
đầu tư với quy mô lớn nhỏ Tuy nhiên mấy năm gần đây, hoạt động cho vay dự án
của ngân hàng có xu hướng chững lại và xuất hiện tình trạng ứ đọng vốn, trong
khi nhu cầu vốn thực tế là rất lớn Một trong những nguyên nhân của tình trạng
này là chất lượng tín dụng và hiệu quả của việc thẩm định chưa cao Điều này làm
cho dư nợ tăng trưởng chậm, do không tháo gỡ được những khó khăn đầu ra đối
với các nguồn vốn ngân hàng huy động được Trong khi đó nhiều dự án đầu tư
vẫn nằm trong tình trạng “treo” thiếu vốn để sản xuất kinh doanh Có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, mà hầu hết các ngân hàng thương mại hiện
nay đang phải nỗ lực để tìm cách tháo gỡ Một trong những vấn đề đó là làm sao
để hoàn thiện thẩm định tài chính dự án đầu tư để hạn chế rủi ro
Xuất phát từ thực tế đó, hơn nữa là một người công tác trong lĩnh vực tài chính
ngân hàng, tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện thẩm định tài chính dự án cho vay tại Ngân
hàng TMCP Các doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội”
Trang 9CHƯƠNG I THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về cho vay theo dự án của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm và những hoạt động cơ bản của NHTM
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong các ngành công nghiệp ra đời
sớm nhất Ở Mỹ, NHTM đầu tiên được thành lập năm 1782, trước khi Hiến pháp liên
bang được thông qua và nhiều ngân hàng thương mại được thành lập từ những năm
đầu thế kỷ 19 đến nay vẫn đang hoạt động
Theo Luật các tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay: Ngân hàng là loại hình
tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác có liên quan Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này
để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán (Điều 3 Luật các tổ chức tín
dụng sửa đổi năm 2004 của Quốc hội )
Các hoạt động cơ bản của NHTM
• Hoạt động huy động vốn: đây là hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM,
đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng
Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm: Vốn tự có (nguồn vốn hình thành ban
đầu, nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, các quỹ, ); Vốn huy
động từ bên ngoài (tiền gửi, tiền vay) và vốn nợ khác (nguồn vốn ủy thác,
nguồn trong thanh toán, ) Mỗi nguồn vốn đều có những đặc điểm và ưu
nhược điểm khác nhau song để có được những nguồn vốn đó ngân hàng
Trang 10phải mất một số chi phí nhất định như: chi phí giao dịch, chi phí trả lãi tiền
gửi, tiền vay và các chi phí khác có liên quan Để bù đắp chi phí này, ngân
hàng phải tiến hành hoạt động cho vay, đầu tư và các hoạt động trung gian
khác
• Hoạt động cho vay và đầu tư: NHTM sử dụng các nguồn vốn huy động
được để tạo nên các loại tài sản khác nhau trong đó cho vay và đầu tư là hai
loại tài sản lớn và quan trọng Chính hai loại tài sản này mang lại thu nhập
chính cho các NHTM gồm lãi vay, lợi tức đầu tư nhưng kéo theo nó là tiềm
ẩn rủi ro khá cao
• Hoạt động trung gian: Là một trung gian tài chính, bên cạnh những hoạt
động truyền thống là cho vay và đầu tư, NHTM còn thực hiện các hoạt động
trung gian khác như: thanh toán, chuyển tiền, bảo lãnh, ủy thác, bảo quản
vật có giá, mua bán ngoại tệ, Do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các
NHTM nên hoạt động này ngày càng được các NHTM chú trọng do nguồn
thu ổn định và độ rủi ro thấp
Trong ba hoạt động cơ bản nói trên, cho vay mà là hoạt động quan trọng
nhất và mang lại nguồn thu nhập chính cho NHTM đặc biệt là đối với những
nước đang phát triển như Việt Nam khi mà các dịch vụ ngân hàng chưa thực sự
phát triển toàn diện
1.1.2 Hoạt động cho vay theo dự án của NHTM
1.1.2.1 Hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là một hoạt động của NHTM để tài trợ cho chi tiêu của các doanh
nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ Hoạt động cho vay của NHTM có mối
quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ, bởi
Trang 11vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền
kinh tế Bên cạnh đó, thông qua các khoản cho vay của NHTM, thị trường sẽ có thêm
thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng và nhờ đó giúp cho họ có khả
năng nhận thêm các khoản tín dụng mới từ những nguồn khác với chi phí thấp hơn
Trong hoạt động của hệ thống NHTM tại Việt Nam, thu nhập từ hoạt động cho vay
chiếm quá nửa tổng giá trị nguồn thu của ngân hàng
Theo luật các Tổ chức tín dụng ở Việt Nam, cho vay là một hình thức cấp tín
dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào
mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và
lãi (Khoản 1 điều 3 trong Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách
hàng)
Hoạt động cho vay được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Ứng với
mỗi tiêu thức, hoạt động cho vay được phân làm nhiều loại, nhằm thuận tiện cho
quản lý và phù hợp với mục đích vay vốn của khách hàng
Phân loại theo khách hàng: cho vay đối với cá nhân, cho vay đối với doanh
nghiệp và cho vay đối với các tổ chức xã hội
Phân loại theo mục đích vay: cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay công
nghiệp và thương mại, cho vay nông nghiệp, cho vay các tổ chức tài chính, cho vay
cá nhân, cho thuê…
Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng cho vay: Cho vay không
có tài sản đảm bảo và cho vay có tài sản đảm bảo
Phân loại theo phương thức cho vay: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức
tín dụng, cho vay theo dự án, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, cho vay theo hạn
mức tín dụng dự phòng, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín
dụng, cho vay theo hạn mức thấu chi
Trang 12Phân loại theo thời hạn cho vay: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho
vay dài hạn
