Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy LỜI CẢM ƠN Sau 6 tháng nỗ lực thực hiện, nghiên cứu và học tập, luận văn với đề tài “Các biện pháp thu hút dòng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGUYỄN THU THỦY
ĐỀ TÀI: CÁC BIỆN PHÁP THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI (FII) VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGÔ TRẦN ÁNH
HÀ NỘI - 2010
Trang 2Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
LỜI CẢM ƠN
Sau 6 tháng nỗ lực thực hiện, nghiên cứu và học tập, luận văn với đề tài “Các
biện pháp thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) vào thị trường chứng khoán Việt Nam” đã hoàn thành Ngoài sự cố gắng hết mình của bản thân ,
em đã nhận được rất nhiều sự khích lệ từ nhà trường, thầy cô, gia đình và bạn bè
Em xin cảm ơn các thầy cô trường Đại học Bách khoa Hà nội đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập Đặc biệt, em xin bày
tỏ lòng chân thành sâu sắc đến thầy giáo TS Ngô Trần Ánh đã tận tình hướng dẫn
em trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp
Trân trọng!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thu Thủy
Trang 3
Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 7
PHẦN MỞ ĐẦU 8
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 12
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 12
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) .12
1.1.2 Chức năng của thị trường chứng khoán .13
1.1.3 Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán .15
1.1.4 Phân loại thị trường chứng khoán .17
1.2 THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN (FII) 18
1.2.1 Khái niệm về dòng vốn đầu tư nước ngoài 18
1.2.2 Hình thức tham gia của chủ thể dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài - Nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán .22
1.2.3 Vai trò của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với sự phát triển thị trường chứng khoán .23
1.2.4 Tác động của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 25
1.2.5 Sự cần thiết của việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán 29
1.2.6 Chính sách chung trong hoạt động thu hút vốn đầu tư gián tiếp 30
1.2.7 Kinh nghiệm thúc đẩy dòng vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK của một số nước Châu Á .32
1.2.7.1 Thái Lan – Quan điểm “khuyến khích dòng vốn gián tiếp” 33
1.2.7.2 Trung Quốc – Quan điểm “hạn chế dòng vốn gián tiếp” 34
1.2.7.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia khác 38
1.2.8 Một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam .41
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI (FII) VÀO TTCK VIỆT NAM 44 2.1 THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM SAU 10 NĂM ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG .44
2.1.1 Toàn cảnh hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam .44
Trang 4Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
2.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý và khung pháp lý điều chỉnh tạo cơ sở cho thị
trường vận hành 53
2.1.3 Chính sách thu hút và phát triển dòng vốn gián tiếp trên TTCK Việt Nam và việc mở cửa cho các dòng vốn đầu tư nước ngoài theo cam kết sau khi gia nhập WTO 59
2.1.4 Tiềm năng thu hút dòng vốn FII vào Việt Nam sau khi gia nhập WTO .61
2.2 THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ TRIỂN KHAI DÒNG VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TTCK VIỆT NAM 64 2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển dòng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam 64 2.2.2 Các làn sóng FII tại Việt Nam 69
2.2.3 Một số định chế đầu tư nước ngoài chủ yếu trên TTCK Việt Nam .72
2.2.4 Quy trình chuyển vốn của nhà đầu tư nước ngoài .75
2.2.5 Tác động của việc thu hút dòng vốn FII đối với thị trường chứng khoán Việt Nam 76
2.2.5.1 Tác động tích cực 76
2.2.4.2 Tác động tiêu cực 79
2.2.6 Những nguy cơ từ việc thu hút dòng vốn FII đối với TTCK Việt Nam .81
2.2.7 Những kết quả đạt được 82
2.2.8 Những hạn chế của việc thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường chứng khoán Việt Nam 85
2.2.8.1 Hạn chế của thị trường chứng khoán 85
2.2.8.2 Hạn chế của dòng vốn đầu tư nước ngoài trong đầu tư chứng khoán 88
2.2.9 Nguyên nhân dẫn đến các hạn chế 89
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP THU HÚT DÒNG VỐN GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM .99
3.1 ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT VÀ PHÁT TRIỂN DÒNG VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO TTCK VIỆT NAM 99
3.1.1 Nhu cầu về vốn đầu tư nước ngoài 99
3.1.2 Cơ hội và những thách thức cho sự phát triển ổn định của dòng vốn FII vào TTCK Việt Nam sau khi gia nhập WTO 100
3.1.2.1 Những cơ hội 100
3.1.2.2 Những thách thức lớn 101
3.2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP THU HÚT DÒNG VỐN FII VÀO TTCK VIỆT NAM .102
3.2.1 Thực hiện chính sách mở cửa thu hút vốn gián tiếp hiệu quả 102
Trang 5Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
3.2.2 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, điều chỉnh hoạt động của nhà đầu tư nước
ngoài 103
3.2.3 Kiện toàn cơ chế quản lý vốn đầu tư gián tiếp theo hướng phân công rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ chế phối hợp, hợp tác giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong công tác quản lý vốn đầu tư gián tiếp 104
3.2.4 Ban hành và điều chỉnh các chính sách ưu đãi đầu tư (ưu đãi về thuế, chuyển lỗ ) đối với đầu tư hoạt động đầu tư gián tiếp mà nhà đầu tư gián tiếp có thời hạn đầu tư dài .106
3.2.5 Tăng cường tính minh bạch của TTCK và các doanh nghiệp cổ phần 107
3.2.6 Tăng cung chứng khoán cho thị trường về số lượng, chất lượng và chủng loại, thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa và niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đối với các doanh nghiệp nhà nước, cụ thể: 108
3.2.7 Thúc đẩy thành lập các định chế, các quỹ đầu tư nước ngoài, quỹ đầu tư có vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài .108
3.2.8 Xếp hạng tín nhiệm để thu hút đầu tư 109
3.2.9 Tăng cường an ninh của hệ thống tài chính 111
3.2.10 Các biện pháp khác .111
3.3 KIẾN NGHỊ 113
3.3.1 Với UBCKNN (Bộ Tài chính) .113
3.3.2 Với Ngân hàng Nhà nước 114
KẾT LUẬN 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116 PHỤ LỤC
Trang 6Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CPH Cổ phần hóa
SGDCK Sở giao dịch chứng khoán
ty đại chúng chưa niêm yết
Trang 7Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1- Hoạt động giao dịch của các NĐTNN tại Sở GDCK TP.HCM 66
giai đoạn 2001-2009 66
Bảng 2.2- Tỷ trọng quy mô giao dịch của NĐTNN tại Sở GDCK 67 TP HCM giai đoạn 2001-2009 67
Bảng 2.3- Quy mô dòng vốn đầu tư gián tiếp giai đoạn 2001-2009 68
Bảng 2.4- Tỷ lệ FII/FDI giai đoạn 2001-2009 68
Bảng 2.5- Số liệu về nhà ĐTNN và dòng vốn FII 2005 - 2009 78
Trang 8Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1- Sơ đồ cấu trúc của thị trường chứng khoán 18
Hình 2.1 Mô hình giao dịch chứng khoán SGDCK TP.HCM 46
Hình 2.2 Hệ thống máy chủ và lưu trữ tại TTLK và Chi nhánh 51
Hình 2.3 Mô hình kết nối tổng thể của Hệ thống mạng của TTLK 52
Hình 2.4 Sơ đồ kết nối Logic tại Trụ sở chính 52
Hình 2.5 Sơ đồ Logic hệ thống BackUp Site tại Chi nhánh 53
Trang 9Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Một trong những mục tiêu chủ yếu của Đảng và Nhà nước ta khi xây dựng thị trường chứng khoán là nhằm tạo ra một kênh huy động vốn trung và dài hạn mới nhằm phục vụ cho tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, trong đó có mục tiêu huy động vốn từ bên ngoài Nhìn chung, các luồng vốn đầu tư nước ngoài luôn là động lực mạnh mẽ cho phát triển và tăng trưởng tại các nền kinh tế đang phát triển Ở bình diện quốc gia, đầu tư gián tiếp nước ngoài mang đến nguồn tài chính hiệu quả cho nền kinh tế đang thiếu vốn, bù đắp khoản thiếu hụt giữa đầu tư
và tiết kiệm quốc gia Khi một quốc gia mở cửa đối với nguồn vốn đầu tư gián tiếp này thì đầu tư trong nước không cần phải dựa hoàn toàn vào nguồn tiết kiệm trong nước Đối với thị trường chứng khoán, các luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài góp phần tăng cường độ sâu cho thị trường, góp phần nâng cao các tiêu chuẩn công
bố thông tin, tạo ra một cơ sở hạ tầng tài chính tốt hơn, và loại bỏ tình trạng thông tin không cân xứng
