Quản lý đầu tư chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng quá trình đầu tư bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh l
Trang 1ngµnh qu¶n trÞ kinh doanh
NguyÔn Minh TuÊn
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: PGS-tS.TrÇn V¨n B×nh
Hµ Néi,10-2010
Trang 2Môc lôc
Chó gi¶I c¸c tõ viÕt t¾t
C¸c b¶ng biÓu vµ h×nh vÏ trong luËn v¨n
3 §èi t−îng vµ ph¹m vi nghiªn cøu 2
Ch−¬ng 1 C¥ Së Lý THUYÕT VÒ Dù ¸N §ÇU T¦ vµ qu¶n lý dù
Trang 33.1 Vai trò của thành phố Hà Nội đối với sự đI lên của cả nước 84
Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội thành phố Hà Nội
3.3 Định hướng chung các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản
lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản của thành phố
101
3.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý các dự án đầu tư xây
dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách thành phố
103 Kết luận chương 3 124
Phần kết luận khuyến nghị 125
Các tài liệu tham khảo 128
Trang 5Bảng 1.2: Các lĩnh vực quản lý, theo dõi của quản lý dự án đầu tư 27 Hình 1.1: Các giai đoạn của chu kỳ dự án 28 Hình 1.2: Chu trình quản lý dự án đầu tư 29 Hình 1.3: Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án 30 Hình 1.4: Mô hình tổ chức chủ nhiệm điều hành dự án 31 Hình 1.5: Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khóa trao tay 31 Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức hành chính, cơ quan ban ngành 38 Bảng 2.1: Tổng hợp và phân bổ vốn đầu tư XDCB của TP Hà Nội
Đồ thị 2.1.(a): Dự án đầu tư XDCB qua 3 năm 2006-2008 49
Đồ thị 2.1.(b): Vốn đầu tư XDCB từ NSNN2006-2008 của TP Hà Nội 50 Bảng 2.2: Tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư XDCB qua các năm 55 Bảng 2.3: Dự án XDCB năm 2009-2010 59 Bảng 2.4: Kết quả thẩm định các dự án đầu tư XDCB TP Hà Nội 64 Bảng 2.5: Kết quả thực hiện công tác đấu thầu giai đoạn 2009 - 2010 65 Bảng 2.6: Công tác giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án XDCB
Bảng 2.7: Đánh giá công tác quản lý dự án XDCB năm 2010
của 3 quận Long Biên, Hoàng Mai, Thanh Xuân 70
Hình 2.2: Tổn thất nguồn vốn Nhà nước trong ĐT XDCB 82
Trang 6PHầN Mở ĐầU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong nền kinh tế quốc dân, đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự tăng trưởng, phát triển và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, tác
động đến sự phát triển khoa học công nghệ của đất nước, đến sự ổn định kinh
tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động
Trong thời gian qua, Thủ đô Hà Nội đã có nhiều cố gắng và thu được một số kết quả trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản Việc quản lý dự án theo
điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng ngày càng hoàn thiện Nhiều dự án đầu tư
đã hoàn thành và từng bước phát huy hiệu quả, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện từng bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Tuy
đã đạt được một số thành công, nhưng công tác quản lý dự án vẫn gặp phải một số khó khăn cả chủ quan lẫn khách quan làm giảm hiệu quả của dự án Ngân sách dành cho đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn thành phố là rất lớn, nhưng hiệu quả đầu tư vẫn chưa được phát huy tối đa Bởi vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả trong quản lý dự án luôn thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, Thành phố Hà Nội đang trong tiến trình đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá - hiện đại hoá, phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng GDP ngày một cao và bền vững, nhằm khẳng định vị thế là trung tâm kinh tế – chính trị của cả nước Vì thế, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dự án xây dựng từ ngân sách Thành phố là
vấn đề cấp thiết Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, tôi đã chọn vấn đề tài: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả trong quản lý dự án đầu tư XDCB từ ngân sách Thành phố Hà Nội” làm đề tài tốt nghiệp Là một người hoạt động
trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, tôi mong có thể đóng góp một phần nhỏ bé hỗ trợ cho việc nâng cao hiệu quả trong quản lý dự án đầu tư XDCB giúp phát
Trang 7]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
huy tối đa vốn đầu tư, đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của
thành phố
2 Mục đích nghiên cứu:
2.1 Làm sáng tỏ về mặt lý luận, thực tiễn về đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Thành phố và công tác quản lý hoạt động đầu tư xây dựng, trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
2.2 Đánh giá thực trạng tình hình đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn
Hà Nội và công tác quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước những năm vừa qua ở thành phố Hà Nội Những kết quả đạt được, những tồn tại cần khắc phục, để tiếp tục đổi mới và phát triển
2.3 Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả trong quản lý
dự án đầu tư xây dựng cơ bản giúp nguồn vốn đầu tư từ ngân sách thành phố
Hà Nội được phát huy tối đa, nhằm đáp ứng yêu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế trong giai đoạn tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến
đầu tư, quản lý dự án đầu tư và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong xây dựng cơ bản Đi sâu vào tình hình và nhiệm vụ, định hướng và giải pháp tăng cường quản lý các dự án đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách do Thành phố Hà Nội quản lý trên địa bàn
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản từ
nguồn vốn ngân sách thành phố Hà Nội trong thời gian qua (2009-2010), đây
là dấu mốc quan trọng, đánh dấu 1 năm khi thành phố Hà Tây xác nhập với thủ đô Hà Nội, các định hướng phát triển của Thủ đô đến năm 2020 và tầm nhìn 2030
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng lý luận và phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp lịch sử với logic, kết hợp các phương pháp thống kê, so sánh,
Trang 8phân tích và tổng hợp, đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương để nghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài
5 Đóng góp của luận văn:
Với sự lựa chọn đề tài này, tôi đã cố gắng đưa ra và hy vọng người đọc
sẽ thấy được khái quái về quá trình phát triển của Thủ đô Hà Nội, đóng góp một phần cho sự đi lên của cả nước Khái quát về các dự án đầu tư XDCB và thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư XDCB , thấy được những mặt tích cực trong công tác quản lý dự án cũng như những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý Từ những phân tích đó người viết sẽ đưa ra một số giải pháp
