Sau gần 20 năm triển khai xây dựng các khu công nghiệp KCN, trong cả nước đã hình thành một mạng lưới các KCN, và đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của các địa ph
Trang 1TRẦN MINH HOAN
TÓM TẮT LUẬN VĂN:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC KCN TỈNH NAM ĐỊNH TRONG SỰ NGHIỆP
PHÁT TRIỂN KT-XH CỦA ĐỊA PHƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN DANH NGUYÊN
Trang 23 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cơ sở nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1.2 Đặc điểm của khu công nghiệp: 61.1.3 Sự cần thiết khách quan xây dựng và phát triển KCN 71.1.4 Vai trò của KCN trong tiến trình CNH - HĐH đất nước 9
1.3 Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả và phát triển bền vững của
các khu công nghiệp
Trang 31.3.2 Các tiêu chí đánh giá tác động lan toả của các KCN 291.3.2.1 Tác động lan tỏa về mặt kinh tế 291.3.2.2 Tác động lan tỏa về mặt công nghệ 301.3.2.3 Tác động lan tỏa về mặt xã hội 311.3.2.4 Tác động lan tỏa về mặt bảo vệ môi trường 31
Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC KCN TỈNH NAM ĐỊNH
2.1.2 Mục tiêu và chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm
2010 – 2015 của tỉnh Nam Định
36
2.1.3 Sự hình thành và phát triển các KCN ở tỉnh Nam Định 38
2.2 Thực trạng hoạt động của các KCN Nam Định 42
2.2.1 Các tiêu chí về nội tại trong các KCN 42
2.2.1.3 Diện tích đất, tỷ lệ lấp đầy và vốn đầu tư 462.2.1.4 Hiệu quả hoạt động của các DN trong KCN 482.2.1.5 Trình độ công nghệ và ứng dụng công nghệ trong các DN 582.2.1.6 Trình độ chuyên môn hoá và liên kết kinh tế 602.2.1.7 Khả năng đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư 62
2.2.2 Thực trạng về tác động lan toả của các KCN 652.2.2.1 Tác động lan toả về mặt kinh tế 652.2.2.2 Tác động về mặt công nghệ 672.2.2.3 Tác động lan toả về mặt xã hội 672.2.2.4 Tác động về mặt bảo vệ môi trường 69
2.2.3 Thực trạng về công tác quản lý nhà nước đối với các KCN 692.2.3.1 Công tác xúc tiến đầu tư 69
Trang 42.2.3.4 Công tác quản lý nhà nước về xây dựng, qui hoạch, đất
đai, lao động và các mặt khác
75
2.3 Đánh giá chung về hiệu quả hoạt động của các KCN tỉnh NĐ 78
2.3.1 Những thành tựu 782.3.2 Những tồn tại 79
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KCN TỈNH NAM ĐỊNH
3.1 Định hướng, vai trò phát triển KCN trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của ở Việt Nam
Trang 5- Bộ Kế hoạch và đầu tư: Bộ KHĐT
- Ban quản lý: BQL
- Chỉ số phát triển con người (Human Development Index) : HDI
- Công nghiệp hóa – hiện đại hóa : CNH-HĐH
- Doanh nghiệp: DN
- Dự án: DA
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài: FDI (Foreign Directed Investment)
- Đồng bằng sông Hồng: ĐBSH
- Giá trị tổng sản phẩm xã quốc nội : GDP
- Khu công nghiệp: KCN
Trang 6Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu của các khu công nghiệp toàn quốc 10
Bảng 1.2: Số lượng dự án và nguồn vốn đầu tư vào các khu công nghiệp 12
Bảng 2.1: Danh mục các khu công nghiệp tỉnh Nam Định 41 Bảng 2.2: Vị trí các khu công nghiệp tỉnh Nam Định 43 Bảng 2.3: Đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp tỉnh Nam Định 63
Trang 7Hình 2.1: Bản đồ qui hoạch phát triển giao thông tỉnh Nam Định 33
Hình 2.2: Cơ cấu dân số lao động 35 Hình 2.3: Cơ cấu kinh tế của tỉnh Nam Định 40
Hình 2.4: Bản đồ qui hoạch phát triển các KCN tỉnh NĐ đến 2020 43
Hình 2.5: Số lượng DA và nguồn vốn đầu tư trong nước vào các KCN tỉnh NĐ 47
Hình 2.6: Số lượng dự án và nguồn vốn đầu tư FDI vào các KCN tỉnh NĐ 47
Hình 2.7: Thu hút FDI của khu vực đồng bằng Sông Hồng 48
Hình 2.8: Hiệu quả thu hút vốn đầu FDI vùng ĐBSH giai đoạn 2005 – 2008 49
Hình 2.9: So sánh thu hút FDI của Nam Định với vùng đồng bằng Sông Hồng 50
Hình 2.10: Thu hút nguồn vốn trong nước vào các KCN tỉnh Nam Định 51
Hình 2.11: Vốn đầu tư trong nước tại các KCN của tỉnh NĐ so với vùng ĐBSH 52
Hình 2.12: Hiệu quả thu hút nguồn vốn trong nước vào các KCN tỉnh NĐ 52
Hình 2.13: Hiệu quả thu hút lao động vùng ĐBSH giai đoạn 2005 – 2008 53
Hình 2.14: Lao động trong các khu công nghiệp tỉnh Nam Định 54
Hình 2.15: Giá trị xã hội của các KCN năm 2009 một số tỉnh ĐBSH 55
Hình 2.16: Hiệu quả về doanh thu vùng ĐBSH giai đoan 2005-2008 56
Hình 2.17: Kết quả SXKD của các doanh nghiệp KCN tỉnh Nam Định 57
Hình 2.18: Giá trị doanh thu của các KCN năm 2009 một số tỉnh ĐBSH 57
Hình 2.19: Cơ cấu doanh nghiệp đã đi vào hoạt động theo ngành năm 2009 59
Hình 2.20: Cơ cấu GDP của tỉnh Nam Định từ 2007 – 2009 66
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần 20 năm triển khai xây dựng các khu công nghiệp (KCN), trong cả nước đã hình thành một mạng lưới các KCN, và đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của các địa phương, các vùng và cả nước, thể hiện vai trò
đi đầu trong tiếp nhận chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh, giải quyết việc làm và thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam
Tính đến 12/2009, cả nước đã có 235 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên là 59.764 ha, phân bố trên 56 tỉnh, thành phố trên cả nước; trong đó 149 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích tự nhiện 36.129 ha và 84 KCN đang trong quá trình đền bù gải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng với tổng diện tích tự nhiên 23.291 ha thu hút trên 3.580 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký đầu tư 40.000 triệu USD và 3.620 dự án đầu tư trong nước với
tổng vốn đầu tư đăng ký 250.000 tỷ đồng (nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2009 của
Vụ quản lý KKT – Bộ KHĐT)
Tuy nhiên, sự phát triển của các KCN ở nước ta chưa thực sự vững chắc, việc xây dựng cơ sở hạ tầng KCN chưa đồng bộ, chưa gắn chặt với yêu cầu bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm, vai trò thúc đẩy chuyển giao công nghệ còn yếu, liên kết kinh tế và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong KCN chưa cao, khả năng tạo việc làm, thu hút lao động vẫn còn nhiều hạn chế
Vấn đề đặt ra là làm sao để nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN hay nói cách khác làm thế nào để các KCN phát triển một cách bền vững là một vấn đề
mà Đảng và nhà nước, các cơ quan quản lý, các nhà đầu tư hạ tầng KCN, các doanh nghiệp và nhân dân trong cả nước đang rất quan tâm
Nam Định là một tỉnh thuần nông nằm ở phía nam đồng bằng châu thổ sông Hồng có truyền thống về phát triển tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề từ xa xưa Nhằm phát triển thành phố Nam Định thành trung tâm vùng Nam Đồng bằng sông Hồng, tại đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 16 và 17 đã xác định rõ mục tiêu: “Chủ động nắm thời cơ tranh thủ xây dựng các dự án đầu tư để phát triển những cơ sở sản xuất
Trang 9công nghiệp mới, hình thành khu công nghiệp tập trung và đầu tư cơ sở hạ tầng vào khu vực này để thu hút, đón nhận đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước"
Từ chủ trương trên, trong những năm qua UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành xây dựng quy hoạch các KCN tập trung phù hợp với các điều kiện thực tế của địa phương, đồng thời tỉnh cũng ban hành nhiều cơ chế chính sách nhằm kêu gọi và thu hút đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh
Theo báo cáo của Ban QL các KCN tỉnh Nam Định đến hết năm 2009 toàn tỉnh đã có 10 KCN được Thủ tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch trong đó có 3 khu đã xây dựng xong hạ tầng đi vào hoạt động với 132 dự án thứ cấp, 2 KCN đang thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng, 2 KCN đang làm thủ tục đầu tư Từ khi các KCN trên địa bàn tỉnh đi vào hoạt động đã đóng góp tích cực vào việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của tỉnh, tuy nhiên bên cạnh những kết quả tích cực các KCN của tỉnh Nam Định cũng như nhiều KCN khác trên cả nước vẫn còn bộc lộ nhiều hạn
chế về hiệu quả Do đó đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương” là một đề tài hết sức
cần thiết cho tác giả trong công tác của mình tại Ban QL các KCN tỉnh Nam Định
2 Mục đích của đề tài
Việc nghiên cứu về KCN nói chung được nhiều học giả quan tâm Ở Việt Nam những năm gần đây đã xuất hiện nhiều sách báo, công trình nghiên cứu của các học giả về vấn đề này Có thể kể đến một số tác phẩm như: "Phát triển các KCN trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá" của VS.TS Nguyễn Chơn Trung và PGS.TS Trương Giang Long (NXB Chính trị quốc gia, 2004); "Phát triển các KCN