Tuy nhiên, bài học từ một số cuộc khủng hoảng tài chính đã xảy ra cho thấy việc huy động vốn thông qua TTCK cũng tiềm ẩn yếu tố rủi ro Cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997 là bài học có giá trị thực tiễn gần đây nhất về việc nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các quỹ đầu tư ồ ạt bán chứng khoán, rút tiền ra khỏi thị trường tài chính của một số nước châu Á đẩy những quốc gia này lâm vào thế bị khủng hoảng và tình cảnh nợ nần Do đó, việc thúc đẩy phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài cũng như quản lý rủi ro liên quan là hai mặt của một vấn đề luôn thách thức các nhà lập chính sách và quản lý vĩ mô Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán (TTCK) đã hình thành và phát triển sang năm thứ 10, mối quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài tới TTCK Việt Nam ngày một tăng thể hiện bằng sự tham gia và số lượng vốn đầu tư trên thị trường Qua đó, hình ảnh của Việt Nam ngày càng trở nên hấp dẫn trong con mắt các nhà đầu tư nước ngoài Dù vậy, dường như vẫn có những trở ngại đối với sự hiện diện ngày càng tăng của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài khi mà Việt Nam đã bước
Trang 10Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
vào sân chơi của kinh tế khu vực và thế giới bằng những cam kết gia nhập WTO, BTA cũng như các cam kết thương mại tự do khác, và tiếp nhận mức ảnh hưởng lan rộng từ các thị trường tài chính khác trên thế giới vào Những lực cản này gồm quan điểm lo ngại việc tham gia của nhà đầu tư nước ngoài mà nhất là của các nhà đầu tư
tổ chức sẽ ít nhiều gây bất ổn tiềm tàng cho thị trường tài chính Việt Nam vốn dĩ còn nhỏ bé và non trẻ; các chính sách và khung pháp lý còn chưa rõ ràng và bất cập với bước tiến nhanh chóng của dòng vốn đầu tư gián tiếp theo sự hưng thịnh của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; cũng như những yếu tố bên trong của thị trường tài chính trong nước như quy mô còn nhỏ, công cụ còn thiếu và chưa đa dạng, tính công khai minh bạch của thị trường còn thấp, công tác giám sát và quản
lý vẫn chưa theo kịp với sự phát triển chung, hệ thống các tổ chức trung gian hỗ trợ thị trường còn những hạn chế về năng lực, trình độ hiểu biết của nhà đầu tư trong nước, cơ sở hạ tầng còn chưa hiện đại… và nhất là từ phía các công ty cổ phần, doanh nghiệp Nhà nước đang trong tiến trình cổ phần hóa
Nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế quốc dân trong vai trò là một kênh cấp vốn đầu tư cho các doanh nghiệp triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu đầu tư phát triển, xuất phát từ những diễn biến thực tế trên thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian gần đây, tôi đã lựa chọn, nghiên cứu đề tài: “Các biện pháp thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) vào thị trường chứng khoán Việt Nam”
2 Lịch sử nghiên cứu
- Tình hình nghiên cứu ngoài nước: Một số nghiên cứu của tổ chức nước
ngoài đã đề cập đến công tác hoạch định và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, các cơ sở lý luận về thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài áp dụng cho hoàn cảnh của Việt Nam thì hầu như không đáng kể vì mỗi nước có những đặc điểm riêng về điều kiện kinh tế, an ninh, chính trị, xã hội và mục tiêu phát triển trong thời gian ngắn hạn và dài hạn Do vậy, chúng ta phải hết sức thận trọng trước những khuyến nghị của nước ngoài liên quan đến thu hút và kiểm soát
vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
Trang 11Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
- Tình hình nghiên cứu trong nước: Cho đến nay đã có một số đề tài nghiên
cứu về thu hút và quản lý vốn đầu tư nước ngoài, tuy nhiên mới chỉ nghiên cứu tập trung vào việc khuyến khích thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Một số nghiên cứu có đề cập đến vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài nhưng mới chỉ ra được sự cần thiết khách quan của việc thu hút và quản lý vốn đầu tư gián tiếp mà chưa đánh giá cụ thể được tác động của dòng vốn này cũng như các biện pháp áp dụng cho
Việt Nam trong việc thu hút và kiểm soát luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
3 Mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu và nhận diện cơ chế quản lý dòng vốn đầu
tư gián tiếp theo hướng tận dụng tối đa những ảnh hưởng tích cực của dòng vốn này, đồng thời giảm thiểu những rủi ro, ảnh hưởng tiêu cực của chúng Từ đó đề xuất một số biện pháp thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào TTCK Việt Nam
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng triển khai của dòng
vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam; nghiên cứu các chính sách đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, hoạt động chu chuyển vốn của nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK Việt Nam;
Nghiên cứu một số bài học kinh nghiệm quốc tế về việc thu hút vốn gián tiếp nước ngoài tại các quốc gia đã trải qua khủng hoảng tài chính và hệ thống tài chính, các chính sách kinh tế vĩ mô của các quốc gia đó thời kỳ trước khủng hoảng tài chính, qua đó rút ra bài học cho Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn từ khi có
sự xuất hiện của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam cho đến hết năm 2009
4 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và các đóng góp mới của tác giả
Thông qua việc phân tích hoạt động chu chuyển vốn thực tế và nghiên cứu kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư gián tiếp của một số nước, luận văn đã tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, luận văn đã trình bày rõ cơ sở lý luận về TTCK và thu hút dòng
vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào TTCK: chức năng của TTCK là gì, các hình
Trang 12Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
thức đầu tư nước ngoài, vai trò và tác động của vốn đầu tư gián tiếp đối với sự phát triển của TTCK, chính sách chung và kinh nghiệm quốc tế trong hoạt động thu hút vốn đầu tư gián tiếp vào TTCK
Thứ hai, luận văn đã phân tích, mô tả thực trạng thu hút dòng vốn đầu tư gián
tiếp nước ngoài vào TTCK Việt Nam Trên cơ sở phân tích đó, thực hiện đánh giá
về kết quả, những hạn chế còn tồn tại và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến các hạn chế
đó, từ đó đưa ra những nhận xét dựa trên cơ sở lý luận đã nêu
Thứ ba, trên cơ sở nhận dạng được những hạn chế hiện nay trong hoạt động
và chính sách thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam, đề tài đã đưa ra một số đề xuất để thúc đẩy hoạt động thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào TTCK Việt Nam Những giải pháp đưa ra được giải quyết đồng bộ trên nhiều phương diện, đồng thời luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị để đảm bảo có thể thực thi các giải pháp đó
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như tổng hợp, phân tích, so sánh, nghiên cứu tài liệu… trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và lịch sử để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
6 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục hỗ trợ liên quan, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán và thu hút dòng vốn đầu tư
nước ngoài trên thị trường chứng khoán
Chương 2: Thực trạng thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) vào thị
trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Các giải pháp thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị
trường chứng khoán Việt Nam
Trang 13Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK)
Giữa thế kỷ XV ở Tây phương, tại những thành phố trung tâm buôn bán, các thương gia thường tụ tập lại các quán café để bàn bạc về việc mua bán, trao đổi các loại hàng hóa (chủ yếu là nông sản, khoáng sản), ngoại tệ Những cuộc bàn bạc nhỏ này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số người gia tăng rồi hình thành một
“khu chợ riêng”
Cuối thế kỷ XV, “khu chợ riêng” hình thành một thị trường, tại nơi này các thương gia thống nhất với nhau những quy ước cho các cuộc thương lượng Dần dần những quy ước đó được sửa đổi hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc chung Khi giao lưu kinh tế ngày một phát triển thì những phiên chợ cách nhau
cả tháng không còn phù hợp, vì vậy thời gian đã được rút xuống hằng tuần và sau
đó là hàng ngày
Phiên chợ riêng được diễn ra lần đầu năm 1453 tại một lữ điếm của gia đình Vanber ở thành phố Bruges (Bỉ) tại lữ điếm Vanber có một bảng hiệu hình ba túi da với một từ tiếng Pháp “Bourse” tức là “Mậu dịch trường” hay còn gọi là “Sở giao dịch” “Mậu dịch trường” là một bảng hiệu chung, ba túi da tượng trưng cho ba nội dung của “Mậu dịch trường”: Mậu dịch trường hàng hóa, Mâu dịch trường ngoại tệ
và Mậu dịch trường giá khoán động sản
Lần đầu tiên vào năm 1531 ở (Bỉ) đã triển khai các nghiệp vụ về chứng khoán (mua, bán các khoản nợ của chính phủ Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp) Sau đó, theo hình mẫu của TTCK Antwerpen, người ta đã thành lập các TTCK
