Lời cam đoan Tôi, người ký tên dưới đây, xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ khoa học – ngành Quản trị kinh doanh, đề tài "Hoàn thiện công tác triển khai các dự án đầu tư tại Tổng công ty khoá
Trang 1luËn v¨n th¹c sü
Đề tài:
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC TRIỂN KHAI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
TẠI TỔNG CÔNG TY KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Trang 2Lời cam đoan
Tôi, người ký tên dưới đây, xin cam đoan Luận văn Thạc sỹ khoa học – ngành
Quản trị kinh doanh, đề tài "Hoàn thiện công tác triển khai các dự án đầu tư tại Tổng công ty khoáng sản Việt Nam" là công trình nghiên cứu độc lập của
mình, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo TS Lê Hiếu Học - Khoa Kinh tế và Quản lý - Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội Trong quá trình làm luận văn Tôi đã thực sự dành nhiều thời gian cho việc tìm kiếm cơ
sở lý luận, thu thập dữ liệu, vận dụng kiến thức để hoàn thành bản luận văn này Mọi số liệu, tài liệu sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin cam đoan luận văn này là của Tôi và hoàn toàn do Tôi tự làm
Hà Nội, ngày 25 tháng 12 năm 2009
Tác giả
Tạ Văn Minh
Trang 3Danh mục bảng biểu và hình vẽ:
Hình 1.1 Các giai đoạn của chu kỳ dự án 24
Hình 1.2 Tiêu chuẩn đánh giá công tác triển khai dự án đầu tư 25
Hình 1.3 Nội dung công tác thực hiện dự án đầu tư 26
Hình 1.4 Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án 36
Hình 1.5 Mô hình tổ chức chủ nhiệm điều hành dự án 37
Hình 1.6 Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khoá trao tay 38
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Tổng công ty Khoáng sản VN 44
Bảng 2.1 Bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty giai đoạn 2003 – 2008 48
Bảng 2.2 Tình hình thực tế một số dự án điển hình của Tổng công ty 53
Bảng 2.3 Một số dự án đầu tư của Tổng công ty trong những năm vừa qua 54
Hình 2.2 Mô hình tổ chức hiện tại của các ban QLDA của Tổng công ty 69
Hình 3.1 Mô hình tổ chức mới các ban QLDA 88
Bảng 3.1 Nội dung và đối tượng tham gia đào tạo chuyên môn kỹ thuật 91
Bảng 3.2 Nội dung và đối tượng tham gia đào tạo về pháp luật 92
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan
Danh mục bảng biểu và hình vẽ
Lời mở đầu 1
Chương 1 Tổng hợp cơ sở lý thuyết về quản lý dự án đầu tư 4
1.1 Khái niệm cơ bản về đầu tư 4
1.2 Khái niệm cơ bản về dự án 5
1.3 Khái niệm về dự án đầu tư 6
1.4 Nội dung của công tác quản lý dự án đầu tư 8
1.4.1 Lập dự án đầu tư 8
1.4.2 Thẩm định dự án đầu tư 14
1.4.3 Thực hiện dự án đầu tư 23
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án đầu tư 30
1.5.1 Các nhân tố khách quan 30
1.5.2 Các nhân tố chủ quan 33
1.6 Một số mô hình tổ chức thực hiện quản lý dự án 35
1.6.1 Mô hình Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án 35
1.6.2 Mô hình thuê tư vấn quản lý dự án 36
1.6.3 Những căn cứ để lựa chọn mô hình tổ chức quản lý dự án 38
1.7 Kết kuận 39
Chương 2: Phân tích các căn cứ để hoàn thiện công tác triển khai các dự án đầu tư tại Tổng công ty khoáng sản Việt Nam 40
2.1 Giới thiệu Tổng công ty khoáng sản Việt Nam 40
2.1.1.Ngành nghề kinh doanh 40
2.1.2 Cơ cấu tổ chức Tổng công ty 41
2.1.3 Một số kết quả đạt được 45
2.2 Thực trạng về công tác triển khai các dự án đầu tư 49
Trang 52.3 Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố 55
2.3.1 Nhân tố khách quan 55
2.3.2 Nhân tố chủ quan 64
2.3.3 Đánh giá chung các hạn chế còn tồn tại 70
2.3.4 Đánh giá về chủ trương chính sách liên quan đến đầu tư 73
2.3.5 Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn 75
2.4 Kết luận 77
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác triển khai các dự án đầu tư tại Tổng công ty khoáng sản Việt Nam 78
3.1 Định hướng phát triển của Tổng công ty giai đoạn 2010- 2015 78
3.1.1 Vị trí và vai trò của Tổng công ty 78
3.1.2 Tiềm năng tài nguyên khoáng sản 80
3.1.3 Định hướng phát triển của Tổng công ty 85
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác triển khai các dự án đầu tư 86
3.2.1 Giải pháp1: Thay đổi mô hình tổ chức của các ban QLDA 86
3.2.2 Giải pháp2: Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 90
3.2.3 Dự kiến lợi ích từ giải pháp 94
3.3 Một số kiến nghị 95
Kết luận 97
Tóm tắt luận văn 99
Summary 100
Tài liệu tham khảo 101
Trang 6Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Với chính sách khuyến khích đầu tư của Chính phủ và Nhà nước ta hiện nay, các doanh nghiệp, tập đoàn cả trong và ngoài nước đang rất tích cực trong phát triển các dự án đầu tư tại Việt Nam Các dự án này đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế Đất nước Tuy nhiên nhiều dự án đầu tư còn chưa đạt được hiệu quả cao, còn nhiều hạn chế tồn tại như: chậm tiến độ, chất lượng chưa tốt, chi phí vượt quá so với dự toán, trình độ của cán bộ dự án còn yếu, v.v Trong đó Tổng công ty khoáng sản VN cũng không nằm ngoài thực
tế này Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam là một trong những Tổng công ty lớn của Nhà nước có chức năng nhiệm vụ chính là thăm dò, khai thác, chế biến và kinh doanh các loại khoáng sản Trước khi sát nhập vào Tập đoàn than - khoáng sản VN (TKV), Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam chưa có những dự án đầu tư lớn Sau khi sát nhập vào Tập đoàn TKV, Tổng công ty
đã có được sự hậu thuẫn lớn của Tập đoàn về nguồn vốn, về quản lý và các nguồn lực khác và đã đẩy mạnh công tác đầu tư thông qua việc thành lập nhiều Công ty mới, đầu tư nhiều dự án mới Sự tăng trưởng trong hoạt động đầu tư của Tổng công ty đạt được là dựa trên nhiều yếu tố thuận lợi như nguồn vốn, nguồn tài nguyên khoáng sản, áp dụng công nghệ mới v.v Tuy nhiên một đặc thù của các dự án đầu tư trong lĩnh vực tài nguyên khoáng sản
là việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên khoáng sản, một loại tài nguyên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Đồng thời với nhiệm
vụ được Nhà nước giao là quản lý và tổ chức thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, Tổng công ty có một trách nhiệm trước Nhà nước, trước Nhân dân về việc sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản nhằm đem lại hiệu quả cao nhất về mặt kinh tế xã hội của Đất nước nói chung và về lợi ích của doanh nghiệp nói riêng Ngoài ra việc đầu tư trong lĩnh vực khai thác, chế biến
Trang 7khoáng sản còn tác động lớn đến môi trường, tạo ra nhiều việc làm cho Nhân dân, góp phần vào đảm bảo an ninh năng lượng và dự trữ nguyên liệu chiến lược cho quốc gia, cung cấp nguyên liệu và tạo điều kiện cho phát triển các ngành công nghiệp khác Chính vì vậy việc quản lý các dự án đầu tư trong lĩnh vực khoáng sản có ý nghĩa rất lớn, không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn tác động đến nhiều mặt của đời sống xã hội, ý nghĩa của công tác quản lý
dự án và sự cần thiết hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nói chung
và các dự án đầu tư tại Tổng công ty Khoáng sản nói riêng chính là lý do để tôi chọn đề tài “Hoàn thiện công tác triển khai các dự án đầu tư tại Tổng công
ty Khoáng sản VN”
2 Mục đích nghiên cứu
Tổng hợp cơ sở lý thuyết về quản lý dự án đầu tư, xác định các tiêu chí đánh giá kết quả công tác triển khai dự án đầu tư Phân tích thực trạng công tác triển khai các dự án đầu tư, các nhân tố ảnh hưởng Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác triển khai các dự án đầu tư
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các dự án đầu tư của Tổng công ty khoáng sản VN Về đối tượng chủ thể tham gia quản lý dự án đầu tư, luận văn tập trung vào nghiên cứu bộ máy các phòng ban trực tiếp tham gia công tác quản lý dự án đầu tư tại cơ quan Tổng công ty, là những người tham mưu trực tiếp cho Lãnh đạo Tổng công ty mà không nghiên cứu cấp quản lý cao hơn