Ngoài ra còn nhiều căn cứ khác phân loại hoạt động cho vay như phân phân
loại căn cứ vào nguồn tài trợ, căn cứ vào mức độ rủi ro…Trong đó, đối với NHTM
phân chia hoạt động cho vay theo tiêu thức thời gian thì cho vay trung và dài hạn
thường chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu cho vay
1.1.2.2 Hoạt động cho vay theo dự án trung và dài hạn của NHTM
Hiện nay giữa các nước khác nhau quan niệm về cho vay theo dự án
trung và dài hạn (cho vay trung và dài hạn) không hoàn toàn giống nhau Tại
Việt Nam, theo quyết định số 1627/QĐ - NHNN ngày 31/12/2001 cho vay
trung hạn là những khoản vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm và cho vay dài
hạn là khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm (Điều 8 của Quy chế cho vay của
Tổ chức tín dụng đối với khách hàng)
Mục đích của các khoản cho vay ngắn hạn là nhằm bổ sung số vốn lưu
động còn thiếu cho các doanh nghiệp trong khi mục đích của các khoản cho
vay trung và dài hạn là cung cấp một số vốn nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu
mua sắm tài sản cố định, phương tiện vận tải mới, đổi mới trang thiết bị công
nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng các dự án mới về xí
nghiệp, nhà máy sản xuất…ở mọi lĩnh vực của nền kinh tế Các khoản cho
vay ngắn hạn được hình thành chủ yếu là do sự chênh lệch về thời gian giữa
các khoản thu và các khoản chi hoặc có thể thiếu do tài trợ cho việc mở rộng
kinh doanh mà khách hàng không xác định được thời hạn Còn các khoản cho
vay trung và dài hạn được hình thành do nhiều nguyên nhân, trong đó có
những nguyên nhân chủ yếu sau:
Trang 13- Xuất phát từ nhu cầu sử dụng vốn của các doanh nghiệp: Một doanh
nghiệp có thể thực hiện việc vay trung và dài hạn thay cho việc phát
hành chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) Bởi so với phát hành chứng
khoán, việc doanh nghiệp đi vay có thể thuận tiện và thích hợp hơn cho
nhu cầu của mình: sau khi nhận tiền vay họ vẫn có thể thương lượng với
người cho vay một số điều kiện đã được xác định ban đầu Đồng thời, đi
vay họ có thể không phải mất thêm một số chi phí như bảo lãnh, đăng
ký, phát hành…
Bên cạnh đó, việc phát hành chứng khoán có thành công hay không còn
phụ thuộc vào uy tín của doanh nghiệp và tính thanh khoản của thị trường
chứng khoán Doanh nghiệp chỉ có thể có được nguồn vốn khi chứng khoán
của doanh nghiệp được nhiều nhà đầu tư mua Mà yếu tố quan trọng tác động
tới quyết định mua của nhà đầu tư đó là uy tín của doanh nghiệp phát hành và
tính thanh khoản của thị trường Vì khi đó chứng khoán mới có khả năng sinh
lãi và được mua bán trên thị trường
Nhu cầu vay NHTM nêu trên còn xuất phát từ các doanh nghiệp nhỏ bởi vì
các doanh nghiệp nhỏ bị hạn chế về khả năng tìm nguồn vốn trên thị trường Do
không có đủ điều kiện để có thể huy động vốn trung và dài hạn cho mình thông qua
thị trường chứng khoán nên khi có nhu cầu vốn phát sinh, họ phải đi vay ở các
NHTM và các định chế tài chính khác
Ngoài ra, trong một số trường hợp doanh nghiệp không muốn phát hành
chứng khoán để thu hút vốn vì ngại phải công bố thông tin về mình hoặc đang ở
trong điều kiện thị trường không thuận lợi cho việc phát hành
- Xuất phát từ nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng: Như chúng ta đã biết, mục
đích hàng đầu của NHTM là tối đa hóa giá trị tài sản mà trước tiên là tối đa hóa
Trang 14lợi nhuận Hầu hết những sản phẩm và dịch vụ mà ngân hàng cung ứng cho
khách hàng đều nhằm mục đích đem lại những khoản thu nhập cho ngân hàng
dưới dạng tiền lãi, lệ phí, hoa hồng…Để tăng lợi nhuận của mình, NHTM sẽ
tìm cách giảm bớt các khoản chi không cần thiết và mở rộng các hoạt động
mang lại nguồn thu cho ngân hàng, đặc biệt là những hoạt động đóng góp một
tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập như cho vay, đầu tư cung cấp dịch vụ…Vì vậy,
cho vay trung và dài hạn đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động của
NHTM
- Cho vay trung và dài hạn còn giúp cho các NHTM nâng cao khả năng
cạnh tranh và tạo điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại Thật vậy, trong
điều kiện hiện nay, sự phát triển kinh tế của một nước luôn gắn liền với sự
phát triển kinh tế của thế giới, nền kinh tế đóng trước kia nhường chỗ cho
nền kinh tế mở phát triển Giống như các doanh nghiệp khác, hệ thống
NHTM không chỉ phải cạnh tranh với các NHTM trong nước mà còn phải
cạnh tranh với các NHTM nước ngoài Do đó, để có thể tồn tại và phát
triển thì các NHTM phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và
dịch vụ, đồng thời phải tăng cường hợp tác, đặc biệt là hoạt động cho vay
trung và dài hạn - hoạt động tạo ra nguồn thu chính của NHTM, để từ đó
có thể phát huy tối đa các ưu điểm và hạn chế nhược điểm
Đặc điểm hoạt động cho vay theo dự án của NHTM
+ Thường là hoạt động cho vay trung và dài hạn, thời gian cho vay phụ thuộc
vào tốc độ thu hồi vốn từ việc đầu tư mang lại và không được vượt quá thời gian
khấu hao của tài sản hình thành từ vốn vay và khấu hao được coi là nguồn trả nợ gốc
chủ yếu của vốn vay hình thành lên nó
Trang 15+ Có mức độ rủi ro cao hơn so với hoạt động cho vay ngắn hạn Vì vậy để bù
đắp rủi ro, các ngân hàng áp dụng mức lãi suất cho vay cao hơn so với lãi suất cho
vay ngắn hạn và thường là lãi suất thả nổi được thay đổi theo thời gian
+ Việc giải ngân đối với một khoản vay ngắn hạn thông thường được tiến
hành làm một lần, tuy nhiên một khoản vay theo dự án trung và dài hạn thường được
giải ngân làm nhiều lần theo tiến độ thực hiện dự án
+ Việc hoàn trả gốc thường chỉ khi dự án đi vào hoạt động và có nguồn thu,
được tiến hành theo phương án trả làm nhiều kỳ, kỳ cò thể tính theo tháng, theo quý,
theo năm tuỳ thuộc vào loại hình kinh doanh của dự án
+ Số vốn cho vay của ngân hàng căn cứ vào nhu cầu vốn thực tế tham gia vào
