Luật NSNN được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế của Luật NSNN năm 1996 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật ngân sách ban hành năm 1
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
TRẦN MẠNH DŨNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS NGÔ TRẦN ÁNH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
TRẦN MẠNH DŨNG
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS NGÔ TRẦN ÁNH
Hà Nội - 2011
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU……… 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHÁP LÝ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM
SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA HỆ THỐNG KHO BẠC NHÀ NƯỚC ……….…… 4 1.1 KHO BẠC NHÀ NƯỚC VÀ TỔ CHỨC HỆ THỐNG KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước ………….………4 1.1.2 Tổ chức Kho bạc Nhà nước trong quản lý Ngân sách Nhà
nước……….….11 1.2.2.1 Khái niệm về kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước ………11 1.2.2.2 Sự cần thiết phải kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước qua hệ thống
Kho bạc Nhà nước………11 1.2.2.3 Yêu cầu đối với công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước … 13
1.3 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA HỆ THỐNG KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.3.1 Nhân tố ảnh hưởng kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước qua hệ thống
Kho bạc Nhà nước……… ….14
Trang 41.3.2 Nội dung công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước qua hệ thống Kho
bạc Nhà nước ……….… 16
1.3.3 Tổ chức công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước qua hệ thống Kho bạc Nhà nước ……… 17
1.3.3.1 Khái niệm quản lý chi Ngân sách Nhà nước….………17
1.3.3.2 Đặc điểm quản lý chi Ngân sách Nhà nước ……….18
1.3.3.3 Nguyên tắc quản lý chi Ngân sách Nhà nước ……… 19
1.3.3.4 Chu trình quản lý chi Ngân sách Nhà nước ……….20
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI……… …………22
2.1 TỔNG QUAN VỀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI 2.1.1 Sự ra đời và phát triển………22
2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý của Kho bạc Nhà nước Hà Nội……… 23
2.1.3 Chức năng của Kho bạc Nhà nước ……… 26
2.2 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI 2.2.1 Ngân sách nhà nước……… 26
2.2.2 Chi Ngân sách Nhà nước của Kho bạc Nhà nước Hà Nội………… 28
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI 2.3.1 Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên của Kho bạc Nhà nước Hà Nội ……… ……… …29
2.3.2 Thực trạng công tác kiểm soát chi đối với các đơn vị khoán biên chế, kinh phí quản lý hành chính và đơn vị sự nghiệp có thu……… 37
2.3.2.1 Thực trạng công tác kiểm soát chi đối với các đơn vị khoán biên chế, kinh phí quản lý hành chính……… … 37
2.3.2.2 Thực trạng công tác kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp có thu… 41
Trang 52.3.3 Thực trạng công tác kiểm soát chi đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà
nước của Kho bạc Nhà nước Hà Nội (giai đoạn 2004-2010)
……….….45 2.3.3.1 Trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước Hà Nội trong việc kiểm soát,
thanh toán vốn đầu tư ……….………… …….……….46 2.3.3.2 Điều kiện và thủ tục thanh toán chi đầu tư……… 48 2.3.3.3 Nguyên tắc kiểm soát, thanh toán của KBNN Hà Nội ….…… 49 2.3.3.4 Hình thức thanh toán vốn đầu tư………50 2.3.3.5 Quy trình kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư của KBNN Hà Nội 51
2.4 KẾT LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI
2.4.1 Những kết quả đạt được……….………56 2.4.1.1 Công tác kiểm soát chi thường xuyên………56 2.4.1.2 Công tác kiểm soát chi đối với các đơn vị khoán biên chế, kinh phí
quản lý hành chính và đơn vị sự nghiệp có thu ………… 60 2.4.1.3 Công tác kiểm soát chi đầu tư của Kho bạc Nhà nước Hà Nội giai
đoạn 2004 – 2010……… ……….… 60 2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu…… ……… 64 2.4.2.1 Công tác kiểm soát chi thường xuyên………64 2.4.2.2 Công tác kiểm soát chi đối với các đơn vị khoán biên chế, kinh phí
quản lý hành chính và đơn vị sự nghiệp có thu……….…68 2.4.2.3 Công tác kiểm soát chi đầu tư của Kho bạc Nhà nước Hà Nội giai
đoạn 2004 – 2010……… ……… 70
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI …… … 74 3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI ……… 74
Trang 63.2 MỤC TIÊU TỔNG QUAN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM
SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KBNN HÀ NỘI……… … 76
3.2.1 Mục tiêu tổng quan của công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước của Kho bạc Nhà nước Hà Nội ……….76
3.2.2 Cái giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước của Kho bạc Nhà nước Hà Nội … 79
3.2.2.1 Giải pháp về công tác kiểm soát chi thường xuyên………… …79
3.2.2.2 Giải pháp về công tác kiểm soát chi ĐTXDCB…… ………… 86
3.2.2.3 Giải pháp về công tác kiểm soát chi đối với các đơn vị khoán biên chế, kinh phí quản lý hành chính và đơn vị sự nghiệp có thu… 94
3.2.2.4 Giải pháp về hoàn thiện cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt đối với các khoản chi NSNN của Kho bạc Nhà nước Hà Nội………98
3.2.2.5 Giải pháp về hoàn thiện cơ chế một cửa trong công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước của Kho bạc Nhà nước Hà Nội……….99
3.2.2.6 Giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất cán bộ Kho bạc Nhà nước Hà Nội……… ……… 101
3.2.2.7 Giải pháp về hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và hiện đại hóa công nghệ Kho bạc Nhà nước Hà Nội……… …… …….……… 102
3.3 NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ THỤC HIỆN GIẢI PHÁP 3.3.1 Hoàn thiện hệ thống chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước ……… 104
3.3.2 Nâng cao chất lượng dự toán chi ngân sách nhà nước……… 105
3.3.3 Hoàn thiện hệ thống kế toán, quyết toán ngân sách nhà nước……….106
3.3.4 Hiện đại hóa công nghệ thanh toán của nền kinh tế……….109
KẾT LUẬN……….112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 114
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ……… 117
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình thực hiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN giai đoạn 2004 – 2010………36
Bảng 2.3: Tốc độ tăng chi Ngân sách …… … ………… 59 Bảng 2.4: Tình hình từ chối thanh toán vốn đầu tư NSNN qua KBNN giai đoạn
Sơ đồ 3.1: Quy kiểm soát chi “một cửa” đối với chi thường xuyên …… ………. 86
Sơ đồ 3.2: Quy kiểm soát chi đối với chi đầu tư xây dựng cơ bản .… ……… 89
Sơ đồ 3.3: Quy kiểm soát chi “một cửa” đối với chi đầu tư xây dựng cơ bản
… ……… .………… 93
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NSTW Ngân sách trung ương
NSĐP Ngân sách địa phương
GPMB Giải phóng mặt bằng
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Báo cáo của chính phủ và các bộ ngành, cũng như các phương tiện thông tin đại chúng, thường xuyên có thông tin phản ánh về việc quản lý và
sử dụng ngân sách nhà nước còn kém hiệu quả, lãng phí, tham nhũng, thất thoát nhiều Đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước theo đánh giá chung thất thoát từ 10 – 20%, thậm chí 30%