Về phạm vi công tác quản lý, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản
lý trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư mà không nghiên cứu toàn bộ quá trình của dự án
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: phương pháp điều tra chọn mẫu các đối tượng liên quan, phân tích dữ liệu, tổng hợp thống kê và so sánh, mô hình hoá, dự báo v.v Trong quá trình nghiên cứu, các phương pháp này được sử dụng một cách linh hoạt, hoặc kết hợp hoặc riêng lẻ để giải quyết và tiếp cận các vấn đề một cách tốt nhất Đồng thời vận dụng từ lý thuyết vào thực tế một cách có hiệu quả nhất
5 Đóng góp của luận văn
Sử dụng cơ sở lý thuyết chung về quản lý dự án đầu tư đối với công tác này tại Tổng Công ty Khoáng Sản Việt nam với những nét đặc thù riêng Qua đó thấy được những mặt tích cực trong công tác quản lý dự án cũng như những hạn chế vẫn còn tồn tại trong công tác quản lý Từ những phân tích đó, người viết sẽ đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý các dự án đầu tư tại Tổng công ty Khoáng sản VN
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn này được chia thành 3 chương:
Chương 1: “Tổng hợp cơ sở lý thuyết về quản lý dự án đầu tư” trình bày những khái niệm cơ bản về đầu tư, dự án và dự án đầu tư, nội dung của công tác quản lý dự án, các tiêu chí đánh giá
Chương 2: “Phân tích các căn cứ để hoàn thiện công tác triển khai các dự án đầu tư tại Tổng công ty Khoáng sản” trình bày giới thiệu về Tổng công ty Khoáng sản VN và tìm hiểu thực trạng, phân tích, đánh giá tình hình quản lý các dự án đầu tư của Tổng công ty, các nhân tố ảnh hưởng
Chương 3: “Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác triển khai các dự án đầu tư tại Tổng công ty Khoáng sản” đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư trong thời gian tới
Trang 9Chương 1: TỔNG HỢP CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ
DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1.1 Khái niệm cơ bản về đầu tư
Đầu tư là sự bỏ vốn trong một thời gian dài vào một lĩnh vực nhất định nào đó nhằm thu lợi nhuận cho nhà đầu tư và thu lợi ích kinh tế xã hội cho Đất nước được đầu tư
Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau :
- Trước hết phải có vốn, vốn bằng tiền hay bằng các loại tài sản khác hay bằng bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, v.v Vốn có thể là của Nhà nước,
tư nhân, cổ phần, hay vốn vay, v.v
- Thời gian thực hiện tương đối dài, thường là hai năm trở lên Các hoạt động ngắn hạn dưới một năm tài chính thường không gọi là đầu tư Do thời gian dài nên người đầu tư và thẩm định đầu tư cần có tầm nhìn xa
- Lợi ích của đầu tư mang lại biểu hiện trên hai mặt là lợi nhuận (lợi ích tài chính) và lợi ích kinh tế xã hội Nhà đầu tư tư nhân muốn đầu tư sinh lợi nhuận, còn Nhà nước đầu tư thì muốn có hoặc lợi nhuận hoặc lợi ích
Trang 10Có thể nói đầu tư có đặc điểm chính là vốn Vốn ở đây có thể được biểu hiện bằng tiền, chứng khoán, cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu hay các tài sản cố định như công trình, nhà xưởng, đường sá; tài sản lưu động như máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông hoặc các giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết
kỹ thuật, quy trình công nghệ, quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, không gian v.v, cũng như nhiều nguồn tài nguyên khác
Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư Lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn lợi ích kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng Hoạt động đầu tư trong mỗi doanh nghiệp có ba loại trao đổi các giá trị kinh
tế chủ yếu Chính ba loại trao đổi này xác định các chức năng cơ bản của hoạt động đầu tư Ba loại trao đổi đó bao gồm:
- Trao đổi để huy động vốn cần thiết (chức năng tài chính)
- Trao đổi để khai thác nguồn vốn có sẵn (chức năng đầu tư)
- Trao đổi để đem lại thu nhập về tài chính dựa trên số vốn đầu tư (chức năng sản xuất)
1.2 Khái niệm cơ bản về dự án
Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm
vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch, tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới
Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định, dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới, là một nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất
Trang 11Một số đặc trưng cơ bản của dự án như sau:
- Dự án có mục đích, kết quả xác định, có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn
- Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ)
- Đáp ứng một nhu cầu đã đề ra
- Chịu sự ràng buộc bởi kỳ hạn và nguồn lực
- Thực hiện trong một bối cảnh không chắc chắn
1.3 Khái niệm cơ bản về dự án đầu tư
Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định
Cụ thể là, khi phát hiện ra một cơ hội đầu tư và muốn bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó, trước hết nhà đầu tư phải tiến hành thu thập, xử lý thông tin, xác định điều kiện và khả năng, xác định phương án tối ưu để xây dựng bản
dự án đầu tư mang tính khả thi được gọi tắt là Dự án đầu tư (Luận chứng kinh
tế kỹ thuật)
Trang 12Dự án đầu tư được phân loại:
• Phân loại theo quy mô: lớn - nhỏ (Dự án lớn là dự án có tổng kinh phí lớn, các bên tham gia đông, thời gian dự án dài, có ảnh hưởng mạnh tới môi trường kinh tế và sinh thái)
• Phân loại theo quy mô và tính chất quan trọng: A, B, C - phân cấp quản
lý
• Phân loại theo mục đích đầu tư: Dự án đầu tư mới, dự án đầu tư chiều sâu, dự án đầu tư mở rộng, dự án đầu tư thay thế thiết bị)
• Phân loại theo ngành nghề
• Phân loại theo hợp đồng đầu tư: BCC (hợp đồng hợp tác kinh doanh), BOT (xây dựng vận hành và chuyển giao), BTO (xây dựng chuyển giao
và vận hành), BT (xây dựng và chuyển giao), v.v
• Phân loại theo mối quan hệ giữa các dự án: Dự án độc lập, dự án phụ thuộc
Một dự án đầu tư để đảm bảo tính khả thi cần đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
• Tính khoa học và hệ thống: Đòi hỏi những người soạn thảo dự án phải có một quá trình nghiên cứu thật tỉ mỉ và kỹ càng, tính toán cẩn thận chính xác từng nội dung cụ thể của dự án Đặc biệt có những nội dung rất phức tạp như phân tích tài chính, kỹ thuật v.v
• Tính pháp lý: Các dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc, phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước Do đó, trong quá trình soạn thảo dự án phải nghiên cứu kỹ chủ trương đường lối chính sách của Nhà nước và các văn bản quy chế liên quan đến hoạt động đầu tư
• Tính đồng nhất: Đảm bảo tính thống nhất của các dự án đầu tư thì các dự
án đầu tư phải tuân thủ các quy định chung của các cơ quan chức năng về
Trang 13hoạt động đầu tư, các quy định về thủ tục đầu tư Đối với các dự án quốc tế còn phải tuân thủ những quy định mang tính quốc tế
• Tính hiện thực: Để đảm bảo tính thực tiễn các dự án phải được nghiên cứu
và xác định trên cơ sở phân tích, đánh giá đúng mức các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới hoạt động đầu tư Việc chuẩn bị kỹ càng có khoa học sẽ giúp thực hiện dự án có hiệu quả cao nhất
và giảm thiểu mức rủi ro có thể xảy ra trong quá trình đầu tư
1.4 Nội dung của công tác quản lý dự án đầu tư
Thực tế nội dung chính của quản lý dự án đầu tư bao gồm các công việc hình thành và thực hiện sau khi đã có dự án đầu tư được phê duyệt Tuy nhiên, để
có cái nhìn tổng quát về quản lý dự án đầu tư, chúng ta sẽ nghiên cứu từ quá trình lập dự án, thẩm định dự án và tổ chức thực hiện quản lý dự án
1.4.1 Lập dự án đầu tư
1.4.1.1 Nội dung của công tác lập dự án đầu tư