ở Lyon (1545), London (1566)… vào năm 1806, TTCK được lập tại Amsterdam (Hà Lan) Ở đây, loại chứng khoán bắt đầu được định giá không chỉ bao gồm trái phiếu, công trái quốc gia mà còn cả cổ phần của các hãng thương mại Hà Lan, Tây Ấn,
Trang 14Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
Đông Ấn Vào thế kỷ XVIII, TTCK Amsterdam đã có 44 loại chứng khoán (cổ phiếu
và trái phiếu), cho đến ngày nay Sở Giao dịch chứng khoán Amsterdam vẫn giữ được tính chất một thị trường tổng hợp: thị trường vốn, thị trường tiền tệ
Từ thời điểm lịch sử đó, TTCK đã ra đời và phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước châu Âu khác như Anh, Đức, Pháp, sau đó lan rộng ra nhiều nước khác trên thế giới Đến thế kỷ XIX, TTCK mới hình thành tại nước Mỹ với sự khai trương của SGDCK NewYork, nhưng rồi nó đã nhanh chóng chiếm một vị trí quan trọng nhất trong số các thị trường của thế giới Tại châu Á, SDGCK Tokyo ở Nhật Bản là thị trường có quy mô lớn thứ hai trên thế giới, cùng với các SGDCK cỡ lớn như London, Paris, Frankfurt, Singapore
Cho đến nay TTCK đã được thiết lập ở hầu khắp các nước có nền kinh tế thị trường và nó ngày càng khẳng định vai trò quan trọng, gắn liền với sự phát triển kinh tế, đơn giản là vì không một quốc gia có nền kinh tế phát triển nào lại không có
sự hiện diện của TTCK
Tại Việt Nam, sau hơn 10 năm thực hiện quá trình “đổi mới” sang nền kinh
tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì xuất hiện của thị trường chứng khoán vào tháng 7/2000 là một tất yếu phù hợp khi nước ta ngày càng hội nhập sâu vào kinh tế thế giới
TTCK (Securities Market) là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế của hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các loại cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh - hợp đồng tương lai, quyền chọn, bảo chứng phiếu, chứng quyền
TTCK là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế, do đó có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung Mặt khác, TTCK là một thị trường vốn cao cấp, nơi tập trung nhiều đối tượng tham gia với các mục đích, sự hiểu biết và lợi ích khác nhau; các giao dịch các sản phẩm tài chính được thực hiện với giá trị rất lớn
1.1.2 Chức năng của thị trường chứng khoán
TTCK đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp, TTCK là nơi mà người
Trang 15Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
mua và người bán gặp gỡ để giao dịch mua, bán các chứng khoán TTCK thể hiện các chức năng quan trọng trong phát triển kinh tế như sau:
- Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: TTCK là cầu nối vô hình kết nối giữa
người thừa vốn và người có nhu cầu vốn, tận dụng được những nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển vào hoạt động sản xuất kinh doanh TTCK đã tạo ra một
cơ chế luân chuyển các nguồn vốn này thông qua việc các công ty phát hành chứng khoán và công chúng mua, bán chứng khoán Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán
do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của công ty, TTCK đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Cũng thông qua TTCK, Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội
- Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công
chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội phong phú Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn cho loại hàng hóa phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình Chính vì vậy, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia
- TTCK thực hiện chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng
khoán Thông qua TTCK, các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi chứng khoán
thành tiền hay các loại chứng khoán khác bất cứ khi nào họ muốn Hoạt động của TTCK luôn diễn ra liên tục với khối lượng giao dịch lớn sẽ tạo ra tính thanh khoản cao cho chứng khoán mà điều này lại có ý nghĩa lớn trong việc hấp dẫn đầu tư
- Chức năng đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình kinh tế: TTCK là nơi
đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình kinh tế một cách tổng hợp và chính xác thông qua các chỉ số chứng khoán Ở những quốc gia có TTCK phát triển ở trình độ cao, người ta hay ví von “TTCK là hàn thử biểu của nền kinh tế” vì khi TTCK phát
Trang 16Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
triển ổn định, chỉ số chứng khoán tăng trưởng đều đặn thì có nghĩa là nền kinh tế của nước đó đang phát triển cường thịnh
- Giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô: các chỉ báo của
TTCK phản ảnh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác Giá các loại chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng;
và ngược lại, giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế
Do đó, TTCK là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chinh sách kinh tế vĩ mô Thông qua TTCK, Chính phủ có thể phát hành trái phiếu Chính phủ
để tạo ra những nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát Ngoài
ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế
1.1.3 Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Các tổ chức và cá nhân tham gia trên TTCK có thể chia thành ba nhóm sau:
Nhà phát hành: Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông
qua TTCK Nhà phát hành là người cung cấp chứng khoán - hàng hóa của TTCK, gồm:
+ Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương
+ Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
+ Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu, chứng chỉ thụ hưởng… phục vụ cho hoạt động của họ
Trang 17Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
nhà đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của mình
+ Các nhà đầu tư tổ chức: hay còn gọi là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Các tổ chức này thường có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư
Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp chính trên thị trường là các công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác Đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư có ưu điểm nổi bật là có thể đa dạng hóa các danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được tiến hành bởi các chuyên gia có kinh nghiệm
+ Công ty chứng khoán (CTCK): CTCK là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, bảo lãnh phát hành, tự doanh, quản lý quỹ đầu tư, tư vấn đầu tư
và quản lý lưu ký chứng khoán…
Để có thể thực hiện từng nghiệp vụ nói trên, các công ty chứng khoán phải đảm bảo có một số vốn điều lệ nhất định và có giấy phép của cơ quan chức năng có thẩm quyền
Các tổ chức quản lý điều hành TTCK:
+ Ủy ban chứng khoán:
Cơ quan này có thể được gọi dưới nhiều cái tên khác nhau, tùy từng quốc gia Nó được thành lập để thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với TTCK
+ Sở Giao dịch chứng khoán:
Nơi này thực hiện vận hành thị trường thông qua bộ máy tổ chức gồm nhiều
bộ phận khác nhau các công việc trên Sở giao dịch chứng khoán Ngoài ra, Sở giao dịch chứng khoán cũng ban hành các quy định điều chỉnh những hoạt động chứng khoán trên Sở phù hợp theo quy định luật pháp và của Ủy ban chứng khoán
+ Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán: là tổ chức của các công ty chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán, được
Trang 18Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung
+ Các tổ chức khác có liên quan: tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, công ty đánh giá hệ số,…
1.1.4 Phân loại thị trường chứng khoán
a) Căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, TTCK bao gồm:
- Thị trường sơ cấp: Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành
Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành
Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem lại vốn cho người phát hành Là thị trường tạo vốn cho các đơn vị phát hành và đồng thời cũng tạo ra hàng hóa cho thị trường giao dịch
- Thị trường thứ cấp: Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành
trên thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành
Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không phải thuộc
về nhà phát hành Giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán do cung và cầu quyết định
Thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể mua đi và bán lại các loại chứng khoán nhiều lần
b) Căn cứ vào phương thức hoạt động của thị trường
Thị trường chứng khoán được phân thành thị trường tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) và phi tập trung (thị trường OTC), trong đó thị trường OTC là thị trường có tổ chức dành cho những chứng khoán không niêm yết trên Sở/Trung tâm giao dịch chứng khoán, thị trường này không có địa điểm giao dịch chính thức, thay vào đó các nhà môi giới (công ty chứng khoán) kết nối những giao dịch thông qua mạng máy tính diện rộng giữa các công ty chứng khoán và trung tâm quản lý hệ thống