để hoàn thiện những vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cỏ bản từ ngân sách Thành phố Hà Nội
6 Kết cấu của luận văn:
Luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư Chương 2: Phân tích tình hình quản lý dự án đầu tư XDCB từ ngân sách
Hà Nội, các sơ ban ngành đã cung cấp số liệu, những ý kiến đóng góp cho tôi thực hiện bản luận văn này
Trang 9]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
CHƯƠNG 1 CƠ Sở Lý THUYếT Về Dự áN ĐầU TƯ và quản lý
1.1 Khái niệm cơ bản về đầu tư
Theo Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: ”Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”
Ngân hàng thế giới cho rằng ” Đầu tư là sự bỏ vốn trong một thời gian dài vào một lĩnh vực nhất định nào đó nhằm thu lợi nhuận cho nhà đầu tư và thu lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước được đầu tư”
Từ các định nghĩa trên, hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau:
- Trước hết phải có vốn, vốn bằng tiền hay bằng các loại tài sản khác hay bằng bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, vốn có thể là của nhà nước, tư nhân, cổ phần, vay,
- Thời gian thực hiện tương đối dài, thường là hai năm trở lên Các hoạt
động ngắn hạn dưới một năm tài chính thường không gọi là đầu tư Do thời gian dài nên người đầu tư và thẩm định đầu tư cần có tầm nhìn xa
Trang 10- Lợi ích của đầu tư mang lại biểu hiện trên hai mặt là lợi nhuận (lợi ích tài chính) và lợi ích kinh tế xã hội Nhà đầu tư tư nhân muốn đầu tư sinh lợi nhuận, còn nhà nước đầu tư thì muốn có hoặc lợi nhuận hoặc lợi ích
Các hình thức đầu tư (Theo Luật đầu tư 2005) gồm có:
- Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư
- Đầu tư gián tiếp: Là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư
Trong đó: Nhà đầu tư theo Luật đầu tư 2005, là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm:
- Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh nghiệp;
- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã;
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật này có hiệu lực;
- Hộ kinh doanh, cá nhân;
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;
- Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam
Có thể nói đầu tư có đặc điểm chính là vốn Vốn ở đây có thể được biểu hiện bằng tiền, chứng khoán, cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu hay các tài sản cố
định như công trình, nhà xưởng, đường xá; tài sản lưu động như máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông hoặc các giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, không gian… cũng như nhiều nguồn tài nguyên khác
Trang 11]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
Hoạt động đầu tư được hiểu như một quá trình đầu tư hay một tập hợp các hoạt động thực tiễn để thực hiện đầu tư nhằm đạt được lợi ích tài chính, kinh tế và xã hội
Theo Luật Đầu tư 2005: Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý
dự án đầu tư
Lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn lợi ích kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng
Hoạt động đầu tư trong mỗi doanh nghiệp có ba loại trao đổi các giá trị kinh tế chủ yếu Chính ba loại trao đổi này xác định các chức năng cơ bản của hoạt động đầu tư Ba loại trao đổi đó bao gồm:
- Trao đổi để huy động vốn cần thiết (chức năng tài chính)
- Trao đổi để khai thác nguồn vốn có sẵn (chức năng đầu tư)
- Trao đổi để đem lại thu nhập về tài chính dựa trên số vốn đầu tư (chức năng sản xuất)
Chức năng tài chính thể hiện ở các hoạt động huy động vốn từ các nhà
đầu tư, người cho vay vốn và hoàn trả cho họ từ những nguồn thu của công ty Trên quan điểm phân tích dự án, nguồn vốn của một công ty thường được phân thành hai loại: vốn cổ phần và vốn vay
Vốn cổ phần được huy động qua việc phát hành cổ phiếu Người mua
cổ phiếu là người đầu tư và có quyền sở hữu một phần đối với công ty Phần lợi nhuận giữ lại trong phần lãi cổ phần để mở rộng đầu tư, cũng được gọi là vốn cổ phần
Vốn vay được vay từ ngân hàng hoặc từ một công ty cho vay thế chấp huy động qua việc phát hành trái phiếu và các nguồn khác Đây là nguồn vốn của những người cho công ty sử dụng vốn để lấy lãi chứ không có quyền sở hữu đối với công ty Chức năng đầu tư và sản xuất thể hiện ở các hoạt động
Trang 12đầu tư và sản xuất của công ty ở mỗi thời kỳ, công ty thường có một số cơ hội đầu tư Mỗi một cơ hội như vậy được gọi là một dự án đầu tư hay đơn giản hơn là một dự án
Chức năng đầu tư là chức năng ra quyết định về các dự án đầu tư (lựa chọn hoặc gạt bỏ) Muốn thế nhà đầu tư phải tiến hành nghiên cứu cơ hội đầu tư, ước lượng chi phí, thu nhập, ước lượng những tổn thất và lợi ích của các hệ quả đầu tư không định lượng bằng tiền tệ, phân tích và lựa chọn dự án theo một tiêu chuẩn hiệu quả nào đó phù hợp với mục tiêu của nhà đầu tư
1.2 Khái niệm về Dự án và Dự án đầu tư
Theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạt
động đặt thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới
Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác
định, dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới, là một nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất
Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra những sản phẩm/ dịch vụ duy nhất Nỗ lực có thời hạn có nghĩa là mọi dự án đầu tư đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định Một số
đặc trưng cơ bản của dự án như sau:
- Dự án có mục đích, kết quả xác định, có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn
Trang 13]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
- Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ), môi trường hoạt động ”va chạm”, tính bất định và độ rủi ro cao
- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần phải duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác
Theo bách khoa toàn thư, từ “Project- dự án” được định nghĩa là “Điều người ta có ý định làm” hay “Đặt kế hoạch cho một ý đồ, quá trình hành
động” Đặc điểm của dự án là ở chỗ kết hợp mong muốn với hiện thực, ý
a) Đáp ứng một nhu cầu đã đề ra;
b) Chịu sự ràng buộc bởi kỳ hạn và nguồn lực;
c) Thực hiện trong một bối cảnh không chắc chắn
Chúng ta nói dự án nhằm đáp ứng một nhu cầu đã đề ra bởi và dự án
được xuất phát từ một ý tưởng, ý tưởng bắt nguồn từ một cơ hội Cơ hội này có thể trở thành một hiện thực hay không thì quá trình thực hiện dự án phải được tiến hành Nếu không có một nhu cầu cụ thể thì sẽ không có dự án
Bất kỳ dự án nào cũng chịu sự ràng buộc bởi kỳ hạn và mỗi mục tiêu mỗi nhu cầu đều chỉ xuất hiện theo từng thời điểm Có thể trong giai đoạn trước mắt tồn tại mục tiêu đó song nếu dự án chỉ được hoàn thành sau thời