Giai đoạn lập dự án chính là giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư hay còn gọi là giai đoạn chuẩn bị đầu tư, gồm hai công việc chính, đó là:
Thứ nhất: Xây dựng ý tưởng dự án: là việc xác định bức tranh toàn cảnh về
mục tiêu, kết quả cuối cùng và phương pháp thực hiện kết quả đó Xây dựng ý tưởng dự án được bắt đầu ngay khi dự án bắt đầu hình thành, trên cơ sở các nguồn lực của nhà đầu tư và mục tiêu đạt được cuối cùng của dự án
Thứ hai: Phát triển dự án: phát triển dự án là giai đoạn chi tiết xem dự án cần
được thực hiện như thế nào mà nội dung của nó tập trung vào công tác thiết
kế và lập kế hoạch Đây là giai đoạn chứa đựng những công việc phức tạp nhất của một dự án Nội dung của giai đoạn này bao gồm những công việc sau:
• Thành lập nhóm dự án, xác định cấu trúc tổ chức dự án
• Lập kế hoạch tổng quan
Trang 14• Phân tích công việc của dự án
• Lập kế hoạch ngân sách
• Thiết kế sản phẩm và quy trình sản xuất
• Lập kế hoạch nguồn lực cần thiết
• Lập kế hoạch chi phí và dự báo dòng tiền thu
• Xin phê chuẩn thực hiện
Đối với một dự án lớn, để thực hiện giai đoạn này một cách đầy đủ, đồng thời
để tránh những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hình thành dự án và tiết kiệm nguồn lực, cần phải thực hiện các bước sau:
- Nghiên cứu và phát hiện cơ hội đầu tư (Lập báo cáo nghiên cứu cơ hội đầu tư)
- Nghiên cứu tiền khả thi sơ bộ lựa chọn dự án (Lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi)
- Nghiên cứu tính khả thi của dự án (Lập báo cáo nghiên cứu khả thi)
Trong tất cả các giai đoạn từ khi chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác vận hành thì giai đoạn chuẩn bị đầu tư là quan trọng nhất, nó tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở các giai đoạn sau, đặc biệt là đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư Giai đoạn chuẩn bị đầu tư (giai đoạn tiền đầu tư) là giai đoạn quyết định hành động hay không hành động, triển khai hay không triển khai dự án Giai đoạn này mang tính chất nghiên cứu về mọi vấn đề kinh tế, kỹ thuật liên quan đến hình thành dự
án, thực hiện đầu tư xây dựng, vận hành dự án sau khi đưa vào hoạt động Chính vì vậy giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn lập Luận chứng kinh tế
kỹ thuật Từ ý tưởng xuất hiện do một nhu cầu nào đó đến việc luận chứng về mọi khía cạnh để biến ý tưởng thành thực tế, hay nói cách khác, giai đoạn chuẩn bị đầu tư bắt đầu từ khi có ý đồ đầu tư cho đến khi được cấp giấy phép đầu tư Đối với những dự án đầu tư lớn, giai đoạn này giữ vị trí then chốt Nó
Trang 15đòi hỏi một đội ngũ chuyên gia giỏi, làm việc có trách nhiệm Kết thúc giai đoạn này là đến giai đoạn thẩm định dự án đầu tư Thành công của dự án phụ thuộc khá lớn vào chất lượng và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của các kế hoạch trong giai đoạn này
1.4.1.2 Các căn cứ và tiêu chí để xây dựng (thiết lập) một dự án đầu tư
Những căn cứ xác định sự cần thiết của dự án
a, Các căn cứ pháp lý:
- Các văn bản cho phép ban đầu của cơ quan Nhà nước có liên quan về việc khởi thảo dự án đầu tư, nhất là cơ quan quản lý trực tiếp của chủ đầu tư
- Tư cách pháp nhân của chủ đầu tư
- Các văn bản pháp quy như: Luật xây dựng, Luật đất đai, Luật đầu tư v.v
b, Nhu cầu về việc thực hiện đường lối phát triển KT-XH của Đất nước: Các
dự án đầu tư phải xuất phát từ nhu cầu thực hiện đường lối và kế hoạch phát triển của Đất nước, căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển các vùng và các ngành kinh tế
c, Nghiên cứu về tình hình kinh tế- xã hội của khu vực đặt dự án:
• Tình hình kinh tế- xã hội của khu vực nói chung, tùy theo tính chất của
dự án mà có thể gồm các vấn đề như tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực, tình hình dân số, lao động và việc làm, chiến lược phát triển kinh
tế -xã hội của khu vực, quy hoạch xây dựng có liên quan đến dự án
• Tình hình thị trường có liên quan đến sản phẩm của dự án
• Khả năng cung cấp vật tư và nhân lực của địa phương
• Tình hình an ninh và ảnh hưởng của dự án đến môi trường văn hóa, xã hội
d, Nhu cầu thị trường: Tình hình thị trường liên quan đến sản phẩm của dự án
là căn cứ quan trọng chứng minh sự cần thiết của dự án Nội dung nghiên cứu thị trường gồm các nội dung như nghiên cứu (lựa chọn) chủng loại sản phẩm
Trang 16hay dịch vụ của dự án, nghiên cứu (dự báo) nhu cầu về số lượng sản phẩm, nghiên cứu về tiếp thị, khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Phân tích kỹ thuật
a, Phân tích điều kiện thiên nhiên khu vực: Miêu tả các điều kiện địa hình, địa chất, khí tượng, thủy văn, vật liệu xây dựng, các vùng rừng cấm, vùng chịu ảnh hưởng của các công trình thủy lợi, các vùng có khả năng chịu ảnh hưởng của dự án
b, Chọn cấp hạng và tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình dự án: Trình bày các
dự kiến khác nhau (các phương án) về cấp hạng và tiêu chuẩn kỹ thuật
c, Chọn hướng tuyến (nếu có): Nêu rõ lý do xây dựng các điểm khống chế, các điểm tựa trung gian, lý do đề xuất các phương án theo đặc điểm địa hình,
ưu và khuyết điểm của phương án, các biên bản thỏa thuận về hướng tuyến và khả năng giải phóng mặt bằng với các cơ quan địa phương
d, Các giải pháp thiết kế đối với các hạng mục của công trình: Trình bày quy trình, quy phạm, định hình đã áp dụng khi thiết kế công trình chính và công trình phụ trợ, đề xuất các phương án giải pháp thiết kế và lý do lựa chọn
e, Trình tự và kế hoạch triển khai dự án: Phân tích và trình bày các nội dung
- Chủ đầu tư và chủ quản đầu tư
- Thời hạn khởi công và hoàn thành công trình dự án
- Trình tự đưa vào sử dụng các bộ phận, các hạng mục công trình
- Khối lượng, nhu cầu nhân vật lực, máy móc thiết bị, vật liệu xây dựng cần thiết
f, Kế hoạch quản lý và khai thác công trình: Trình bày các vấn đề về quản lý, khai thác bao gồm cả duy tu, sửa chữa v.v
Phân tích kinh tế tài chính
a, Tính toán tổng mức đầu tư: Tổng mức đầu tư của dự án là chi phí toàn bộ
dự án được xác định trong giai đoạn lập dự án, gồm chi phí xây dựng, chi phí
Trang 17thiết bị, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư, chi phí khác bao gồm
cả vốn lưu động đối với các dự án sản xuất kinh doanh, lãi vay trong thời gian xây dựng và chi phí dự phòng
Tổng mức đầu tư dự án được ghi trong quyết định đầu tư là cơ sở để lập kế hoạch và quản lý vốn đầu tư, xác định hiệu quả đầu tư của dự án Tổng mức đầu tư dự án được xác định trên cơ sở khối lượng chủ yếu các công việc cần thực hiện của dự án theo thiết kế cơ sở và các khối lượng khác dự tính
b, Xác định nguồn vốn, loại nguồn vốn, nhu cầu vốn theo tiến độ: Có các hình thức thực hiện dự án theo nguồn vốn như sau: hình thức BOT (xây dựng, khai thác, chuyển giao), BT (xây dựng, chuyển giao), đầu tư trực tiếp từ nước ngoài FDI, vay vốn từ quỹ hỗ trợ phát triển chính thức ODA v.v
c, Phân tích hiệu quả đầu tư và lựa chọn phương án tối ưu: Dựa vào các kết quả từ phân tích tài chính, kinh tế xã hội, và một số chỉ tiêu kỹ thuật tổng hợp, các ưu khuyết điểm của mỗi phương án để đưa ra kết luận và kiến nghị chọn phương án
Đánh giá tác động của môi trường
Môi trường được hiểu là không gian và hoàn cảnh sinh sống của con người Các yếu tố môi trường chính là các yếu tố ảnh hưởng đến không gian và hoàn cảnh sinh sống của con người, gồm các yếu tố:
• Yếu tố môi trường kinh tế - xã hội - nhân văn: sự đi lại, làm việc của dân cư, môi trường hoạt động kinh tế và điều kiện sinh sống như chiếm dụng đất và tái định cư, môi trường nông nghiệp thủy lợi, môi trường
du lịch, lịch sử và di sản văn hóa, môi trường thẩm mỹ và cảnh quan, chất lượng sinh hoạt của cộng đồng ( không khí, tiếng ồn, vấn đề vệ sinh v.v.)