Trang 19Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
c) Căn cứ vào hàng hoá trên thị trường
Thị trường chứng khoán cũng có thể được phân thành các thị trường: thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
+ Thị trường cổ phiếu: thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua
bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi
Hình 1.1- Sơ đồ cấu trúc của thị trường chứng khoán
+ Thị trường trái phiếu: thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và mua
bán các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ
+ Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: Thị trường các chứng
khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn
1.2 THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN (FII)
1.2.1 Khái niệm về dòng vốn đầu tư nước ngoài
Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng các nguồn vốn phục vụ
Thị trường tập trung (Sở giao dịch)
Thị trường phi tập trung
(OTC)
Thị trường thứ cấp (giao dịch chứng khoán)
TTCK
Thị trường sơ cấp
(hành chứng phát khoán)
Trang 20Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
sản xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội
Cùng với sự phát triển và xu hướng toàn cầu hóa, hoạt động đầu tư không chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia mà đã mở rộng sang các nước khác trên toàn thế giới, làm xuất hiện hình thức đầu tư quốc tế Đầu tư quốc tế là những phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định Đầu tư quốc
tế là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa
Nếu xét theo tính chất sử dụng của tư bản, đầu tư quốc tế thường được chia
thành ba hình thức đầu tư chủ yếu là đầu tư quốc tế trực tiếp, đầu tư quốc tế gián
tiếp và tín dụng quốc tế
Trong các hình thức đầu tư nêu trên, ranh giới giữa đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp nước ngoài đôi khi là rất mong manh Để phân biệt giữa đầu tư trực tiếp và
đầu tư gián tiếp, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đưa ra các định nghĩa sau:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI): là hoạt động
đầu tư quốc tế trong đó nhà đầu tư có lợi ích lâu dài đối với một công ty thuộc một nước khác Trong trường hợp này, nhà đầu tư mua hoặc xây dựng một nhà máy ở nước ngoài hoặc góp vốn xây dựng lại cơ sở vật chất như đất đai, nhà xưởng và trang thiết bị… FDI bao gồm cả các hình thức góp vốn như mua cổ phiếu hay tái đầu tư thu nhập do các công ty ở nước ngoài thực hiện, và các khoản cho vay vốn cho chi nhánh hoặc công ty con ở nước ngoài Hoạt động tái đầu tư thu nhập và chuyển nhượng tài sản giữa một công ty mẹ và công ty con của nó thường được tính đến như là một phần đáng kể của FDI
Đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Indirect/Portfolio Investment – FII/FII) (đầu tư chứng khoán) là hình thức đầu tư quốc tế mà nhà đầu tư nước ngoài góp
một số vốn tối đa nào đó dưới hình thức mua chứng khoán (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác do các doanh nghiệp phát hành) để thu lợi nhuận nhưng không tham gia điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư Đầu tư
Trang 21Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
gián tiếp là hoạt động đầu tư chủ yếu thông qua thị trường tài chính Đơn thuẩn, hoạt động đầu tư này có thể coi là hoạt động đầu tư tài chính và không đi kèm với bất cứ việc chuyển giao các tài sản vô hình ví dụ như bí quyết kinh nghiệm quản lý…
Từ các định nghĩa nêu trên, có thể thấy rằng, để phân biệt, bóc tách vốn đầu tư gián tiếp và vốn đầu tư trực tiếp là việc làm không đơn giản Hai hình thức đầu tư nước ngoài này nhiều khi chồng chéo lên nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán Trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán, để phân tách FDI và FII, người ta đưa ra các ranh giới về tỷ trọng sở hữu Ví dụ như theo các tiêu chuẩn của IMF thì một khoản đầu tư được coi là FDI khi nhà đầu tư nắm giữ ít nhất là "10% số lượng
cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu có quyền biểu quyết" của một tổ chức phát hành Tất nhiên, mức ngưỡng 10% này không phải là chuẩn mực chung, và nhiều quốc gia sử dụng một tỷ trọng khác để xác định vốn đầu tư gián tiếp và vốn đầu tư trực tiếp
Tín dụng Quốc tế: là hình thức các tổ chức kinh tế quốc tế cho vay vốn và thu
lợi nhuận qua lãi suất tiền vay Đây là hình thức đầu tư có mức độ rủi ro lớn, không chỉ cho các doanh nghiệp đi vay trong trường hợp các doanh nghiệp đi vay kinh doanh thua lỗ hoặc lâm vào tình trạng phá sản Mà quan trọng hơn, hình thức đầu tư này tiềm ẩn rủi ro cho các quốc gia là bên đi vay, và hình thức đầu tư này chính là nguyên nhân gây nên những cuộc khủng hoảng tài chính Trường hợp này xảy ra khi các chủ nợ (các tổ chức kinh tế nước ngoài cho vay) nhận biết được quốc gia đi vay có thể gặp khó khăn về kinh tế (thông qua các chỉ số kinh tế vĩ mô), sẽ rút vốn ồ
ạt (không kéo dài các khoản vay, buộc các tổ chức kinh tế đi vay phải thanh toán các hợp đồng vay vốn….) Quy mô rút vốn từ hình thức đầu tư này nhanh hơn và mạnh hơn do Vốn đầu tư này ở dạng tiền tệ, không thể mất thanh khoản
Nếu xét về mức độ rủi ro đối với nền kinh tế tiếp nhận vốn đầu tư, thì vốn đầu
tư trực tiếp là an toàn nhất Hai hình thức đầu tư còn lại: đầu tư gián tiếp và tín dụng quốc tế, tiềm ẩn rủi ro khủng hoảng tài chính đối với các quốc gia tiếp nhận vốn đầu
tư mà không có hệ thống tài chính lành mạnh, khu vực tài chính chưa phát triển với
cơ chế quản lý, giám sát cũng như khung pháp lý còn yếu
Trang 22Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
Khủng hoảng tài chính ở một số nước châu Á năm 1997 là minh chứng điển hình cho nguy cơ tiềm ẩn từ hoạt động đầu tư gián tiếp và tín dụng quốc tế Cuộc khủng hoảng có nguyên nhân từ sự yếu kém của nền kinh tế kéo dài, sự trì trệ của
hệ thống ngân hàng – tài chính làm suy giảm lòng tin của người dân và nhà đầu tư
và cuối cùng được phản ánh trên TTCK Do nợ ngắn hạn bằng ngoại tệ tăng cao vượt quá mức dự trữ ngoại hối (gấp từ 1,5 tới 2 lần), việc rút tiền ồ ạt đổi sang giữ USD, rút vốn khỏi TTCK, thoái lui đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài đã làm trầm trọng hơn hậu quả của khủng hoảng Theo đánh giá, tổng khối lượng luồng vốn nước ngoài đảo chiều trong 05 nước chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á là 105 tỷ USD (chiếm khoảng 11% GDP của cả 05 nước), trong đó
có tới 82 tỷ USD là vốn vay (77 tỷ đô la là vốn vay của các ngân hàng, 5 tỷ đô la là vốn vay của các tổ chức phi ngân hàng), chiếm 77% lượng vốn chảy ra Lượng vốn rút ra từ các thị trường chứng khoán ước khoảng 23 tỷ USD, chiếm 23% tổng lượng vốn chảy ra
Nhiều tài liệu định nghĩa đầu tư gián tiếp nước ngoài bao gồm đầu tư chứng khoán và cả tín dụng quốc tế Tuy nhiên, đề án này sẽ tập trung nghiên cứu về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF nêu ở mục trên Điều này cũng phù hợp với các quy định hiện hành của Việt Nam Cụ thể:
Theo điều 3 của Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam, đầu tư gián tiếp được hiểu là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy
tờ có giá khác, thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư
Như vậy, theo cách hiểu này thì đầu tư gián tiếp nước ngoài là hoạt động đầu
tư gián tiếp do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện, để thông qua hai hình thức chủ yếu, là: mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác do các doanh nghiệp phát hành trên thị trường tài chính và gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán hoặc các định chế tài chính trung gian khác tham gia
trên thị trường
Trang 23Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
1.2.2 Hình thức tham gia của chủ thể dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài - Nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán
Nhà đầu tư là chủ thể không thể thiếu được trên TTCK, đó là những người có vốn, thực hiện việc mua và bán chứng khoán trên thị trường nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận Đứng trên mọi góc độ, chủ thể đầu tư cũng luôn có một vai trò quan trọng và là mối quan tâm chính của những chủ thể khác tham gia trên thị trường
Ở Việt Nam, để xác định các đối tượng được coi là nhà đầu tư nước ngoài thì
đã có nhiều văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động của người nước ngoài trên TTCK, thuật ngữ nhà ĐTNN khi góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam được nêu ra tại Điều 2 thuộc Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số
36/2003/QĐ-TTg ngày 11 tháng 3 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ, quy định