điểm dự kiến thì có thể mục tiêu đó đã không còn hoặc giảm hiệu quả lợi ích Bất kỳ sự trễ hạn nào cũng kéo theo một chuỗi nhiều biến cố bất lợi như bội
Trang 14chi, khó tổ chức lại nguồn lực, tiến độ cung cấp thiết bị vật tư…không đáp ứng
được nhu cầu sản phẩm vào đúng thời điểm mà cơ hội xuất hiện như dự án ban
đầu
Dự án thường bị ràng buộc về nguồn lực và khi nhắc đến dự án, người ta nhìn thấy ngay các khoản chi phí: tiền bạc, phương tiện, dụng cụ, thời gian, trí tuệ… Các nguồn lực này ràng buộc chặt chẽ với nhau và tạo nên khuôn khổ của dự án Và khối lượng chi phí nguồn lực cho dự án là một thông số then chốt phản ánh mức độ thành công của dự án đối với những dự án có quy mô lớn Hầu hết các dự án có quy mô lớn đều phải trải qua những thời kỳ khó khăn và bất kỳ một quyết định nào cũng bị ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ: Chủ đầu tư, nhà tư vấn và các nhà thầu bên cạnh các đối tác cung cấp vốn, nhân lực, vật tư và các tổ hợp công nghệ, kỹ thuật…
Vấn đề ràng buộc cuối cùng của dự án là dự án luôn tồn tại trong một môi trường không chắc chắn Tất cả các loại dự án quy mô nhỏ hay quy mô lớn đều được triển khai trong một môi trường luôn biến đổi Công tác điều hành dự án do vậy phải tính đến hiện tượng này để phân tích và ước lượng các rủi ro, chọn lựa giải pháp cho một tương lai bất định, đảm nhận và dự kiến những bất lợi có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến dự án, theo dõi và
có phản ứng kịp thời đảm bảo cho việc hoàn thành dự án đúng yêu cầu
1.2.2 Khái niệm về dự án đầu tư
Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về
số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm/ dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian nhất định Cùng khái niệm này, Luật đầu tư năm 2005
ghi ”Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác
định”
Trang 15]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
Hay Luật xây dựng ghi ” Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm/ dịch vụ trong một thời gian nhất định”
Cụ thể là, phát hiện ra một cơ hội đầu tư và muốn bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó, trước hết nhà đầu tư phải tiến hành thu thập, xử lý thông tin, xác
định điều kiện và khả năng, xác định phương án tối ưu để xây dựng bản dự án
đầu tư mang tính khả thi được gọi tắt là Dự án đầu tư (Luận chứng kinh tế kỹ thuật)
Theo nghĩa khác, Ngân hàng thế giới cho rằng ”Dự án đầu tư là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được hoạch định nhằm đạt những mục tiêu nào đó trong một thời gian nhất định”
Nói một cách tổng quát “Dự án đầu tư” là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác
định Tính chung của định nghĩa này vẫn nằm trong khuôn khổ các yếu tố: mục đích, nguồn lực và thời gian Bất cứ một dự án nào có thể khác nhau về mục tiêu hay phương tiện cách thức tiến hành nhưng vẫn đảm bảo tính nguyên vẹn của bản chất dự án
1.3 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng cơ bản
Sau khi nghiên cứu các khái niệm cơ bản về dự án đầu tư, quản lý dự án
đầu tư, người viết sẽ đi sâu vào những vấn đề của dự án đầu rư xây dụng cơ bản từ ngân sách nhà nước
1.3.1 Đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) là những hoạt động nhằm tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hóa hoặc khôi phục các tài sản cố định
Trang 16Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển Đầu tư XDCB được hiểu là toàn bộ những chi phí để đạt được mục
đích đầu tư, bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị, và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán Đây
là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định trong nền kinh tế
Đầu tư XDCB là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của toàn bộ nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng Đầu tư XDCB là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đi vào hoạt
động trong lĩnh vực kinh tế xã hội, nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau Đầu tư XDCB được thông qua nhiều hình thức như xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế
* Đặc điểm của vốn đầu tư XDCB: Vốn đầu tư xây dựng cơ bản bao
gồm các khoản chi phí gắn liền với hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản:
- Vốn cho xây dựng và lắp đặt
+ Vốn cho hoạt động chuẩn bị xây dựng và chuẩn bị mặt bằng
+ Những chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình, nhà xưởng, văn phòng làm việc, nhà kho, bến bãi
+ Chi phí cho công tác lắp đặt máy móc, trang thiết bị vào công trình và hạng mục công trình
+ Chi phí để hoàn thiện công trình
- Vốn mua sắm máy móc thiết bị
Đó là toàn bộ các chi phí cho công tác mua sắm và vận chuyển bốc dỡ máy móc thiết bị được lắp vào công trình Vốn mua sắm máy móc thiết bị
được tính bao gồm giá trị máy móc thiết bị, chi phí vận chuyển bảo quản bốc
dỡ, gia công, kiểm tra trước khi giao lắp những công cụ dụng cụ
- Vốn kiến thiết cơ bản khác
Trang 17]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
+ Chi phí kiến thiết cơ bản được tính vào giá trị công trình, như: chi phí cho tư vấn đầu tư, đền bù, chi phí cho quản lý dự án, bảo hiểm, dự phòng, thẩm định
+ Các chi phí kiến thiết tính vào tài sản lưu động, bao gồm chi phí cho mua sắm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố
định hoặc chi phí cho đào tạo
+ Những chi phí kiến thiết cơ bản khác được Nhà nước cho phép không tính vào giá trị công trình (do ảnh hưởng của thiên tai, những nguyên nhân bất khả kháng)
* Vai trò của đầu tư XDCB đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: Đầu
tư XDCB có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như từng đơn vị sản xuất kinh doanh nói riêng Trong nền kinh tế quốc dân đầu tư XDCB tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo ra cơ sở vật chất
kỹ thuật cho nền kinh tế, tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ của
đất nước, đến sự ổn định kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động
Điều đó thể hiện cụ thể như sau:
- Đầu tư xây dựng cơ bản tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế
Đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề cho việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ, nâng cao năng lực sản xuất cho từng ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân; tạo điều kiện phát triển sức sản xuất xã hội, tăng nhanh giá trị sản xuất và giá trị tổng sản phẩm trong nước; tăng tích lũy; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động;
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cơ bản về chính trị, xã hội Đầu tư XDCB tác động
đến sự phát triển khoa học công nghệ của đất nước