Thời gian qua Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều biện pháp tích cực, hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực chi NSNN nói chung và trong lĩnh vực kiểm soát các khoản chi ngân sách nói riêng Điều đó thể hiện bằng việc Quốc hội đã thông qua Luật NSNN số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 của Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004; Luật Kế toán số 03/ 2003/QH11 ngày 17/06/2003 Luật NSNN được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế của Luật NSNN năm 1996 và luật sửa đổi bổ sung một
số điều của luật ngân sách ban hành năm 1998, với mục tiêu quản lý thống nhất, có hiệu quả nền tài chính quốc gia, tăng cường phân cấp nâng cao tính chủ động và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản
lý và sử dụng NSNN; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực hiện cải cách hành chính trong việc lập, chấp hành kế toán và quyết toán ngân sách; củng cố kỷ luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách và tài sản của nhà nước Qua thời gian triển khai thực hiện Luật NSNN (sửa đổi) năm
2002, lĩnh vực quản lý và kiểm soát chi NSNN đã bộc lộ không những hạn chế từ khâu lập, chấp hành kế toán và quyết toán NSNN đã làm hạn chế hiệu quả quản lý của các cơ quan chức năng và tác động tiêu cực đến hiệu quả sử
Trang 10dụng các khoản chi NSNN Chính vì vậy mà tác giả đã chọn và nghiên cứu
đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước của Kho
bạc Nhà nước Hà Nội” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp của mình với mong
muốn đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN của KBNN Hà Nội
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, thực trạng công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước của các đơn vị thụ hưởng ngân sách trong những năm vừa qua; đề tài phân tích, đánh giá những mặt ưu điểm và nhược điểm, rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn của Thủ đô, từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu là nghiệp vụ quản lý và kiểm soát chi NSNN của các đơn vị thụ hưởng ngân sách của KBNN Hà Nội, bao gồm việc quản
lý, kiểm soát và thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu bao gồm việc quản lý và điều hành của KBNN
Hà Nội; tổ chức thực hiện kiểm soát và thanh toán các khoản chi của các đơn vị thụ hưởng NSNN; thời gian nghiên cứu được tập trung giai đoạn
2004 - 2010
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Từ nhận thức những quan điểm, lý luận về quản lý và kiểm soát chi NSNN nói chung, hoạt động kiểm soát chi NSNN của KBNN Hà Nội nói riêng để phân tích, đánh giá, tìm ra các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN của KBNN Hà Nội trong thời gian tới Đề tài nghiên cứu sử dụng tổng hợp các phương pháp thu thập tài liệu, số liệu khảo sát thực tế, phân tích tổng hợp, thống kê so sánh,
Trang 115 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Luận văn được hoàn thành sẽ góp phần hoàn thiện lý luận về công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN Hà Nội
Trên cơ sở nghiên cứu và hệ thống hóa những vấn đề về lý luận và thực tiễn của công tác kiểm soát chi NSNN, chỉ ra những hạn chế của công tác kiểm soát chi NSNN hiện nay và các nguyên nhân của những hạn chế, luận văn có một số đóng góp mới nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi NSNN Góp phần hoàn thiện quy trình kiểm soát chi NSNN của KBNN Hà Nội như sau:
- Hình thành cơ sở lý luận về kiểm soát chi NSNN, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết một số hạn chế về kiểm soát chi NSNN trong giai đoạn 2004 - 2010, để nâng cao hiệu quả chi NSNN và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia
- Góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả chi NSNN, ngăn chặn sự lãng phí, tham ô, gây tổn hại công quỹ nhà nước
6 Kết cấu của đề tài
Tên của đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách nhà
nước của Kho bạc Nhà nước Hà Nội”
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và pháp lý chung về công tác kiểm soát chi
Ngân sách Nhà nước qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước của
Kho bạc Nhà nước Hà Nội
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà
nước của Kho bạc Nhà nước Hà Nội
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHÁP LÝ CHUNG
VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
QUA HỆ THỐNG KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.1 KHO BẠC NHÀ NƯỚC VÀ TỔ CHỨC HỆ THỐNG KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước
KBNN được thành lập và đi vào hoạt động từ 01/04/1990 theo Quyết định số 07/HĐBT ngày 04/01/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) Qua quá trình hoạt động và phát triển, hệ thống KBNN đã không ngừng lớn mạnh và ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò trong nền kinh tế, trong hệ thống tài chính quốc gia Để phù hợp với các nhiệm vụ của KBNN trong từng giai đoạn, Chính phủ đã ban hành Quyết định 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của KBNN trực thuộc Bộ Tài chính Quyết định số 362/QĐ-BTC ngày 11 tháng 02 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của KBNN ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Theo Quyết định số 362/QĐ-BTC ngày 11 tháng 02 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì: “KBNN là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính nhà nước
và các quỹ khác của nhà nước được giao theo quy định của pháp luật; thực hiện huy động vốn cho NSNN, cho đầu tư phát triển qua hình thức phát hành công trái, trái phiếu theo quy định của pháp luật”
Với chức năng trên, theo Quyết định số 362/QĐ-BTC ngày 11 tháng
02 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, thì KBNN có một số nhiệm vụ
Trang 13chủ yếu sau:
- Tập trung, phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu NSNN Thực hiện số thu cho các cấp ngân sách theo quy định của cấp có thẩm quyền Chi trả và kiểm soát chi NSNN cho từng đối tượng thụ hưởng theo dự toán đã được duyệt Khi phát hiện đơn vị hay tổ chức thụ hưởng kinh phí NSNN có
sự vi phạm chế độ quản lý tài chính nhà nước, thì KBNN được tạm thời đình chỉ thanh toán và báo cáo với cấp có thẩm quyền để xử lý
- Kiểm soát, thanh toán, kế toán, quyết toán vốn đầu tư, vốn sự nghiệp
có tính chất đầu tư và xây dựng thuộc nguồn vốn NSNN các cấp
- Kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các quỹ dự trữ tài chính nhà nước; tiền, tài sản tạm thu, tạm giữ và các khoản tịch thu đưa vào tài sản nhà nước theo quyết định của cấp có thẩm quyền
- Tổ chức huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển dưới hình thức phát hành công trái, trái phiếu Chính phủ thông qua thị trường vốn trong nước
- Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiện thanh toán, giao dịch bằng tiền mặt, chuyển khoản với các cơ quan, đơn vị, cá nhân có quan hệ giao dịch với KBNN KBNN mở tài khoản tiền gửi (không kỳ hạn,
có kỳ hạn) tại Ngân hàng Nhà nước hoặc ngân hàng thương mại quốc doanh
để giao dịch và thanh toán
- Tổ chức thanh toán, điều hòa vốn và tiền mặt trong hệ thống KBNN, đảm bảo tập trung nhanh các khoản thu, đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán, chi trả của NSNN
- Tổ chức công tác kế toán, thống kê và báo cáo quyết toán quỹ NSNN, quỹ dự trữ tài chính nhà nước, tiền và tài sản tạm thu tạm giữ