ở các tỉnh phía Bắc - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" (Kỷ yếu hội thảo khoa học, Thanh Hoá, 6/2004); "15 năm xây dựng và phát triển các KCN ở Việt Nam (1991-2006)" (Kỷ yếu hội nghị - hội thảo quốc gia, Long An, 7/2006); “Tác động xã hội vùng của các KCN ở các nước Đông Nam Á và Việt Nam” (kỷ yếu hội thảo Quốc
tế, 6/2009)
Luận văn này kế thừa có chọn lọc, khai thác triệt để các ý kiến về vấn đề phát triển KCN, dựa trên những chính sách hiện hành của Nhà nước và thực trạng
Trang 10phát triển các KCN của tỉnh Nam Định với mục tiêu đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN tỉnh Nam Định
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu sẵn có, kết hợp khảo sát tại các KCN của tỉnh Nam Định, các KCN của một số tỉnh khu vực ĐBSH, từ đó phân tích, so sánh, đánh giá các số liệu thu thập được và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả của các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định
5 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu để xây dựng đề tài: Đánh giá thực trạng và đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động các KCN của tỉnh Nam Định trong sự nghiệp sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương là việc làm cần
thiết và có ý nghĩa quan trọng, giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan hoạch định chính sách phát triển của địa phương có những thông tin cần thiết để xây dựng chiến lược phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định
Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua các nội dung sau đây:
Một là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về các KCN, các tiêu chí
đánh giá hiệu quả hoạt động của các KCN nói chung
Hai là, bằng các số liệu chứng minh, luận văn phân tích và làm sáng tỏ hiện
trạng hoạt động của các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định Từ đó rút ra nguyên nhân
và bài học kinh nghiệm và giúp cho cho các cấp chính quyền, các cơ quan ban
Trang 11ngành của tỉnh nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định, đồng thời có chính sách phù hợp đối với các KCN phục vụ sự phát triển bền vững của tỉnh nhà
Ba là, chỉ ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế và những nguyên
nhân trong quá trình phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động các KCN đảm bảo phát triển KTXH tỉnh Nam Định một cách bền vững
6 Kết cấu của đề tài
- Phần mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về các KCN
- Chương 2: Đánh giá thực trạng hoạt động các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định
- Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động các KCN tỉnh Nam Định
Trang 12bỏ vai trò của vị trí địa lý trong các quyết định chiến lược?
Trên thực tế, lợi thế cạnh tranh khu vực đang dần chuyển biến sang một hướng khác Đó là việc hình thành nên các khu công nghiệp tập trung (mang tính tự phát), mà Michael E Porter, giáo sư kinh tế Đại học Havard, gọi là những
"clusters" Trước đây, lợi thế khu vực phụ thuộc vào nguồn tài nguyên, nguồn lao động, mà ở nơi khác không có được Ngày nay, khái niệm cluster đã khẳng định lợi thế khu vực qua hiện tượng quy tụ của các ngành công nghiệp Không phải ngẫu nhiên mà Hollywood trở thành trung tâm công nghiệp điện ảnh, Wall Street trở thành trung tâm công nghiệp tài chính, Silicon Valley trở thành trung tâm công nghệ cao và bắc Ý trở thành trung tâm công nghiệp giày da cao cấp Vì khả năng kiểm soát giá thành của các công ty ngày càng tương đương, năng lực cạnh tranh đang và sẽ phụ thuộc vào tính năng đầu ra của sản phẩm và dịch vụ, với yếu tố quyết định là khả năng đổi mới (innovation) của công ty
Trước hết cần hiểu khu công nghiệp tập trung như thế nào? Theo định nghĩa của Porter, "cluster" là tập hợp các công ty cùng với các tổ chức tương tác qua lại trong một lĩnh vực cụ thể Xung quanh nhà sản xuất hình thành các nhà cung cấp chuyên môn hoá các phụ kiện và dịch vụ cũng như cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp tập trung bao trùm lên cả các kênh phân phối và khách hàng, và bên cạnh đó là những nhà sản xuất sản phẩm phụ trợ, các công ty thuộc các ngành liên quan về kỹ
Trang 13thuật, công nghệ hoặc cùng sử dụng một loại đầu vào Các khu công nghiệp tập trung còn hình thành cả các tổ chức chính phủ và phi chính phủ như các trường đại học, các viện công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, hiệp hội thương mại cung cấp các dịch vụ đào tạo chuyên môn, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật
Theo Luật Đầu tư của Việt Nam số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm
2005 và theo nghị định số 29/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2008 của Chính phủ quy định về KCN, KCX và KKT thì định nghĩa về các KCN, KCX và KKT như sau:
Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các
dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ
Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện
dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định của Chính phủ
Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định cụ thể
Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường
đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định của Chính Phủ
Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phi thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế
1.1.2 Đặc điểm của khu công nghiệp:
Về mặt pháp lý: các khu công nghiệp là phần lãnh thổ của nước sở tại, các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp của Việt Nam chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam như: luật đầu tư nước ngoài, luật lao động, quy chế
về khu công nghiệp và khu chế xuất
Trang 14- Về mặt kinh tế: khu công nghiệp là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp, các nguồn lực của nước sở tại, của các nhà đầu tư trong và ngoài nước tập trung vào một khu vực địa lý xác định, các nguồn lực này đóng góp vào phát triển cơ cấu kinh tế, những ngành mà nước sở tại ưu tiên, cho phép đầu tư Bên cạnh
đó, thủ tục hành chính đơn giản, có các ưu đãi về tài chính, an ninh, an toàn xã hội tốt tại đây thuận lợi cho việc sản xuất - kinh doanh hàng hóa hơn các khu vực khác Mục tiêu của nước sở tại khi xây dựng khu công nghiệp là thu hút vốn đầu tư với quy
mô lớn, thúc đẩy xuất khẩu tạo việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ kiểm soát ô nhiễm môi trường
1.1.3 Sự cần thiết khách quan xây dựng và phát triển KCN
Trong quá trình phát triển kinh tế, ở hầu hết các nước đang phát triển đều rất thiếu vốn Do đó vấn đề tạo vốn được coi là vấn đề lớn nhất trong việc huy động các nguồn lực Chỉ có tạo được nguồn vốn cho phát triển kinh tế mới có thể tiến hành đầu tư, tạo điều kiện cho nền kinh tế cất cánh Giữa hai nguồn vốn đầu tư: trong nước và ngoài nước thì vốn đầu tư trong nước được coi là giữ vai trò quyết định cho sự phát triển, vốn đầu tư nước ngoài được xác định là rất quan trọng tạo ra
sự đột phát cho sự phát triển Một trong những giải pháp để huy động vốn là tích cực mở rộng, nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cấp dịch vụ và chất lượng các KCN làm cho môi trường đầu tư được thuận lợi hơn
Để hấp dẫn đầu tư nước ngoài và huy động mọi nguồn lực trong nước nhằm phát triển kinh tế đất nước, các quốc gia trên thế giới đều cần có một môi trường đầu tư thuận lợi bao gồm môi trường pháp lý hoàn thiện và môi trường kinh doanh thuận lợi
Hai nhân tố này là điều kiện cần thiết có ý nghĩa tiên quyết cho việc thu hút đầu tư Song thực tế nó cũng là điểm yếu mà tất cả các nước đang phát triển gặp phải, không dễ gì nhanh chóng khắc phục Các nước đang phát triển chưa có được
hệ thống pháp luật hoàn hảo cùng với một môi trường kinh doanh thuận lợi nên việc đáp ứng những điều kiện trên cho các nhà đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, không thể thực hiện trong thời gian ngắn
Trang 15Giải pháp khắc phục mâu thuẫn trên đã được nhiều nước đang phát triển tìm kiếm, lựa chọn và thực tế đã thành công ở nhiều nước là xây dựng các KCN tập trung qua đó thu hút FDI và đầu tư trong nước trong khi chưa tạo được môi trường đầu tư hoàn chỉnh trên phạm vi cả nước