nhà ĐTNN góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam bao gồm:
1 “Tổ chức kinh tế tài chính nước ngoài” là tổ chức kinh tế tài chính được thành lập theo pháp luật nước ngoài và hoạt động kinh doanh tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam
2 “Người nước ngoài không thường trú ở Việt Nam” là công dân nước ngoài
cư trú ở nước ngoài
3 “Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam” là công dân nước ngoài và người không có quốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam.”
4 “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là người quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.”
Căn cứ để phân biệt giữa “người cư trú” và “người không cư trú” chủ yếu dựa vào thời gian sinh sống, làm việc liên tục cần thiết phải có theo quy định tại mỗi nước, có thể là dài hay ngắn nhưng tối thiểu là 6 tháng (180 ngày) và thông thường là 12 tháng (360 ngày)
Nhà ĐTNN được chia làm hai loại:
- Nhà đầu tư cá nhân
- Nhà đầu tư có tổ chức
Trang 24Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
Hình thức đầu tư:
+ Nhà đầu tư trực tiếp mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác của các doanh nghiệp, của chính phủ và các tổ chức Nhà nước được phát hành trên thị trường tài chính Nhà đầu tư tham gia đầu tư trực tiếp bằng cách thành lập các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư, các tổ chức lưu ký…
+ Nhà đầu tư gián tiếp thực hiện đầu tư thông qua quỹ đầu tư chứng khoán hoặc định chế tài chính trung gian khác trên thị trường tài chính Đầu tư thông qua quỹ đầu tư còn gọi là đầu tư portfolio Loại chứng khoán mà giao dịch chủ yếu và thu hút nhiều sự quan tâm của giới đầu tư là cổ phiếu Tại Việt Nam hiện mới xuất hiện quỹ đầu tư đại chúng, quỹ đầu tư ủy thác và quỹ đầu tư mạo hiểm
1.2.3 Vai trò của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với sự phát triển thị trường chứng khoán
Đối với doanh nghiệp nhận đầu tư: Là cơ hội tiếp cận nguồn tài chính với chi
phí huy động cạnh tranh, mà vẫn duy trì quyền chủ động hoàn toàn trong sản xuất kinh doanh Ngoài ra, thông qua hoạt động của các cổ đông nước ngoài, đặc biệt cổ đông lớn, các doanh nghiệp nhận đầu tư có cơ hội tiếp cận với các chuẩn mực mới
về quản trị công ty, tăng cường tính công khai, minh bạch góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh
Đối với quốc gia nhận đầu tư:
Thứ nhất, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài là nguồn tài chính quan trọng
Cùng với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) cũng có những vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của nước tiếp nhận dòng vốn Vốn đầu tư gián tiếp là nguồn tài chính cho các nền kinh tế đang thiếu vốn, bù đắp khoản thiếu hụt giữa nhu cầu đầu tư và năng lực tài chính của một quốc gia (thể hiện qua quy mô tiết kiệm), góp phần cải thiện và thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế
Thứ hai, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài làm tăng hiệu quả hoạt động của thị trường vốn trong nước, tăng tính thanh khoản cho thị trường Sự tham gia tích
cực của nhà đầu tư nước ngoài sẽ góp phần giúp thị trường chứng khoán trở nên
Trang 25Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
đồng bộ, cân đối và sôi động hơn Cùng với sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài là sự phát triển mạnh mẽ các định chế và dịch vụ tài chính - chứng khoán Các thể chế tài chính trung gian, cũng như các dịch vụ tư vấn, bổ trợ tư pháp
và hỗ trợ kinh doanh, xác định hệ số tín nhiệm, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán và thông tin thị trường phải nỗ lực vận động, phát triển trên cơ sở chuẩn mực quốc tế
để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của nhà đầu tư nước ngoài Tất cả những điều này trực tiếp và gián tiếp góp phần phát triển mạnh mẽ hơn các bộ phận và tổng thể thị trường tài chính
Thứ ba, vốn đầu tư gián tiếp cũng đóng góp tích cực cho việc tạo ra sức cầu trong các chương trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, các hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp
Thứ tư, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, qua sự vận động và hành vi giao dịch chuyên nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài, góp phần kiến tạo một văn hóa đầu
tư mới cho các nhà đầu tư trong nước còn thiếu kinh nghiệm
Thứ năm, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài làm tăng thu nhập, kích thích tiêu dùng, nâng cao mức sống của xã hội Khi một quốc gia mở cửa đối với nguồn vốn
đầu tư gián tiếp này thì một phần đầu tư trong nước không phải dựa vào nguồn tiết kiệm trong nước, và như vậy gián tiếp làm tăng tăng thu nhập và kích thích tiêu dùng trong nước
Thứ sáu, vốn đầu tư gián tiếp góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản
lý nhà nước theo các nguyên tắc và yêu cầu của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế Sự gia tăng dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và phát triển thị
trường tài chính sẽ đặt ra những yêu cầu mới và cũng tạo các công cụ, khả năng mới cho quản lý nhà nước nói chung và quản lý, quản trị doanh nghiệp nói riêng Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và minh bạch hoá, cập nhật hoá thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh nghiệp đã và sẽ phát hành
Trang 26Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
1.2.4 Tác động của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội
a) Tác động tích cực
¾ Đối với nước đầu tư
• Đa dạng hóa cơ cấu đầu tư, cho phép các nhà đầu tư có thể chuyển vốn đến những thị trường mới nổi có mức lợi nhuận kinh doanh cao (kèm theo hệ số rủi
ro lớn) Bằng cách đầu tư FII, các nhà đầu tư có thể nhanh chóng khắc phục xu hướng lợi nhuận bình quân giảm dần, nâng cao hiệu quả kinh doanh
• Góp phần tăng cường cơ hội và đa dạng hóa phương thức đầu tư, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và thu nhập của đông đảo người dân Việc phát triển thị trường vốn đầu tư gián tiếp cả về bề rộng và bề sâu sẽ mang lại những cơ hội mới và sự đa dạng hóa trong lựa chọn các phương thức đầu tư cho các nhà đầu
tư tiềm năng nước ngoài và trong nước
• San sẻ rủi ro kinh doanh sang các khu vực khác, đặc biệt là các khu vực thị trường mới nổi So với đầu tư trực tiếp (FDI), khả năng san sẻ rủi ro qua đầu tư gián tiếp (FII) nhạy bén hơn và đa dạng hơn
• Thông qua đầu tư gián tiếp, nhà đầu tư có cơ hội tìm hiểu và thâm nhập thị trường mới, thích nghi từng bước với thị trường mới
¾ Đối với nước nhận đầu tư
• Trước hết FII là một kênh dẫn vốn có quy mô lớn hơn nhiều so với đầu tư trực tiếp truyền thống, cho phép có thể thu hút lượng vốn lớn của nước ngoài đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm và các mục tiêu tài chính
Trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư trực tiếp của xã hội Dòng vốn FII khi đổ vào Việt Nam sẽ trực tiếp làm tăng lượng FII trên thị trường vốn trong nước như một phép cộng đương nhiên vào tổng
số dòng vốn này Hơn nữa, khi FII gia tăng sẽ làm phát sinh hệ quả tích cực gia tăng dây chuyền đến dòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước Nói cách khác, FII gia tăng
sẽ là một bảo đảm và tạo động lực mới hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư khác mạnh
Trang 27Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
dạn thông qua các quyết định đầu tư trực tiếp mới của mình, kết quả là gián tiếp góp phần làm tăng đầu tư trực tiếp xã hội từ phía các nhà đầu tư cả nước ngoài, cũng như trong nước
Ngoài ra FII giúp các doanh nghiệp trong nước có thể hoạt động hiệu quả hơn, năng động hơn và nâng cao giá trị của mình (Ví dụ: Công Ty VINAMILK đã nâng cao giá trị của mình lên rất nhiều do có sự tham gia mua cổ phiếu của nhà đầu
tư nước ngoài (NĐTNN)) Hơn nữa, đối với nền kinh tế, FII là hình thức giúp các nước có nền kinh tế mới nổi và chuyển đổi như Việt Nam nhanh chóng hơn trong việc mở cửa, tham gia hội nhập vào thị trường vốn quốc tế, nâng cao sự tín nhiệm trong hoạt động kinh tế đối với nước ngoài
• Bên cạnh đó, vốn FII chảy vào có thể đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của một nước bằng cách làm tăng khả năng thanh toán và hiệu suất của thị trường vốn nội địa làm cho đầu tư dài hạn hấp dẫn hơn, bởi vì nó cho phép người gửi tiết kiệm
có thể nhanh chóng bán chứng khoán với chi phí giao dịch thấp khi họ cần sử dụng khoản tiền tiết kiệm của mình Khi đầu tư dài hạn trở nên hấp dẫn hơn sẽ tạo điều kiện cải thiện tình hình phân phối vốn, tăng năng lực sản xuất và cho phép nguồn lực được sử dụng một cách có hiệu quả nhất dẫn đến đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