Để phù hợp với nhiệm vụ trên, KBNN được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, thống nhất thành hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương và
Trang 14bao gồm ba cấp Cụ thể, ở trung ương có KBNN trực thuộc Bộ Tài chính với
10 ban nghiệp vụ, 1 sở giao dịch và 3 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có KBNN tỉnh, thành phố trực thuộc KBNN (sau đây gọi chung là KBNN tỉnh) KBNN tỉnh thực hiện kiêm nhiệm vụ của KBNN quận, thị xã nơi đóng trụ sở và được tổ chức thành 9 phòng nghiệp vụ, riêng KBNN Hà Nội được tổ chức thành 4 phòng Kiểm soát chi, KBNN thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức thành 2 phòng Kiểm soát chi Tại các quận, huyện, thị xã có KBNN quận, huyện, thị xã trực thuộc KBNN tỉnh (sau đây gọi chung là KBNN huyện) Các KBNN huyện là đơn
vị cấp cơ sở, được tổ chức thành 4 phòng, (tổ) nghiệp vụ chủ yếu
Như vậy, có thể nói Quyết định 362/QĐ-BTC ngày 11 tháng 02 năm
2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính đã nâng cao cơ sở pháp lý, đồng thời còn
mở rộng nhiệm vụ và quyền hạn của KBNN tỉnh ngày một đầy đủ hơn
1.1.2 Tổ chức Kho bạc Nhà nước trong quản lý NSNN
Quản lý cấp phát và thanh toán các khoản chi NSNN là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các cơ quan đơn vị có liên quan đến việc sử dụng NSNN, từ khâu lập dự toán, phân bổ, cấp phát, thanh toán đến quyết toán chi tiêu NSNN, trong đó hệ thống KBNN giữ vai trò đặc biệt quan trọng Tại điều 56 Luật NSNN (sửa đổi) đã quy định: “Căn cứ vào dự toán NSNN được giao và yêu cầu nhiệm vụ, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách quyết định chi gửi KBNN, KBNN kiểm tra tính hợp pháp của các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật và thực hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện quy định”; đồng thời, tại điểm 1, điều 55 Nghị định 60/2003/NĐ-CP cũng quy định “Các đơn vị sử dụng ngân sách và các tổ chức được ngân sách hỗ trợ thường xuyên phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính và KBNN trong quá trình thanh toán, sử dụng kinh phí”
Trang 15Như vậy, KBNN là “trạm canh gác kiểm soát cuối cùng” được Nhà nước giao nhiệm vụ kiểm soát trước khi đồng vốn của Nhà nước ra khỏi quỹ NSNN
Thực hiện nhiệm vụ trên, KBNN chủ động bố trí vốn cho từng đơn vị KBNN trực thuộc để chi trả đầy đủ, kịp thời và chính xác cho các cơ quan, đơn vị trên cơ sở dự toán NSNN được duyệt và yêu cầu rút dự toán của đơn
vị sử dụng ngân sách Bên cạnh đó, KBNN còn thường xuyên cải tiến quy trình cấp phát, thanh toán như mở rộng hình thức thanh toán điện tử trong nội bộ hệ thống, cải tiến chế độ kế toán, đưa ứng dụng tin học vào các quy trình nghiệp vụ Từng bước thực hiện cấp phát, chi trả trực tiếp cho người được hưởng hoặc cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo tính chất của từng khoản chi NSNN
Trên cơ sở đó, KBNN thực hiện kiểm tra và hạch toán các khoản chi NSNN theo đúng, chương, loại, khoản, mục, tiểu mục của mục lục NSNN; đồng thời cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin cần thiết, phục vụ cho công tác chỉ đạo và điều hành của cơ quan tài chính và chính quyền các cấp Ngoài ra, KBNN còn phối hợp chặt chẽ với cơ quan tài chính trong việc bố trí, sắp xếp các nhu cầu chi tiêu, đảm bảo thu, chi NSNN luôn được cân đối, việc điều hành quỹ NSNN được thuận lợi
Khi nhận đươc lệnh trả tiền của cơ quan tài chính hay đơn vị thụ hưởng kinh phí do ngân sách cấp, thì nhiệm vụ của KBNN là trả tiền cho người được hưởng Tuy nhiên, nhiệm vụ của KBNN không chỉ có xuất, nhập công quỹ, mà còn có nhiệm vụ quản lý quỹ NSNN Với nhiệm vụ này, KBNN chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, hợp lệ của việc xuất tiền Do đó, KBNN phải kiểm tra việc sử dụng kinh phí NSNN cấp cho các đơn vị, tổ chức kinh tế, đảm bảo đúng mục đích, đúng chế độ, định mức chi tiêu của Nhà nước Sự kiểm tra đó được KBNN tiến hành thông qua việc xem xét các
Trang 16hồ sơ, tài liệu chi trên các phương diện như dự toán NSNN được duyệt; thẩm quyền chuẩn chi; các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi của Nhà nước
Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện thấy đơn vị, tổ chức kinh tế hay cơ quan Nhà nước sử dụng kinh phí ngân sách cấp không đúng mục đích, không có hiệu quả hoặc không đúng chế độ của Nhà nước, thì KBNN
sẽ từ chối cấp phát, thanh toán Như vậy, trong quá trình cấp phát, thanh toán, KBNN không thụ động thực hiện theo các lệnh của cơ quan tài chính, đơn vị sử dụng ngân sách một cách đơn thuần, mà hoạt động tương đối độc lập và có sự tác động trở lại đối với các cơ quan, đơn vị đó Thông qua đó, KBNN đảm bảo cho quá trình quản lý, sử dụng công quỹ quốc gia được chặt chẽ, đặc biệt là việc mua sắm, sửa chữa, xây dựng Vì vậy, KBNN không những hạn chế được tình trạng lãng phí, thất thoát, tiêu cực, mà còn đảm bảo cho việc sử dụng NSNN đúng mục đích, hợp pháp, tiết kiệm và có hiệu quả Đồng thời KBNN góp phần kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán, đảm bảo sự ổn định lưu thông tiền tệ
Thông qua việc cấp phát, thanh toán các khoản chi của NSNN, KBNN còn tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình chi NSNN qua KBNN theo từng địa bàn, từng cấp ngân sách và từng loại chi chủ yếu, rút ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế và nguyên nhân Từ đó, KBNN cùng với các cơ quan hữu quan nghiên cứu và hoàn thiện cơ chế thanh toán, chi trả và kiểm soát chi NSNN qua KBNN
Trang 171.2 CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA KIỂM SOÁT CHI QUA HỆ THỐNG KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.2.1 Chi ngân sách nhà nước
1.2.1.1 Khái niệm Ngân sách Nhà nước và chi NSNN
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước NSNN là một hệ thống thống nhất, bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương (gọi chung là ngân sách địa phương)
Chi NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các nguồn lực tài chính tập trung được vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị và
xã hội của Nhà nước trong từng công việc cụ thể Chi NSNN có quy mô và mức độ rộng lớn, bao gồm nhiều lĩnh vực, tại các địa phương và các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước
Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng các quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
1.2.1.2 Đặc điểm chi Ngân sách Nhà nước
Chi NSNN gắn chặt với hoạt động của bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ chính trị, kinh tế xã hội Quy mô tổ chức bộ máy nhà nước, khối lượng, phạm vi nhiệm vụ do Nhà nước đảm đương có quan hệ tỷ lệ thuận với tổng dự toán chi NSNN
Các khoản chi NSNN thường được xem xét tính hiệu quả ở tầm vĩ mô, tức là các khoản chi NSNN phải được xem xét một cách toàn diện và dựa
Trang 18vào mức độ hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế, xã hội mà Nhà nước đã đề ra trong từng thời kỳ
Các khoản chi NSNN thường mang tính chất không bồi hoàn trực tiếp Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt các khoản chi NSNN với các khoản tín dụng, các khoản chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh,,