Mục tiêu chung của việc hình thành KCN là làm tăng trưởng nhanh và vững chắc tổng sản phẩm quốc nội, tạo việc làm, đô thị hoá các vùng nông thôn lạc hậu, nâng cao dân trí Các KCN sẽ góp phần tích cực bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả vốn đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp liên kết, hợp tác với nhau nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hội nhập kinh tế quốc tế KCN phát triển sẽ tác động đến việc hình thành các vùng nguyên liệu, các vùng công nghiệp vệ tinh, góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Phát triển các KCN cũng đồng thời với việc tiết kiện hạ tầng, có điều kiện thuận lợi
để thu hút đầu tư, cung cấp các dịch vụ hành chính công cho các DN và có môi trường tốt để tiếp nhận và chuyển giao công nghệ tiên tiến
Trong điều kiện thực tế của Việt Nam, chúng ta chưa thể có ngay được một
hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại và đồng bộ trên cả nước, chưa thể tạo ra một mặt bằng pháp lý thống nhất và bình đẳng cho các thành phần kinh tế trong và ngoài nước hoạt động, phát triển KCN là một giải pháp để có được một hệ thống kết cấu
hạ tầng đồng bộ, môi trường pháp lý thuận lợi và thống nhất để thu hút vốn trong nước và vốn đầu tư nước ngoài để phát triển Đăc biệt trong thời gian gần đây, quan điểm về phát triển KCN có sự thay đổi: phát triển KCN không chỉ chú trọng vào mục tiêu thu hút vốn FDI nhằm du nhập các yếu tố vốn, công nghệ, trình độ lao động của thế giới vào Việt Nam, xem nhẹ khu vực trong nước, mà KCN còn là một giải pháp để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát huy nội lực của các thành phần kinh tế trong nước, thông qua việc thu hút các doanh nghiệp trong nước tham gia đầu tư vào KCN Biểu hiện rõ nét nhất của xu hướng này là dòng vốn đầu tư trong nước vào KCN vài năm gần đây ngày càng gia tăng
KCN là mô hình kinh tế đã được áp dụng phổ biến trên thế giới Ở các nước phát triển ở Châu Âu và Bắc Mỹ, có một thời kỳ các nước này đã đẩy mạnh việc phát triển các KCN và rất chú trọng vai trò của KCN trong quá trình phát triển kinh
Trang 16tế Kinh nghiệm phát triển mô hình KCN ở các nước này cho thấy, phát triển KCN
là một giải pháp tối ưu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp quốc gia Có thể nói thành công của các KCN đã góp phần không nhỏ để các nước này trở thành những nước có nền kinh tế phát triển như hiện nay Các nước công nghiệp mới phát triển như: Trung Quốc, Hàn Quốc cũng như các nước đang phát triển ở Đông Nam Á hiện nay cũng đang phát triển việc xây dựng và phát triển các KCN và đều gặt hái được những thành công đáng kể
Thành công của các KCN đã được khẳng định trên thế giới và bước đầu được khẳng định ở Việt Nam, như một đòn bẩy quan trọng để đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH đất nước KCN là nơi tập trung các nguồn lực để phát triển kinh tế, là nơi diễn
ra sự phân công lao động xã hội trình độ cao, thực hiện các mối liên kết kinh tế quốc tế Phát triển KCN là phù hợp với xu thế kinh tế thế giới, phù hợp với chủ trương ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, phát huy năng lực của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước của Đảng và Nhà nước ta
1.1.4 Vai trò của KCN trong tiến trình CNH - HĐH đất nước
(1) Thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thực tiễn phát triển KCN thời gian qua cho thấy, các KCN đã góp phần quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng sản lượng công nghiệp; góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; khai thác tốt nhất mọi nguồn lực và những lợi thế hiện có, nâng cao sức cạnh tranh và đẩy nhanh tốc
độ phát triển chung của nền kinh tế Trong những năm qua, doanh thu và giá trị kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các KCN liên tục tăng nhanh đều qua các năm Doanh thu trung bình của các doanh nghiệp trong KCN tăng trưởng trung bình gần 48%/năm, gấp 6,3 lần tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của cả nước
(nguồn: Vụ QL các KKT – Bộ KHĐT) Giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp trong
các KCN tăng trưởng mạnh, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN giai đoạn từ năm 2005-2008 là 38,1%, cao hơn nhiều tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của cả nước Năm 2005, các doanh nghiệp trong KCN đã nộp ngân sách đạt
650 triệu USD, đến năm 2008, các doanh nghiệp này đóng góp vào ngân sách nhà
nước đạt 2.620 triệu USD, cao gấp 4 lần so với năm 2005 (xem Bảng 1.1)
Trang 17Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu của các khu công nghiệp toàn quốc
2010
Nguồn: Vụ quản lý các KKT – Bộ KHĐT, 2009
Giá trị sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của các KCN tăng trưởng mạnh đã
góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành của Việt Nam theo hướng tăng nhanh tỷ trọng
công nghiệp trong GDP, từ 23,79% năm 1991 lên 41% năm 2008 Trong khi đó, tỷ
trọng ngành nông lâm ngư nghiệp giảm tương ứng từ 40,49% năm 1991 xuống còn
22% năm 2008 (nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam, 2008)
Sự chuyển dịch cơ cấu này chủ yếu là do tốc độ tăng trưởng nhanh của
những ngành công nghiệp chế biến có liên quan mật thiết đến xuất khẩu và KCN
Hiện nay các ngành công nghiệp chế biến chiếm tới 80% giá trị sản lượng công
nghiệp (trừ ngành khai thác mỏ) Trong đó có một số ngành có tốc độ tăng trưởng
rất cao như may mặc và da giầy Chính những ngành này là động lực chính làm tăng
tỷ trọng ngành công nghiệp trong thời gian qua, góp phần đẩy mạnh quá trình công
nghiệp hóa đất nước Việc phát triển các KCN có vai trò quan trọng trong việc góp
phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa
(2) KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tạo ra lực lượng lao động có trình
độ tay nghề cao, thích ứng với nền công nghiệp hiện đại; đội ngũ cán bộ có trình độ
quản lý giỏi
KCN là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng với
chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng Đây là điểm đến lý tưởng để các nhà đầu tư,
trong đó có nhà đầu tư nước ngoài Một số công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới
cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộ doanh nghiệp, trình độ tay nghề của
công nhân theo các chuẩn mực quốc tế đã được áp dụng tại Việt Nam Đây cũng là
Trang 18yếu tố quan trọng góp phần để nước ta thực hiện việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùng với dòng vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ tiên tiến, hiện đại, trong đó có cả những dự án công nghiệp kỹ thuật cao như Công ty TNHH Canon Việt Nam, Mabuchi Motor những lĩnh vực Việt Nam còn yếu kém như cơ khí chính xác, điện tử
Các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã góp sức đào tạo được đội ngũ lao động công nghiệp sử dụng và vận hành thành thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và sản xuất, nắm vững công nghệ, có tác động lan tỏa và nâng trình độ tay nghề của lao động Việt Nam lên một bước Một lượng đáng kể của lao động Việt Nam được đảm nhận các vị trí quản lý doanh nghiệp, được tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại, kỹ năng marketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự Việc được trực tiếp làm việc trong môi trường có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao đã rèn luyện được những
kỹ năng và bản lĩnh làm việc giúp người lao động Việt Nam thích ứng với một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại
(3) Thu hút các lượng vốn đầu tư lớn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Các KCN với những chính sách ưu đãi và những điều kiện thuận lợi về hạ tầng kinh tế - kỹ thuật ngày càng là điểm đến hấp dẫn của nhà đầu tư nước ngoài
Số dự án đầu tư nước ngoài và tổng vốn đăng ký vào KCN dần được mở rộng trong giai đoạn đầu (1991 – 1995) và đặc biệt tăng trưởng với tốc độ cao trong kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 và 2001 – 2005 Nếu như cả giai đoạn 1991 – 1995, khi các KCN đang trong quá trình triển khai xây dựng, số dự án thu hút được mới đạt 155 dự án với tổng vốn 1.550 triệu USD, thì trong 5 năm 1996 – 2000, các KCN đã thu hút thêm được 590 dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 7.213 triệu USD, tăng gấp 3,8 lần về số dự án và 4,65 lần về tổng vốn đầu tư đăng ký so với kế hoạch 5 năm
1991 – 1996 Số dự án thu hút mới trong kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 là 1.380 dự
Trang 19án với tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 8.080 triệu USD, tăng gấp 2,34 lần về số dự án
và 12% về tổng vốn đầu tư so với kế hoạch 5 năm 1996 – 2001 Tốc độ tăng bình quân về số dự án thu hút mới và tổng vốn đầu tư tăng thêm giai đoạn 1996 – 2000
tướng ứng là 37% và 46%, kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 là 16% và 37% (nguồn: Vụ