dự án, tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo tiền vay, mức cho vay được
tính theo công thức sau:
Mức vay của tổ chức khác (nếu có)
1.2 Thẩm định tài chính dự án cho vay của NHTM
1.2.1 Khái niệm và sự cần thiết thẩm định tài chính dự án cho vay
1.2.1.1 Khái niệm
Trên góc độ tổng quan: “Thẩm định dự án đầu tư là quá trình kiểm tra, xem
xét một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản của một dự án
đầu tư, nhằm đánh giá tính hợp lý, hiệu quả và tính khả thi của dự án trên cơ sở đó
đưa ra quyết định đầu tư và cấp phép đầu tư”
Đứng ở góc độ Ngân hàng, là nhà tài trợ, thì quan điểm về thẩm định
được nhìn nhận cụ thể hoá hơn: “Thẩm định dự án đầu tư là việc tiến hành
nghiên cứu, phân tích một cách khách quan, khoa học, toàn diện các nội dung
Trang 16cơ bản liên quan đến tính khả thi và khả năng hoàn trả vốn đầu tư của dự án để
phục vụ cho việc xem xét, quyết định cho khách hàng vay vốn đầu tư dự án”
Như vậy, thẩm định tài chính dự án là việc tổ chức xem xét một cách khách
quan, khoa học và toàn diện mọi khía cạnh tài chính của dự án trên giác độ của nhà
đầu tư, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác, các cá nhân Thẩm định tài chính dự
án là nội dung rất quan trọng trong thẩm định dự án Cùng với thẩm định kinh tế,
thẩm định tài chính giúp các nhà đầu tư có những thông tin cần thiết để đưa ra quyết
định đúng đắn
1.2.1.2 Sự cần thiết thẩm định tài chính dự án cho vay
Điều mà ngân hàng quan tâm là mức độ an toàn của đồng vốn bỏ ra tức
là ngân hàng quan tâm đến khả năng trả nợ và khả năng thu hồi vốn điều này
chỉ giải quyết được khi ngân hàng tiến hành thẩm định kỹ càng Thẩm định dự
án không chỉ quan trọng với bản thân ngân hàng, các tổ chức tài chính - tín
dụng mà còn có ý nghĩa to lớn đối với chủ đầu tư và các cơ quan quản lý nhà
nước
Đối với bản thân ngân hàng thì thẩm định đóng vai trò then chốt trong việc
giải quyết những vấn đề cơ bản của tín dụng đó là:
+ Là cơ sở để đưa ra quyết định về tính khả thi, hiệu quả về mặt tài chính của
dự án đầu tư, khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra để phục vụ cho việc ra
quyết định cho vay hay từ chối cho vay và cho vay theo phương thức gì
+ Là cơ sở để xác định số tiền cho vay, thời gian cho vay, dự kiến tiến độ giải
ngân, mức thu nợ hợp lý, các điều kiện cho vay, tạo điều kiện cho khách hàng hoạt
động có hiệu quả và đảm bảo mục tiêu an toàn vốn của ngân hàng
+ Là cơ sở tham gia góp ý, tư vấn cho khách hàng vay vốn, tạo tiền đề đảm
bảo hiệu quả cho vay, thu hồi nợ gốc đúng hạn, hạn chế phòng ngừa rủi ro
Trang 17+ Là cơ sở vững chắc để xác định khả năng hoàn vốn, khả năng trả nợ của chủ
đầu tư đồng thời rút được bài học kinh nghiệm để cho vay có hiệu quả đối với các
phương án sau này
1.2.2 Quy trình thẩm định dự án cho vay của ngân hàng
Quy trình thẩm định dự án của các ngân hàng khác nhau thường không
giống nhau Thông thường một quy trình thẩm định tài chính dự án thường
được bắt đầu từ CBTD (một số ngân hàng gọi là cán bộ thẩm định) và kết thúc
là người hoặc hội đồng đưa ra quyết định cuối cùng, thông thường thì quy trình
thẩm định dự án đầu tư của ngân hàng tuân theo 8 bước như sơ đồ sau:
Trang 18Sơ đồ 1.1 Quy trình thẩm định dự án cho vay của ngân hàng
2 Tiếp nhận hồ sơ vay của
khách hàng vay vốn
1 Tìm kiếm khách hàng và
hướng dẫn lập hồ sơ
4b Trình các cấp lãnh đạo
xem xét và đưa ra quyết định
đối với dự án đầu tư
5b Hoàn thiện hồ sơ tín dụng:
Thực hiện ký kết HĐTD, hợp
đồng bảo đảm tiền vay
6 Thực hiện giải ngân tiền vay
7 Tiến hành theo dõi khoản vay theo tiến độ dự án, kiểm tra việc thu nợ gốc, nợ lãi, việc
sử dụng tiền vay đúng mục đích,…
3 Tiến hành lập tờ trình thẩm định, báo cáo thẩm định
8 Tất toán HĐTD và hoàn trả
lại hồ sơ gốc tài sản bảo đảm
5a Hoàn trả lại hồ sơ cho khách hàng hoặc bổ sung thêm hồ sơ cần thiết
4a Thực hiện tái thẩm định đối với dự án vay vốn
Trang 191.2.3 Nội dung thẩm định tài chính dự án cho vay
Thẩm định tài chính dự án là tiến hành phân tích khía cạnh tài chính của dự án
trong những năm hoạt động của dự án Bên cạnh đó thẩm định tài chính dự án đòi hỏi
xem xét giá trị thời gian của tiền Một số vấn đề cơ bản mà thẩm định tài chính dự án
quan tâm bao gồm:
(1) Tổng vốn đầu tư của dự án
(2) Nguồn tài trợ cho dự án
(3) Doanh thu, chi phí, giá thành và lợi nhuận dự kiến của dự án
(4) Dòng tiền đầu tư cho dự án
(5) Lãi suất chiết khấu
(6) Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án
(7) Đánh giá mức độ rủi ro của dự án
1.2.3.1 Thẩm định vốn đầu tư của dự án
Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số vốn cần thiết để thiết lập
dự án Tính toán chính xác tổng mức vốn đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với tính
khả thi của dự án Nếu vốn đầu tư quá thấp thì dự án không thực hiện được, ngược
lại, nếu dự tính vốn đầu tư quá cao sẽ không phản ánh chính xác hiệu quả kinh doanh
của dự án
Vốn đầu tư tăng lên hay giảm đi quá lớn so với dự kiến ban đầu đều dẫn đến
việc không cân đối được nguồn, ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng trả nợ của dự
án
Tổng mức vốn đầu tư được chia làm 2 loại là vốn đầu tư vào tài sản cố định và
vốn lưu động ban đầu (tính cho một chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên)
* Vốn đầu tư vào TSCĐ
Trang 20+ Chi phí chuẩn bị: Là chi phí trước khi thực hiện dự án (chi phí trước vận
hành) bao gồm:
- Chi phí cho kiểm tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án
- Chi phí cho tư vấn, thiết kế, chi phí cho quản lý dự án
- Chi phí đào tạo huấn luyện,
Các chi phí này khó xây dựng chính xác được vì vậy cần phải được xem xét
đầy đủ các khoản mục để đưa ra mức chi phí dự trù chính xác
+ Chi phí xây lắp và mua sắm thiết bị: Bao gồm
- Chi phí ban đầu về mặt đất mặt nước, chi phí này phải phù hợp với quy định