• Yếu tố môi trường tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái: môi trường đất, nước, môi trường sinh thái động thực vật
Trang 18Mục đích của việc đánh giá tác động môi trường chính là:
• Điều tra, phân tích, đánh giá, dự báo (từ định tính đến định lượng) các tác động của quá trình thực hiện và khai thác dự án đến các yếu tố môi trường
• Tiếp đó, trên cơ sở phân tích, dự báo thiết kế các biện pháp: Phòng ngừa, giảm thiểu các tác động bất lợi (đề xuất phương án xử lý, tính toán và thiết kế từ mức sơ bộ đến mức chi tiết, cụ thể), đề xuất các giải pháp đền bù những hậu quả do tác động bất lợi đó gây ra đối với môi trường
Tóm lại, đánh giá tác động môi trường là một quá trình được sử dụng khi xây dựng và khai thác công trình nhằm bảo vệ và phát triển bền vững môi trường,
là một công cụ quản lý giúp cho các cơ quan có thẩm quyền: xác định tính hiện thực của dự án, giảm tối thiểu những hậu quả có hại của dự án, nâng cao lợi ích và khả năng khai thác của dự án
1.4.1.3 Một số nội dung đánh giá công tác lập dự án đầu tư
Tùy theo mức độ phức tạp của mỗi dự án đầu tư mà người lập dự án đầu tư là chủ đầu tư hoặc thuê các đơn vị tư vấn lập Để đánh giá được kết quả của công tác lập dự án đầu tư chúng ta có thể dựa vào đánh giá các công việc sau:
• Tính chuyên nghiệp, khách quan, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm của cơ quan lập dự án
• Thời gian và tiến độ lập dự án
• Số lượng các dự án đã được lập
• Các dự án được lập phải điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung
• Dự án lập đúng ngay, không phải sửa
• Dự án được lập có đúng như với các tiêu chí đặt ra hay không? v.v
Trang 191.4.2 Thẩm định dự án đầu tư
1.4.2.1 Khái niệm
Các dự án đầu tư khi được soạn thảo xong mặc dù được nghiên cứu tính toán rất kỹ thì cũng chỉ qua bước khởi đầu Để đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và quyết định dự án có được thực thi hay không cần phải có một quá trình xem xét, kiểm tra, đánh giá một cách độc lập, tách biệt với quá trình soạn thảo dự án Quá trình đó gọi là thẩm định dự án Vậy:Thẩm định dự án đầu tư là việc thẩm tra, so sánh và đánh giá một cách khách quan, khoa học, và toàn diện các nội dung của dự án hoặc so sánh đánh giá các phương án của một hay nhiều dự án để đánh giá tính hợp lý, tính hiệu quả và tính khả thi của dự án Từ đó có những quyết định đầu tư và cho phép đầu tư
1.4.2.2 Mục đích
• Đánh giá tính hợp lý của dự án: tính hợp lý được biểu hiện một cách tổng hợp (biểu hiện trong tính hiệu quả và tính khả thi) và được biểu hiện ở từng nội dung và cách thức tính toán của dự án (hợp lý trong xác định mục tiêu, trong xác định các nội dung của dự án, khối lượng công việc cần tiến hành, các chi phí cần thiết và các kết quả cần đạt được)
• Đánh giá tính hiệu quả của dự án: bao gồm cả hiệu quả tài chính và kinh tế xã hội
• Đánh giá tính khả thi của dự án: đây là mục đích hết sức quan trọng trong thẩm định dự án Một dự án hợp lý và hiệu quả cần phải có tính khả thi Tất nhiên hợp lý và hiệu quả là hai điều kiện quan trọng để dự
án có tính khả thi Nhưng tính khả thi còn được xem xét với nội dung
và phạm vi rộng hơn của dự án (xem xét các kế hoạch tổ chức thực hiện, môi trường pháp lý v.v.)
Trang 201.4.2.3 Ý nghĩa
• Giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá được tính hợp lý của dự
án đứng trên giác độ hiệu quả kinh tế xã hội
• Giúp cho các chủ đầu tư lựa chọn được phương án đầu tư tốt nhất theo quan điểm hiệu quả tài chính và khả thi của dự án
• Giúp cho các định chế tài chính ra quyết định xác định về cho vay hoặc tài trợ cho dự án theo các quan điểm khác nhau
• Giúp mọi người nhận thức và xác định rõ ràng những cái lợi, cái hại của dự án trên các mặt để có các biện pháp khai thác và khống chế
• Xác định rõ tư cách pháp nhân của các bên tham gia đầu tư
1.4.2.4 Nội dung của công tác thẩm định dự án đầu tư
Trong giai đoạn thẩm định dự án đầu tư, Chủ đầu tư cần thẩm tra, đánh giá lại toàn bộ nội dung dự án đầu tư đã được lập, về cả kinh tế và kỹ thuật, trong đó bao gồm cả việc thẩm định tổng mức đầu tư và thông qua quyết định đầu tư Quá trình này đòi hỏi sự phân tích tổng thể để nhận định các phương án đầu
tư khả thi, đánh giá các khoản chi phí ban đầu, xác định những đặc điểm riêng biệt của dự án và kết hợp với trực giác nhạy cảm nghề nghiệp, chủ đầu tư ra quyết định đầu tư Giai đoạn chuẩn bị đầu tư được kết thúc bằng quyết định cuối cùng về đầu tư bởi các nhà đầu tư hoặc các định chế tài chính Thông thường công tác thẩm định dự án đầu tư do các cơ quan chuyên môn của Chủ đầu tư thực hiện hoặc có thể hợp đồng với một đơn vị tư vấn để thẩm định dự
án Ngoài ra, đối với các dự án vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải được tổ chức cho vay thẩm định và chấp thuận phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay trước khi quyết định đầu tư, các dự án đầu tư trước khi quyết định đầu tư phải được thẩm định theo quy định của Chính phủ Tổ chức, cá nhân thẩm định dự án đầu tư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
Trang 21về kết quả thẩm định của mình Người quyết định đầu tư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình
Nội dung thẩm định dự án đầu tư bao gồm 2 phần: thẩm định dự án đầu tư của người quyết định đầu tư và thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan có thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở
Thẩm định dự án đầu tư của người quyết định đầu tư:
a) Xem xét các yếu tố đảm bảo tính hiệu quả của dự án, bao gồm: sự cần thiết đầu tư; các yếu tố đầu vào của dự án: quy mô, công suất, công nghệ, thời gian, tiến độ thực hiện dự án; phân tích tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án;
b) Xem xét các yếu tố đảm bảo tính khả thi của dự án, bao gồm: sự phù hợp với quy hoạch; nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên (nếu có); khả năng giải phóng mặt bằng, khả năng huy động vốn đáp ứng tiến độ của dự án; kinh nghiệm quản lý của chủ đầu tư; kết quả thẩm định thiết kế cơ sở; khả năng hoàn trả vốn vay; giải pháp phòng, chống cháy nổ; các yếu tố ảnh hưởng đến dự án như quốc phòng, an ninh, môi trường trên cơ sở ý kiến bằng văn bản của các
cơ quan liên quan và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan có thẩm quyền:
a) Sự phù hợp của thiết kế cơ sở với quy hoạch xây dựng, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành;
b) Việc áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng, môi trường, phòng chống cháy nổ;
c) Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức tư vấn, năng lực hành nghề của cá nhân lập thiết kế cơ sở theo quy định
1.4.2.5 Các căn cứ và tiêu chí để thẩm định một dự án đầu tư
Các điều kiện pháp lý: các điều kiện pháp lý để quyết định xét duyệt dự án
bao gồm các văn bản và thủ tục sau:
Trang 22- Hồ sơ trình duyệt có đủ theo quy định và có hợp lệ hay không? (H.sơ trình duyệt bao gồm: tờ trình xin xét duyệt do chủ đầu tư trình; ý kiến đề nghị của
cơ quan chủ quản dự án; bản dự án, báo cáo tóm tắt, bản vẽ, bản đồ; ý kiến của cơ quan quản lý nghành, lãnh thổ; căn cứ pháp lý về khả năng huy động các nguồn vốn)
- Tư cách pháp nhân và năng lực của chủ đầu tư ( Quyết định thành lập, thành lập lại các doanh nghiệp Nhà nước hoặc giấy phép hoạt động đối với các thành phần kinh tế khác; người đại diện chính thức; năng lực kinh doanh: nguồn vốn tự có, điều kiện thế chấp khi cần vay vốn; địa chỉ liên hệ, giao dịch)
Mục tiêu của dự án: xem xét trên các khía cạnh và vấn đề sau:
• Mục tiêu của dự án có phù hợp với quy hoạch, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của cả Nước, vùng địa phương, ngành hay không?