quản lý các KKT – Bộ KHĐT)
Ngoài ra, KCN còn là một trong những giải pháp để thực hiện chủ trương phát huy nội lực của các thành phần kinh tế trong nước Nhìn vào bảng 1.2 ta thấy, nếu như trong 5 năm 1991 – 1995, chỉ có gần 50 dự án đầu tư trong nước đầu tư vào KCN, thì đến giai đoạn 5 năm 1996 – 2000 đã thu hút thêm được 450 dự án, tăng 9 lần so với giai đoạn 5 năm 1991-1995; giai đoạn 5 năm 2001 – 2005 thu hút được 1.870 dự án, tăng gấp 4,16 lần so với giai đoạn 5 năm trước Tổng vốn đầu tư trong nước tăng thêm tương ứng trong các thời kỳ kế hoạch là 200 tỷ VNĐ, 35.000 tỷ VNĐ và 80.000 tỷ VNĐ Trong thời kỳ 1996 – 2005, xu hướng gia tăng đầu tư trong nước vào KCN ngày càng rõ rệt, đặc biệt những năm gần đây, số dự án trong nước còn hiệu lực đầu tư vào KCN đã vượt số dự án đầu tư nước ngoài
Bảng 1.2: Số lượng dự án và nguồn vốn đầu tư vào các KCN
Số dự án Vốn ĐT Số dự án Vốn ĐT Số dự án Vốn ĐT Đầu tư trong nước
Đầu tư nước ngoài
Nguồn: Vụ quản lý các KKT – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Theo Báo cáo tổng kết năm 2009 của Vụ quản lý các KKT - Bộ KHĐT thì tính đến cuối năm 2009, các KCN cả nước đã thu hút được gần 3.580 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư gần 40 tỷ USD và 3.620 dự án có vốn đầu tư
trong nước với tổng vốn đầu tư gần 2.500 nghìn tỷ đồng Các dự án đầu tư trong
nước và đầu tư nước ngoài đa dạng hóa về hình thức đầu tư Các dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu đầu tư dưới hình thức doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài,
Trang 20thức liên doanh, doanh nghiệp cổ phần và hợp đồng hợp tác kinh doanh Các dự án đầu tư trong nước cũng bao gồm đa dạng các loại hình doanh nghiệp, trong đó chủ
yếu là công ty trách nhiệm hữu hạn (trên 80% số dự án và gần 60% vốn đầu tư)
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, KCN với vai trò thu hút và đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư đã thực sự đóng góp không nhỏ trong việc huy động nguồn lực lớn vào thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đất nước
(4) KCN góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng
Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng là điều kiện hết sức quan trọng và cấp thiết của nền kinh tế quốc dân Để thu hút đầu tư vào KCN, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc triển khai nhanh dự án.Việc phát triển các KCN trong thời gian qua không những thúc đẩy các ngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
Thứ nhất là, đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Điều này có thể dễ dàng nhận thấy ở những vùng có KCN phát triển mạnh như Biên Hòa, Nhơn Trạch (Đồng Nai), Thuận An (Bình Dương), Tiên Sơn (Bắc Ninh), cùng với quá trình phát triển KCN các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sở dịch vụ trong vùng
Thứ hai là, cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi của nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu tư Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần
Trang 21doanh nghiệp tham gia xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệp công nghiệp vào KCN
Thứ ba là, việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hút các dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi các khu đông dân cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ô nhiễm, bảo vệ môi trường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ các mục đích khác của cộng đồng trong khu vực như KCN Tân Tạo (thành phố Hồ Chí Minh), Việt Hương (Bình Dương)
Thứ tư là, quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảm bảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ, các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người lao động và cư dân trong khu vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện, khu giải trí
Thứ năm là, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngành như điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường địa ốc đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của các KCN
(5) KCN góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, nâng cao trình
độ của đội ngũ lao động quản lý
Các KCN có không gian kinh tế rộng lớn với nhiều doanh nghiệp sản xuất đã tạo ra kênh hiệu quả để thu hút lao động, giải quyết việc làm cho lao động xã hội Lực lượng lao động trong KCN gia tăng cùng với sự gia tăng các KCN thành lập mới và mở rộng, các dự án hoạt động trong KCN
Phát triển KCN góp phần giải quyết việc làm cho người lao động tại chỗ và lao động nhập cư Lực lượng lao động trong KCN gia tăng mạnh mẽ cùng với sự gia tăng của các KCN, các dự án hoạt động trong KCN Đến tháng 12 năm 2008, các KCN đã thu hút được khoảng 130 vạn lao động trực tiếp với tỷ trọng lao động
có chuyên môn kỹ thuật tăng dần và đạt gần 40%, ngoài ra nếu tính cả số lao động
Trang 22gián tiếp thì tổng số việc làm được tạo ra từ chương trình phát triển KCN khoảng trên 1,3 triệu người
Ngoài ra, KCN còn là nơi sử dụng lao động có chuyên môn kỹ thuật cao đạt trình độ khu vực và quốc tế Các lao động trong các KCN còn được làm quen với
mô hình tổ chức và quản lý tiên tiến của các nước phát triển như Nhật, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, EU, Mỹ Một số KCN đã xây dựng các cơ sở dạy nghề riêng phục vụ cho hoạt động của KCN Do vậy, có thể nói, KCN đóng góp rất lớn vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho Việt Nam để giúp hình thành đội ngũ lao động có ý thức, kỹ năng lao động của một nền công nghiệp hiện đại
KCN là nơi tập trung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới áp dụng vào sản xuất quản lý đạt trình độ khu vực và quốc tế Do
đó, KCN đóng góp rất lớn vào đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho Việt Nam
để hình thành đội ngũ lao động có tay nghề và trình độ của nền công nghiệp hiện đại Đến nay, nhiều KCN ở các tỉnh như Huế, Bình Dương, Đồng Nai, thành phố
Hồ Chí Minh đã xây dựng được cơ sở dạy nghề và hình thành mô hình liên kết đào tạo sử dụng nhân lực giữa các KCN và nhà trường
(6) Phát triển KCN góp phần đẩy mạnh quan hệ hợp tác sản xuất và mở rộng mối liên kết liên ngành, liên vùng
Bước đầu liên kết ngành và liên kết vùng trong KCN đã có những kết quả nhất định thực hiện trong phạm vi nội bộ trong KCN bởi những ngành nghề bổ trợ lẫn nhau, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư trong KCN đã tạo điều kiện cho các ngành sản xuất nguyên liệu đầu vào cho các doanh nghiệp KCN hoặc bản thân các doanh nghiệp trong các KCN có điều kiện tiêu thụ sản phẩm tại các cơ sở kinh doanh xung quanh KCN
KCN ra đời đã tạo nên những vùng công nghiệp tập trung, tác động rất tích cực tới việc phát triển các cơ sở nguyên liệu, thúc đẩy phát triển các loại hình dịch
vụ phục vụ công nghiệp, nâng cao giá trị nông sản hàng hóa, nâng cao hiệu quả tổng hợp của các ngành sản xuất Hiệu quả này đặc biệt rõ nét ở các KCN thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các doanh nghiệp chế biến tại các KCN ở Nam Định, Hà Nam, Cần Thơ…đã góp phần tiêu thụ nông sản ở các hộ
Trang 23gia đình, cơ sở công nghiệp ở các vùng nông thôn xung quanh, cải thiện một bước đời sống nông dân
KCN góp phần mở rộng thị trường yếu tố đầu vào, đầu ra tại các vùng lân cận, đặc biệt là những địa phương trình độ công nghiệp phát triển, thấy rõ nhất điều này là sức lan tỏa lớn của KCN tại thành phố Hồ Chí Minh lan tỏa tới các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình Dương, chuyển các địa phương này từ cơ cấu kinh tế thuần nông sang cơ cấu kinh tế công nghiệp hiện đại Trong thời gian tới, xu hướng lan tỏa từ các KCN ở các địa phương này sẽ còn mở rộng hơn nữa sang các địa phương khác như Long An và Tây Ninh
Cùng với quá trình phát triển các KCN, nhu cầu về nhân lực ngày càng lớn
Để đáp ứng nhu cầu này, trong quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội và quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn, các địa phương đưa ra chương trình kế hoạch và giải pháp cụ thể về đào tạo nguồn nhân lực; các cơ sở đào tạo trong vùng và lân cận phải xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch đào tạo theo định hướng phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động
Ngoài ra, các KCN cũng có tác động lan tỏa rất lớn đến công nghiệp của địa phương Các dự án đầu tư trong KCN là các dự án đầu tư mới, phần lớn được trang
bị máy móc, thiết bị thế hệ mới, đồng bộ Nhiều dự án có công nghệ hiện đại, mức