của nhà nước
- Chi phí chuẩn bị mặt dự án để xây dựng
- Giá trị nhà xưởng và kết cấu hạ tầng sẵn có
- Chi phí xây dựng mới, cải tạo nhà xưởng hoặc cấu trúc hạ tầng
- Chi phí máy móc thiết bị (bao gồm cả chi phí lắp đặt chạy thử)
+ Các chi phí khác bao gồm cả chi phí trả lãi vay ngân hàng trong thời gian thi
công, chi phí dự phòng… cũng được đưa vào tổng vốn đầu tư của dự án
* Vốn lưu động ban đầu
Ngoài việc xem xét những yếu tố trên, khi xác định tổng vốn đầu tư, ngân
hàng cần phải xem xét kỹ về cơ cấu giữa tài sản cố định và tài sản lưu động của dự
án Khi đưa dự án vào hoạt động cần phải đảm bảo mức vốn lưu động cần thiết nếu
không thì vốn lưu động đầu tư vào tài sản cố định sẽ không phát huy được tác dụng
(tỷ lệ vốn đầu tư vào tài sản cố định và vốn lưu động phụ thuộc vào từng ngành nghề)
Vốn lưu động bao gồm:
- Vốn cho sản xuất: Chi phí nguyên vật liệu, điện, nước, nhiên liệu …
Trang 21- Vốn cho lưu thông: Thành phẩm tồn kho, sản phẩm dở dang, hàng hoá bán
chịu (phải thu),…
Ngân hàng căn cứ vào tốc độ lưu chuyển vốn lưu động hàng năm của doanh
nghiệp cùng ngành nghề và khả năng tự chủ vốn lưu động của dự án để xác định nhu
cầu vốn lưu động và chi phí vốn lưu động hàng năm
1.2.3.2 Thẩm định nguồn vốn, cơ cấu vốn, sự bảo đảm của nguồn vốn tài trợ
cho dự án
Một dự án thường có những nguồn vốn chính sau: Vốn tự có và vốn huy động
Ngân hàng với tư cách là nhà tài trợ vốn phải xem xét tỷ trọng đóng góp của mỗi
nguồn vốn là bao nhiêu trong tổng nhu cầu vốn của dự án, đánh giá khả năng tham
gia của nguồn vốn chủ sở hữu Đối với mỗi nguồn vốn huy động ngân hàng cần xem
xét các mặt sau:
Thứ nhất, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế bảo đảm tính chân thực của nguồn
vốn đó Các nguồn vốn bên ngoài có thể do nhà nước cấp phát hay do ngân hàng cho
vay thì phải có cam kết dự án văn bản sau khi cơ quan đó ký vào hồ sơ cấp vốn, nếu
là vốn góp cổ phần hoặc liên doanh thì phải có cam kết về tiến độ và số lượng vốn
góp của các cổ đông hoặc các bên liên doanh được xác lập cụ thể, nếu là vốn tự có thì
phải có tài liệu chứng minh
Thứ hai, quy mô nguồn tài trợ Thông thường trước lúc lập và đi đến quyết
định đầu tư một dự án, chủ đầu tư phải cân nhắc được khả năng huy động vốn và tính
khả thi của nguồn vốn huy động được, những chủ đầu tư cần phải nắm bắt được quy
mô vốn đối với dự án mình đầu tư và có những kênh huy động hiệu quả đối với tổng
nhu cầu đầu tư của dự án
Trang 22Thứ ba, cơ cấu nguồn vốn đầu tư, chủ đầu tư cần phải tính toán tỷ lệ từng
nguồn chiếm trong tổng mức vốn đầu tư dự kiến của dự án và tính toán mức chi phí
vốn đối với tong nguồn vốn trong tổng đầu tư của mình
Thứ tư, trên cơ sở nhu cầu vốn, tiến độ thực hiện dự án đầu tư và cơ cấu
nguồn vốn, lập tiến độ huy động vốn hàng năm đối với từng nguồn cụ thể Tiến
độ huy động vốn phải căn cứ vào lượng tiền cần thiết phải huy động hàng năm
trong trường hợp có biến động giá cả hoặc lạm phát Nếu không có sự phối hợp
nhịp nhàng thì khi triển khai có thể dẫn tới tình trạng dự án thiếu vốn hoặc thừa
vốn
1.2.3.3 Thẩm định doanh thu, chi phí, giá thành và lợi nhuận dự kiến của dự
án
Thứ nhất, kiểm tra tổng chi phí gồm chi phí sản xuất, chi phí ngoài sản xuất
* Chi phí sản xuất bao gồm các chi phí vật chất (nguyên vật liệu, bán thành
phẩm…), chi phí nhân công, chi phí lãi vay, chi phí quản lý, chi phí sử dụng vốn và
chi phí khấu hao tài sản cố định
* Chi phí ngoài sản xuất bao gồm: Chi phí quảng cáo, chi phí dự phòng lưu
thông sản phẩm và chi phí khác
Thứ hai, phải xác định giá thành của từng loại sản phẩm, đánh giá các khoản
mục chi phí tạo lên giá thành sản phẩm, so sánh với giá thánh sản phẩm của các loại
sản phẩm tương tự trên thị trường từ đó đưa ra kết luận
Thứ ba, kiểm tra cách xác định doanh thu và lợi nhuận của dự án Doanh thu
của dự án là tổng giá trị hàng hoá dịch vụ thu được trong năm dự kiến Doanh thu của
dự án được xác định trên cơ sở chi phí sản xuất, giá bán buôn sản phẩm, dịch vụ của
dự án Lợi nhuận của dự án là chênh lệch giữa doanh thu và chi phí sản xuất sản
Trang 23phẩm Lợi nhuận của dự án mà ngân hàng quan tâm bao gồm lợi nhuận gộp, lợi
nhuận trước và sau thuế
1.2.3.4 Thẩm định dòng tiền dự kiến hàng năm
Dòng tiền của dự án là phần chênh lệch dòng tiền của doanh nghiệp trong giai
đoạn mà dự án được thực hiện so với lúc không thực hiện dự án Các chủ đầu tư
thường quan tâm đến dòng vốn tự có để đầu tư ban đầu và dòng thu nhập do đầu tư
cộng lại sau khi đã trừ đi tất cả các khoản chi phí (chi phí trả gốc, chi phí trả lãi và
thuế) Tuy nhiên, nếu xem xét trên quan điểm tính hiệu quả của toàn bộ hoạt động
đầu tư, dòng tiền của dự án bao gồm đầu tư chi ra ban đầu và dòng thu nhập còn lại
sau thuế nhưng không tính trả nợ gốc và lãi vay khi dự án đi vào hoạt động Dòng
tiền ròng hàng năm của một dự án là hiệu số của tổng số tiền vào và tổng số tiền ra
trong năm của dự án đó Căn cứ vào dòng tiền ròng của dự án, ngân hàng mới có thể
thẩm định được các chỉ tiêu tài chính của dự án Tuy nhiên, đối với hệ thống NHTM,
cho vay luôn phải đảm bảo nguyên tắc bảo toàn và phát triển nguồn vốn Vì vậy, khi
thẩm định tài chính dự án thì vấn đề được quan tâm nhất chính là khả năng hoàn trả
nợ cao thông qua hiệu quả của dự án mang lại
Sau khi thẩm định doanh thu, chi phí, giá thành và lợi nhuận dự kiến của dự án
nhân hàng cần xem xét bảng cân đối thu chi và từ đó tính ra các chỉ tiêu kinh tế, các
ngân hàng thường quan tâm đặc biết đến dòng tiền tạo ra của dự án Một dự án lý
tưởng để cho vay là dự án đó khi đi vào hoạt động có đủ khả năng trả nợ, mà khả
năng trả nợ của dự án phụ thuộc vào dòng tiền mà dự án mang lại
Dòng tiền ròng của dự án sẽ được xác định theo công thức sau:
NCFt = CIFt - COFt = LNSTt + Khấu haot – Trả gốc vayt
Trong đó:
NCFt: Dòng tiền ròng năm thứ t của dự án
Trang 24CIFt: Dòng tiền vào năm thứ t của dự án COFt: Dòng tiền ra năm thứ t của dự án LNSTt: Lợi nhuận sau thuế năm thứ t của dự án
KHt: Giá trị khấu hao năm thứ t của dự án
Ở năm cuối cùng của dự án:
NCFn = LNST + Khấu hao + thu nhập từ hoạt động + VLĐRthu hồi
thanh lý TSCĐ*(1-T)
Điều đáng lưu ý trong quá trình tính dòng tiền ròng của dự án là việc tính khấu
hao và giá trị còn lại của TSCĐ Đây là hai khoản chi phí nhưng không phải là chi
của dự án, tức là hai khoản này không thuộc dòng tiền ra của dự án
1.2.3.5 Thẩm định lãi suất chiết khấu của dự án
Lãi suất chiết khấu của dự án là tỷ lệ sinh lời cần thiết mà nhà đầu tư yêu cầu
đối với đồng vốn bỏ ra, là cơ sở để chiết khấu các dòng tiền trong việc xác định giá trị
hiện tại ròng của dự án Cũng có thể hiểu lãi suất chiết khấu là chi phí sử dụng vốn
(chi phí cơ hội) phụ thuộc vào cơ cấu sử dụng vốn đầu tư của dự án Đối với từng loại
vốn cụ thể của dự án sẽ cho ta một mức lãi suất chiết khấu khác nhau trên cơ sở chi
phí cơ hội đầu tư của đồng vốn
Nguyên tắc dự tính lãi suất chiết khấu: Để dự tính chính xác lãi suất chiết khấu
phục vụ cho việc chiết khấu dòng tiền của dự án, người lập dự án cũng như người
them định dự án cần phải xác định một số nội dung cơ bản như:
• Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi tức kỳ vọng, đây là mối tương quan
thuận tức là với một dự án có mức độ rủi ro cao thì lợi tức kỳ vọng đối với dự án đó càng cao;
Trang 25• Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn đầu tư tài trợ cho dự án xem xét và cơ cấu
vốn của doanh nghiệp Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm và thường xảy
ra việc xác định sai lãi suất chiết khấu đối với dự án;
• Dự án đang xem xét phải đặt trong tương quan với các tài sản tài chính
và các dự án khác có cùng mức độ rủi ro
Thông thường lãi suất chiết khấu có thể được xác định như sau:
+ Đối với chủ đầu tư: lãi suất chiết khấu có thể chọn là tỷ suất sinh lời kỳ vọng
của chủ đầu tư hoặc chi phí sử dụng vốn bình quân WACC
WACC = WeKe + Wd (1-T) Kd
Trong đó:
WACC: chi phí vốn bình quân
Ke: Chi phí thực của vốn chủ sở hữu
We: Tỷ trọng của vốn chủ sở hữu trong tổng vốn
Kd: Chi phí vốn vay
Wd: Tỷ trọng của vốn vay trong tổng vốn
T : Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
+ Đối với ngân hàng: có thể chọn tỷ lệ chiết khấu bằng lãi suất trái phiếu
kho bạc (được coi như độ rủi ro bằng 0) cộng với một tỷ lệ phần bù rủi ro tương
ứng hoặc WACC hoặc lãi suất cho vay cộng thêm một tỷ lệ dự phòng rủi ro nhất
định
Ý nghĩa của lãi suất chiết khấu trong dự án, về khả năng thanh toán, lãi suất
chiết khấu của dự án biểu thị mức lãi suất vay vốn mà dự án có khả năng thanh toán
theo nguồn vốn
Trên cơ sở thẩm định chính xác lãi suất chiết khấu, tương ứng với độ rủi ro của
dự án, Ngân hàng tiến hành thẩm định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án
Trang 261.2.3.6 Thẩm định chỉ tiêu hiệu quả tài chính dự án
Trên thực tế có nhiều chỉ tiêu đánh giá dự án về mặt tài chính song những chỉ tiêu
phổ biến nhất và thường được dùng trong thẩm định tài chính dự án gồm có:
* Giá trị hiện tại thuần (NPV- Net Present Value)
Giá trị hiện tại ròng là phần chênh lệch giữa tổng giá trị hiện tại của các dòng
tiền thu được trong từng năm thực hiện dự án với vốn đầu tư bỏ ra được hiện tại hóa
ở mốc 0 Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất trong thẩm định tài chính dự án
Công thức tính:
i i i n
C r
B
) 1 ( )
1 ( 1
∑
=
=
Trong đó: r: tỷ suất chiết khấu
n: số năm tính toán (gồm cả thời gian thi công)
Bi : khoản thu năm i: doanh thu, giá trị thanh lý TSCĐ và vốn lưu
động ròng thu hồi
Ci: tổng các khoản chi phí của năm i: Chi phí đầu tư ban đầu, chi phí
hàng năm của dự án gồm cả chi phí tạo ra TSCĐ ở các thời điểm trung gian (nhưng
không bao gồm chi phí khấu hao)
NPV còn có thể được tính theo công thức:
CF
) 1 (
Trang 27Chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng – NPV phản ánh giá trị tăng thêm của chủ đầu tư
Với NPV > 0, tỷ lệ lợi nhuận của dự án lớn hơn tỷ lệ sinh lời sẵn có trên thị trường
vốn với cùng mức rủi ro tức là dự án được thực hiện không những bù đắp được vốn
đầu tư bỏ ra mà còn tạo ra phần tăng thêm cho chủ dự án trên cơ sở đã xem xét giá trị
thời gian của tiền
Với NPV < 0 cho thấy dự án sinh lợi với tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ sinh lời sẵn có
trên thị trường vốn với cùng mức rủi ro tức là dự án không đủ bù đắp vốn đầu tư,
đem lại thua lỗ cho chủ đầu tư
Như vậy, chúng ta sẽ có tiêu chuẩn lựa chọn dự án là:
Đối với dự án độc lập, lựa chọn dự án nào có NPV ≥ 0 và loại bỏ những dự án
nào có NPV < 0
Đối với dự án loại trừ nhau, lựa chọn dự án nào có NPV dương cao nhất
Thông qua việc phân tích ở trên, ta thấy chỉ tiêu NPV có ưu điểm đó là: chỉ
tiêu này cho biết giá trị tăng thêm trên vốn chủ sở hữu bỏ ra có được từ việc đầu tư
dự án; chỉ tiêu này có tính đến nguyên tắc giá trị thời gian của tiền Song nó cũng có
nhược điểm là phải xác định rõ ràng dòng thu, dòng chi của dự án khi muốn dùng
chỉ tiêu này mà điều này không phải lúc nào cán bộ phân tích – thẩm định cũng có
thể tính được; chỉ tiêu này chưa nói lên được hiệu quả sử dụng đồng vốn bỏ ra bởi nó
mới chỉ cho biết được hiệu quả dưới dạng tuyệt đối và trong nhiều trường hợp vốn có
hạn nhưng có nhiều dự án có thời hạn khác nhau để lựa chọn thì không thể dùng chỉ
tiêu này
* Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ (IRR-Internal Rate of Return)
Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất mà nếu dùng nó làm lãi suất chiết khấu
để chuyển các khoản thu và khoản chi của dự án về mặt dự án thời gian hiện tại thì
Trang 28tổng thu sẽ cân đối với tổng chi, hay nói cách khác là giá trị hiện tại thuần của dự án
= 0 Nó cho biết mức lãi suất mà dự án có thể đạt được