- Đầu tư XDCB tác động đến sự ổn đinh kinh tế tạo công ăn việc làm
Đầu tư XDCB có tác động lớn đến tạo công ăn việc làm, nâng cao trình
độ đội ngũ lao động Quá trình thực hiện đầu tư và đưa vào sử dụng thu hút
Trang 18khá lớn lực lượng lao động Nhiều dự án đã tạo điều kiện nâng cao tay nghề cho người lao động, tích lũy, trau dồi kinh nghiệm trong quản lý
- Đầu tư XDCB tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế
Đầu tư XDCB tạo ra năng lực sản xuất mới, tăng năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tác động tới tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế
- Đầu tư XDCB đối với các doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp, đầu tư XDCB là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của các đơn vị sản xuất - kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần xây dựng, cải tạo, sửa chữa cơ sở vật chất-
kỹ thuật, nhà xưởng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị đáp ứng với sự phát triển khoa học kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội Hoạt
động đầu tư XDCB giúp tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Trong cơ chế thị trường các đơn vị kinh doanh phải xây dựng chiến lược đầu tư, bảo
đảm được việc hiện đại hoá công nghệ, máy móc thiết bị, nâng cao tay nghề của người lao động, tạo điều kiện chuyên môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm
1.3.2 Khái niệm và phân loại dự án đầu tư xây dựng cơ bả n
Dự án đầu tư xây dựng cơ bản là tập hợp các đề xuất có liên quan đến
việc bỏ vốn từ nguồn vốn XDCB để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng cơ bản nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất
định Dự án đầu tư xây dựng công trình XDCB bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở
- Phân loại dự án đầu tư XDCB:
*Phân loại theo phân cấp quản lý dự án có:
+ Dự án nhóm A: Là dự án có tổng mức vốn đầu tư, lĩnh vực đầu tư theo quy định thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư các dự án của Thủ tướng
Trang 19]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
Chính phủ hoặc uỷ quyền quyết định đầu tư cho các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan quản lý tài chính của Trung
ương Đảng, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
+ Dự án nhóm B,C: Là dự án có tổng mức vốn đầu tư, lĩnh vực
đầu tư theo quy định thuộc thẩm quyền quyết định đầu tư các dự án của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
* Phân loại theo quy trình quản lý dự án có:
+ Báo cáo đầu tư xây dựng công trình (trước là dự án tiền khả thi)
là hồ sơ xin chủ trương đầu tư xây dựng công trình để cấp có thẩm quyền cho phép đầu tư
+ Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình là dự án đầu tư xây dựng công trình rút gọn trong đó chỉ đặt ra các yêu cầu cơ bản theo quy
định
+ Dự án đầu tư xây dựng công trình (trước là dự án khả thi) là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định
Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở
* Phân loại theo tính chất của dự án có:
+ Dự án đầu tư mới : là dự án thực hiện lần đầu hoặc dự án đầu tư thực hiện độc lập với dự án đang hoạt động
+ Dự án đầu tư mở rộng: là dự án đầu tư phát triển nhằm mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường của dự án đầu tư hiện có
Trang 201.4 QUảN Lý ĐầU TƯ Từ NGÂN SáCH NHà NƯớC
1.4.1 Những vấn đề chung
Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối tượng quản lý để điều khiển đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
Quản lý đầu tư chính là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng quá trình đầu tư (bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lý tài sản do đầu tư tạo ra) bằng một hệ thống đồng bộ các biện pháp kinh tế - xã hội và tổ chức - kỹ thuật cùng các biện pháp khác nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiện cụ thể xác định và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những quy luật kinh tế khách quan nói chung và quy luật vận động đặc thù của đầu tư nói riêng
Để nâng cao hiệu quả đầu tư, vấn đề quan trọng là quản lý vốn đầu tư Quản lý vốn đầu tư phát triển là quá trình quản lý các chi phí đầu tư để đạt
được mục tiêu đầu tư Các chi phí đó bao gồm chi phí khảo sát, quy hoạch, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí mua sắm thiết bị xây lắp và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán được duyệt
Quản lý đầu tư ở tầm vĩ mô là quản lý các dự án đầu tư Quá trình hình thành và vận hành dự án qua ba giai đoạn là: chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư
và vận hành khai thác dự án Mỗi giai đoạn gồm nhiều bước công việc khác nhau được tiến hành một cách liên tục Ơ tầm vi mô, quá trình quản lý đầu tư theo các dự án cũng là quá trình quản lý trong từng bước, từng giai đoạn của
nó
Vốn đầu tư phát triển được quản lý theo yêu cầu, nguyên tắc, mục đích
và trình tự, thủ tục như sau:
1.4.2 Yêu cầu
- Đầu tư phải có hiệu quả đảm bảo mục tiêu chiến lược phát triển kinh
tế xã hội trong từng thời kỳ theo định hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá,
Trang 21- Chỉ đầu tư cho dự án đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội và đủ thủ tục xây dựng cơ bản Thực hiện đầu tư tập trung, dứt điểm, ngăn chặn lãng phí thất thoát trong hoạt động đầu tư và xây dựng
1.4.3 Nguyên tắc
- Các nguồn vốn đầu tư phải được đầu tư theo dự án, được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phải quản lý công khai, có kiểm tra, kiểm soát và đảm bảo
sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật
- Phải chấp hành nghiêm túc trình tự thủ tục về đầu tư xây dựng, quy chế đấu thầu do Nhà nước quy định Việc giải ngân vốn đầu tư phải đảm bảo các hồ sơ, tài liệu pháp lý theo quy định, thực hiện cấp vốn đúng kế hoạch
đúng nguồn vốn, đúng mục đích, trực tiếp cho người thụ hưởng và theo mức
độ hoàn thành công việc
1.4.4 Mục tiêu của quản lý đầu tư
a Trên giác độ quản lý vĩ mô
Mục tiêu chung của quản lý đầu tư cần phải đạt là:
- Đáp ứng tốt nhất việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ của quốc gia Đối với nước ta, đó là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng XHCN, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động
- Huy động tối đa và sử dụng với hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tận dụng và khai thác tốt các tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động và các tiềm năng khác, bảo vệ môi trường sinh thái, chống mọi hành vi tham ô, lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư và khai
Trang 22thác các kết quả đầu tư
b Trên giác độ thực hiện đầu tư