Các khoản chi NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái và các phạm trù khác thuộc lĩnh vực tiền tệ
1.2.1.3 Phân loại chi Ngân sách Nhà nước
Phân loại các khoản chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN theo những tiêu thức, tiêu chí nhất định vào các nhóm, các loại chi Có nhiều tiêu thức để phân loại các khoản chi NSNN, song tựu chung lại có thể sắp xếp theo những tiêu thức phân loại chủ yếu sau:
- Theo mục đích kinh tế - xã hội của các khoản chi, thì chi NSNN được chia thành: chi tiêu dùng và chi đầu tư phát triển
- Theo tính chất các khoản chi, thì chi NSNN được chia thành: chi cho
y tế, chi cho giáo dục, chi phúc lợi, chi quản lý Nhà nước, chi đầu tư kinh tế,
- Theo yếu tố, thì chi NSNN được chia thành: chi đầu tư, chi thường xuyên và chi khác
- Theo chức năng của Nhà nước, thì chi NSNN được chia thành: chi nghiệp vụ và chi phát triển
- Theo tính chất pháp lý, thì chi NSNN được chia thành: các khoản chi theo luật định, các khoản chi đã được cam kết; các khoản chi có thể điều chỉnh
Trang 191.2.2 Vai trò của kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
1.2.2.1 Khái niệm về kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước
Kiểm soát chi NSNN là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do Nhà nước quy định dựa trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng thời kỳ
1.2.2.2 Sự cần thiết phải kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
Từ khái niệm kiểm soát chi NSNN đã nêu bên trên, ta thấy rằng kiểm soát chi NSNN được đặt ra đối với mọi quốc gia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển
Đối với nước ta hiện nay, kiểm soát chi NSNN lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi những lý do sau đây:
- Do yêu cầu của công cuộc đổi mới: quá trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói chung và đổi mới cơ chế quản lý NSNN nói riêng đòi hỏi mọi khoản chi NSNN phải được tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả Điều này là một tất yếu khách quan vì nguồn lực của NSNN bao giờ cũng có hạn, nó là nguồn lực của đất nước, là tiền của và công sức của nhân dân đóng góp, không thể chi tiêu một cách lãng phí Vì vậy, kiểm soát chi tiêu chặt chẽ là mối quan tâm của Đảng, Nhà nước và của các cấp, các ngành cũng như của toàn xã hội Thực hiện tốt công tác này sẽ có ý nghĩa to lớn trong việc thực hành tiết kiệm, chống các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí, góp phần lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát Đặc biệt, theo luật NSNN quy định, hệ thống KBNN chịu trách nhiệm chính trong việc kiểm soát thanh toán, chi trả trực tiếp từng khoản chi NSNN cho
Trang 20các đối tượng sử dụng đúng với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Nhà nước giao cho, góp phần lập lại kỷ cương, kỷ luật tài chính
- Do ý thức của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN: một thực tế khá phổ biến là các đơn vị sử dụng kinh phí được ngân sách nhà nước cấp thường có chung một tư tưởng là tìm cách sử dụng hết số kinh phí được cấp, không quan tâm đến việc chấp hành đúng mục đích, đối tượng và dự toán đã được duyệt Các đơn vị này thường lập hồ sơ, chứng từ thanh toán sai chế độ quy định, không có trong dự toán chi ngân sách nhà nước đã được phê duyệt, không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu, thiếu các hồ sơ, chứng từ pháp lý liên quan Vì vậy, phải có giải pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời các gian lận, sai sót, ngăn chặn các sai phạm và lãng phí có thể xảy ra trong việc
sử dụng NSNN của các cơ quan, đơn vị, bảo đảm mọi khoản chi của NSNN được tiết kiệm và có hiệu quả
- Do tính đặc thù của các khoản chi NSNN: các khoản chi của NSNN đều mang tính không hoàn trả trực tiếp Tính chất cấp phát trực tiếp không hoàn lại của các khoản chi NSNN là một ưu thế cực kỳ to lớn đối với các đơn vị sử dụng NSNN Trách nhiệm của họ là phải chứng minh được việc sử dụng các khoản chi bằng các kết quả công việc cụ thể đã được Nhà nước giao Tuy nhiên, việc dùng những chỉ tiêu định tính và định lượng để đánh giá và đo lường kết quả công việc trong nhiều trường hợp là thiếu chính xác
và gặp không ít khó khăn Vì vậy cần phải có một cơ quan chức năng có thẩm quyền để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi của NSNN, bảo đảm tương xứng khoản tiền nhà nước đã chi ra với kết quả công việc mà các đơn vị sử dụng NSNN thực hiện
- Do yêu cầu mở cửa và hội nhập với nền tài chính khu vực và thế giới, theo kinh nghiệm quản lý NSNN của các nước và khuyến nghị của các
tổ chức tài chính quốc tế, việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN chỉ
Trang 21được thực hiện có hiệu quả trong điều kiện cơ chế chi trả trực tiếp từ cơ quan quản lý quỹ NSNN đến từng đối tượng sử dụng ngân sách, kiên quyết không chuyển kinh phí NSNN qua các cơ quan quản lý trung gian Có như vậy mới có thể đảm bảo kỷ cương, kỷ luật tài chính nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí của NSNN
1.2.2.3 Yêu cầu đối với công tác kiểm soát chi NSNN
Công tác kiểm soát chi NSNN phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Chính sách và cơ chế kiểm soát chi NSNN phải làm chủ hoạt động của NSNN đạt hiệu quả cao, có tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế, tránh tình trạng làm cho quỹ NSNN bị cắt đoạn, phân tán, gây căng thẳng trong quá trình điều hành NSNN Vì vậy, cơ chế và chính sách kiểm soát chi NSNN phải quy định rõ ràng các điều kiện, trình tự cấp phát theo hướng: cơ quan tài chính thực hiện cấp phát kinh phí phải căn cứ vào dự toán năm đã được giao; về phương thức thanh toán phải đảm bảo mọi khoản chi của NSNN được thanh toán, chi trả trực tiếp qua KBNN cho các đối tượng thụ hưởng trên cơ sở dự toán được duyệt, được thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách chuẩn chi và phù hợp với chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu hiện hành của Nhà nước
- Công tác quản lý và kiểm soát chi NSNN là một quy trình phức tạp, bao gồm từ khâu lập dự toán, phân bổ dự toán đến cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN, có liên quan đến tất cả các Bộ, ngành, địa phương
và các cấp ngân sách Vì vậy, kiểm soát chi NSNN phải được tiến hành hết sức thận trọng, được thực hiện dần từng bước; sau mỗi bước có tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm để cải tiến quy trình kiểm soát chi cho phù hợp với tình hình thực tế Có như vậy mới đảm bảo tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính Mặt khác, cũng không khắt khe, máy móc, gây ách tắc, phiền hà cho các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN cấp
Trang 22- Tổ chức bộ máy kiểm soát chi NSNN phải gọn nhẹ theo hướng thu gọn các đầu mối các cơ quan quản lý và đơn giản hóa thủ tục hành chính Đồng thời, cũng cần phân định rõ vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của các
cơ quan quản lý ngân sách, các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN, trong quá trình thực hiện chi NSNN từ khâu lập dự toán, cấp phát ngân sách, thực hiện chi đến khâu thông tin, báo cáo, quyết toán chi NSNN để tránh những trùng lắp, chồng chéo trong quá trình thực hiện Mặt khác, đảm bảo sự công khai, minh bạch và kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa những cơ quan, đơn vị đó trong quá trình kiểm soát chi NSNN