• Ngành nghề trong dự án có thuộc nhóm ngành nghề Nhà nước cho phép hoạt động hay không?
• Có nhóm ngành ưu tiên hay không? Nếu thuộc nhóm ngành ưu tiên thì
dự án sẽ được hưởng các chế độ ưu đãi và khi xét duyệt sẽ thuận lợi hơn
Sự cần thiết của dự án bao gồm
a, Sự cần thiết phải đầu tư:
• Ý nghĩa kinh tế xã hội của dự án khi đưa vào hoạt động
• Nghiên cứu, xem xét, đánh giá tính cấp bách của việc triển khai dự án, thời hạn hợp lý đưa dự án vào sử dụng theo từng giai đoạn đầu tư và giai đoạn quy hoạch cuối cùng
b, Các tài liệu cơ bản dùng trong quá trình nghiên cứu:
• Đánh giá các số liệu về kinh tế - xã hội ( hiện trạng và dự báo)
Trang 23• Đánh giá chất lượng khai thác công trình
• Đánh giá kết quả dự báo mức tiêu thụ của sản phẩm dự án cho năm tính toán
• Đánh giá các tài liệu khảo sát địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, thủy văn, vật liệu xây dựng (về số lượng, mức độ chi tiết và độ tin cậy của tài liệu)
Về kỹ thuật, công nghệ của dự án
- Kiểm tra công cụ sử dụng trong tính toán Trong đó lưu ý đăc biệt đến các định mức kinh tế - kỹ thuật, quy trình, quy phạm, quy chuẩn, tiêu chuẩn được
áp dụng Đối với định mức kinh tế - kỹ thuật phải rà soát cho phù hợp với điều kiện cụ thể của dự án
- Kiểm tra những sai sót trong tính toán; tính toán không đúng, không đủ và không phù hợp
- Kiểm tra tính phù hợp của công nghệ, thiết bị đối với dự án Đăc biệt trong điều kiện của VN (điều kiện thời tiết, khí hậu), các mối liên hệ, các khâu tổ chức thực hiện dự án, tính toán khả năng trong phát triển tương lai và điều kiện vận hành, bảo dưỡng v.v
- Thẩm định địa điểm xây dựng từ văn bản pháp lý đến địa điểm cụ thể Lưu ý đặc biệt đến môi trường, mặt tích cực và tiêu cực
Trang 24• Tỷ lệ vốn tự có/vốn đầu tư Chỉ tiêu này phản ánh mức độ chủ động tài chính của dự án Khi tỷ lệ vốn tự có/vốn đầu tư có giá trị lớn hơn 0.5 độ
an toàn của dự án được đảm bảo
• An toàn về khả năng trả nợ của dự án: khả năng trả nợ = nguồn trả nợ hàng năm/nợ phải trả hàng năm (cả gốc và lãi), nguồn trả nợ hàng năm gồm lợi nhuận sau thuế và khấu hao cơ bản, nợ phải trả hàng năm chủ yếu gồm tiền trả vốn gốc và tiền lãi phải trả hàng năm
- Kiểm tra và so sánh các chỉ tiêu hiệu quả:
• Thẩm tra sự tính toán, phát hiện những bất hợp lý, những sai sót và sự không đầy đủ của dự án
• Nếu các vấn đề trên đều tốt, thực hiện so sánh đánh giá hiệu quả tài chính của dự án Trường hợp có sai sót, có thể điều chỉnh và tính toán lại các chỉ tiêu là cơ sở cho việc so sánh đánh giá hiệu quả tài chính của
dự án Khi đánh giá hiệu quả tài chính nên tập trung vào các chỉ tiêu chính với mức đánh giá cụ thể sau:
• Giá trị hiện tại thuần (NPV): Thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các chi phí Mục đích của việc tính hiện giá thu nhập ròng của một dự án là để xác định xem việc sử dụng các nguồn lực (vốn) theo dự án đó có mang lại lợi ích lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng không? Với ý nghĩa này NPV được xem là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá dự án NPV được xác định theo công thức sau:
Trong đó: Bt - Thu nhập của dự án năm t
Ct - Chi phí của dự án năm t
n - Thời đoạn phân tích dự án
r – Tỷ lệ chiết khấu áp dụng cho dự án
Trang 25Nguyên tắc xem xét là NPV<0 thì dự án không được chấp nhận Chỉ chấp nhận dự án khi giá trị NPV>0, nếu có nhiều dự án cần lựa chọn thì chấp nhận
1 r
t t
t = 0 n
t t
Trang 26Trong đó: Bt - thu nhập của dự án năm t; Ct - Chi phí cho dự án năm t; các ký hiệu khác như trên Về nguyên tắc chung, B/C ≥1 là có thể chấp nhận được, B/C càng lớn hơn 1 càng tốt
• Tỷ lệ giá trị gia tăng/ vốn đầu tư
• Mức độ giải quyết việc làm: nguyên tắc chung là dự án càng giải quyết được nhiều việc làm càng tốt
• Tiết kiệm hoặc thu nhập ngoại tệ: dự án có sản phẩm thay thế sản phẩm nhập khẩu, và đem xuất khẩu sẽ làm tăng thu nhập ngoại tệ
• Tỷ lệ đóng góp cho ngân sách/ vốn đầu tư
• Tỷ giá hối đoái thực tế: tỷ giá này càng cao càng tốt
• Dự án đóng góp phát triển địa phương, mức độ sử dụng nguyên vật liệu trong nước, phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần phát triển các ngành khác v.v
Trang 27Thẩm định về tác động của môi trường
Thẩm định về tác động môi trường của dự án cần chú ý hai chiều, hướng tích cực và tiêu cực Hướng tích cực có thể là:
• Bảo vệ và cải tạo nguồn nước
• Bảo vệ và cải tạo nguồn dưỡng khí cho con người
• Bảo vệ và cải tạo đất, bảo vệ các công trình kiến trúc khác
• Tạo cảnh quan, tôn tạo vẻ đẹp thiên nhiên
• Giảm thiểu những thiệt hại do môi trường sinh ra do thiên tai bão lụt v.v
Đánh giá những tác động tiêu cực của dự án cần đặc biệt lưu ý mức độ phá hoại môi trường do phá vỡ cân bằng sinh thái, tác đông tiêu cực đến môi trường xã hội
Thẩm định kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện dự án
Thực hiện kiểm tra trên các mặt:
• Kế hoạch cung cấp các điều kiện dự án: vốn, đất đai, thiết bị, công nghệ v.v
• Kế hoạch về biện pháp thực hiện dự án
• Kế hoạch và tiến độ thực hiện dự án
• Khả năng triển khai xây dựng công trình, vấn đề cung cấp nguyên vật liệu, vật tư, máy móc, vận chuyển trong thi công v.v, và tiến độ thực hiên dự án
Đánh giá mức độ khả thi của các kế hoạch và biện pháp đã nêu
1.4.2.6 Một số nội dung đánh giá công tác thẩm định dự án đầu tư
Để đánh giá xem việc thẩm định dự án đầu tư là tốt hay không, có thể tìm hiểu và xem xét trên việc đánh giá các công việc sau:
• Dự án đang thực hiện được thẩm định bởi đúng cơ quan có thẩm quyền thẩm định dự án đó chưa? Cơ quan nào thẩm định dự án đó?