• Góp phần tích cực vào phát triển thị trường tài chính nói riêng, hoàn thiện các thể chế và cơ chế thị trường nói chung Việc gia tăng và phát triển bộ phận thị trường FII sẽ làm cho thị trường tài chính (đặc biệt là thị trường chứng khoán) Việt Nam trở nên đồng bộ, cân đối và sôi động hơn, khắc phục được sự thiếu hụt, trống vắng và trầm lắng, thậm chí đơn điệu, kém hấp dẫn kéo dài của thị trường này trong thời gian qua Hơn nữa, điều kiện và kết quả đi kèm với sự gia tăng dòng FII này là
sự phát triển nở rộ các định chế và dịch vụ tài chính – chứng khoán, trước hết là các loại quỹ đầu tư, công ty tài chính, và các thể chế tài chính trung gian khác, cũng như các dịch vụ tư vấn, bổ trợ tư pháp và hỗ trợ kinh doanh, xác định hệ số tín nhiệm, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán và thông tin thị trường Đồng thời, kéo theo sự gia tăng yêu cầu và hiệu quả áp dụng các nguyên tắc cạnh tranh thị trường, trước hết trên thị trường chứng khoán… Tất cả những điều này trực tiếp và gián tiếp góp
Trang 28Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
phần phát triển mạnh mẽ hơn các bộ phận và tổng thể thị trường tài chính nói riêng, các thể chế và cơ chế thị trường nói chung trong nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam
• Thị trường phát triển đồng thời làm tăng hiệu quả quản lý doanh nghiệp TTCK phát triển tạo điều kiện quản lý doanh nghiệp hiệu quả hơn vì tính công khai, minh bạch thông tin của thị trường, buộc các nhà quản lý doanh nghiệp phải thực hiện vai trò quản lý tốt hơn Mặt khác, nếu TTCK phát triển tạo điều kiện cho các nhà đầu tư bên ngoài có thể mua lại các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thay đổi bộ máy quản lý và khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển
b) Tác động tiêu cực
Vai trò tích cực của vốn đầu tư gián tiếp lại đồng hành cùng một số những hạn chế và rủi ro tiềm tàng cho cả hệ thống tài chính quốc gia cũng như các nền kinh tế tiếp nhận dòng vốn này
¾ Đối với nước đầu tư
- Thứ nhất, những rủi ro đặc biệt của thị trường tài chính nước ngoài, đáng chú ý là rủi ro chính trị, rủi ro đạo đức và rủi ro kinh tế của thị trường mới nổi
- Thứ hai, các rào cản về thủ tục hành chính và nhất là về thuế có thể làm triệt tiêu lợi ích thu được
- Thứ ba, những chính sách điều tiết thị trường vốn của các nước nhận vốn FII
- Thứ tư, chi phí giao dịch trong đầu tư FII có thể cao hơn so với dự kiến
¾ Đối với nước nhận đầu tư
- Thứ nhất, ảnh hưởng tiêu cực lớn nhất và đáng lưu ý nhất mà vốn đầu tư gián tiếp có thể mang lại đó là nguy cơ gây bất ổn không chỉ trong lĩnh vực tài
chính - ngân hàng và chứng khoán, mà đối với cả nền kinh tế, hay thậm chí các nền kinh tế của cả một khu vực
Đặc tính nổi bật của vốn đầu tư gián tiếp chính là sự linh hoạt trong hoạt
động lưu chuyển vốn quốc tế và tính lây lan, dây chuyền Trong khi đó, vốn đầu tư
gián tiếp có thể vào rất nhanh và ra khỏi thị trường cũng rất nhanh, thông qua việc các nhà đầu tư nước ngoài mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Trang 29Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
Khi dòng vốn chảy vào quá lớn, vượt quá khả năng sử dụng hiệu quả của nền kinh tế, thì chúng có thể gây tác động không tốt tới khu vực tài chính và cả nền kinh
tế Nguồn vốn lớn đổ vào đi kèm với việc tăng cung tiền nhanh chóng sẽ tạo ra nhiều rủi ro hơn đối trong các hoạt động tín dụng, giảm tỷ giá hối đoái, tăng giá trị đồng bản tệ, làm giảm tính cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước, ảnh hưởng đến lạm phát tăng thêm chi phí vốn vay từ nước ngoài Nguồn vốn vào lớn còn tạo
ra những bong bong giá không chỉ trên thị trường tài chính, mà kể cả những thị trường khác như bất động sản…., gây khó khăn cho công tác hoạch định và điều hành chính sách kinh tế vĩ mô
Tuy nhiên, kinh nghiệm từ các cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á và Đông
Âu cho thấy rủi ro lớn nhất đồng hành cùng với dòng vốn này đó chính là sự đảo chiều đột ngột (sự tháo chạy), khó đoán trước và ở quy mô lớn, của một số dòng vốn, đặc biệt là các dòng vốn đầu tư ngắn hạn, do ảnh hưởng của những nguyên nhân nội tại hoặc bên ngoài Sự thay đổi dòng chảy này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới
hệ thống tài chính, và sau đó gây áp lực ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế Chúng
sẽ tạo ra những cuộc khủng hoảng nếu như nền tảng của nền kinh tế có nhiều vấn
đề Hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á vào năm 1997 - 1998 vẫn còn khiến cho nhiều người phải ghi nhớ, vì nó đã tác động rất mạnh mẽ trong cả khu vực Đông Nam Á trong nhiều năm Khởi đầu là sự tháo chạy ồ ạt của nhà đầu
tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Thái Lan khi nhà đầu tư cảm nhận những bất ổn của nền kinh tế này Thị trường chứng khoán Thái Lan sụt giảm nghiêm trọng đã lây lan, kéo theo sự sụt giảm của thị trường của các nước Châu Á khác theo hiệu ứng “domino”
Tóm lại, nếu các quốc gia tiếp nhận nhiều vốn đầu tư gián tiếp không có những biện pháp phòng ngừa hiệu quả trước sự vận động liên tục của dòng vốn này,
có thể sẽ phải gánh chịu những hậu quả nặng nề và nghiêm trọng, không những ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế trong nhiều năm tiếp theo, mà có nguy cơ xóa nhòa những thành tích phát triển kinh tế trong cả thập kỷ trước đó
Trang 30Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
- Thứ hai, tiếp nhận vốn đầu tư gián tiếp có thể làm tăng nguy cơ bị thâu tóm,
mua lại, sáp nhập cũng như lũng đoạn tài chính đối với các công ty cổ phần và các
tổ chức phát hành chứng khoán của nước sở tại.Vốn đầu tư gián tiếp là loại vốn đầu
tư mà người đầu tư không tham gia điều hành, quản lý trực tiếp hoạt động của công
ty mà họ đầu tư Đối với các quốc gia, Nhà nước sẽ quy định một tỷ lệ tối đa mà nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần của doanh nghiệp hoặc tổ chức phát hành chứng khoán Tuy nhiên, khi nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn đến một mức nào đó sẽ đủ tiêu chuẩn tham gia vào việc chỉ đạo, điều hành hoạt động của doanh nghiệp Điều này có thể được hiểu là đã có sự chuyển biến về tính chất của hoạt động đầu tư, từ gián tiếp thành trực tiếp Khi đó, phương hướng, mục tiêu cũng như các hoạt động cụ thể của doanh nghiệp cũng sẽ bị ảnh hưởng, chi phối bởi quan điểm của nhà đầu tư nước ngoài và có thể đi lệch ra khỏi phương hướng hoạt động của doanh nghiệp; cũng như bản chất kinh tế và quyền sở hữu của doanh nghiệp và quốc gia sẽ bị thay đổi
- Thứ ba, vốn đầu tư gián tiếp gia tăng có thể kéo theo những bất ổn về chính
trị, xã hội của quốc gia tiếp nhận đầu tư Vốn đầu tư gián tiếp tồn tại dưới hình thức tiền tệ là chủ yếu, tuy nhiên bên cạnh hoạt động đầu tư còn có cả hoạt động đầu cơ, hoạt động rửa tiền v.v Có nhiều nguồn tiền bẩn, không rõ ràng nhưng cũng lấy danh nghĩa vốn đầu tư gián tiếp để đầu tư vào thị trường chứng khoán, mua chứng khoán của các công ty cổ phần nhằm hợp thức hóa nguồn gốc đồng tiền
1.2.5 Sự cần thiết của việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán
Trên thế giới, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Nguồn vốn này bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII) Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, thì FII lại có tác động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng
Trang 31Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
cao vai trò quản lý nhà nước và chất lượng quản trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế
Đối với Việt Nam, thu hút nguồn vốn FII mang một ý nghĩa rất quan trọng
Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, Việt Nam cần một lượng vốn đầu tư rất lớn (khoảng 140 tỷ USD) cho giai đoạn (2006-2010) để xây dựng, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội Các doanh nghiệp Việt Nam đang trong quá trình cải cách và cổ phần hóa nhằm gia tăng năng lực và hiệu quả cạnh tranh khi gia nhập WTO Cổ phần hóa phải đi đôi với việc hình thành các thị trường vốn, các kênh huy động vốn (hạt nhân là thị trường chứng khoán (TTCK) Các mối quan hệ kinh tế gia tăng, dòng vốn lưu chuyển nhanh sẽ góp phần tạo ra các hiệu ứng tốt tác động đến các doanh nghiệp Lợi ích của hội nhập không những được đánh giá thông qua sự luân chuyển (vào, ra) dễ dàng của dòng hàng hóa, dòng người mà còn có cả dòng vốn.Việc tham gia của các nhà đầu tư FII sẽ có tác động mạnh mẽ đến thị trường tài chính, giúp cho thị trường tài chính minh bạch
và hoạt động hiệu quả hơn, xác lập giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết một cách chuyên nghiệp, giảm thiểu những dao động “phi thị trường” và góp phần giải quyết một cách cơ bản các mối quan hệ kinh tế (vốn, công nghệ, quản lý…) Hơn nữa, FII có thể giúp vốn cho doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh, do vậy FII rất quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nước đang thiếu vốn