- Kiểm soát chi NSNN cần được thực hiện đồng bộ, nhất quán và thống nhất với việc quản lý NSNN từ khâu lập, chấp hành đến quyết toán NSNN Đồng thời, phải thống nhất với việc thực hiện các chính sách, cơ chế quản lý tài chính khác như chính sách thuế, phí và lệ phí, chính sách tiết kiệm, chính sách ổn định phát triển kinh tế – xã hội
1.3 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA HỆ THỐNG KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.3.1 Nhân tố ảnh hưởng kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước qua
hệ thống Kho bạc Nhà nước
* Những nhân tố khách quan
- Dự toán NSNN: Đây là một trong những căn cứ quan trọng nhất để KBNN thực hiện kiểm soát chi NSNN Vì vậy, dự toán NSNN phải đảm bảo tính kịp thời (trước khi đơn vị chi, KBNN đã phải có dự toán để kiểm soát chi), chính xác (nội dung chi, mức chi phải phù hợp với thực tế), đầy đủ (dự toán phải bao quát hết các nhu cầu chi tiêu của đơn vị trong năm ngân sách)
và chi tiết (dự toán ngân sách càng chi tiết thì việc kiểm soát chi của KBNN càng thuận tiện và chặt chẽ) để làm căn cứ cho KBNN kiểm tra, kiểm soát
Trang 23quá trình chi tiêu của đơn vị
- Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN: Hệ thống chế độ, tiêu chuẩn định mức chi NSNN là căn cứ quan trọng trong việc xây dựng, phân
bổ và kiểm soát chi NSNN Vì vậy, nó phải đảm bảo tính chính xác (phù hợp với tình hình thực tế), tính thống nhất (thống nhất giữa các ngành, các địa phương và các đơn vị sử dụng NSNN), tính đầy đủ (phải bao quát được tất
cả các nội dung chi phát sinh trong thực tế)
- Về ý thức chấp hành của các đơn vị thụ hưởng kinh phí NSNN cấp: cần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành Luật của các đơn vị sử dụng kinh phí do NSNN cấp, làm cho họ thấy rõ việc kiểm soát chi là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các đơn vị cá nhân có liên quan đến quản lý quỹ NSNN chứ không phải là công việc riêng của ngành Tài chính, KBNN Các ngành, các cấp cần thấy rõ vai trò của mình trong quá trình quản lý chi NSNN từ khâu lập dự toán, phân bổ dự toán, cấp phát thanh toán kinh phí, kế toán và quyết toán các khoản chi NSNN
* Những nhân tố chủ quan
- Chức năng, nhiệm vụ KBNN: việc kiểm soát chi NSNN qua KBNN đòi hỏi KBNN phải có một vị thế, vai trò lớn hơn Vì vậy, việc quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của KBNN một cách rõ ràng, cụ thể sẽ tăng cường được vị trí, vai trò của KBNN; đồng thời, cũng nâng cao được hiệu quả công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN
- Chất lượng và trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm soát chi của KBNN; đây là lực lượng trực tiếp thực hiện kiểm soát chi NSNN Vì vậy, cán bộ KBNN phải đảm bảo “vừa hồng, vừa chuyên” để có thể đảm đương nhiệm vụ kiểm soát chi NSNN qua KBNN một cách chặt chẽ; đồng thời, cũng không phát sinh các hiện tượng cửa quyền, sách nhiễu trong quá trình kiểm soát chi
Trang 24Về cơ sở vật chất – kỹ thuật, việc kiểm soát chi NSNN qua KBNN cũng cần đòi hỏi một số điều kiện khác như hiện đại hóa công nghệ KBNN; hoàn thiện hệ thống kế toán và quyết toán NSNN; hiện đại hóa công nghệ thanh toán trong nền kinh tế và của KBNN
1.3.2 Nội dung công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước qua hệ thống Kho bạc Nhà nước
Khái niệm: Kiểm soát chi NSNN qua KBNN là việc KBNN thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do Nhà nước quy định theo những nguyên tắc, hình thức và phương thức quản lý tài chính trong quá trình cấp phát, thanh toán và chi trả các khoản chi NSNN
Nội dung kiểm soát chi NSNN của KBNN là:
- Tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ chi NSNN
- Tính hợp pháp về dấu, chữ ký của người quyết định chi và kế toán
- Các điều kiện chi theo chế độ quy định, cụ thể:
+ Các khoản chi phải có trong dự toán được duyệt, trừ các trường hợp như dự toán NSNN và phương án phân bổ NSNN có thẩm quyền quyết định hoặc phải điều chỉnh dự toán NSNN theo quy định; chi từ nguồn dự phòng NSNN theo quyết định của cấp có thẩm quyền; các khoản chi đột xuất ngoài
dự toán được duyệt nhưng không thể trì hoãn được (như chi khắc phục hậu quả lũ lụt, thiên tai, hỏa hoạn )
+ Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do tổ chức, cá nhân,
có thẩm quyền quy định Đối với khoản chi chưa có chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi, KBNN kiểm tra, kiểm soát và cấp phát căn cứ vào mức chi trong
dự toán được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
+ Đã được cơ quan tài chính hoặc thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc được người được ủy quyền quyết định chi
Trang 25+ Có đủ các chứng từ liên quan tùy theo tính chất của từng khoản chi Trên cơ sở Luật Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Bộ tài chính ban hành Thông tư số 79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 hướng dẫn chế độ quản
lý, cấp phát các kiểm soát chi NSNN qua KBNN; trong đó, một số đặc điểm kiểm soát chi NSNN qua KBNN như sau:
- KBNN thực hiện kiểm soát chi NSNN theo dự toán, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu của Nhà nước
- Căn cứ các điểm nêu trên, KBNN tổ chức thực hiện và được quyền
từ chối thanh toán nếu đơn vị thụ hưởng NSNN không chấp hành đúng các quy định về kiểm soát chi NSNN qua KBNN Thủ trưởng cơ quan KBNN chịu trách nhiệm về các quyết định thanh toán, chi trả hoặc từ chối thanh toán chi ngân sách theo quy định
- Việc kiểm soát chi NSNN qua KBNN được tiến hành dần từng bước Sau mỗi bước có đánh giá, rút kinh nghiệm để xây dựng bước đi tiếp theo
1.3.3 Tổ chức công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
1.3.3.1 Khái niệm quản lý chi Ngân sách Nhà nước
- Quản lý chi NSNN là quá trình Nhà nước vận dụng các quy luật khách quan; sử dụng hệ thống các phương pháp tác động đến hoạt động chi NSNN nhằm phục vụ tốt nhất cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
do Nhà nước đảm nhận
- Đối tượng quản lý chi NSNN là toàn bộ các khoản chi NSNN được
bố trí để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của KBNN trong từng giai đoạn nhất định
- Tác động của quản lý chi NSNN mang tính tổng hợp, hệ thống nhiều biện pháp khác nhau, được biểu hiện đưới dạng cơ chế quản lý
- Cơ sở của quản lý chi NSNN là sự vận dụng các quy luật kinh tế –
Trang 26xã hội phù hợp với thực tiễn khách quan
- Mục tiêu của việc quản lý chi NSNN là với một số tiền nhất định đem lại một kết quả tốt nhất về kinh tế – xã hội; đồng thời giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể khác trong xã hội
1.3.3.2 Đặc điểm quản lý chi Ngân sách Nhà nước
Trên thực tế, cơ chế quản lý chi NSNN ở mỗi nước có thể khác nhau, nhưng có thể nhận thấy cơ chế quản lý chi NSNN có một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Chi NSNN được quản lý bằng pháp luật và theo dự toán, đây là đặc điểm quan trọng Nhìn nhận và đánh giá đúng đặc điểm này sẽ giúp Nhà nước và cơ quan chức năng đưa ra các cơ chế quản lý, điều hành chi NSNN đúng luật, đảm bảo có hiệu quả và công khai, minh bạch Mọi Nhà nước đều quản lý chi NSNN bằng luật