Triển khai các dự án đầu tư đã được phê duyệt, là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự
án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép
1.5 NộI DUNG QUảN Lý Dự áN ĐầU tư
1.5.1 Lập dự án đầu tư
Giai đoạn lập dự án chính là giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng cơ bản hay còn gọi là giai đoạn chuẩn bị đầu tư, gồm hai công việc chính, đó là:
về mục tiêu, kết quả cuối cùng và phương pháp thực hiện kết quả đó Xây dựng ý tưởng dự án được bắt đầu ngay khi dự án bắt đầu hình thành, trên cơ sở các nguồn lực của nhà đầu tư và mục tiêu đạt được cuối cùng của dự án
án cần được thực hiện như thế nào mà nội dung của nó tập trung vào công tác thiết kế và lập kế hoạch Đây là giai đoạn chứa đựng những công việc phức tạp nhất của một dự án Nội dung của giai đoạn này bao gồm những công việc sau:
• Lập kế hoạch nguồn lực cần thiết
• Lập kế hoạch chi phí và dự báo dòng tiền thu
Trang 23]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
• Xin phê chuẩn thực hiện
Đối với một dự án lớn, để thực hiện giai đoạn này một cách đầy đủ,
đồng thời để tránh những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hình thành dự án
và tiết kiệm nguồn lực, cần phải thực hiện các bước sau:
- Nghiên cứu và phát hiện cơ hội đầu tư (Lập Báo cáo nghiên cứu cơ hội
đoạn sau, đặc biệt là đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư
Giai đoạn chuẩn bị đầu tư (tiền đầu tư) là giai đoạn quyết định hành
động hay không hành động, triển khai hay không triển khai dự án Giai đoạn này mang tính chất nghiên cứu về mọi vấn đề kinh tế, kỹ thuật liên quan đến hình thành dự án, thực hiện đầu tư xây dựng, vận hành dự án sau khi đưa vào hoạt động Chính vì vậy giai đoạn này còn được gọi là giai đoạn lập Luận chứng kinh tế kỹ thuật Từ ý tưởng xuất hiện do một nhu cầu nào đó đến việc luận chứng về mọi khía cạnh để biến ý tưởng thành thực tế, hay nói cách khác, giai đoạn chuẩn bị đầu tư bắt đầu từ khi có ý đồ đầu tư cho đến khi được cấp giấy phép đầu tư Đối với những dự án đầu tư lớn, giai đoạn này giữ vị trí then chốt Nó đòi hỏi một đội ngũ chuyên gia giỏi, làm việc có trách nhiệm
Kết thúc giai đoạn này là đến giai đoạn thẩm định dự án đầu tư Thành công của dự án phụ thuộc khá lớn vào chất lượng và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của các kế hoạch trong giai đoạn này
Trang 241.5.2 Thẩm định dự án đầu tư
Trong giai đoạn thẩm định dự án đầu tư, Chủ đầu tư cần thẩm tra, đánh giá lại toàn bộ nội dung dự án đầu tư đã được lập, về cả kinh tế và kỹ thuật, trong đó bao gồm cả việc thẩm định tổng mức đầu tư và thông qua quyết định
đầu tư Quá trình này đòi hỏi sự phân tích tổng thể để nhận định các phương
án đầu tư khả thi, đánh giá các khoản chi phí ban đầu, xác định những đặc
điểm riêng biệt của dự án và kết hợp với trực giác nhạy cảm nghề nghiệp, chủ
đầu tư ra quyết định đầu tư Giai đoạn chuẩn bị đầu tư được kết thúc bằng quyết định cuối cùng về đầu tư bởi các nhà đầu tư hoặc các định chế tài chính Thông thường công tác thẩm định dự án đầu tư do các cơ quan chuyên môn của Chủ đầu tư thực hiện hoặc có thể hợp đồng với một đơn vị tư vấn để thẩm định dự án Ngoài ra, theo quy định của Luật Đầu tư 2005, đối với các
dự án vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước phải được tổ chức cho vay thẩm định và chấp thuận phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay trước khi quyết định đầu tư
Theo Điều 39 Luật Xây dựng 2003, dự án đầu tư xây dựng công trình trước khi quyết định đầu tư phải được thẩm định theo quy định của Chính phủ
Tổ chức, cá nhân thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thẩm định của mình Người quyết định đầu tư xây dựng công trình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết
định của mình
Nội dung thẩm định dự án đầu tư:
Theo Nghị định số 112/2006/NĐ-CP của Chính phủ, nội dung thẩm
định dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm 2 phần: Thẩm định dự án đầu tư của người quyết định đầu tư và thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan có thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở
1 Nội dung thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình của người quyết định đầu tư:
Trang 25]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
a) Xem xét các yếu tố đảm bảo tính hiệu quả của dự án, bao gồm: sự cần thiết đầu tư; các yếu tố đầu vào của dự án; quy mô, công suất, công nghệ, thời gian, tiến độ thực hiện dự án; phân tích tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án;
b) Xem xét các yếu tố đảm bảo tính khả thi của dự án, bao gồm: sự phù hợp với quy hoạch; nhu cầu sử dụng đất, tài nguyên (nếu có); khả năng giải phóng mặt bằng, khả năng huy động vốn đáp ứng tiến độ của dự án; kinh nghiệm quản lý của chủ đầu tư; kết quả thẩm định thiết kế cơ sở; khả năng hoàn trả vốn vay; giải pháp phòng, chống cháy nổ; các yếu tố ảnh hưởng đến
dự án như quốc phòng, an ninh, môi trường trên cơ sở ý kiến bằng văn bản của các cơ quan liên quan và các quy định khác của pháp luật có liên quan
2 Nội dung thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan có thẩm quyền:
a) Sự phù hợp của thiết kế cơ sở với quy hoạch xây dựng; sự kết nối với các công trình hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào;
b) Việc áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng, môi trường, phòng chống cháy nổ;
c) Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức tư vấn, năng lực hành nghề của cá nhân lập thiết kế cơ sở theo quy định Trên thực tế, khi thẩm
định dự án đầu tư, cơ quan thẩm định còn cần phải thẩm định những nội dung
cụ thể sau:
- Sự phù hợp của dự án với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng; trong trường hợp chưa có các quy hoạch này thì phải có ý kiến thoả thuận của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó
- Đối với các dự án phải lập Báo cáo đầu tư xây dựng công trình (dự án lớn phải được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ cho phép đầu tư): cần thẩm định sự phù hợp của dự án đầu tư với Báo cáo đầu tư xây dựng công trình
đã được lập
Trang 26- Sự phù hợp của thiết kế cơ sở về quy hoạch xây dựng, quy mô xây dựng, công nghệ, công suất thiết kế, cấp công trình; các số liệu sử dụng trong thiết kế, các quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng; các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật so với yêu cầu của dự án
- Sự phù hợp của thiết kế cơ sở với phương án kiến trúc đã được lựa chọn thông qua thi tuyển đối với các dự án có thi tuyển phương án kiến trúc
- Sự hợp lý của các giải pháp thiết kế trong thiết kế cơ sở