IRR = r1 + (r2 - r1)
) ( 1 2
1
NPV NPV
NPV
−
Trong đó:
i1, ,i2 : là 2 lãi suất bất kỳ (i2 >i1 và i2 - i1 ≤ 5%)
NPV1, NPV2 là giá trị NPV tương ứng với lãi suất chiết khấu i1, i2
Chỉ tiêu IRR nói lên mức sinh lời của dự án sau khi đã hoàn vốn đồng thời
cũng phản ánh mức doanh lợi tối thiểu mà dự án đem lại Thông thường, dự án sẽ
được đánh giá là có hiệu quả khi dự án có IRR≥ chi phí vốn
Chỉ tiêu này cũng có những ưu nhược điểm riêng Ưu điểm là: chỉ tiêu này đã
cho biết tỷ lệ sinh lời của một đồng vốn bỏ ra và nó đã tính đến nguyên tắc giá trị thời
gian của tiền Nhược điểm là: chỉ tiêu này chỉ cho biết lợi nhuận tương đối, không
tính đến lợi nhuận tuyệt đối, cách tính phức tạp và giả thiết để xây dựng nên công
thức IRR là không chính xác vì các dòng tiền ròng hàng năm của dự án có thể sẽ
được tái đầu tư với tỷ lệ sinh lời bằng chi phí vốn
* Tỷ suất sinh lời vốn đầu tư (ROI - Return On Investment)
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng
vốn đầu tư
Lợi nhuận bình quân hàng năm ROI =
Vốn đầu tư
Với [ROI] là tỷ suất sinh lời vốn đầu tư cho phép
Nếu ROI = [ROI] dự án có tỷ suất sinh lời vốn đầu tư càng lớn thì hiệu quả tài
chính dự án ngày càng cao
Trang 29Nếu ROI < [ROI] dự án không đạt kết quả mong muốn
* Chỉ tiêu tỷ số thu chi – B/C (hay BCR)
Tỷ số thu chi là tỷ số giữa giá trị hiện tại của dòng tiền trên giá trị hiện tại của
dòng chi phí bỏ ra Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả của đồng vốn bỏ ra khi quy về giá
trị hiện tại
Công thức xác định BCR:
BCR =
i n
i
i n
i
r Ci r Bi
) 1 (
) 1 (
BCR cho phép nhà thẩm định, phân tích đánh giá được hiệu quả tài chính
của dự án Những dự án nào có BCR >1 sẽ được coi là dự án có hiệu quả tài
chính
Ưu, nhược điểm:
Chỉ tiêu BCR có ưu điểm nổi bật là: có tính đến giá trị thời gian của tiền và có
thể đánh giá được hiệu quả tương đối của dự án
Nhược điểm của chỉ tiêu BCR là việc đòi hỏi phải xác định rõ ràng dòng thu
và dòng chi của dự án Đây là một công việc không phải dễ dàng đối với nhà phân
tích
* Chỉ số doanh lợi – PI
Chỉ số doanh lợi là chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi của dự án, tính bằng
tổng giá trị hiện tại của các dòng tiền trong tương lai chia cho vốn đầu tư bỏ ra
ban đầu
Trang 30Công thức tính:
PI =
0 1
) (
C
C B n
∑
=
−
Ưu điểm: Với chỉ tiêu này sẽ giúp ngân hàng chọn được dự án có khả năng
sinh lời cao và cũng cho biết thông tin về độ an toàn vì nó đo lường khả năng sinh lời
của mỗi đồng vốn đầu tư
Nhược điểm: chỉ tiêu này có thể dẫn đến mâu thuẫn với NPV trong các dự án
loại trừ nhau có quy mô đầu tư khác nhau
Nhóm chỉ tiêu khả năng trả nợ
* Thời gian hoàn vốn đầu tư
Thời gian hoàn vốn của dự án là thời gian cần thiết để dự án hoạt động thu hồi
đủ số vốn đầu tư ban đầu đã bỏ ra Nó là khoảng thời gian cần thiết để hoàn trả số
vốn đầu tư ban đầu của dự án các khoản lợi nhuận và khấu hao hằng năm
Tổng vốn đầu tư Thời gian hoàn vốn đầu tư giản đơn =
LN ròng trong kỳ + Khấu hao tài sản trong kỳ
* Khả năng thanh toán nợ dài hạn (DSCR - Debt Service Ration)
Vốn đầu tư + khấu hao + lãi vay trung dài hạn DSCR =
Vốn vay + lãi vay trung dài hạn DSCR > 1 dự án đảm bảo khả năng hoàn trả nợ vay theo dự kiến
DSCR < 1 dự án không có khả năng hoàn trả nợ vay theo dự kiến
* Điểm hoà vốn (BEP - Break Event Point)
Điểm hoà vồn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ để trang trải các khoản chi
phí bỏ ra Tại điểm hoà vốn tổng doanh thu dự án tổng chi phí, do đó tại đây dự án
Trang 31chưa có lãi nhưng cũng không lỗ Chỉ tiêu điểm hoà vốn càng nhỏ thì thời gian thu
hồi vốn càng nhanh, mức độ an toàn của vốn đầu tư cao
Theo phương pháp đại số người ta gọi X là khối lượng sản phẩm sản xuất hoặc
bán được, gọi X0 là khối lượng sản phẩm tại điểm hoà vốn, f là chi phí cố định (định
phí), vốn là chi phí biến đổi cho một đơn vị sản phẩm (biến phí), p là đơn giá sản
1.2.3.7 Phân tích rủi ro của dự án
Như đã đề cập ở trên, cho vay đặc biệt là cho vay đối với dự án của NHTM là
hoạt động tạo ra thu nhập đáng kể của ngân hàng song đây cũng là hoạt động có
nhiều rủi ro nhất Rủi ro ở đây được hiểu một cách chung nhất là khả năng một sự
Trang 32kiện không có lợi nào đó xuất hiện Để thuận tiện cho việc phân tích, rủi ro đã được
phân ra làm ba loại:
Rủi ro loại 1: là những rủi ro riêng của chính bản thân dự án tức là rủi ro của
một tài sản khi nó là tài sản duy nhất của doanh nghiệp
Rủi ro loại 2: là loại rủi ro cho thấy sự ảnh hưởng của dự án đối với rủi
ro của doanh nghiệp Nó thể hiện thông qua sự biến thiên thu nhập của
doanh nghiệp khi thực hiện dự án
Rủi ro loại 3: là rủi ro có ảnh hưởng trực tiếp đối với giá cổ phiếu của
doanh nghiệp Đây là loại rủi ro mà doanh nghiệp không thể loại trừ được,
chẳng hạn như rủi ro về tỷ giá, lạm phát…
Trong ba loại rủi ro trên , rủi ro loại 1 ít được quan tâm nhất nhưng
thực chất rủi ro này rất quan trọng bởi rủi ro này gắn liền với việc xác định
chỉ tiêu dòng tiền của dự án Để đo lường rủi ro này, người ta sử dụng hai
phương pháp là phân tích độ nhạy và phân tích kịch bản
1.2.3.7.1 Phân tích độ nhạy: Là việc người thẩm định cho từng yếu tố
của dự án thay đổi trong khi các yếu tố khác vẫn giữ nguyên, để nghiên cứu
tác động của yếu tố đó tới kết quả (NPV, IRR) hay tính khả thi của dự án
Nếu các chỉ tiêu này vẫn đạt được yêu cầu thì dự án được coi là ổn định
Ngược lại, dự án bị coi là không ổn định thì ngân hàng sẽ xem xét và cân
nhắc kỹ lưỡng hơn khi quyết định cho vay và giúp chủ đầu tư có thêm cơ sở
để cân nhắc việc đầu tư cho dự án Như vậy, với phuơng pháp này, người ra
quyết định có thể tính toán được những hậu quả của sự ước tính sai lầm và
ảnh hưởng của chúng đến NPV Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm
là: các biến số đưa ra dựa trên những phán đoán chủ quan rất cao, bỏ qua sự