- Quản lý chi NSNN sử dụng tổng hợp các biện pháp, nhưng biện pháp quan trọng nhất là biện pháp tổ chức hành chính Biện pháp này tác động vào đối tượng quản lý theo hai hướng:
+ Chủ thể quản lý ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định tính chất, mục tiêu, quy mô, cơ cấu, tổ chức, điều kiện thành lập, mối quan
hệ trong và ngoài tổ chức
+ Chủ thể quản lý đưa ra các quyết định quản lý bắt buộc cấp dưới và
cơ quan thuộc phạm vi điều chỉnh phải thực hiện những nhiệm vụ nhất định
Đặc trưng của phương pháp quản lý hành chính là cưỡng chế đơn phương của chủ thể quản lý Đặc điểm này thể hiện rõ nét trong cơ chế quản
lý chi NSNN ở Việt Nam NSNN Việt Nam là ngân sách thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm Trung ương thống nhất trong việc ban hành các cơ chế,
Trang 27chính sách về quản lý từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán, hạch toán và quyết toán các khoản chi NSNN
- Hiệu quả chất lượng công tác quản lý chi NSNN khó đo được bằng các chỉ tiêu định lượng Hiệu quả, chất lượng quản lý chi NSNN không đồng nghĩa với hiệu quả chi NSNN Nếu hiệu quả chi NSNN so sánh kết quả đạt được với số tiền mà Nhà nước bỏ ra cho công việc nào đó, thì hiệu quả công tác quản lý chi NSNN được thể hiện bằng việc so sánh giữa kết quả công tác quản lý chi NSNN thu được với số chi phí mà Nhà nước đã chi cho công tác quản lý chi NSNN
1.3.3.3 Nguyên tắc quản lý chi Ngân sách Nhà nước
Quản lý chi NSNN phải tuân thủ các nguyên tắc trong chu trình quản
lý chi NSNN, từ khâu lập dự toán đến khâu chấp hành dự toán chi và quyết
toán chi NSNN, cụ thể như sau:
- Đối với khâu lập dự toán chi NSNN: Dự toán chi NSNN phải được xây dựng dựa trên các căn cứ khách quan và khoa học như chiến lược, kế hoạch và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước, hệ thống các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu hiện hành, từ kết quả phân tích chấp hành dự toán của những năm trước ; việc xây dựng dự toán phải đảm bảo đúng trình tự và thời gian theo quy định; dự toán chi NSNN phải đảm bảo chi tiết theo mục lục NSNN hiện hành và phải sát với nhu cầu thực tế của các đơn vị thụ hưởng ngân sách
- Đối với khâu chấp hành dự toán chi NSNN: NSNN phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ, kịp thời mọi nhu cầu chi tiêu của đơn vị thụ hưởng ngân sách theo dự toán đã được phê duyệt; mọi khoản chi NSNN đều được thanh toán trực tiếp qua KBNN cho các cơ quan, đơn vị và các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho Nhà nước; mọi khoản chi của NSNN đều phải được KBNN kiểm soát trước khi thanh toán, chi trả cho các đơn vị; phân định rõ trách
Trang 28nhiệm của người chuẩn chi – thủ trưởng các cơ quan, đơn vị với KBNN – kế toán của Nhà nước
- Đối với khâu quyết toán NSNN: Phản ánh trung thực, đầy đủ và chính xác mọi khoản chi của Nhà nước (chi tiết theo mục lục ngân sách nhà nước) theo quy định của Luật NSNN; đảm bảo đúng trình tự, thủ tục và thời gian theo luật định; phải được kiểm toán trước khi trình Quốc hội phê chuẩn
1.3.3.4 Chu trình quản lý chi Ngân sách Nhà nước
Chu trình quản lý chi NSNN được tiến hành từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán chi và quyết toán chi NSNN, cụ thể:
- Lập dự toán chi NSNN là quá trình bao gồm các công việc như lập
dự toán, phân bổ dự toán chi và giao dự toán chi NSNN Các khoản chi trong dự toán ngân sách phải được xác định trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng Trong đó, lập dự toán chi NSNN là công việc khởi đầu, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả của toàn bộ các khâu của quá trình quản lý chi NSNN Dự toán chi NSNN đúng đắn, có cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội nói chung cũng như tạo tiền
đề cho việc quản lý chặt chẽ, có hiệu quả các khoản chi NSNN nói riêng
- Chấp hành dự toán chi NSNN: sau khi được phê chuẩn (do Quốc hội phê chuẩn), thì việc thực hiện chi ngân sách được triển khai (năm ngân sách được bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm) Quá trình này là cấp kinh phí NSNN cho các nhu cầu đã được duyệt; đồng thời, các cơ quan quản lý nhà nước được pháp luật quy định có trách nhiệm kiểm soát mọi khoản chi của NSNN đảm bảo đúng dự toán, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức theo quy định hiện hành của Nhà nước Việc chấp hành dự toán chi NSNN là tổ chức cấp phát kinh phí đúng mục đích, đúng dự toán đã được duyệt Trong đó, Bộ Tài chính có vị trí quan trọng trong việc điều hành
Trang 29NSNN của Chính phủ
- Quyết toán chi NSNN là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý chi NSNN, bao gồm các công việc tổng hợp, phân tích, đánh giá các khoản chi NSNN đã thực hiện trong năm ngân sách có hiệu quả, đúng với dự toán được duyệt hay không (phải được Quốc hội phê chuẩn) Thông qua quyết toán chi NSNN, ta có thể thấy được toàn bộ các hoạt động kinh tế – xã hội của Nhà nước trong năm ngân sách đó, hình dung được các hoạt động chi NSNN là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước Từ đó, rút ra được những kinh nghiệm trong quản lý chi NSNN trong những năm sau
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI
2.1 TỔNG QUAN VỀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI
2.1.1 Sự ra đời và phát triển
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền dân chủ nhân dân thành lập Để đảm bảo tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nước, ngày 29/05/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là người đứng đầu Chính phủ đã ký Sắc lệnh số 75 quy định tổ chức bộ máy Bộ Tài chính Theo đó Nha Ngân khố được thành lập ở các cấp chính quyền địa phương và
là một bộ phận tổ chức cấu thành trong bộ máy BTC Nhiệm vụ của Nha Ngân khố được Bộ Tài chính quy định, cụ thể là: Tập trung quản lý các khoản thu về thuế, đảm bảo nhiệm vụ quốc phòng, phát hành công trái và công phiếu kháng chiến; quản lý và giám sát các khoản cấp phát theo dự toán; chịu trách nhiệm việc xác nhận và thanh toán kinh phí cho các đơn vị thụ hưởng; làm thủ tục quyết toán với cơ quan tài chính; phát hành tiền Việt Nam và đấu tranh chống lại chính sách tiền tệ của địch; thực hiện nhiệm vụ
kế toán
Trong điều kiện đất nước vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, hệ thống Nha Ngân khố đã có nhiều đóng góp xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân, chống lại những hoạt động của địch trên lĩnh vực tài chính – tiền tệ, bước đầu tạo ra nền tài chính non trẻ của chế độ mới Nha Ngân khố đã hoàn thành những nhiệm vụ được giao khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang giai đoạn mới
Trước yêu cầu và tình hình mới của cuộc kháng chiến chống thực dân
Trang 31Pháp, giữa năm 1951, Chính phủ quyết định giải thể Nha Ngân khố, chuyển chức năng quản lý quỹ NSNN sang Ngân hàng quốc gia và thành lập hệ thống Kho bạc Nhà nước ở các cấp chính quyền Về mặt tổ chức, KBNN đặt tại Ngân hàng quốc gia nhưng nhiệm vụ của KBNN chịu sự quản lý, chỉ đạo của Bộ Tài chính KBNN tiếp tục thực hiện nhiệm vụ thu, chi NSNN, bảo đảm các yêu cầu chi của bộ máy nhà nước, phục vụ công cuộc kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước
Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, yêu cầu đối với cơ chế quản lý diễn ra mạnh mẽ Tách bạch hoạt động kinh doanh tiền tệ với nhiệm vụ quản
lý nhà nước về tài chính – ngân sách là đòi hỏi tất yếu khách quan Để nắm chắc tình hình thu, chi và sử dụng có hiệu quả nguồn NSNN, việc chuyển chức năng quản lý quỹ NSNN về Bộ Tài chính đã được Chính phủ nhận thấy
là rất cần thiết Ngày 04/01/1990, Chính phủ ban hành Quyết định số 07/HĐBT thành lập KBNN trực thuộc Bộ Tài chính Trong đó KBNN Hà Nội trực thuộc KBNN được thành lập, đi vào hoạt động từ ngày 01/04/1990
Năm 1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 25, Nghị định khẳng định chức năng quản lý nhà nước của KBNN Hà Nội về quỹ NSNN; quỹ dự trữ tài chính Nhà nước; tiền, tài sản tạm thu, tạm giữ; huy động vốn chi NSNN và cho đầu tư phát triển Từ ngày 01/01/2000, KBNN Hà Nội được Chính phủ giao nhiệm vụ kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn NSNN
Sau 15 năm hoạt động theo những quy định của Nghị định số 25, cùng với việc đẩy mạnh cải cách nền hành chính Nhà nước, KBNN Hà Nội tiếp tục được hoàn thiện, phát triển về chức năng, nhiệm vụ và bộ máy
2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý Kho bạc Nhà nước Hà Nội
Bộ máy KBNN Hà Nội được tổ chức ở 2 cấp từ thành phố và huyện
cụ thể: cấp thành phố là Văn phòng KBNN Hà Nội, hay còn gọi là KBNN
Trang 32tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cấp huyện là KBNN huyện, quận, thị
xã, thành phố trực thuộc tỉnh (có 29 Kho bạc)
Tại KBNN Hà Nội có 12 phòng chuyên môn trực thuộc KBNN Hà Nội có nhiệm vụ tham mưu, giúp việc, chỉ đạo toàn thể hệ thống theo chức năng được giao Cụ thể gồm: phòng Tổng hợp, phòng Kế toán nhà nước, phòng Kiểm soát chi NSNN TW1, phòng Kiểm soát chi NSNN TW2, phòng Kiểm soát chi NSNN TW3, phòng Kiểm soát chi NSNN Địa phương, phòng Kho quỹ, phòng Thanh tra, phòng Tin học, phòng Tổ chức cán bộ, phòng Tài vụ, phòng Hành chính - Quản trị
Tại KBNN huyện có các phòng (tổ) nghiệp vụ chủ yếu, cụ thể : phòng (tổ) Tổng hợp, Kế toán, Kho quỹ và Hành chính - Quản trị
Ở những địa bàn có hoạt động giao dịch lớn, Kho bạc thành lập điểm giao dịch, hệ thống điểm thu, điểm giao dịch là bộ phận cấu thành không thể thiếu trong cơ cấu tổ chức và hoạt động giao dịch của Kho bạc Những năm gần đây, nhất là sau khi có hướng dẫn của KBNN về củng cố, kiện toàn tổ chức, hoàn thiện quy chế, các điểm giao dịch cố định và lưu động đã được củng cố và nâng cao chất lượng phục vụ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức và cơ cấu lãnh đạo của Kho bạc Nhà nước
Hà Nội
Trang 342.1.3 Chức năng của Kho bạc Nhà nước Hà Nội
- KBNN Hà Nội có 2 chức năng cơ bản:
+ Quản lý nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính Nhà nước
và các quỹ khác của Nhà nước được giao quản lý
+ Tập trung các khoản thu, huy động vốn cho NSNN, cho đầu
tư phát triển qua hình thức phát hành công trái, trái phiếu Chính phủ
- Thực hiện và cụ thể hóa các chức năng nêu trên, Chính phủ, Bộ tài chính quy định nhiệm vụ của KBNN bao gồm những nhiệm vụ chuyên môn theo chức năng và nhiệm vụ quản lý nội ngành
2.2 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI
2.2.1 Ngân sách nhà nước
Trong các xã hội hiện đại, Nhà nước luôn có các chức năng, nhiệm vụ nhiều mặt như chức năng quản lý hành chính, chức năng kinh tế, chức năng trấn áp và các nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ xã hội Để thực hiện các chức năng nhiệm vụ đó nhà nước cần nắm được một lượng của cải vật chất nhất định, lượng của cải vật chất đó được hình thành chủ yếu từ thuế Từ các nguồn thu đó mà quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước được hình thành và được gọi là quỹ ngân sách – đó là cơ sở vật chất đảm bảo cho nhà nước tồn tại và hoạt động Việc sử dụng quỹ ngân sách để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước chính là quá trình chi tiêu ngân sách Chi tiêu ngân sách luôn gắn liền với thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước trên mọi lĩnh vực và trong từng thời kỳ nhất định
Trong thời đại hiện nay, chức năng kinh tế của nhà nước càng trở nên quan trọng Nhà nước phải can thiệp vào các quá trình kinh tế để sửa chữa những thất bại của thị trường, để đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh
Trang 35và đảm bảo tính hiệu quả, công bằng và ổn định của nền kinh tế Sự can thiệp của nhà nước ở đây là sự can thiệp gián tiếp, thông qua các chính sách kinh tế trong đó có chính sách thuế, chính sách chi tiêu và các luật lệ của nhà nước
Tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững hiện đang là mục tiêu cơ bản trong chính sách kinh tế vĩ mô của hầu hết các chính phủ Phát triển kinh
tế không chỉ đơn thuần là sự tăng trưởng kinh tế mà nó còn bao hàm nhiều vấn đề khác, như sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế, sự đô thị hóa và sự tham gia của các thành viên của xã hội vào quá trình phát triển đô thị đó Để thực hiện mục tiêu chiến lược này, nhà nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau, trong đó chính sách ngân sách là một trong những công cụ quan trọng nhất của nhà nước
NSNN của bất kỳ quốc gia nào cũng đều do cơ quan quyền lực cao nhất quyết định Các khoản thu của NSNN được đảm bảo bằng hệ thống pháp luật, các khoản chi của Ngân sách nhằm duy trì quyền lực của Nhà nước, đảm bảo cho Nhà nước thực hiện chức năng kinh tế, chính trị, xã hội của mình Nhìn chung NSNN phải đảm bảo huy động nguồn tài chính và đáp ứng nhu cầu chi tiêu tài chính theo kế hoạch Nhà nước, đồng thời phải thực hiện cân đối giữa các khoản thu, chi (bằng tiền) của Nhà nước
Điều 1, Luật Ngân sách nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Các khoản thu NSNN bao gồm: thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Trang 36Các khoản thu là nguồn để hình thành quỹ NSNN Quỹ NSNN được sử dụng
để đáp ứng các nhu cầu chi phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng,
an ninh; bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
2.2.2 Chi Ngân sách Nhà nước của Kho bạc Nhà nước Hà Nội
Chi NSNN là các quan hệ tiền tệ hình thành trong quá trình phân phối
và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí bộ máy nhà nước và thực hiện chức năng chính trị, kinh tế, xã hội của Nhà nước
Chi NSNN là sự phối hợp giữa quá trình phân phối (quá trình phân chia kinh phí NSNN để hình thành các quỹ trước khi đưa vào sử dụng) và quá trình sử dụng (quá trình trực tiếp chi dùng các khoản tiền cấp phát từ NSNN không phải trải qua việc hình thành các quỹ trước khi đưa vào sử dụng)
Với khái niệm trên, chi NSNN có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Chi NSNN gắn chặt với hoạt động của bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội mà Nhà nước đảm nhiệm Quy mô tổ chức bộ máy Nhà nước, khối lượng, phạm vi nhiệm vụ do Nhà nước đảm nhận
- Cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định quy mô, cơ cấu, nội dung, mức độ các khoản chi NSNN Ở Việt Nam
đó là Quốc hội
- Các khoản chi NSNN thường được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô,
có nghĩa là các khoản chi NSNN được xem xét một cách toàn diện dựa vào mức độ hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội mà các khoản chi đó đảm nhiệm