- Kiểm tra điều kiện năng lực hoạt động của tổ chức tư vấn, năng lực hành nghề của cá nhân lập dự án và lập thiết kế cơ sở theo quy định của Bộ Xây dựng
Ngoài ra, nội dung về thẩm định dự án đầu tư còn được quy định chi tiết trong các văn bản sau:
- Thông tư số : 02/2007/TT-BXD ngày 14 tháng 02 năm 2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung về: lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình; giấy phép xây dựng và tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình quy định tại Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 và Nghị định số 112/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ
- Văn bản số: 2200 /BXD-KSTK ngày 27 tháng 10 năm 2005 của Bộ Xây dựng V/v: Hướng dẫn thẩm định thiết kế cơ sở thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình
Thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư theo Điều 9 Nghị định số 112/2006/NĐ-CP như sau:
1 Người quyết định đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định dự án trước khi phê duyệt Đầu mối thẩm định dự án là đơn vị chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư Đơn vị đầu mối thẩm định dự án có trách nhiệm gửi hồ sơ dự án lấy ý kiến thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan có thẩm quyền và lấy ý kiến các cơ quan liên quan để thẩm định dự án
Trang 27]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
2 Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng thẩm định nhà nước về các
dự án đầu tư để tổ chức thẩm định dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định
đầu tư và dự án khác nếu thấy cần thiết
3 Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
a) Cơ quan cấp Bộ tổ chức thẩm định dự án do mình quyết định đầu tư
Đầu mối tổ chức thẩm định dự án là đơn vị chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư;
b) ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định dự án do mình quyết
định đầu tư Sở Kế hoạch và Đầu tư là đầu mối tổ chức thẩm định dự án ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã tổ chức thẩm định dự án do mình quyết định
đầu tư Đầu mối thẩm định dự án là đơn vị có chức năng quản lý kế hoạch ngân sách trực thuộc người quyết định đầu tư
4 Đối với dự án khác thì người quyết định đầu tư tự tổ chức thẩm định
dự án
5 Đối với dự án đầu tư xây dựng công trình đặc thù thì việc thẩm định
dự án thực hiện theo quy định tại Nghị định số 71/2005/NĐ-CP ngày 06 tháng
6 năm 2005 của Chính phủ
Trong đó Nghị định này quy định công trình đặc thù là các công trình liên quan đến bí mật nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp và công trình tạm
6 Thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở:
a) Đối với dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, không phân biệt nguồn vốn, việc thẩm định thiết kế cơ sở được thực hiện như sau:
Bộ Công nghiệp tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở các công trình thuộc
dự án đầu tư xây dựng công trình hầm mỏ, dầu khí, nhà máy điện, đường dây tải điện, trạm biến áp, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, chế tạo máy, luyện kim và các công trình công nghiệp chuyên ngành;
Trang 28Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thẩm định thiết kế cơ
sở các công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi, đê điều;
Bộ Giao thông vận tải tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở các công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông;
Bộ Xây dựng tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở các công trình thuộc dự
án đầu tư xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp vật liệu xây dựng, hạ tầng kỹ thuật đô thị và các dự án đầu tư xây dựng công trình khác do Thủ tướng Chính phủ yêu cầu
Riêng đối với dự án đầu tư xây dựng một công trình dân dụng dưới 20 tầng thì Sở Xây dựng tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở
Đối với dự án bao gồm nhiều loại công trình khác nhau thì Bộ chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở là một trong các Bộ nêu trên có chức năng quản
lý loại công trình quyết định tính chất, mục tiêu của dự án Bộ chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở có trách nhiệm lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành quản lý công trình chuyên ngành và cơ quan liên quan để thẩm định thiết kế cơ sở
b) Đối với các dự án nhóm B, C, không phân biệt nguồn vốn, trừ các dự
án nhóm B, C quy định tại điểm c, điểm d khoản này, việc thẩm định thiết kế cơ sở được thực hiện như sau:
Sở Công nghiệp tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở các công trình thuộc
dự án đầu tư xây dựng công trình hầm mỏ, dầu khí, nhà máy điện, đường dây tải điện, trạm biến áp, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, chế tạo máy, luyện kim và các công trình công nghiệp chuyên ngành;
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thẩm định thiết kế cơ
sở các công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình thuỷ lợi, đê điều;
Sở Giao thông vận tải tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở các công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông;
Trang 29]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
Sở Xây dựng tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở các công trình thuộc dự
án đầu tư xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp vật liệu xây dựng và các
dự án đầu tư xây dựng công trình khác do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh yêu cầu
Riêng dự án đầu tư xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị thì Sở Xây dựng hoặc Sở Giao thông công chính hoặc Sở Giao thông vận tải tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở phù hợp với chức năng, nhiệm vụ do ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định
Đối với dự án bao gồm nhiều loại công trình khác nhau thì Sở chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở là một trong các Sở nêu trên có chức năng quản
lý loại công trình quyết định tính chất, mục tiêu của dự án Sở chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở có trách nhiệm lấy ý kiến bằng văn bản của các Sở quản lý công trình chuyên ngành và cơ quan liên quan để thẩm định thiết kế cơ sở
c) Đối với các dự án nhóm B, C do Bộ Công nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, các tập đoàn kinh
tế và Tổng công ty nhà nước đầu tư thuộc chuyên ngành do mình quản lý thì các Bộ, doanh nghiệp này tự tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở sau khi có ý kiến của địa phương về quy hoạch xây dựng và bảo vệ môi trường
d) Đối với các dự án nhóm B, C có công trình xây dựng theo tuyến qua nhiều địa phương thì Bộ được quy định tại điểm a khoản này tổ chức thẩm