Tuy nhiên, dòng vốn FII cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các kênh huy động vốn từ nước ngoài khác Do vậy, thúc đẩy thu hút FII ổn định, tương xứng với tiềm năng, góp phần tạo động lực phát triển thị trường vốn, nâng cao năng lực quản trị của nhà doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam thời kỳ hậu WTO là vấn đề cần được quan tâm
1.2.6 Chính sách chung trong hoạt động thu hút vốn đầu tư gián tiếp
Hoạt động thu hút và quản lý dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài phải được thực hiện đồng bộ và căn bản Nội dung hoạt động này phải bao gồm những chính sách xuyên suốt, thống nhất theo hướng thu hút một cách có chọn lọc dòng vốn đầu
Trang 32Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
tư gián tiếp nước ngoài; đồng thời phải có sự chuẩn bị, hệ thống phản ứng chính sách không chỉ thực hiện trong thời kỳ khủng hoảng, khi có dấu hiệu dòng vốn đảo chiều, đào thoát ồ ạt, mà ngay cả trong trường hợp dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có xu hướng gia tăng đột biến
Trước nhu cầu về vốn đầu tư để phát triển kinh tế xã hội, việc thu hút mọi nguồn lực trong và ngoài Việt Nam là cần thiết Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm tích cực, mỗi một dòng vốn đầu tư đều tiềm ẩn những rủi ro riêng, đặc biệt là rủi ro đảo vốn Chúng ta cần có quan điểm rõ ràng về từng loại vốn đầu tư, để từ đó hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, cũng như có những phản ứng chính sách phù hợp với quan điểm đó
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, mục tiêu quan trọng nhất trong mọi chính sách quản lý vốn đầu tư gián tiếp chính là giảm thiểu nguy cơ đảo vốn Trong các dòng vốn đầu tư thì tiềm ẩn rủi ro đảo vốn lớn nhất, chính là tín dụng quốc tế Tuy nhiên, khởi điểm, hay nói cách khác, “ngòi nổ” của nguy cơ đảo vốn lại chính là đầu tư gián tiếp Có thể nói, quy mô đảo vốn của vốn đầu tư gián tiếp là rất nhỏ, và không thể có ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh tế nói chung của một quốc gia, tuy nhiên,
sự thay đổi dòng chảy của vốn đầu tư gián tiếp sẽ kéo theo sự thay đổi dòng chảy của tín dụng quốc tế, kéo theo sự mất lòng tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, trực tiếp và gián tiếp, và theo đó là khủng hoảng tài chính, khủng hoảng kinh
tế
Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức và nhu cầu về vốn phục vụ cho phát triển kinh tế, tuy nhiên việc khuyến khích dòng vốn đầu tư gián tiếp là có thể là quan trọng, nhưng cần thiết hơn là việc làm thế nào để nhà đầu tư nước ngoài xây dựng các chiến lược đầu tư lâu dài tại Việt Nam, hỗ trợ sự nghiệp phát triển đất nước Tìm kiếm lợi nhuận đương nhiên là rất quan trọng, nhưng đó không phải là nền tảng căn bản để thúc đẩy phát triển kinh tế và công bằng xã hội Đây cũng chính
là vấn đề mà nhiều quốc gia đang phát triển đã gặp phải
Từ kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc quản lý vốn đầu tư gián tiếp là không thống nhất Mỗi quốc gia có một quan điểm về dòng vốn đầu tư gián tiếp, tùy thuộc
Trang 33Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
vào mục đích phát triển kinh tế của quốc gia đó Chẳng hạn, Trung Quốc không khuyến khích dòng vốn đầu tư gián tiếp và tín dụng quốc tế Với cán cân thương mại luôn thặng dư, dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới, đầu tư gián tiếp luôn đứng đầu thế giới, Quốc gia này có đủ nội lực, tài lực để đầu tư, phục vụ phát triển kinh tế
xã hội, vì vậy, quan điểm của Trung Quốc đối với vốn đầu tư gián tiếp là không khuyến khích (Phụ lục 1) Trong khi đó, Thái Lan là quốc gia đang phát triển, nhu cầu về vốn lớn, cán cân thương mại không nhất thiết thặng dư, quan điểm của quốc gia này là khuyến khích dòng vốn gián tiếp Việc khuyến khích gián tiếp trong một thời gian dài không đồng hành cùng chính sách quản lý phù hợp, giám sát chặt chẽ chất lượng dòng vốn, đã đẩy quốc gia này vào một cuộc khủng hoảng tài chính năm
1997 Một số quốc gia khác có chính sách thận trọng hơn đối với vốn đầu tư gián tiếp, quản lý chặt lúc ban đầu, sau đó nới lỏng dần dần Các quốc gia này ít nhiều cũng thành công trong công tác quản lý vốn đầu tư gián tiếp, cụ thể như Đài Loan,
Ấn độ
Từ các bài học trên, có thể rút ra kinh nghiệm, đó là quan điểm chung của Việt Nam về dòng vốn đầu tư gián tiếp cần phải được xây dựng, có cân nhắc tới rủi ro và ảnh hưởng mang tính lây chuyền của dòng vốn này tới các dòng vốn đầu tư nước ngoài khác, đặc biệt là tín dụng quốc tế, cụ thể:
- Thu hút có chọn lọc dòng vốn đầu tư gián tiếp, theo hướng khuyến khích vốn đầu tư dài hạn, không khuyến khích dòng vào ngắn hạn
- Kiểm soát chặt hoạt động tín dụng quốc tế Quy mô tín dụng quốc tế phải dựa trên dự trữ ngoại hối
- Tiếp tục duy trì kiểm soát tài khoản vốn Việc tự do hóa tài khoản vốn phải phù hợp với sự phát triển của thị trường tài chính và năng lực tài chính của nền kinh tế
1.2.7 Kinh nghiệm thúc đẩy dòng vốn đầu tư nước ngoài vào TTCK của một
số nước Châu Á
So với các TTCK khác trên thế giới như Mỹ, châu Âu, TTCK Châu Á chưa thực sự ở mức phát triển tương đương (trừ Nhật Bản, Hồng Kông và Singapore) do các quốc gia châu Á chưa hội đủ các điều kiện phát triển thị trường Nghiên cứu
Trang 34Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
kinh nghiệm của các nước có thị trường phát triển cho thấy, TTCK của các nước đó cũng phải trải qua một thời kỳ chuẩn bị để có được thời kỳ ổn định của thị trường Đối với các nước đang phát triển, mới hình thành ở châu Á thì càng cần phải có thời gian chuẩn bị để đáp ứng các điều kiện nêu trên Tuy nhiên, mỗi nước đều lựa chọn các giải pháp riêng để thích hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế, hội nhập quốc tế Có một số nước đã đạt được các mục tiêu, kế hoạch đề ra Tuy nhiên, một
số nước, các chính sách thu hút đặt ra chưa phù hợp với nền kinh tế, chưa thu hút, hấp dẫn được các nhà đầu tư nước ngoài Về cơ bản đối với sự phát triển và mở cửa TTCK, giải pháp cung chứng khoán là một trong những giải pháp chủ yếu, phản ánh quy mô hoạt động của thị trường mà trước hết cần đẩy mạnh cổ phần hóa và khuyến khích các công ty niêm yết trên TTCK bằng cách giảm thuế cho các doanh nghiệp thực hiện CPH Khi SGDCK, TTGDCK đi vào hoạt động thì các công ty có chứng khoán niêm yết trên thị trường được giảm các loại thuế liên quan đến việc phát hành và mua bán chứng khoán như ở Hàn Quốc, Thái Lan Hơn nữa, một số nước còn thành lập TTCK không chính thức để khuyến khích việc phát hành cổ phiếu ra công chúng (như Singapore, Indonesia), phát hành chứng khoán ra nước ngoài
1.2.7.1 Thái Lan – Quan điểm “khuyến khích dòng vốn gián tiếp”
Quan điểm thu hút vốn gián tiếp nước ngoài của Thái Lan là không hạn chế dòng vào, cụ thể không có giới hạn nào trong các vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài (nắm giữ từ 10% vốn điều lệ trở lên của một doanh nghiệp), đầu tư gián tiếp (nắm giữ dưới 10% vốn điều lệ), cho vay, chuyển lợi nhuận đầu tư ra và trả lãi các khoản vay Các hạn chế đầu tư (ví dụ một nhà đầu tư không được phép nắm giữ trên 30% vốn điều lệ của một quỹ đầu tư, hoặc không được nắm giữ trên một tỷ lệ nhất định tại một tổ chức phát hành) đều áp dụng cho cả nhà đầu tư trong và ngoài nước… Chính phủ Thái Lan cũng quy định một tỷ lệ khống chế sở hữu của người nước ngoài đối với cổ phiếu của công ty niêm yết Với những trường hợp nhất định, nhà ĐTNN chỉ có thể sở hữu 49% số cổ phiếu của một công ty hay 22% số cổ phiếu của các tổ chức tài chính Sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997, Thái
Trang 35Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
Lan đã mở rộng tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của nhà ĐTNN tại các công ty niêm yết lên 100%
Các tài liệu quốc tế cho thấy, dòng vốn vào các quốc gia châu Á đã tăng đọt biệt từ trung bình 1.4%/GDP/năm trong gian đoạn 1986-1990, đã lên tới 6.7% GDP/năm trong những năm 1990-1996 Ở Thái Lan, dòng vốn vào lên tới mức 10.3% GDP/năm trong giai đoạn 1990-1996 Tuy nhiên, cơ cấu dòng vốn vào không lành mạnh, đặc biệt là tỷ trọng tín dụng quốc tế quá lớn, điều này càng làm cho các nền kinh tế này trở nên dễ tổn thương, đổ vỡ trước nguy cơ dòng vốn đảo chiều Cụ thể, dòng vốn đầu tư gián tiếp vào Thái Lan chỉ chiếm khoảng 1.6% GDP/năm, vốn đầu tư trực tiếp khoảng 1.1% GDP/năm, trong khi đó vốn tín dụng quốc tế lên tới 7.6%/GDP/năm (gấp gần 5 lần vốn đầu tư gián tiếp và 8 lần vốn đầu