- Các khoản chi NSNN nói chung thường không mang tính bồi hoàn trực tiếp Ngoại trừ các khoản chi NSNN cho vay hỗ trợ, ưu đãi thông qua
Trang 37một tổ chức tín dụng đặc biệt của Nhà nước mang đặc thù của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ
- Các khoản chi NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái và các phạm trù khác thuộc lĩnh vực tiền tệ
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA KHO BẠC NHÀ NƯỚC HÀ NỘI
2.3.1 Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên của Kho bạc Nhà nước Hà Nội
Luật NSNN (sửa đổi) đã được ban hành vào năm 2002, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004 thay thế Luật NSNN năm 1996 và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật ngân NSNN 1998 Luật NSNN năm 2002 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát huy các ưu điểm và khắc phục được các nhược điểm của Luật NSNN năm 1996 Theo quy định của thông
tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật NSNN; Thông tư số 79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn chế độ quản lý cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN; thông tư số 135/2007/TT-BTC ngày 23/11/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điểm về tổ chức thực hiện
dự toán NSNN năm 2008, thì cơ chế kiểm soát chi NSNN qua KBNN được thực hiện theo các nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, về việc phân bổ, giao dự toán NSNN:
- Từ năm 2004 - 2007: Dự toán chi thường xuyên của các đơn vị sử dụng NSNN được giao chi tiết theo 4 nhóm mục chi chủ yếu sau: chi thanh toán cá nhân (bao gồm các mục chi: 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106, 107,
Trang 38108, 122, 124 của mục lục NSNN); chi nghiệp vụ chuyên môn (gồm các mục chi từ mục 109 đến mục 119 trừ mục 118); chi mua sắm, sửa chữa (mục
118, 144, 145) và nhóm mục chi khác bao gồm tất cả các mục chi còn lại của mục lục NSNN trừ các mục chi đầu tư XDCB Việc giao dự toán theo nhóm mục như trên sẽ tạo ra tính chủ động cho đơn vị trong việc sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí NSNN cấp, hạn chế được cơ bản tình trạng bổ sung, điều chỉnh dự toán như trước đây Đối với KBNN thì việc kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN theo dự toán được phân bổ cũng có sự thay đổi đó là việc thực hiện kiểm soát chi, thanh toán theo 4 nhóm mục chi và nhu cầu chi quý do đơn vị lập gửi KBNN
- Từ năm 2008 trở đi: Dự toán chi thường xuyên của các đơn vị sử dụng NSNN được giao chi tiết đến Loại, Khoản của Mục lục ngân sách (không phân bổ chi tiết theo nhóm mục chi và không phân bổ chi tiết theo từng quý trong năm)
Thứ hai, về hình thức cấp phát NSNN: Luật NSNN (sửa đổi) đã quy
định thay thế việc cấp phát theo hình thức hạn mức kinh phí bằng chi trả thanh toán theo hình thức rút dự toán tại KBNN, đây là bước thay đổi mang tính đột phá của Luật NSNN sửa đổi, nó góp phần cải cách một cách triệt để thủ tục hành chính trong việc cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN Việc bãi bỏ hình thức cấp phát bằng hạn mức kinh phí đã giảm bớt các thủ tục rườm rà không cần thiết, tốn kém cả vật chất lẫn thời gian và không đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi tiêu của đơn vị sử dụng ngân sách Với thay đổi
về hình thức cấp phát như trên thì việc kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN của KBNN cũng được thay đổi Cụ thể là:
- Từ năm 2004 – 2007: Căn cứ vào dự toán chi ngân của các cơ quan, đơn vị được giao và nhu cầu chi quý do đơn vị đăng ký, KBNN thực hiện kiểm soát và thanh toán các khoản chi NSNN theo đúng chế độ, tiêu chuẩn,
Trang 39định mức hiện hành
- Từ năm 2008 trở đi: Căn cứ vào dự toán chi NSNN của các cơ quan, đơn vị được giao, KBNN thực hiện kiểm soát và thanh toán các khoản chi NSNN theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức hiện hành
Thứ ba, bổ sung thêm phương thức cấp phát NSNN qua KBNN, theo
quy định của thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật NSNN đã quy định bổ sung thêm 2 phương thức cấp phát mới đó là tạm cấp kinh phí NSNN và chi ứng trước dự toán ngân sách năm sau cho các cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN, cụ thể:
- Tạm cấp kinh phí NSNN được thực hiện đối với một số khoản chi như chi lương, chi nghiệp vụ chuyên môn, chi công tác phí và một số khoản chi cần thiết khác để đảm bảo hoạt động của bộ máy của các cơ quan, đơn vị
sử dụng ngân sách, chi cho các dự án chuyển tiếp thuộc chương trình mục tiêu quốc gia và chi bổ sung của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới khi đầu năm ngân sách, dự toán NSNN và phương án phân bổ NSNN chưa được cơ quan có thẩm quyền quyết định hoặc phải điều chỉnh dự toán NSNN theo quy định Mức tạm cấp tối đa không vượt quá mức chi bình quân 01 tháng của năm trước và được thu hồi ngay sau khi dự toán và phương án phân bổ NSNN được cơ quan có thẩm quyền quyết định bằng cách trừ vào các mục chi tương ứng trong dự toán NSNN được phân bổ của các đơn vị sử dụng ngân sách
- Chi ứng trước dự toán cho năm sau được thực hiện cho một số nhiệm vụ quan trọng cấp bách phải thực hiện theo chế độ, chính sách do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định song chưa được bố trí trong dự toán và nguồn dự phòng NSNN không đáp ứng được Đối với những khoản
Trang 40chi này, KBNN thực hiện cấp phát, thanh toán căn cứ vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền nhưng tổng số chi không vượt quá 20% dự toán chi NSNN theo từng lĩnh vực tương ứng năm ngân sách hiện hành đã được giao hoặc số kiểm tra dự toán chi NSNN đã thông báo cho cơ quan, đơn vị đó
Thứ tư, quy định về kiểm soát, thanh toán với các khoản chi về mua
sắm đồ dùng, trang thiết bị, sửa chữa lớn TSCĐ:
- Từ năm 2004 – 2006: không giống với các khoản chi khác, ngoài việc tuân thủ dự toán chi năm trước được giao các khoản mua sắm, sửa chữa lớn TSCĐ còn phải tuân thủ dự toán chi quý do cơ quan có thẩm quyền duyệt (cùng với dự toán năm), đồng thời khi thực hiện việc mua sắm, sửa chữa đơn vị phải dự trù chi tiết kinh phí cho việc mua sắm, sửa chữa trình cơ quan chủ quản cấp trên phê duyệt và gửi KBNN để làm căn cứ kiểm soát, thanh toán
-Năm 2007: phương án phân bổ dự toán chi thường xuyên của cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách được giao chi tiết đến loại, khoản của MLNS theo 4 nhóm mục chi (không cần phân bổ chi tiết theo từng quý) và gửi KBNN để làm căn cứ kiểm soát, thanh toán
- Từ năm 2008 trở đi: phương án phân bổ dự toán chi thường xuyên của các cơ quan đơn vị sử dụng NSNN chỉ cần giao chi tiết đến loại, khoản của MLNS (không phân bổ chi tiết theo các nhóm mục chi và không phân bổ chi tiết theo từng quý trong năm) và gửi KBNN để làm căn cứ kiểm soát, thanh toán
Thứ năm, quy định về việc chuyển tạm ứng sang năm sau của các đơn
vị sử dụng ngân sách nhà nước: theo quy định tại thông tư số 59/2003/TT-
Bộ Tài chính ngày 23/6/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn Luật NSNN (sửa đổi); thông tư số 101/2005/TT-BTC ngày 17/11/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn công tác khóa sổ kế toán cuối năm và lập báo cáo quyết toán