Trang 28• Dự án được thẩm định có diễn ra theo đúng trình tự, nguyên tắc, có phù hợp với các tiêu chí và căn cứ hay chưa? Có khách quan, trung thực không?
• Dự án được thẩm định có được thực hiện một cách chi tiết, rõ ràng va
cụ thể hay không?
• Trình độ chuyên môn, năng lực, kinh nghiệm và tính chuyên nghiệp của cán bộ của cơ quan thẩm định?
• Thời gian, tiến độ thẩm định có kịp thời, đúng hạn hay không? v.v
1.4.3 Thực hiện dự án đầu tư
Tổ chức thực hiện (triển khai) quản lý dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư là nội dung chính của công tác quản lý dự án đầu tư, được thực hiện sau khi dự
án đầu tư đã được hình thành và phê duyệt Còn ở các giai đoạn lập và thẩm định dự án đầu tư thực chất là công tác chuẩn bị đầu tư, giai đoạn này dự án chưa được hình thành trên thực tế (chưa quyết định đầu tư) Do vậy, để ngắn
gọn, sau đây chúng ta gọi tắt công tác quản lý dự án ở giai đoạn thực hiện
đầu tư là quản lý dự án đầu tư Quản lý dự án đầu tư là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự
án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép Mục tiêu của quản lý dự án được mô tả về mặt toán học theo công thức C = f(P, T, S) Trong đó, C là chi phí, P là mức độ hoàn thành công việc, T là thời gian thực hiện, S là phạm vi dự án Công thức trên cho thấy, chi phí của dự án tăng lên khi chất lượng hoàn thiện công việc tốt hơn, thời gian kéo dài thêm
và phạm vi dự án được mở rộng Nếu thời gian thực hiện dự án bị kéo dài, gặp trường hợp giá nguyên vật liệu tăng cao sẽ phát sinh tăng chi phí, dẫn đến tình trạng làm việc kém hiệu quả do công nhân mệt mỏi vì chờ đợi, thời gian máy
Trang 29chết tăng theo, chi phí lãi vay ngân hàng tăng, chi phí cho bộ phận gián tiếp tăng Ba mục tiêu quản lý dự án đầu tư cĩ quan hệ chặt chẽ với nhau
Đặc điểm của quản lý dự án: Tổ chức quản lý dự án là một tổ chức tạm thời, được hình thành để phục vụ dự án trong một thời gian hữu hạn, quản lý rủi ro một cách thường xuyên, quản lý nhiều sự thay đổi, quản lý nhân sự, lựa chọn
mơ hình tổ chức phù hợp sẽ cĩ tác dụng phân rõ trách nhiệm và quyền lực trong quản lý dự án, đảm bảo thực hiện thành cơng dự án
Chu kỳ của dự án: thời gian thực hiện dự án dài và cĩ độ bất định nên các tổ chức thường chia dự án thành một số giai đoạn để dễ quản lý thực hiện Tổng hợp các giai đoạn này được gọi là chu kỳ của dự án Chu kỳ dự án xác định thời điểm khởi đầu, thời điểm kết thúc và thời hạn thực hiện, triển khai dự án, xác định những cơng việc nào sẽ được thực hiện trong từng giai đoạn và ai sẽ tham gia thực hiện Chu kỳ của một dự án thường được chia thành các giai đoạn như trình bày trên hình 1.1
Khởi đầu Triển khai Kết thúc
Hình 1.1: Các giai đoạn của chu kỳ dự án
Trang 30Các tiêu chuẩn đánh giá công tác triển khai dự án đầu tư: được mô tả như trên hình 1.2
Hình 1.2: Tiêu chuẩn đánh giá công tác triển khai dự án đầu tư
Một dự án thành công được đánh giá bởi :
• Hoàn thành trong thời hạn quy định
• Hoàn thành trong chi phí cho phép
• Đạt được thành quả (chất lượng) mong muốn
• Sử dụng nguồn lực được giao một cách :
quy định
Yêu cầu về
chất lượng
Mục tiêu
Trang 31Nội dung công tác thực hiện dự án đầu tư: được thể hiện như trên hình 1.3
Hình 1.3: Nội dung công tác thực hiện dự án đầu tư 1.4.3.1 Lập kế hoạch
Lập kế hoạch là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng các sơ
đồ hệ thống hoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống Lập kế hoạch dự án do những người có liên quan trực tiếp đến dự án thực hiện, thường là chủ nhiệm dự án Chủ nhiệm dự án và những người cùng tham gia
có thể đặt sự quan tâm của họ nhiều vào tiến độ lập kế hoạch hơn là việc đồng nhất dự án đó vào hệ thống hoạt động và guồng máy tổ chức của chủ đầu tư Lập kế hoạch đòi hỏi một năng lực khám phá, tiên đoán trước và là một nghệ thuật vì trong quá trình lập dự án, những người thực hiện không thể chỉ xem xét các vấn đề dự án trong một khuôn khổ kế hoạch mà ở một mức độ tri thức hơn, họ không chỉ thấu hiểu hết những ý tưởng, hàm ý của dự án mà còn biểu
lộ thiện chí trong mỗi bước đi của dự án Để thực hiện dự án trong bối cảnh
Điều phối thực hiện
Bố trí tiến độ thời gian
Phân phối nguồn lực
Phối hợp các hoạt động
Khuyến khích động viên
Trang 32kinh tế như hiện nay, việc lập kế hoạch một cách “bài bản” thì chưa đủ Lập
kế hoạch đòi hỏi sự sáng tạo và linh hoạt Người chịu trách nhiệm trong việc lập kế hoạch phải là nhà tổ chức giỏi, có khả năng khơi dậy những tiềm năng sáng kiến của các thành viên trong đội lập kế hoạch Một trong những mục tiêu cụ thể là cuốn hút mọi thành viên từ các bên tham gia nghiên cứu nhằm đạt được sự hiểu biết xem dự án đòi hỏi cái gì? Những đóng góp của họ sẽ bao gồm một phương pháp nào đó được chấp nhận, sự phân bổ nguồn lực, các ước tính về thời gian và chi phí Phương pháp này sẽ tạo ra động cơ thực hiện cho tất cả các bên có liên quan (chủ đầu tư, nhà tư vấn, nhà thầu), vì chính họ được tham gia một cách tích cực vào giai đoạn lập kế hoạch hay chương trình
dự án
Một số vấn đề nảy sinh trong quá trình lập kế hoạch dự án có thể là:
- Lập kế hoạch cho riêng một cấp có thể sẽ bỏ qua những yêu cầu khác nhau của các cấp quản lý trong phạm vi tổ chức của chủ đầu tư;
- Việc dự tính nguồn lực và thời gian bị hạn chế quá mức mà dự án có thể bị kéo dài kèm theo những khoản chi phí phát sinh;
- Nếu việc lập kế hoạch không được mở rộng phạm vi tham gia tới tất cả các bên hữu quan và các thành viên tham gia có thể sẽ là cơ hội cho nhiều người hoạt động tự do, không tuân theo các kế hoạch đã đặt ra
Các dự án đã hoàn thành đều bắt đầu từ việc định rõ kết quả cuối cùng, điều
đó nghĩa là người quản lý dự án phải xác định đúng được mục đích cũng như cấu trúc của công việc, phải tưởng tượng kết quả mong muốn cuối cùng của
dự án là như thế nào? Những vấn đề cần thực hiện trong tiến trình dự án là gì
và mục tiêu đặt ra là như thế nào Do vậy, trước khi thực hiện dự án, nhà quản
lý phải nắm rõ được câu trả lời cho ba vấn đề chính gồm có:
• Mục tiêu chính xác cần đạt được là gì? Mục tiêu của dự án đã nêu đầy đủ nhiệm vụ cần thực hiện hay chưa Khi nhận rõ được mục tiêu
Trang 33nhà quản lý có thể hình dung tương đối rõ ràng về kết quả cuối cùng
• Dự án này làm cho ai? Ai là người sử dụng dự án này và nhằm mục đích gì? Nhiều khi hạng mục dự án của một số dự án tương tự nhau nhưng mục đích sử dụng mỗi dự án lại khác nhau do đó người quản