độ tự động hóa cao Với thế mạnh về công nghệ, thiết bị và phương pháp quản lý tiến bộ, các DN này sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng và ổn định Vì vậy,
để cạnh tranh có hiệu quả và tồn tại được trên thị trường, các doanh nghiệp khác sản xuất các sản phẩm cùng loại không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm làm ra Như vậy, các DN trong KCN đã góp phần giúp công nghiệp địa phương từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu tại chỗ là chính đã vươn ra thị trường trong nước và xuất khẩu
Tác động lan tỏa đã cho thấy vai trò của KCN trong quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Các KCN không chỉ trực tiếp thúc đẩy công nghiệp của địa phương trong vùng có KCN mà còn tác động lan tỏa tới các nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế từng địa phương và cả nước Đó chính là hạt nhân của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế
Trang 24(7) KCN đã góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, do đó có điều kiện tập trung, xử lý chất thải, tránh tình trạng khó kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp do phân tán về địa điểm sản xuất
KCN góp phần thực hiện mục tiêu di dời các cơ sở sản xuất ô nhiễm ra khỏi thành phố, do vậy, góp phần giải quyết ô nhiễm đô thị, tạo điều kiện quy hoạch đô thị hiện đại
(8) Các KCN góp phần tạo ra công nghệ, năng lực sản xuất mới
Cùng với việc đầu tư sản xuất kinh doanh trong KCN, các nhà đầu tư đã đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với công nghệ được đánh giá là tiên tiến, hiện đại Trong đó, có những lĩnh vực mà chúng ta còn yếu kém và cần khuyến khích phát triển như cơ khí chính xác, điện tử
Trước đây, các dự án đầu tư vào KCN chủ yếu thuộc ngành công nghiệp nhẹ như dệt may, da giầy, công nghiệp chế biến thực phẩm (chiếm trên 50% tổng số dự án), đây là các dự án thu hút nhiều lao động, có tỷ lệ xuất khẩu cao và đó góp phần nâng cấp các ngành này về dây chuyền công nghệ, chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, đến nay, các KCN đã có nhiều dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, mới như dầu khí, cơ khí chính xác, sản xuất phụ tùng ô tô Nhiều công ty sản xuất công nghiệp đa quốc gia lớn đã có mặt tại Việt Nam như: Sam Sung, Hồng Hải, Robert Bosch, Cannon Một số dự án sản xuất công nghiệp có vốn đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD như Dự án của Tập đoàn Foxcon (Đài Loan) tại Bắc Ninh, Dự
án sản xuất linh kiện máy điện thoại di dộng của Tập đoàn Hồng Hải tại Vĩnh Phúc sẽ tạo ra năng lực sản xuất mới của nền kinh tế
1.2 Quản lý Nhà nước đối với KCN
Sau gần 20 năm phát triển các KCN trên địa bàn cả nước đã cho thấy vai trò
và tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này, trước năm
1998 cả nước có chung một Ban QL các KCN trực thuộc Chính phủ, sau này đã chuyển thành Vụ quản lý KCN, KKT thuộc Bộ KHH và ĐT và các địa phương có KCN được Thủ tướng Chính phủ thành lập một Ban QL các KCN trực thuộc UBND cấp tỉnh
Trang 25Tuy Ban QL các KCN của các tỉnh đã được thành lập nhưng cơ sở pháp lý về quản lý các KCN chưa được hoàn thiện, từ trước năm 2006 công tác quản lý nhà nước về các KCN được qui định trong Nghị định 36/CP của Chính phủ ban hành ngày 14 tháng 4 năm 1997 nhưng Nghị định 108/2006/NĐ-CP ra đời năm 2006 đã bãi bỏ Nghị định 36/CP Cho đến tháng 3/2008 Thủ tướng Chính Phủ mới ban hành Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2008 qui định về KCN, KCX, KKT Hiện nay công tác quản lý nhà nước đối với KCN được qui định đầy đủ và chi tiết tại nghị định này
1.3 Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả và phát triển bền vững của các khu công nghiệp
Quan điểm về phát triển bền vững các khu công nghiệp :
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ở Việt Nam, để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước như Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế Mục tiêu phát triển bền vững đất nước chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở thực hiện chiến lược phát triển bền vững trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, trong đó có phát triển bền vững các KCN
Phát triển bền vững các KCN được đặt trong tổng thể phát triển bền vững đất nước trong đó lưu ý tới tính đặc thù của các KCN là hình thức tổ chức không gian lãnh thổ công nghiệp Theo cách luận giải này, phát triển bền vững KCN là việc đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế ổn định theo thời gian, tăng trưởng dựa tên cơ sở tăng năng suất lao động và hiệu quả nội tại KCN chứ không phải chỉ dựa trên sự gia tăng của các yếu tố đầu vào Sự tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với bảo vệ, nâng cao chất lượng môi trường sống và khai thác hợp lý các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học kỹ thuật cũng như những đảm bảo ổn định, an ninh, quốc phòng trong khu vực có KCN
Nguyên tắc thứ hai của Chương trình nghị sự 21 của Việt nam về phát triển
bền vững có nêu “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển
sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm và năng lượng cho phát triển bền vững Kết hợp hài hòa với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ
Trang 26môi trường lâu bền Từng bước thực hiện nguyên tắc "mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi" Như vậy phát triển kinh tế được coi là nhiệm vụ trọng
tâm đồng thời kết hợp chặt chẽ với phát triển xã hội cùng với việc khai thác, sử dụng tiết kiệm hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền
Quan điểm về phát triển bền vững các khu công nghiệp như sau (Lê Thế Giới,
Tạp chí khoa học công nghệ, đại học Đà Nẵng , số 4.2008) :
Nội hàm của phát triển bền vững khu công nghiệp không nằm ngoài ba mục tiêu của phát triển bền vững là phát triển có hiệu quả về kinh tế; phát triển hài hòa
về mặt xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động; và khai thác hợp
lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường trong và ngoài KCN
Về khía cạnh lý thuyết cũng như thực tiễn, có hai vấn đề cần làm rõ khi thảo luận về việc xây dựng hệ thống đánh giá phát triển bền vững KCN Việt Nam
Thứ nhất, trên góc độ quản lý nhà nước cũng như góc độ tiếp thị năng lực thu
hút đầu tư của các KCN, tác giả chia sẻ với luận điểm cho rằng phải đánh giá tính bền vững trong phát triển các khu công nghiệp, đặc biệt trong điều kiện ở Việt Nam,
do quá trình hình thành và phát triển các KCN chưa được lâu, mục tiêu chủ yếu tập trung vào việc thu hút vốn đầu tư, cơ chế chính sách và các định chế quản lý các KCN chưa nhất quán và thiếu đồng bộ, chưa có chuẩn qui định và chuẩn đánh giá
về KCN, việc điều hành công tác quản lý KCN còn nhiều bất cập, các điều kiện hình thành các KCN là khác nhau nên chúng cũng có những thuận lợi và khó khăn khác nhau Do đó, cần thiết phải xây dựng hệ thống đánh giá phát triển bền vững KCN Việt Nam để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và quản lý hoạt động của các KCN
Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới việc kiểm định sự thành công của KCN lại được thực hiện chủ yếu thông qua sự đánh giá trực tiếp các doanh nghiệp hoạt động trong KCN theo các bộ tiêu chí phát triển bền vững khá chặt chẽ, và chúng tương đối tương đồng với nhau Kết quả đánh giá các doanh nghiệp trong KCN theo một
bộ tiêu chí thống nhất, theo tác giả, là một công cụ tham chiếu quan trọng về tính
Trang 27bền vững trong quá trình phát triển của KCN Việt Nam cần sớm xây dựng bộ tiêu chí đánh giá doanh nghiệp trên cơ sở tham khảo các bộ tiêu chí đang được áp dụng phổ biến trên thế giới như Bộ tiêu chí Phát triển bền vững Dow Jones và Bộ tiêu chí của Tổ chức Sáng kiến toàn cầu GRI Bên cạnh việc đánh giá từng doanh nghiệp theo bộ tiêu chí thống nhất, hệ thống đánh giá phát triển bền vững KCN ở Việt Nam, hiển nhiên, cũng cần thể hiện được các yếu tố phát triển bền vững của các doanh nghiệp trong KCN Quan điểm này của tác giả được thể hiện trong các tiêu chí đề xuất để đánh giá sự phát triển bền vững KCN Việt Nam
Thứ hai, sự phát triển bền vững của một KCN không chỉ phản ánh thông qua
những kết quả đạt được theo các tiêu chuẩn bền vững nội tại của KCN, mà còn phải được thể hiện ở vai trò tạo ra các tác động lan tỏa tích cực đối với các các nhóm lợi ích liên quan (các doanh nghiệp đối tác, địa phương, khu vực có KCN)
Tác động lan tỏa (spillover effect), còn được gọi là hiệu ứng lan tỏa, được các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới đề cập từ cuối những năm 70 của thế kỷ 20, khi bàn về ảnh hưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và của các công ty