định thiết kế cơ sở và có trách nhiệm lấy ý kiến của địa phương nơi có công trình xây dựng về quy hoạch xây dựng và bảo vệ môi trường
7 Cơ quan tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở có trách nhiệm gửi kết quả thẩm định thiết kế cơ sở tới đơn vị đầu mối thẩm định dự án Thời gian thẩm
định thiết kế cơ sở không quá 30 ngày làm việc đối với dự án quan trọng quốc gia, 20 ngày làm việc đối với dự án nhóm A, 15 ngày làm việc đối với dự án
Trang 30nhóm B và 10 ngày làm việc với dự án nhóm C, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp
Quản lý dự án đầu tư là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép Mục tiêu của quản lý dự án được mô tả về mặt toán học theo công thức C = f(P, T, S) Trong đó, C là chi phí, P
là mức độ hoàn thành công việc, T là thời gian thực hiện, S là phạm vi dự án
Công thức trên cho thấy, chi phí của dự án tăng lên khi chất lượng hoàn thiện công việc tốt hơn, thời gian kéo dài thêm và phạm vi dự án được mở rộng Nếu thời gian thực hiện dự án bị kéo dài, gặp trường hợp giá nguyên vật liệu tăng cao sẽ phát sinh tăng chi phí, dẫn đến tình trạng làm việc kém hiệu quả do công nhân mệt mỏi và chờ đợi, thời gian máy chết tăng theo, chi phí lãi vay ngân hàng tăng, chi phí cho bộ phận gián tiếp tăng Ba mục tiêu quản lý
dự án đầu tư có quan hệ chặt chẽ với nhau
Quản lý dự án là một dạng đặt biệt trong hoạt động quản lý Giữa các hoạt động sản xuất liên tục trong các doanh nghiệp và quản lý dự án có nhiều
điểm giống nhau và đều dựa trên những nguyên tắc quan trọng và các phương pháp của khoa học quản lý (như: phương pháp phân tích hệ thống, phương
Trang 31]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
pháp quản lý theo mục tiêu, phương pháp quản lý tối thiểu hoá chi phí, phương pháp phân bố đều nguồn lực) Tuy nhiên, có nhiều điểm khác nhau:
- Phương pháp quản lý dự án: theo mục tiêu cần đạt, thường ứng dụng trong việc lập kế hoạch và giám sát dự án; Tối thiểu hóa chi phí được sử dụng
để rút ngắn thời gian thực hiện dự án; Phân bố đều nguồn lực trong một thời
kỳ sao cho chi phí là tiết kiệm nhất mà vẫn đảm bảo thời gian hoàn thành
- Đặc điểm của quản lý dự án: tổ chức quản lý dự án là một tổ chức tạm thời, được hình thành để phục vụ dự án trong một thời gian hữu hạn, quản lý rủi ro một cách thường xuyên, quản lý nhiều sự thay đổi, quản lý nhân sự giữ
vị trí quan trọng trong quản lý dự án, Lựa chọn mô hình tổ chức phù hợp sẽ có tác dụng phân rõ trách nhiệm và quyền lực trong quản lý dự án, đảm bảo thực hiện thành công dự án
Bảng 1.1 Trình bày những điểm khác nhau chủ yếu giữa quá trình sản xuất liên tục với hoạt động phát triển và quản lý dự án
Bảng 1.2 Trình bày tóm tắt những lĩnh vực quản lý chính của công tác quản lý dự án đầu tư
Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa quản lý sản xuất và quản lý dự án đầu tư Quá trình quản lý sản xuất Quản lý dự án
Nhiệm vụ có tính lặp lại liên tục Nhiệm vụ luôn có tính chất mới mẻ
Tỷ lệ sử dụng nguồn lực thấp Tỷ lệ sử dụng nguồn lực cao
Thời gian tồn tại của các doanh
nghiệp là lâu dài
Thời gian tồn tại của dự án, Ban quản lý
dự án là có giới hạn Các số liệu thống kê sẵn có và
hữu ích đối với việc ra quyết định
Các số liệu thống kê ít có nên không được
sử dụng nhiều trong các quyết định về dự
án
Trang 32Tổ chức theo tổ nhóm là phổ biến Nhân sự mới cho mỗi dự án
Không quá tốn kém khi chuộc lại
sai lầm
Phải trả giá đắt cho các quyết định sai lầm
Trách nhiệm rõ ràng và được điều
chỉnh qua thời gian
Phân chia trách nhiệm thay đổi tuỳ thuộc vào tính chất của từng dự án
Môi trường làm việc tương đối ổn
• Quản lý thay đổi
Quản lý thời gian
• Đảm bảo chất lượng
• Quản lý chất lượng
Quản lý nhân lực
• Lập kế hoạch nhân lực
• Tuyển dụng
• Quản lý lương, thưởng
Trang 33]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^]^
Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
Chu kỳ dự án: thời gian thực hiện dự án dài và có độ bất định nên các tổ chức thường chia dự án thành một số giai đoạn để quản lý thực hiện Mỗi giai
đoạn được đánh dấu bởi việc thực hiện một hoặc nhiều công việc Tổng hợp các giai đoạn này được gọi là chu kỳ của dự án Chu kỳ dự án xác định thời
điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc và thời hạn thực hiện dự án, xác định những công việc nào sẽ được thực hiện trong từng giai đoạn và ai sẽ tham gia thực hiện Chu kỳ của một dự án công nghiệp thường được chia thành 4 giai đoạn như trình bày trên hình 1.1
Nguồn lực
Xây dựng
ý tưởng
Giai đoạn phát triển
Giai đoạn triển khai
Giai đoạn kết thúc
Hình 1.1: Các giai đoạn của chu kỳ dự án
Trang 34Quản lý dự án bao gồm ba nội dung chủ yếu thể hiện trên hình 1.2:
Hình 1.2: Chu trình quản lý dự án đầu tư
1.6 Các mô hình tổ chức thực hiện Quản lý dự án
Theo các quy định hiện hành của Việt Nam và thông lệ quốc tế thì, căn
cứ vào điều kiện năng lực của cá nhân, tổ chức và căn cứ vào yêu cầu của dự
án đầu tư, có thể chia hành thức tổ chức quản lý dự án đầu tư thành hai nhóm chính là:
- Hình thức Chủ đầu tư trực tiếp thực hiện quản lý dự án
- Hình thức thuê tư vấn quản lý dự án (gồm mô hình Chủ nhiệm điều hành dự án và mô hình chìa khóa trao tay)
1.6.1 Mô hình Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án là hình thức tổ chức quản lý
dự án đầu tư mà Chủ đầu tư tự thực hiện dự án (tự sản xuất, tự xây dựng, tự tổ chức giám sát và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật) hoặc Chủ đầu tư lập ra Ban Quản lý dự án để quản lý việc thực hiện các công việc của dự án theo sự
Điều phối thực hiện
• Bố trí tiến độ thời gian
• Phân bố nguồn lực
• Phối hợp các hoạt
động
• Khuyến khích động viến
Trang 35Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
ủy quyền của Chủ đầu tư Mô hình này được thể hiện trong hình 1.3 Hình thức Chủ đầu tư tự thực hiện dự án thường áp dụng cho dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản, gần với chuyên môn của Chủ đầu tư, Chủ đầu tư có đủ năng lực chuyên môn và kinh nghiệm để quản lý Trường hợp Chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án thì Ban quản lý dự án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
và Chủ đầu tư về nhiệm vụ và quyền hạn được giao Ban quản lý dự án được
đồng thời quản lý nhiều dự án khi có đủ năng lực và được Chủ đầu tư cho phép, nhưng không được thành lập các Ban trực thuộc
Hình 1.3: Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
1.6.2 Mô hình thuê tư vấn quản lý dự án
- Mô hình Chủ nhiệm điều hành dự án: là mô hình tổ chức quản lý trong