lý dự án phải nắm rõ để định hướng thực hiện dự án theo mục đích
sử dụng đó cho hợp lý
• Những vấn đề cần giải quyết để đi đến kết quả cuối cùng là gì? Mục tiêu là đích cuối cùng mà chúng ta phải hướng tới Tuy nhiên trên con đường dẫn tới đích đó còn rất nhiều công việc phải thực hiện, ở mỗi một quá trình thực hiện nhà quản lý cần xác định những yêu cầu phải đạt được để tạo cơ sở cho việc hoàn tất mục đích cuối cùng Nhiệm vụ của mỗi thời kỳ lại khác nhau và do đó sự phân bổ thời gian, nhân lực, ngân sách một cách hợp lý và linh hoạt để tiến tới mục tiêu cuối cùng là rất thiết thực
1.4.3.2 Điều phối và tổ chức
Điều phối thực hiện dự án là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình từng công việc và toàn
bộ dự án, trên cơ sở đó bố trí vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp Một trong những phương tiện cơ bản trong điều phối dự án là sơ đồ ngang được xây dựng trên sơ đồ mạng Chủ nhiệm dự án phải đảm bảo việc tất cả các thành viên ban dự án hiểu được thời gian đóng góp của họ và mối quan hệ qua lại giữa các công việc trong dự án với công việc ngoài dự án Mục đích của công tác tổ chức có thể được xác định như sau:
• Tạo lập được quan hệ hợp tác;
Trang 34• Phân định rõ ràng vai trò và nhiệm vụ cho những người tham gia vào
dự án;
• Xác định trách nhiệm của từng cá nhân thực hiện quyết định;
• Truyền đạt thông tin một cách hiệu quả
Các khía cạnh của mục đích tổ chức có thể làm nảy sinh một số vấn đề sau:
• Thiếu sự hợp tác sẽ buộc chủ nhiệm dự án phải cân nhắc mỗi khi có quyết định đưa ra rằng mọi người liên quan có tuân theo một cách tổ chức hay không?
• Nếu không có sự phân định rõ ràng vai trò và nhiệm vụ sẽ dẫn đến sự chồng chéo hoặc bỏ ngỏ công việc, thiếu các nguồn lực cần thiết khi thực hiện nhiệm vụ;
• Trách nhiệm là ở chỗ người được giao nhiệm vụ phải biết cách hoàn thành công việc một cách tốt nhất trong mối quan hệ đồng bộ với hệ thống kế hoạch dự án;
• Chủ nhiệm dự án và lãnh đạo các cấp trong tổ chức phải lập ra một sơ
đồ trách nhiệm tùy theo phạm vi quản lý, trong đó chỉ ra một cách rõ ràng các công việc và giai đoạn của dự án mà mỗi thành viên phải chịu trách nhiệm;
• Truyền đạt thông tin có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện đúng theo tiến độ dự án Chủ nhiệm dự án muốn truyền đạt thông tin một cách có hiệu quả phải đảm bảo việc lập thông tin rõ ràng, xác định và xây dựng các kênh truyền tin; cung cấp thông tin đầy đủ tin cậy cho đúng đối tượng và thời điểm, kiểm soát được các luồng thông tin
Trang 351.4.3.3 Kiểm soát
Kiểm soát được hiểu là một quá trình hoạt động và là một hệ thống Kiểm soát dự án bao gồm một loạt các hành động và công việc được thực hiện theo một quy trình nhất định, đồng bộ từ ý tưởng đầu tư, qua thực hiện cho đến khi
dự án được vận hành đi vào hoạt động Việc lập báo cáo trong tiến trình thực hiện đối với dự án kéo dài khoảng vài ba năm là hàng tuần hoặc 2 tuần một lần Mục tiêu của báo cáo là nhằm cung cấp thông tin đầy đủ cho chủ nhiệm
dự án, nâng cao hiệu quả quản lý Nền tảng tổng thể của quá trình kiểm soát là
sự so sánh tiến độ và chi phí giữa kế hoạch và thực tế để khi cần sẽ tiến hành các hành động điều chỉnh, đảm bảo cho dự án đi theo đúng quỹ đạo đã vạch sẵn để đạt được mục tiêu Trong quá trình quản lý dự án đồng thời với công tác kiểm soát, công tác giám sát cũng đóng vai trò rất quan trọng Giám sát là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện, nghiệm thu đưa dự án vào sử dụng Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị cho giai đoạn sau
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án đầu tư
1.5.1 Các nhân tố khách quan
1.5.1.1.Điều kiện kinh tế: Các nhân tố kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến các dự
án đầu tư của doanh nghiệp và nhân tố kinh tế cũng là nhân tố vận động một cách thường xuyên nhất, khó dự đoán nhất trong số các nhân tố vĩ mô Sự vận động của nó luôn chứa đựng cả cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Trong đó nổi bật hơn cả là xu hướng vận động của:
• Xu hướng tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân: xu hướng này tác động trực tiếp đến tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế, đến
sự tăng trưởng của thu nhập khả dụng của dân cư Nó sẽ làm thay đổi
Trang 36nhu cầu của người tiêu dùng, quy mô của thị trường tiêu thụ, ảnh hưởng đến cán cân cung cầu sản phẩm
• Lãi suất là yếu tố tác động đến xu thế tiết kiệm tiêu dùng và đầu tư; nó làm cho nhu cầu tiêu dùng tăng hay giảm, kích thích hoặc hạn chế đầu
tư mở rộng sản xuất
• Tỷ lệ lạm phát: ảnh hưởng đến khả năng dự đoán của các nhà đầu tư khi lạm phát lên cao thì dự đoán sẽ trở nên khó khăn hơn đầu tư sẽ mang nhiều rủi ro hơn Do đó đầu tư giảm, sản lượng giảm và tác động tới cạnh tranh trong ngành
• Cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái: ảnh hưởng tới thị trường và quan
hệ kinh tế đối ngoại của doanh nghiệp; đôi khi dẫn đến sự thay đổi trạng thái kinh tế nói chung
Các chính sách kinh tế thể hiện quan điểm của chính phủ trong việc phát triển ngành
1.5.1.2 Nhân tố thể chế và pháp lý: Bao gồm hệ thống các quan điểm, chính sách, quy chế, luật lệ, thủ tục Nó ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của ngành, đến trạng thái kinh tế do đó sẽ tác động tới hoạt động của các dự án đầu tư
1.5.1.3 Điều kiện công nghệ: Với tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ như hiện nay, vòng đời của công nghệ càng ngày càng ngắn lại Sự
ra đời của công nghệ mới sẽ huỷ diệt các công nghệ cũ Sự ra đời của các công nghệ mới sẽ làm tăng tính ưu thế của sản phẩm thay thế, sản phẩm được hoàn thiện hơn, giá sản phẩm trở nên rẻ hơn và cũng có thể làm xuất hiện thị trường mới Các doanh nghiệp vì thế cần tăng cường khả năng khai thác và nghiên cứu công nghệ mới
Trang 371.5.1.4 Nhân tố xã hội: Dân số, phong tục, sở thích v.v, là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tiêu dùng của xã hội, đến các dự án đầu tư
1.5.1.5 Nhân tố tự nhiên: là nhân tố quan trọng trong cuộc sống con người, đồng thời là nguồn cung cấp đầu vào cho nhiều ngành sản xuất Nhân tố tự nhiên được xem là nhân tố ít biến động nhất, tuy nhiên trong thập kỷ gần đây môi trường tự nhiên đang bị xuống cấp một cách nghiêm trọng Điều đó có thể ảnh hưởng rất lớn tới xu hướng vận động của các doanh nghiệp và nhất là đối với việc triển khai các dự án đầu tư