đa quốc gia tới các nước tiếp nhận đầu tư, mà thường là các nước kém phát triển hơn, nhưng có nguồn lao động rẻ và một số lợi thế về thị trường tiêu thụ Khái niệm tác động lan tỏa được sử dụng trước hết để đề cập đến những ảnh hưởng tích cực của FDI đối với nền kinh tế của các nước tiếp nhận đầu tư
Tác động lan tỏa của các KCN được thể hiện trên ba khía cạnh khác nhau đối với doanh nghiệp trong nước, cả trong và ngoài KCN:
(1) Vai trò của FDI tại các KCN trong việc chuyển giao công nghệ và phương pháp quản lý tiên tiến cho các doanh nghiệp liên kết trong nước;
(2) FDI thúc đẩy việc nâng cao trình độ của nguồn nhân lực trong nước để tiếp nhận và áp dụng hiệu quả các công nghệ sản xuất và kinh nghiệm quản lý;
(3) Vai trò của KCN thúc đẩy mối liên kết ngược (backward linkage) giữa các doanh nghiệp FDI với các nhà cung ứng trong nước Mối liên kết này thường được thể hiện ở hai dạng: nguyên liệu đầu vào tại địa phương và nguồn cung cấp linh kiện, phụ tùng trong nước từ các doanh nghiệp của ngành công nghiệp phụ trợ
Trang 28Việc hình thành và phát triển mối liên kết ngược này phụ thuộc rất nhiều vào phạm
vi và trình độ của các ngành công nghiệp trong nước
Trên thực tế, tác động lan toả của KCN được thể hiện trên các mặt: tạo sự chuyển biến tích cực trong cơ cấu ngành kinh tế theo định hướng xuất khẩu; hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội cho khu vực có KCN; góp phần giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề xã hội, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động, hạn chế ô nhiễm và cải thiện môi trường trong quá trình phát triển KCN
Theo quan niệm trên, phát triển bền vững KCN ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, các học giả nghiên cứu và xem xét trên 2 góc độ:
(1) Duy trì tính chất bền vững và hiệu quả trong hoạt động của bản thân KCN Bảo đảm các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của KCN; nâng cao khả năng cạnh tranh của các KCN Việt Nam, bảo đảm chất lượng môi trường trong nội bộ KCN
(2) Tác động lan toả tích cực của KCN đến hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương, khu vực có KCN Điều này được thể hiện trên các mặt: tạo
sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu ngành kinh tế theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hướng về xuất khẩu; tác động tích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội cho khu vực có KCN; tác động tích cực và giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề xã hội, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho dân cư, giảm thiểu tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển KCN
Với 2 hướng đặt vấn đề về phát triển bền vững nêu trên, tiêu chí đánh giá nó cũng được xác định theo 2 góc độ:
1.3.1 Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững nội tại khu công nghiệp
1.3.1.1 Vị trí đặt của khu công nghiệp
Đây là một trong những tiêu chí rất quan trọng và là cơ sở ban đầu dẫn đến
sự thành công của khu công nghiệp và là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào KCN Khu công nghiệp được đặt ở vị trí thuận lợi, gần cảng biển, cảng hàng không, ga xe lửa, có cơ sở hạ tầng kỹ thuật thuận lợi như hệ
Trang 29thống đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống lưới điện quốc gia, hệ thống thông tin, viễn thông; điều kiện về nguồn nhân lực dồi dào; tính hấp dẫn các nhà đầu tư về vị trí và điều kiện sinh hoạt; chi phí xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật thấp và được địa phương, các ngành hỗ trợ tạo điều kiện những điểm trên phải được xem xét trên khía cạnh hiện tại và sự duy trì khả năng ấy trong tương lai KCN đảm bảo được nhiều điều kiện thuận lợi thì khả năng thành công là rất cao và ngược lại nếu không đáp ứng được các yêu cầu trên thì sẽ rất khó khăn trong quá trình hình thành, phát triển và thu hút đầu tư và hiệu quả đầu tư phát triển KCN sẽ thấp và rất
dễ thất bại
1.3.1.2 Chất lượng qui hoạch KCN
Tiêu chí này nhằm đảm bảo tính chất bền vững ngay từ giai đoạn đầu của quá trình qui hoạch, sử dụng và phát triển KCN Nó thể hiện ở tính hợp lý, đồng bộ, khoa học, thực tiễn và hiệu quả trong qui hoạch các yếu tố chủ đạo của KCN như xác định các lĩnh vực và ngành thu hút đầu tư, đất đai, các khu chức năng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, điện, nước, thông tin, viễn thông, dịch vụ, nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế, bảo vệ và cải thiện môi trường, và thu hút lao động
Tiêu chí này xét trên 2 khía cạnh:
- Một là, mục đích hình thành khu công nghiệp: nếu việc hình thành khu công nghiệp để thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì quy mô có hiệu quả nằm trong khoảng 200-300 ha (đối với các khu công nghiệp nằm trong khu vực thành thị và vùng kinh tế trọng điểm), còn 200-400 ha đối với khu công nghiệp nằm trên các tỉnh; với mục tiêu di dời các cơ sở công nghiệp trong các thành phố, đô thị lớn tập trung vào thì khu công nghiệp có quy mô nhỏ hơn 100 ha; với mục tiêu tận dụng nguồn lao động là thế mạnh tại chỗ của các địa phương thì quy mô khu công nghiệp
từ 100 ha; với mục tiêu kết hợp kinh tế với quốc phòng thì hình thành các khu công nghiệp có quy mô từ 100-200 ha
- Hai là, tính chất và điều kiện hoạt động của KCN: nếu khu công nghiệp được đặt ở địa phương có cảng biển và nguồn nguyên liệu lớn, hình thành với tính chất chuyên môn hoá sản xuất ổn định một số sản phẩm hàng hoá công nghiệp nặng thì quy mô khu công nghiệp từ 300-500 ha; với các khu công nghiệp nằm ở xa đô
Trang 30thị với các điều kiện xa cảng biển, với tính chất hoạt động là tận dụng lao động thì quy mô hợp lý là 50-100 ha
- Ba là, về qui hoạch chi tiết : Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch các KCN không những phải xây dựng hợp lý không gian quy hoạch, mà điều quan trọng hơn là tổ chức tốt việc thực hiện quy hoạch trong thực tiễn Quan điểm phát triển KCN Việt Nam trong giai đoạn mới cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
(1) Quy hoạch KCN theo nguyên tắc tiết kiệm
Tiết kiệm là nguyên tắc quan trọng nhất trong cuộc tranh đua phát triển KCN hiện nay ở Việt Nam Thực hiện nguyên tắc tiết kiệm trước hết là tiết kiệm sử dụng đất nông nghiệp Quy hoạch KCN phải tính đến tiết kiệm không gian sử dụng đất, tránh hiện tượng "quy hoạch treo", "dự án treo" Cần có tầm nhìn chiến lược trong việc quy hoạch các KCN, xác định cụ thể KCN nào xây dựng trước, KCN nào xây dựng sau nhằm tiết kiệm tối đa không gian sử dụng đất, nhất là đất nông nghiệp
(2) Kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch ngành và quy hoạch lãnh thổ
Quá trình xây dựng quy hoạch phát triển KCN cần thiết phải kết hợp một cách hữu cơ giữa quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, không gian và sử dụng đất, giữa quy hoạch ngành và quy hoạch lãnh thổ Rà soát chi tiết quy hoạch sử dụng đất
để xây dựng và phát triển các KCN trên phạm vi cả nước, để điều chỉnh cho phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và từng vùng kinh tế Quy hoạch phải mang tính tổng thể, phải xem xét tất cả các yếu tố: vị trí địa lý, điều kiện
tự nhiên, nguồn lực vật chất, tài nguyên, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực đảm bảo liên kết được sự phát triển KT - XH chung, dựa trên sự phân công, căn cứ vào tiềm năng, lợi thế phát triển tương lai của từng địa phương và khu vực từ đó tận dụng được lợi thế so sánh, tránh tình trạng cạnh tranh gay gắt làm hiệu quả hoạt động của các KCN bị giảm sút Quy hoạch phải có tính toàn diện, bao quát cả quy hoạch bên trong và bên ngoài các KCN, bao gồm cả vùng dân cư, các cơ sở hạ tầng kỹ thuật và
xã hội Các quy hoạch cần được xác định rõ mục tiêu và nguồn thu hút đầu tư
(3) Giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và vấn đề xã hội
Phát triển kinh tế và vấn đề xã hội luôn là hai mặt của đời sống xã hội cần được quan tâm Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay ở nước ta, từ một nước có trình
Trang 31độ phát triển thấp, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh cần có những
"điểm nhấn", lựa chọn ngành mũi nhọn, KCN mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm để đầu tư phát triển, tránh tình trạng đầu tư tràn lan, gây lãng phí Phân loại, lựa chọn những dự án, những KCN vừa đảm bảo tính kinh tế, vừa đảm bảo tính xã hội