đó Chủ đầu tư giao cho Ban quản lý dự án chuyên ngành hoặc thuê một tổ chức tư vấn quản lý có đủ điều kiện, năng lực chuyên môn phù hợp với quy mô, tính chất của dự án làm Chủ nhiệm điều hành, quản lý thực hiện dự án Chủ nhiệm điều hành dự án là một pháp nhân độc lập, có năng lực, sẽ là người quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ quá trình thực hiện dự án Mọi quyết định chủ đầu tư liên quan đến quá trình thực hiện
dự án sẽ được triển khai thông qua tổ chức quản lý dự án Mô hình tổ chức này
áp dụng cho những dự án quy mô lớn, kỹ thuật sâu, như hình 1.4
Trang 36Hình 1.4: Mô hình tổ chức Chủ nhiệm điều hành dự án
Hình 1.5: Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khoá trao tay
- Mô hình chìa khóa trao tay: Mô hình tổ chức dự án dạng chìa khóa trao tay là hình thức tổ chức, trong đó Ban quản lý dự án không chỉ là đại diện toàn quyền của Chủ đầu tư mà còn là “chủ “ của dự án Hình thức tổ chức quản lý dự án dạng chìa khoá trao tay cho phép tổ chức đấu thầu, lựa chọn tổng thầu để thực hiện toàn bộ dự án Khác với hình thức Chủ nhiệm điều hành dự án, giờ đây mọi trách nhiệm thực hiện dự án được giao cho Ban quản
lý dự án và họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với việc quản lý dự
án Ngoài ra, là tổng thầu, Ban quản lý dự án không chỉ được giao toàn quyền
Tổng thầu thực hiện toàn bộ dự án
Chủ đầu tư
Trang 37Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
thực hiện dự án mà còn được phép thuê thầu phụ để thực hiện từng phần việc trong dự án đã trúng thầu Trường hợp này bên nhận thầu không phải là một cá nhân mà phải là một tổ chức quản lý dự án chuyên nghiệp Mô hình tổ chức
dự án chìa khoá trao tay được thể hiện trên hình 1.5
1.6.3 Những căn cứ để lựa chọn mô hình tổ chức quản lý dự án
Theo đặc điểm các mô hình quản lý các dự án đầu tư đã nêu trong các mục 1.6.1 và 1.6.2 nêu trên, theo thông lệ quốc tế và quy định hiện hành của Việt Nam, ta có thể đưa ra các căn cứ để lựa chọn mô hành tổ chức quản lý dự
án như sau:
a) Căn cứ vào điều kiện, năng lực của Chủ đầu tư:
- áp dụng hình thức thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án khi chủ đầu tư xây dựng công trình không đủ điều kiện năng lực;
- áp dụng hình thức Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án khi chủ đầu tư xây dựng công trình có đủ điều kiện năng lực về quản lý dự án
b) Căn cứ vào quy mô tổng mức đầu tư của dự án
- Đối với trường hợp Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án:
+ Thành lập Ban quản lý dự án với các dự án có tổng mức đầu tư trên 1
tỷ đồng
+ Không nhất thiết thành lập Ban quản lý dự án đối với các dự án còn lại
- Đối với trường hợp thuê tư vấn quản lý dự án: Tổ chức tư vấn quản lý
dự án có thể hoặc không cần thành lập Ban quản lý dự án, nhưng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về các nội dung đã cam kết trong hợp đồng Tư vấn quản lý dự án phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây
ra trong quá trình quản lý dự án Tư vấn quản lý dự án phải chịu trách nhiệm
về các hoạt động quản lý dự án tại công trường xây dựng
Trang 381.7 Đánh giá hiệu quả trong quản lý dự án đầu tư XDCB
Về cơ bản hiêu quả của việc quản lý dự án xây dựng cơ bản được xem xét trên các tiêu chí sau:
+ Sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động và các tiềm năng khác, bảo vệ môi trường sinh thái, chống tham ô, lãng phí trong sử dụng vốn đầu tư XDCB và khai thác tốt các kết quả của quá trình đầu tư
+ Đảm bảo cho quá trình thực hiện dự án đầu tư XDCB đúng quy hoạch và thiết kế được duyệt, đảm bảo bền vững và mỹ quan, áp dụng công nghệ xây dựng tiên tiến, đảm bảo chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý
Dựa vào các tiêu chí cơ bản trên, ta có thể đánh giá hiêu quả qua các giai đoạn của dự án:
- Giai đoạn lập dự án là quá trình xây dựng các phương án đầu tư nhằm
thực hiện các mục tiêu đã định trong chiến lược và quy hoạch Hiệu quả của các dự án được thể hiện ở hiệu quả tuyệt đối (mức độ sử dụng các nguồn lực của dự án) và hiệu quả so sánh hay hiệu quả cơ hội (mức độ hiệu quả của việc thực hiện dự án này so với các dự án khác bị bỏ qua) Dự án đầu tư khả thi sẽ
là cơ sở quan trọng đánh giá hiệu quả đầu tư XDCB
- Giai đoạn thẩm định dự án đầu tư là quá trình xác định nội dung các
hạng mục đầu tư và tổng dự toán Hiệu quả các dự án được thể hiện ở thời gian thẩm định, tạo cơ hội cho đầu tư với chi phí cho công tác thẩm định phù hợp
- Giai đoạn đầu tư xây dựng cơ bản: giai đoạn này bao gồm các công
việc chính là lập kế hoạch đấu thầu, đấu thầu, giải phóng mặt bằng, thực hiện
đầu tư (thực hiện thầu hoặc tự thực hiện) Đây là giai đoạn sử dụng vốn nhiều nhất Hiệu quả đầu tư XDCB phụ thuộc nhiều vào giai đoạn này Hiệu quả sẽ
Trang 39Nguyễn Minh Tuấn, Lớp QTKD 2008-2010
bị giảm nếu vốn đầu tư bị thất thoát hoặc quá trình đầu tư bị kéo dài dẫn đến tồn đọng vốn, mất thời cơ của dự án
Mỗi quyết định trong từng giai đoạn đều ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư Do vậy cần xác định ảnh hưởng của từng quyết định đến hiệu quả cuối cùng của dự án Nếu các yêu cầu của dự án vẫn đảm bảo, so sánh số vốn đầu tư thực hiện với tổng vốn đầu tư đã dự kiến cho dự án có thể đánh giá hiệu quả
đầu tư XDCB
Cuối cùng, thực trạng hoạt động của dự án sẽ là cơ sở để đánh giá hiệu
quả đầu tư nói chung và đầu tư XDCB nói riêng khi dự án đưa vào vận hành sử dụng
+ Giám sát tiến độ thực hiện dự án đầu tư: Thực hiện tốt công tác giám
sát tiến độ thực thực hiện dự án đầu tư XDCB giúp các cơ quan quản lý đầu tư cũng như các chủ dự án đẩy nhanh tiến độ đầu tư; kịp thời phát hiện, ngăn chặn những hành vi gây lãnh phí, thất thoát vốn đầu tư của nhà nước, có kiến nghị để xử lý kịp thời những sai phạm Đồng thời tăng cường công tác giám sát của cộng đồng đối với các công trình xây dựng trên địa bàn nhằm mục
đích đưa dự án phát huy hiệu quả cao khi hoàn thành và đưa vào sử dụng
+ Đánh giá hiệu quả thực hiện dự án đầu tư: Đánh giá hiệu quả thực
hiện dự án đầu tư XDCB tiến hành thông qua hiệu quả kinh tế, tài chính và xã hội Tuy nhiên, khả năng thu thập thông tin về các chỉ số đánh giá các hiệu quả trên chưa đồng bộ, quan hệ giữa chi phí và kết quả đầu tư phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Trang 40Kết Luận Chương I
Trong Chương I, tác giả đã trình bày lý thuyết chung về dự án, về đầu tư, dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư, từ đó đi sâu vào các khái niệm về dự
án đầu tư xây dựng cơ bản Theo đó, đặc biệt chú ý tới vấn đề quản lý dự án
đầu tư Trên cơ sở vận dụng kiến thức từ Chương này để từ đó đánh giá được trình độ quản lý dự án đầu tư XDCB của TP Hà Nội, làm cơ sở cho việc hoạch
định các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dự án đầu XDCB tư ngân sách TP Hà Nội