1.5.1.6 Nhà cung cấp: Nhà cung cấp được coi là sự đe doạ đối với các dự án đầu tư khi họ có thể đẩy mức giá hàng cung cấp cho các dự án lên, ảnh hưởng đến mức chi ngân sách của các dự án Các dự án đầu tư thường phải liên hệ với các tổ chức cung cấp, các nguồn hàng khác nhau như: vật tư thiết bị, nguồn lao động, tài chính v.v Yếu tố làm tăng thế mạnh của các tổ chức cung
ứng cũng tương tự như các yếu tố làm tăng khả năng thành công của dự án
• Số lượng tổ chức cung cấp ít, người mua khó lựa chọn cơ sở cung cấp
• Các nhà cung cấp không có sức ép của các sản phẩm thay thế
• Ngành hoạt động là một khách hàng nhỏ của nhóm cung cấp
• Sản phẩm của các nhà cung cấp là những phương tiện sản xuất quan trọng, nó quyết định đến mục tiêu của các dự án đầu tư
• Chi phí chuyển đổi nhà cung cấp, nếu chi phí chuyển đổi nhà cung cấp lớn doanh nghiệp sẽ có nguy cơ bị ép giá
Trang 381.5.2 Các nhân tố chủ quan
1.5.2.1 Nguồn nhân lực
Phân tích nguồn nhân lực phải theo từng loại nhân lực, như trình độ của cán
bộ quản lý cả về quản lý kỹ thuật - công nghệ và tài chính; của công nhân viên như bậc thợ trung bình, trình độ đào tạo và kinh nghiệm công tác Chú trọng nhất là phân tích mức độ linh hoạt, nhạy bén và tiếp cận thông tin, kinh nghiệm của cán bộ quản lý, bậc thợ trung bình của ngưởi công nhân, là những
cơ sở quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực tốt hay xấu
1.5.2.2 Trình độ công nghệ - cơ sở vật chất kỹ thuật
Trong xu thế toàn cầu hóa, sẽ có nhiều công nghệ tiên tiến tiếp tục ra đời, tạo
ra các cơ hội cũng như nguy cơ đối với tất cả các ngành công nghiệp Thế kỷ
21 là thế kỷ của khoa học và công nghệ Do đó việc phân tích và phán đoán sự biến đổi công nghệ là rất quan trọng và cấp bách hơn lúc nào hết Thực tế sự biến đổi công nghệ ảnh hưởng đến mọi doanh nghiệp thậm chí cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ Sự thay đổi của công nghệ đương nhiên ảnh hưởng tới chu
kỳ sống của một sản phẩm hoặc dịch vụ Một chu kỳ lý thuyết bao gồm các pha: bắt đầu, phát triển, chín mùi và tàn lụi Thực tế đối với một số doanh nghiệp và cũng là một số sản phẩm sẽ lại có giai đoạn phát triển mới sau giai đoạn tàn lụi Hơn nữa sự thay đổi công nghệ cũng ảnh hưởng tới các phương pháp sản xuất, nguyên vật liệu cũng như thái độ ứng xử của người lao động Việc phân tích được tiến hành như sau:
• Hệ thống máy móc thiết bị hiện có của doanh nghiệp
• Trình độ kỹ thuật công nghệ hiện tại của doanh nghiệp và có khả năng
có được công nghệ mới không ?
• Doanh nghiệp có nguồn cung cấp có hiệu quả và tin cậy? Nếu người cung cấp không tin cậy sẽ không có chương trình kiểm tra chất lượng
có hiệu quả thì sẽ đặt doanh nghiệp vào vị trí bất lợi trong cạnh tranh
Trang 39• Doanh nghiệp có được vị trí địa lý thuận lợi hay không? Vị trí địa lý có tác động đến các yếu tố chi phí và sự thuận tiện của khách hàng
• Các khả năng về hợp tác, đầu tư liên doanh liên kết kinh tế
1.5.2.3 Tài chính của doanh nghiệp
Thực trạng tài chính, các chỉ số tài chính là sự phản ánh hiệu quả, năng lực tài chính của tổ chức Tình trạng tài chính của công ty phản ánh không những năng lực hoạt động của công ty trong quá khứ mà còn phản ánh khả năng phát triển của công ty trong tương lai Phân tích tài chính trong xây dựng chiến lược cần tập trung vào các vấn đề :
• Khả năng huy động vốn ngắn hạn
• Khả năng huy động vốn dài hạn, tỷ lệ giữa vốn vay và vốn cổ phần
• Nguồn vốn công ty ( đối với doanh nghiệp có nhiều đơn vị cơ sở )
• Các vấn đề thuế
• Khả năng tài chính: bảng cân đối kế toán về tài sản nguồn vốn, thực trạng vốn trong doanh nghiệp và nhu cầu vốn
• Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, tỷ suất lợi nhuận
• Sự kiểm soát giá thành hữu hiệu, khả năng giảm giá thành
• Hệ thống kế toán có hiệu năng phục vụ cho việc lập kế hoạch giá thành,
kế hoạch tài chính và lợi nhuận
Phân tích tài chính sẽ hiểu được sâu rộng trong toàn doanh nghiệp, bởi lẽ mọi hoạt động của doanh nghiệp đều được phản ánh ra bên ngoài thông qua lăng kính tài chính Vì vậy tài chính có mối quan hệ tương tác với các bộ phận, yếu
tố khác trong toàn doanh nghiệp
1.5.2.4 Cơ cấu tổ chức, quy trình thực hiện
Tổ chức công ty là việc bố trí, sắp xếp mọi người trong công ty vào những vai trò, những công việc cụ thể Nói cách khác, tổ chức là tổng thể những trách nhiệm hay vai trò được phân chia cho nhiều người khác nhau nhằm đạt được
Trang 40mục tiêu và nhiệm vụ chung
Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý và điều hành các hoạt động trong doanh nghiệp, trong quản lý các dự án đầu tư, việc sắp xếp tổ chức và bố trí hợp lý các phòng ban, nhân sự cho các phòng ban sẽ mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý và điều hành của doanh nghiệp, của các dự án
Quy trình thực hiện: sắp xếp, tổ chức, kiểm tra và giám sát các công việc trong hoạt động quản lý dự án đầu tư ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng, thời gian và chi phí của của các dự án đầu tư
1.6 Một số mô hình tổ chức thực hiện quản lý dự án
Theo các quy định hiện hành của Việt Nam và thông lệ quốc tế thì, căn cứ vào điều kiện năng lực của cá nhân, tổ chức và căn cứ vào yêu cầu của dự án đầu
tư, có thể chia hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư thành hai nhóm chính là:
- Hình thức Chủ đầu tư trực tiếp thực hiện quản lý dự án
- Hình thức Chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án (gồm mô hình Chủ nhiệm điều hành dự án và mô hình chìa khóa trao tay)
1.6.1 Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án là hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư mà Chủ đầu tư tự thực hiện dự án (tự sản xuất, tự xây dựng, tự tổ chức giám sát và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật) hoặc Chủ đầu tư lập ra Ban quản lý dự án để quản lý việc thực hiện các công việc của dự án theo sự ủy quyền của Chủ đầu tư Mô hình này được thể hiện trong hình1.4 Hình thức Chủ đầu tư tự thực hiện dự án thường áp dụng cho dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, gần với chuyên môn của Chủ đầu tư, Chủ đầu tư có đủ năng lực chuyên môn và kinh nghiệm để quản lý Trường hợp Chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án thì Ban quản lý dự án phải chịu trách nhiệm trước pháp