tác động lẫn nhau của các biến số đầu vào
Trang 331.2.3.7.2 Phân tích kịch bản: Là kỹ thuật phân tích rủi ro có tính đến
cả độ nhạy của giá trị NPV đối với những biến cơ bản và độ dàn trải về giá
trị có thể xảy ra của những biến này Theo đó, NPV của tập hợp các tình
huống xấu nhất (sản lượng và giá bán thấp nhất, chi phí biến đổi và chi phí
cố định cao,…), tình huống trung bình và tình huống tốt nhất được tính toán
Để đánh giá rủi ro của dự án cần tính thêm NPV trung bình kỳ vọng, độ lệch
chuẩn và hệ số phương sai của giá trị NPV Với các dự án có giá trị trung
bình kỳ vọng về lợi nhuận cao hơn tức là có lợi nhuận cao thì sẽ được chọn
Phương pháp phân tích này có ưu điểm là bắt buộc người ra quyết định
phải xem xét cẩn thận các mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến dòng
tiền Nhược điểm của phương pháp này đó là: khó khăn trong việc nhận biết
các mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến dòng tiền
1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến thẩm định tài chính dự án cho vay của
NHTM
1.3.1 Nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan là những nhân tố thuộc về phía ngân hàng vì thế
ngân hàng có thể chủ động kiểm soát, điều chỉnh được công tác thẩm định để
có hiệu quả cao nhất Các nhân tố chủ quan bao gồm: trình độ cán bộ thẩm
định, phương pháp thu thập và chất lượng thông tin của ngân hàng, quy trình
công tác thẩm định tài chính dự án, công nghệ và trang thiết bị ngân hàng
1.3.1.1 Trình độ cán bộ thẩm định
Ngân hàng với tư cách là người cho vay đồng thời là người phân tích
tín dụng sẽ phải chịu trách nhiệm chính về các khoản tín dụng Đồng thời,
ngân hàng cũng không mong muốn sẽ có những món vay quá hạn, có vấn đề
Trang 34Cán bộ thẩm định là người trực tiếp tiến hành thẩm định dự án Chất lượng
đội ngũ cán bộ có ảnh hưởng lớn đến việc quy trình nghiệp vụ có được thực
hiện đúng và đạt chất lượng cao hay không Song đòi hỏi để thực hiện tốt
quy trình này thì yêu cầu đặt ra là cán bộ ngân hàng phải có trình độ, kinh
nghiệm, năng lực, tính kỷ luật cao và đạo đức nghề nghiệp Ngoài yêu cầu về
kĩ thuật nghiệp vụ, cán bộ thẩm định còn phải am hiểu để tư vấn cho khách
hàng từ khâu thu thập thông tin, lập dự án, ký kết hợp đồng tín dụng, chọn
phương thức thanh toán có lợi, từ đó tạo được lòng tin và thu hút khách hàng
đến với ngân hàng Tuy nhiên nhiều cán bộ thẩm định còn bị chi phối bởi tư
tưởng truyền thống, rất cổ điển của ngân hàng đó là họ cho rằng dễ dàng tin
cậy hơn khi phát tiền cho vay cho khách hàng lâu năm, nên nhiều khi xem
xét một cách không kỹ lưỡng về tính khả thi của dự án Kết quả là dẫn đến
rủi ro cho ngân hàng
1.3.1.2 Chất lượng, phương pháp thu thập thông tin khách hàng
Quy trình thẩm định dự án bao gồm 2 giai đoạn là thu thập tài liệu,
thông tin cần thiết cho phân tích đánh giá chủ đầu tư và dự án, tiến hành sắp
xếp thông tin theo các nội dung thẩm định Hai công đoạn này có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và trên thực tế chúng thường đem lại
kết quả thông tin không cân xứng, phiến diện không đảm bảo độ tin cậy
Hiện nay việc thu thập thông tin về khách hàng, doanh nghiệp đều do
cán bộ thẩm định ngân hàng đảm nhiệm Mọi nguồn thông tin phần lớn dựa
vào nguồn tài liệu mà nguồn thông tin đại chúng về chủ đầu tư, mà các thông
tin này lại không mang tính pháp lý, chỉ có ý nghĩa tham khảo khi phân tích
đánh giá Bên cạnh đó, việc sàng lọc, xử lý thông tin của ngân hàng nhiều
Trang 35khi không cẩn thận, do vậy chưa phát hiện ra những bất hợp lý trong các báo
cáo tài chính cũng như các dự án mà chủ đầu tư đưa đến
Một lĩnh vực thông tin cũng rất quan trọng và cần thiết đối với công
tác thẩm định là thông tin về chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà
nước, ngành, địa phương, thông tin về lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh
doanh, môi trường kinh doanh của dự án, thông tin pháp luật có liên quan
đến công tác quản lý dự án như luật đầu tư, hợp đồng kinh tế…
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn chưa phát triển như hiện nay,
mạng lưới phương tiện trang thiết bị thu thập thông tin nhìn chung còn ít,
đơn giản Thêm vào đó sự sửa đổi bổ sung các loại thông tin này nhìn chung
chưa được cập nhật liên tục vì vậy thông tin đã mất đi tính thời sự Mọi
nguyên nhân quy tụ lại đều dẫn đến vấn đề thiếu hụt thông tin, thông tin kém
trung thực và không đầy đủ Thực tế này gây khó khăn rất lớn cho việc nâng
cao chất lượng thẩm định, làm cho ngân hàng mất nhiều thời gian vào việc
kiểm chứng lại thông tin ảnh hưởng đến công tác thẩm định
1.3.1.3 Công nghệ và trang thiết bị ngân hàng
Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh của mình không chỉ
độc lập mà còn gắn liền với cả hệ thống, không chỉ trong riêng hệ thống của
mình mà còn với các ngân hàng ở trong và ngoài nước Do đó yếu tố công
nghệ và trang thiết bị của ngân hàng quyết đinh rất nhiều đến hoạt động của
ngân hàng cũng như hoạt động thẩm định tài chính dự án
1.3.1.4 Việc tuân thủ quy trình thẩm định tài chính dự án của ngân
hàng
Đây là nhân tố khá quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tài
chính dự án của ngân hàng trong hoạt động cho vay nói chung và hoạt động
Trang 36cho vay dự án của ngân hàng nói riêng Cũng như bất kỳ hoạt động nào khác,
hoạt động thẩm định của ngân hàng chỉ có thể thu được kết quả tốt khi quy
trình thực hiện của nó được quy định rõ ràng, đầy đủ và khoa học Bởi vì khi
đó cán bộ thẩm định sẽ hiểu rõ được những vấn đề cần làm và hạn chế được
những sai sót nhầm lẫn, đảm bảo cho công tác thẩm định tài chính dự án có
được kết quả chính xác, nhanh chóng và tăng thêm ý nghĩa của công tác
thẩm định
1.3.2 Nhân tố khách quan
Đây là nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng như điều kiện