Thực hiện đúng chính sách tái định cư theo quy định của Luật Đất đai, có chính sách hỗ trợ, giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi,
có sự ưu tiên tuyển chọn lao động vào các nhà máy trong KCN từ các hộ gia đình
có đất bị thu hồi
Công tác quy hoạch KCN cũng cần tránh mang nặng tính cục bộ, khép kín trong địa giới hành chính, tránh tình trạng "quy hoạch treo", "dự án treo", "đền bù treo" đang diễn ra phổ biến ở nhiều tỉnh, dân mất đất không có việc làm, mất lòng tin, nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực khác trong xã hội Tránh tình trạng các KCN được xây dựng theo "nhiệm kỳ", được phê duyệt nhờ cơ chế xin - cho làm phá vỡ quy hoạch tổng thể phát triển KCN của cả nước và sự thiếu các chuẩn mực dẫn đến tình trạng các KCN được xây dựng theo kiểu phong trào, đầu tư tràn lan, dàn trải, kém hiệu quả
(4) Kết hợp quy hoạch KCN và quy hoạch đô thị
Vấn đề phát triển các đô thị công nghiệp trên cơ sở các KCN theo hướng tập trung thành các KCN tập trung lớn, thành lập các khu dân cư, dịch vụ vành đai gần KCN vừa nhằm tận dụng cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật sẵn có, vừa phát triển KCN quy mô lớn thành phố công nghiệp Như thế sẽ thuận lợi cho xây dựng nhà ở công dân, cũng như các dịch vụ khác đáp ứng nhu cầu cho người lao động trong KCN
Quy hoạch xây dựng các KCN phải gắn với quy hoạch đô thị Tránh tình trạng các KCN được xây dựng hoặc ở trong thành phố gây khó khăn cho công tác bảo vệ môi trường gây ách tắc giao thông, hoặc được bố trí quá xa khu dân cư và nguồn cung cấp dịch vụ nên khó khăn trong việc thu hút đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 32Việc quy hoạch KCN chưa đồng bộ với quy hoạch phát triển đô thị, khu dân
cư, hạ tầng kỹ thuật và xã hội dẫn đến sự phát triển không bền vững Việc đặt phát triển KCN trong quy hoạch xây dựng vùng và đô thị có một tầm quan trọng đặc biệt
và xuất phát từ bối cảnh Việt Nam hiện nay mật độ dân cư và ngày càng tăng, tỷ lệ
đô thị hoá đang tăng nhanh song song với tiến trình CNH, quỹ đất canh tác nông nghiệp truyền thống do đó đang dần bị thu hẹp nhường chỗ cho đất dành cho phát triển đô thị, công nghiệp và hàng loạt các nhu cầu xã hội khác không gắn bó trực tiếp với sản xuất hàng hoá như dịch vụ, nghỉ ngơi, giải trí
1.3.1.3 Diện tích đất và tỉ lệ lấp đầy KCN
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả việc sử dụng tối ưu mặt bằng các KCN, tiêu chí này xác định hiệu quả của việc khai thác và sử dụng đất có ích trên tổng diện tích được cấp phép theo dự án của KCN, đó chính bằng tổng diện tích đất trong KCN đã được các doanh nghiệp và dịch vụ thuê so với tổng diện tích đất của KCN
Tỷ lệ lấp đầy này không đòi hỏi phải đạt cao ngay từ đầu mà phải chia theo từng phân kỳ đầu tư và đánh giá theo từng giai đoạn Thời kỳ đầu là thời kỳ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khoảng 3-5 năm, tiếp sau đó là giai đoạn thu hút đầu tư và hoàn thiện các khu chức năng theo nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp thuê đất, thu hồi chi phí đầu tư, tạo việc làm cho người lao động …theo kinh nghiệm quốc tế thời gian để thu hồi kinh phí đầu tư xây dựng có thể kéo dài trong khoảng 15-20 năm còn nếu sau khoảng 10-15 năm mà tỷ lệ lấp đầy thấp hơn 75% thì coi như KCN này không đạt hiệu quả kinh tế như kỳ vọng và không đảm bảo phát triển bền vững
Tỷ lệ diện tích đất công nghiệp trên đất tự nhiên(%)
TN
CN
S S
SCN: Diện tích đất công nghiệp là diện tích đất của KCN đã hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng và đủ điều kiện để cho các nhà đầu tư thuê, thuê lại để thực hiện dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong KCN
STN: Diện tích đất tự nhiên là toàn bộ diện tích đất trong hàng rào KCN, bao gồm cả diện tích đất công nghiệp, diện tích các công trình hạ tầng khác như khu nhà
Trang 33điều hành, hệ thống đường giao thông, diện tích thảm cỏ cây xanh và các khu phụ trợ khác
Tỷ lệ này phản ánh mật độ sử dụng diện tích đất phục vụ cho sản xuất công nghiệp, nếu mật đọ này cao quá thì phần diện tích dành cho làm đường giao thông, sân vườn, thảm cỏ cây xanh ít dẫn đến là giảm khả năng vận chuyển, lưu thông hàng hóa trong KCN cũng giảm hình ảnh một KCN thân thiện với môi trường Nếu
tỷ lệ này thấp quá thì hiệu quả sử dung đất bị ảnh hưởng và gây lãng phí tài nguyên đất Theo tác giả tỷ lệ này vào khoảng 60-70% là hợp lý
Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp
Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp(%) = CN
Một KCN có diện tích đất lấp đầy 100% là KCN đã khai thác triệt để phần diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê và không để lãng phí đất trống
1.3.1.4 Số dự án đầu tư, tổng số vốn đăng ký, vốn đầu tư thực hiện
Chỉ tiêu số dự án đầu tư nhằm xác định khả năng thu hút các nhà đầu tư và số
dự án được đầu tư vào từng KCN đồng thời cũng là một tiêu chí so sánh hiệu quả khai thác giữa các KCN với nhau Chỉ tiêu so sánh này chỉ mang tính tương đối bởi nếu số dự án đầu tư vào một KCN nhiều nhưng tổng vốn đầu tư thấp thì cũng chưa phản ánh hết được quy mô của KCN
Chỉ tiêu tổng vốn đầu tư nhằm xác định tổng lượng vốn mà các nhà đầu tư đầu tư cho từng KCN đồng thời nó là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thu hút vốn của từng KCN với nhau Chỉ tiêu này cũng chưa phản ánh chính xác hiệu quả khai thác bởi các KCN có diện tích khác nhau, do vậy khi so sánh cần cân nhắc thêm nhiều yếu tố khác
Tổng số vốn đăng ký và tỉ lệ vốn đầu tư thực hiện trong tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp FDI và trong nước vào KCN; vốn đầu tư bình quân của một
dự án và vốn đầu tư bình quân trên một ha đất
Trang 34Công thức tính tỷ lệ vốn đầu tư trên một diện tích đất công nghiệp
Tổng vốn đầu tư (triệu USD)
Tỷ lệ vốn đầu tư (triệu USD/ha) =
Tổng diện tích đất CN(ha)
1.3.1.5 Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp
Tiêu chí này bao gồm: Tổng doanh thu; tổng giá trị gia tăng; tổng lao động thu hút; tổng vốn kinh doanh; tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng doanh thu; năng suất lao động tính theo doanh thu; thu nhập bình quân của một đơn vị lao động Một số chỉ tiêu được tính như sau:
Tổng số lao động
Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá khả năng thu hút lao động và giải quyết việc làm giữa các KCN về số lượng lao động đang làm việc tại các KCN Qua chỉ tiêu này chúng ta có thể thấy được lợi ích của việc xây dựng các KCN trong việc giải quyết tình trạng thất nghiệp và lao động dôi dư ở các địa phương
Chỉ tiêu này mới chỉ phản ánh được ở góc độ giải quyết việc làm của các KCN, chứ không đánh giá được “chất lượng” của các dự án đầu tư Bởi vì một doanh nghiệp đầu tư một lượng vốn ít, hoặc chỉ là doanh nghiệp gia công sử dụng một số lượng lớn nhân công thì chứng tỏ trình độ kỹ thuật, khoa học công nghệ, máy móc mà doanh nghiệp áp dụng vào sản xuất là không cao mà sử dụng sức người là chủ yếu
Tỷ lệ % đóng góp GDP cho địa phương
Tổng giá trị sản lượng của KCN
và tăng trưởng kinh tế địa phương để từ đó có cách nhìn nhận đúng trong việc cần
Trang 35thiết, hay chưa thực sự cần thiết trong xây dựng và phát triển các KCN và chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương
Chỉ tiêu về doanh thu
Chỉ tiêu doanh thu trên diện tích đất công nghiệp cho thuê
Có thể đánh giá bằng cách tính dựa trên tổng doanh thu hoặc tổng GT sản lượng
Tổng doanh thu (triệu USD) Doanh thu bình quân/1 ha (triệu USD/ha) =
Tổng diện tích đất KCN(ha)
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng đất, nó phản ánh giá trị doanh thu bình quân trên một ha đất công nghiệp cho thuê của từng KCN trong phát triển kinh tế, tăng sản phẩm xã hội so với sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc các mục đích khác và so sánh giữa các KCN với nhau
Chỉ tiêu về xuất khẩu
Chỉ tiêu xuất khẩu trên diện tích đất công nghiệp cho thuê
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả xuất khẩu trên một ha đất công nghiệp cho thuê của từng KCN và dùng để so sánh các KCN với nhau
Tổng doanh thu xuất khẩu KCN (USD)
Tỷ lệ xuất khẩu/1ha (triệu USD/ha) =
Tổng diện tích đất KCN(ha)
1.3.1.6 Trình độ công nghệ của doanh nghiệp và các hoạt động triển khai khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh
Tiêu chí này phản ánh khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nội
bộ khu công nghiệp cũng như giữa các khu công nghiệp với nhau và được thể hiện ở: số lượng và cơ cấu máy móc thiết bị sử dụng trong khu công nghiệp; tỷ lệ máy móc thiết bị mới so với tổng số máy móc thiết bị sử dụng; độ tuổi trung bình của công nghệ hoạt động trong doanh nghiệp, tỷ lệ vốn sản xuất trên đầu 1 lao động, tỷ