kinh tế xã hội, cơ chế chính sách, pháp luật của Nhà nước, các rủi ro bất khả
kháng có thể xảy ra trong quá trình thực hiện dự án, trình độ và tính trung
thực của chủ đầu tư…
1.3.2.1 Điều kiện kinh tế xã hội
Nhân tố này có ảnh hưởng khá rõ ràng đến chất lượng thẩm định tài
chính Vì nền kinh tế xã hội phát triển sẽ tạo ra một trường kinh doanh lành
mạnh với thông tin được công bố rộng rãi, khách quan và chính xác về mọi
mặt của đời sống Điều này sẽ giúp cho cán bộ thẩm định rút ngắn được thời
gian thu thập thông tin và nâng cao chất lượng thông tin từ đó rút ngắn được
thời gian thẩm định và tăng độ chính xác trong những dự báo về dự án và
tính chính xác khách quan trong kết quả thẩm định
Bên cạnh đó, nền kinh tế xã hội phát triển và ổn định còn giúp cho
ngân hàng tránh được những rủi ro bất khả kháng của chiến tranh, thị trường
Bởi vì, nếu xảy ra chiến tranh hoặc thị trường biến động theo chiều hướng
xấu sẽ gây ra những tác động xấu đến kết quả kinh doanh của dự án và như
Trang 37vậy sẽ ảnh hưởng tới chủ đầu tư Khi đó, chất lượng thẩm định dự án sẽ được
đánh giá là kém vì đã không đánh giá hết được rủi ro của dự án
1.3.2.2 Cơ chế chính sách, pháp luật của Nhà nước
Nhân tố này ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định tài chính bởi vì đây là
những căn cứ quy phạm pháp luật quy định các nội dung hoạt động của ngân
hàng nói chung và hoạt động thẩm định tài chính nói riêng, buộc các ngân
hàng và các cán bộ thẩm định phải tuân theo Vì vậy, nếu môi trường pháp lý
ổn định, lành mạnh, phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ tạo điều kiện cho công
tác thẩm định thực hiện một cách bài bản, đúng quy định, trong khuôn khổ
cho phép, thuận tiện cho cả ngân hàng và khách hàng Còn nếu môi trường
pháp lý còn thiếu và chưa đồng bộ sẽ gây khó khăn cho cán bộ thẩm định và
khiến cho họ phải mất nhiều thời gian công sức hơn khi thực hiện công tác
thẩm định
1.3.2.3 Năng lực tài chính, quản lý, quản trị của chủ dự án
Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thẩm định vì chủ
đầu tư là người cung cấp trước tiên các thông tin cho ngân hàng thông qua
hồ sơ vay vốn Do vậy, chủ dự án cung cấp thông tin trung thực, chính xác,
khoa học và đầy đủ sẽ giúp cho việc thẩm định tài chính của dự án rất nhiều
Bên cạnh đó, sự hiểu biết sâu rộng của chủ đầu tư, khả năng tổ chức, quản
lý, sự nỗ lực của chủ dự án trong việc kết hợp với các bộ phận thẩm định khi
thẩm định cũng góp phần thúc đẩy quá trình thẩm định nói chung và thẩm
định tài chính dự án nói riêng diễn ra nhanh chóng, chính xác, làm tăng tính
khả thi của dự án
Trang 38CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN CHO VAY
TẠI VPBANK HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về VPBank Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
VPBank Hà Nội là chi nhánh trực thuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần Các
doanh nghiệp Ngoài quốc doanh Việt Nam (VPBank), được thành lập ngày
10/12/2004 theo giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số 0113006139 của
Phòng đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội và đi vào hoạt động ngày
01/01/2005, trụ sở chính tại 4 Dã Tượng, Phường Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm,
Thành Phố Hà Nội
VPBank là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên nằm
trong địa bàn thủ đô Trong những năm qua VPBank nói chung và VPBank Hà Nội
nói riêng đã thực hiện những bước cải cách mạnh mẽ và toàn diện từ quy mô đến
chất lượng dịch vụ ngân hàng
Ngoài trụ sở chính tại số 4 Dã Tượng, Hà Nội, VPBank Hà Nội còn quản lý 10
chi nhánh và phòng giao dịch, bao gồm: VPBank Cát Linh, VPBank Trần Hưng Đạo,
VPBank Tràng An, VPBank Yên Phụ, VPBank Thuỵ Khuê, VPBank Khâm Thiên,
VPBank Tôn Đức Thắng, VPBank Trần Xuân Soạn, VPBank Hàng Giấy, VPBank
Đội Cấn
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy
Cùng với sự phát triển chung của đất nước, ngành ngân hàng và của VPBank,
VPBank Hà Nội đã có những cách thức tổ chức quản lý phù hợp với đặc điểm ngành
Trang 39nghề, đáp ứng yêu cầu về nhân lực và chất lượng hoạt động Tại thời điểm
31/12/2008 tổng số cán bộ công nhân viên chức trong đơn vị là 465 lao động trong
đó có 94% tổng số cán bộ có trình độ Đại học và trên Đại học
Cơ cấu tổ chức bộ máy của VPBank Hà Nội bao gồm: 01 Giám đốc, 02
Phó Giám đốc; các phòng ban bao gồm: Phòng Kế toán kiểm toán nội bộ,
Phòng thanh toán quốc tế, Phòng Phục vụ khách hàng doanh nghiệp, Phòng
phục vụ khách hàng cá nhân, phòng hành chính nhân sự, phòng giao dịch kho
quỹ; đứng đầu mỗi phòng gồm 01 trưởng phòng và 01 hoặc 02 phó phòng Các
phòng thực hiện các chức năng theo đúng quyền hạn và nhiệm vụ của phòng
mình Lãnh đạo các phòng ban thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo các phòng ban thực
hiện các nhiệm vụ theo sự uỷ quyền phân cấp của Ban giám đốc
Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức tại VPBank Hà Nội
Phòng Nguồn vốn và thanh toán quốc tế
Phòng kế toán kiểm toán nội bộ
Phòng giao dịch
kho quỹ
Phòng phục vụ khách hàng cá nhân
Trang 402.2 Tình hình hoạt động của VPBank Hà Nội trong giai đoạn 2007 - 2008
2.2.1 Tình hình huy động vốn
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của VPBank Hà Nội
Đơn vị: Tỷ đồng
So sánh 2008/2007 Khoản mục Năm 2007 Năm 2008
(Nguồn: Bảng cân đối tài khoản tổng hợp năm 2007,2008 VPBank Hà Nội)
Tình hình huy động vốn của VPBank Hà Nội trong 2 năm 2007, 2008 là ổn
định, tăng trưởng an toàn, cụ thể như sau:
- Tiền gửi tổ chức tín dụng năm 2008 giảm so với năm 2007 là 5.42 tỷ đồng,
tỷ lệ giảm là 8.44%; mặc dù về cơ cấu giữa tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ
hạn thay đổi Tuy nhiên, đây việc tăng này không ảnh hưởng nhiều tới chất
lượng huy động vốn của Ngân hàng vì đây là nguồn vốn huy động với lãi