lệ vốn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai trong tổng vốn đầu tư của khu công nghiệp, tỷ lệ doanh thu từ hoạt động nghiên cứu và triển khai so với tổng quy
mô hoạt động của doanh nghiệp và của toàn khu công nghiệp
1.3.1.7 Mức độ thoả mãn nhu cầu cho các nhà đầu tư
Trang 36Tiêu chí này phản ánh mức độ hấp dẫn nội bộ của khu công nghiệp đối với các nhà đầu tư và được thể hiện cụ thể ở: mức độ bảo đảm của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội của khu công nghiệp như: điện, nuớc, kho tàng, đường sá, phương tiện vận chuyển (chủng loại, quy mô và chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội); Chủng loại, quy mô và chất lượng hoạt động của hệ thống
cơ sở hạ tầng kinh tế phục vụ hoạt động cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp như: bưu chính, thông tin, tài chính, ngân hàng
1.3.2 Các tiêu chí đánh giá tác động lan toả của các KCN
1.3.2.1 Tác động lan tỏa về mặt kinh tế
(1a) Tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, địa phương theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đóng góp vào ngân sách địa phương
- Thu nhập bình quân đầu người tính cho toàn khu vực hoặc địa phương, so với mức chung của cả nước;
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương có KCN: tỉ trọng về doanh thu, giá trị gia tăng, vốn sản xuất, lao động tính theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế
- Đóng góp của KCN cho ngân sách địa phương: qui mô và tỷ lệ thu ngân sách địa phương từ KCN; số lượng và chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật của địa phương có KCN
(1b) Tác động nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
Sự xuất hiện của các doanh nghiệp FDI là một nhân tố thúc đẩy cạnh tranh,
có thể buộc doanh nghiệp trong nước rời khỏi thị trường hoặc phải điều chỉnh cơ cấu để thích nghi với môi trường cạnh tranh mới Nếu biết tận dụng mối liên kết kinh tế với các doanh nghiệp FDI trong trao đổi các hàng hóa trung gian và các yếu
tố khác, các doanh nghiệp trong nước hoàn toàn có khả năng vươn ra thị trường xuất khẩu
Cuộc điều tra về năng lực xuất khẩu và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp do VCCI thực hiện gần đây cho thấy: chỉ có 23,8% doanh nghiệp có hàng xuất khẩu, 13,7% doanh nghiệp có triển vọng xuất khẩu, 62% doanh nghiệp hoàn toàn chưa có khả năng xuất khẩu Mặc dù vài năm gần đây,
Trang 37năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong nhiều ngành sản xuất đã tăng lên đáng kể, nhưng nhìn chung còn yếu do năng suất lao động chưa cao; chất lượng
và tính độc đáo của sản phẩm thấp; trình độ công nghệ và khả năng tiếp cận công nghệ mới hạn chế; chi phí đầu vào cao, chưa cạnh tranh được với hàng nhập khẩu; thị trường đầu ra cho sản phẩm chưa ổn định, thiếu bền vững Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương (CIEM) đã chỉ ra một sự liên kết dương giữa khu vực FDI và các doanh nghiệp trong nước về năng lực cạnh tranh Điều đó đặt ra yêu cầu tới đây cần có biện pháp để vừa thúc đẩy vừa khai thác hiệu quả tác động lan tỏa tích cực này
(1c) Tác động thúc đẩy sự phát triển của ngành CN phụ trợ Việt Nam
- Mức tăng sản lượng và số việc làm tăng thêm của doanh nghiệp trong nước liên kết với doanh nghiệp FDI
- Mức độ phát tán tri thức và kỹ năng giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước
1.3.2.2 Tác động lan tỏa về mặt công nghệ
- Mức độ đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp trong nước trong KCN
- Mức độ đổi mới công nghệ của từng ngành, nhóm ngành sản xuất
- Khả năng tiếp thu và ứng dụng bí quyết công nghệ được chuyển giao của doanh nghiệp
- Năng lực quản lý điều hành, tổ chức trong hoạt động công nghệ
- Tỉ lệ doanh thu từ hoạt động R&D trong tổng doanh thu của các doanh nghiệp KCN
- Tốc độ tăng doanh thu hàng năm từ hoạt động R&D
Thông qua liên kết kinh tế với các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp trong nước thực hiện việc đổi mới và tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến Tuy nhiên, thời gian qua mức độ chuyển giao công nghệ của FDI tới doanh nghiệp Việt Nam trong còn rất hạn chế, chưa thu hút được đầu tư và chuyển giao công nghệ của các công ty đa quốc gia Nguyên nhân của tình trạng này một phần xuất phát từ khả năng hấp thụ công nghệ và tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Việt
Trang 381.3.2.3 Tác động lan tỏa về mặt xã hội
Chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng xã hội của KCN được tập trung vào các chỉ tiêu
về khả năng giải quyết việc làm của KCN cho lao động địa phương:
- Sử dụng lao động địa phương: quy mô và tỷ lệ lao động địa phương so với tổng số lao động làm việc trong KCN
- Số người tham gia cung cấp dịch vụ cho KCN trong tổng số lao động địa phương
- Ảnh hưởng của KCN đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động của địa phương
- Mức độ tham gia vào đào tạo nghề và tiếp nhận lao động, trong đó, đối với lao động địa phương và lao động từ nơi khác đến
- Thực hiện các qui tắc sử dụng lao động của quốc gia và quốc tế
- Việc phát triển vốn con người (trình độ, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thái độ ứng xử, khả năng hợp tác và làm việc theo nhóm)
1.3.2.4 Tác động lan tỏa về mặt bảo vệ môi trường
- Mức độ khai thác hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên;
- Mức độ giải quyết vấn đề ô nhiễm KCN (hệ thống xử lý chất thải tập trung), đặc biệt các KCN gần khu dân cư
- Mức độ ứng dụng công nghệ sạch và công nghệ ít gây ô nhiễm môi trường
- Có Báo cáo về tác động môi trường của các doanh nghiệp trong KCN
Trang 39Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC KCN
TỈNH NAM ĐỊNH
2.1 Giới thiệu chung
2.1.1 Giới thiệu chung về tỉnh Nam Định
Vị trí địa lý
Nam Định là tỉnh đồng bằng ven biển, nằm ở phía nam đồng bằng sông Hồng, trải dài từ 19o53’15” đến 20o30’ vĩ độ Bắc và 105o55’ đến 106o37’30’’kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, phía Đông Bắc giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông Nam và Nam giáp với biển Đông, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 1.649,90 km2, bằng 0,50% diện tích cả nước và 13,2% diện tích đồng bằng Bắc bộ
Tỉnh có 9 huyện và 01 thành phố loại II trực thuộc tỉnh, 230 xã, phường, thị trấn (theo các quyết định của Chính phủ đến 31/12/2009)
Thành phố Nam Định là trung tâm chính trị- kinh tế văn hoá của tỉnh, cách Hà Nội 90km về phía Đông Nam, cách không xa các trung tâm kinh tế - công nghiệp là
Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, với hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ thuận tiện, Nam Định có nhiều điều kiện tăng cường giao lưu hợp tác với các trung tâm nói trên trong sự phát triển kinh tế
Địa hình
Chia thành 3 vùng
- Vùng đồng bằng thấp trũng: Gồm các huyện: Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường Vùng này có nhiều khả năng thâm canh, phát triển nông nghiệp, công nghiệp dệt may, chế biến, cơ khí và các ngành nghề truyền thống
- Vùng đồng bằng ven biển: gồm các huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Giao Thuỷ, với bờ biển dài 72 km, đất đai phì nhiêu, nguồn lợi thuỷ hải sản phong phú, có tiềm năng phát triển kinh tế tổng hợp ven biển (du lịch, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản, sản xuất muối, trồng cói )
Trang 40- Vùng trung tâm công nghiệp - dịch vụ thành phố Nam Định, với các ngành dệt may, cơ khí chế biến, các ngành nghề truyền thống, các ngành dịch vụ tổng hợp, dịch vụ chuyên ngành hình thành và phát triển từ lâu
Sông ngòi
Nam Định có bờ biển dài 72km, nằm giữa 2 con sông lớn là sông Hồng và sông Đáy, biên giới tự nhiên giữa Nam Định với Thái Bình và Ninh Bình Trên địa bàn tỉnh còn có sông Đào và sông Ninh Cơ, sông Sò, 4 cửa sông lớn thuộc hệ thống sông Hồng là cửa Ba Lạt, cửa Hà Lạn, cửa Ninh Cơ và cửa Đáy thông ra biển Cùng với các cửa sông lớn, hệ thống các sông nhỏ, mương máng được phân bổ tương đối đều tạo điều kiện tưới tiêu và vận tải dễ dàng Ngoài ra, tỉnh còn có nhiều cảng sông
và cảng biển Thịnh Long mới được xây dựng thuận tiện cho phát triển đường thủy
Hiện trạng cơ sở hạ tầng của Nam Định
- Đường bộ: Trên địa bàn tỉnh Nam Định có 2 quốc lộ đi qua (Quốc lộ 10, Quốc lộ 21), 10 tỉnh lộ, 64 tuyến huyện lộ và các tuyến đường liên xã, liên thôn
Hình 2.1: Bản đồ qui hoạch phát triển giao thông tỉnh Nam Định