tư trực tiếp) Trong tất cả các quốc gia chịu khủng hoảng tài chính, dòng vốn đầu tư gián tiếp chỉ chiếm trung bình khoảng 2%/GDP/năm Trong khi,tín dụng quốc tế từ các ngân hàng quốc tế đổ vào 5 quốc gia nêu trên, tăng 24% trong năm 1996 (từ 210
tỷ USD vào thời điểm cuối năm 1995, lên tới 261 tỷ USD vào thời điểm cuối năm 1996) Tiếp tục, chỉ trong vòng nửa năm từ cuối năm 1996 tới giữa năm 1997, tín dụng quốc tế tiếp tục tăng tới mức 274 tỷ USD (10%/năm) (Bảng 6) Với tổng giá trị GDP của 05 quốc gia trước khủng hoảng khoảng 935 tỷ USD, tín dụng quốc tế chiếm tỷ trọng 5.6% GDP trong năm 1996, 2.8% GDP ở thời điểm giữa năm 1997
và -3.6% cuối năm 1997 Như vậy, dòng vốn đảo chiều chỉ trong một năm 1997 đã chiếm tới 9.5% GDP
Sự rút vốn ồ ạt của các chủ nợ (ngân hàng nước ngoài) từ các quốc gia đã tiếp tục gây ra những ảnh hưởng kinh tế vĩ mô Dấu hiệu trước tiên đó là giá trị đồng bản tệ sụt giảm nghiêm trọng, sau khi các quốc gia đã không đủ tài lực để duy
tŕ tỷ giá ổn định Lãi suất tại các quốc gia này tăng mạnh ngay sau khi vốn tín dụng quốc tế bị rút ra, do tính thanh khoản trong hệ thống ngân hàng giảm đột ngột Lãi suất tăng cùng với tỷ giá giảm làm tăng tỷ lệ nợ xấu (NPL) trong hệ thống ngân hàng, đặc biệt đối với các dự án bất động sản
1.2.7.2 Trung Quốc – Quan điểm “hạn chế dòng vốn gián tiếp”
Trang 36Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
Nhằm thu hút dòng vốn ĐTNN vào nền kinh tế, năm 1991, Trung Quốc đã cho phép thành lập một thị trường cổ phiếu loại B (B-shares) Theo Uỷ ban Quản lý chứng khoán Trung Quốc (CSRC) thì vào những năm 1990, nền kinh tế Trung Quốc cần nhiều vốn cho đầu tư và tăng trưởng, một trong những dòng vốn được xem là quan trọng, chính là vốn ĐTNN Việc thu hút dòng vốn này vấp phải vấn đề lạm phát và chính sách tỷ giá cho nền kinh tế khi có sự bùng nổ trong dòng vốn đầu
tư, nhất là đầu tư gián tiếp
Thị trường cổ phần loại B thành lập năm 1991 được điều chỉnh bởi 2 luật do Hội đồng Quốc gia và Uỷ ban Quản lý Chứng khoán Trung Quốc (CSRC) ban hành Theo đó, B-shares gồm có những đặc điểm sau: thứ nhất, cổ phần loại B được định danh bằng đồng NDT nhưng được phép mua và bán bằng đồng ngoại tệ, và được niêm yết và giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán của Trung Quốc Cổ tức và các khoản thanh toán khác của công ty phát hành phải được tính và khai báo bằng đồng NDT, nhưng được chi trả bằng đồng ngoại tệ Thứ hai, cổ phần loại B chỉ được phát hành cho nhà ĐTNN, là những nhà đầu tư theo định nghĩa của Trung Quốc Đối tượng này đã được mở rộng không chỉ cho nhà ĐTNN mà cả nhà đầu tư trong nước Thứ ba, cổ tức và lãi vốn từ cổ phần loại B có thể được tự do chuyển ra nước ngoài, bất chấp các biện pháp kiểm soát ngoại hối của Trung Quốc Thứ tư, CTCK nước ngoài có thể kinh doanh cổ phần loại B, trong khi không được cho phép kinh doanh
cổ phần loại A Cho đến đầu năm 2001, nhà đầu tư cá nhân và tổ chức của Trung Quốc vẫn bị cấm sở hữu cổ phần loại B Tuy nhiên, chính sách này được thay đổi vào tháng 02/2001, theo đó cho phép nhà đầu tư cá nhân nội địa được quyền mua và bán cổ phần loại B Tuy nhiên, cổ phần loại B vẫn được mua bằng đồng ngoại tệ và như vậy, nhà đầu tư Trung Quốc có thể sử dụng tiền nước ngoài trong tài khoản của
họ để mua các cổ phần này
Năm 2006, các nhà nghiên cứu của Trung Quốc đề nghị sáp nhập thị trường cổ phiếu loại B với thị trường cổ phiếu loại A Tuy nhiên, để tránh có thêm lượng vốn ĐTNN quá lớn vào nền kinh tế, do Trung Quốc liên tục thặng dư cán cân thương mại
đã đưa đến sự dư thừa ngoại tệ trong nền kinh tế tất yếu đẩy lạm phát của Trung Quốc
đã cao lại càng tăng cao, tỷ giá không thể duy trì mức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu nên Chính phủ Trung Quốc vẫn duy trì thị trường cổ phiếu loại B như một kênh tạo ra
Trang 37Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
nhu cầu ngoại tệ trong nền kinh tế, khi cơ hội đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp
Trung Quốc không phải lúc nào cũng có và tăng cao tương ứng
Cho đến nay, với dự trữ ngoại hối lớn, tiềm lực tài chính trong nước mạnh,
Trung Quốc có quan điểm rất rõ ràng đối với các nhà đầu tư tài chính quốc tế, đó là:
Hạn chế dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (Trung Quốc quy định theo
định lượng để phân biệt đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp Đầu tư gián tiếp là việc
nắm giữ dưới 10% cổ phần tại một tổ chức phát hành Nắm giữ trên 10% được coi
là đầu tư trực tiếp), do đó chỉ cho phép các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp lớn, có
kinh nghiệm và uy tín trên thế giới được tham gia đầu tư một cách hạn chế để định
hướng sự phát triển bền vững của TTCK
Với quan điểm này, Trung Quốc đã có những quy định cụ thể như sau:
- Đối với nhà đầu tư cá nhân nước ngoài: Không cho phép các nhà đầu tư cá
nhân tham gia TTCK Trung Quốc
- Đối với nhà đầu tư tổ chức nước ngoài: Cấp phép đầu tư theo hạn ngạch
cho một số các tổ chức đầu tư lớn trên thế giới sau khi đã đáp ứng một số các điều
kiện tối thiểu - gọi tắt là QFII
Để được xét duyệt cấp Giấy phép đầu tư chứng khoán QFII, tổ chức tài chính
nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện tối thiểu theo bảng sau:
Loại hình tổ chức Kinh nghiệm Vốn điều lệ
Giá trị tài sản là chứng khoán
đang quản lý trong năm tài chính hiện tại
Công ty quản lý quỹ 5 năm 5 tỷ USD Công ty chứng
khoán/Tổ chức bảo
hiểm
5 năm 1 tỷ USD 5 tỷ USD
Ngân hàng Nằm trong danh sách 100 ngân hàng
có giá trị tài sản lớn nhất thế giới 5 tỷ USD
Các điều kiện này đã được nới lỏng hơn nhiều so với các điều kiện QFII tại
quy định cũ ban hành năm 20021
Để khuyến khích các nhà đầu tư có mục đích đầu tư dài hạn, UBGQCK quan
tâm nhất định khi xét duyệt cấp phép đầu tư cho các quỹ đầu tư dạng đóng được
huy động từ nước ngoài và có mục tiêu đầu tư tại Trung Quốc, hoặc các quỹ hưu
Trang 38Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
trí, các quỹ bảo hiểm và các quỹ tương hỗ đã có thành tích đầu tư tốt tại các thị trường khác
* Quy trình cấp Giấy phép đầu tư chứng khoán (xét duyệt QFII):
Bước 1: Tổ chức tài chính có ý định đầu tư trên TTCK Trung Quốc phải nộp
hồ sơ xin cấp phép QFII cho Ủy ban Giám quản chứng khoán Trung Quốc Hội đồng xét duyệt cấp phép của UBGQCK Trung Quốc sẽ quyết định việc cấp Giấy phép đầu tư chứng khoán cho tổ chức nước ngoài Trong Hội đồng xét duyệt có đại diện của Cục Quản lý Ngoại hối2;
Bước 2: Tổ chức đầu tư nước ngoài sau khi cấp phép (QFII), phải có Giấy đề
nghị cấp hạn ngạch đầu tư gửi Cục Quản lý Ngoại hối SAFE (State Administration for Foreign Exchange) thông qua Ngân hàng lưu ký Hội đồng cấp hạn ngạch của Cục Quản lý Ngoại hối (có đại diện của UBGQCK Trung Quốc) sẽ ấn định hạn ngạch đầu tư của tổ chức đầu tư nước ngoài, trên cơ sở Phương án hoạt động và kinh doanh của tổ chức này
Bước 3: Tổ chức đầu tư mở tài khoản lưu ký tại một Ngân hàng lưu ký được
cấp phép và được phép đổi ngoại tệ sang đồng nhân dân tệ trên tài khoản
Bước 4: Tổ chức đầu tư sau đó sẽ lựa chọn 03 công ty chứng khoán tại mỗi
sàn giao dịch để giao dịch3 (Hiện Trung Quốc có 02 sàn Giao dịch Chứng khoán Thương Hải và Thẩm Quyến)
* Hạn chế đối với hoạt động đầu tư của các tổ chức đầu tư QFII
Các tổ chức đầu tư QFII chỉ được phép đầu tư vào cổ phiếu B hoặc cổ phiếu niêm yết tại các sàn giao dịch chứng khoán (cổ phiếu A); các loại trái phiếu niêm yết; trái phiếu chuyển đối, trái phiếu doanh nghiệp và các loại chứng khoán khác được UBGQCK Trung Quốc chấp thuận Tuy nhiên:
- Một tổ chức đầu tư QFII không được sở hữu trên 10% vốn cổ phần hoặc cổ phiếu đang lưu hành có quyền biểu quyết tại một tổ chức phát hành;
- Tỷ lệ nắm giữ của tất cả các tổ chức đầu tư nước ngoài QFII tại một tổ chức phát hành không được vượt quá 20% vốn cổ phần hoặc cổ phiếu đang lưu hành có
Trang 39Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
quyền biểu quyết;
- Tổ chức đầu tư QFII, ngoại trừ các quỹ đầu tư dạng đóng, được phép rút vốn sau 1 năm hoạt động Quy mô rút vốn không vượt quá 20% cho một đợt rút vốn Khoảng cách giữa các đợt rút vốn tối thiểu là 1 tháng Các quỹ đầu tư dạng đóng chỉ được phép rút vốn sau 03 năm hoạt động đầu tư tại Trung Quốc
- Tổ chức đầu tư QFII đã thực hiện đầu tư hơn 3 tháng được phép chuyển nhượng hạn ngạch đầu tư cho một tổ chức đầu tư QFII khác hoặc một tổ chức đầu
tư nước ngoài đã đáp ứng đủ các điều kiện QFII
Theo đề nghị của Cục Quản lý ngoại hối và Ủy ban Giám quản chứng khoán Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc ấn định tổng hạn ngạch đầu tư đối với các tổ chức đầu tư QFII Khi bắt đầu áp dụng cơ chế quản lý nhà đầu tư QFII từ năm 2002, mức hạn ngạch đầu tư đưa ra là 4 tỷ USD Tháng 4 năm 2004, căn cứ vào sự phát triển của TTCK, Trung Quốc nâng tổng giá trị hạn ngạch đầu tư cho các QFII là 10
tỷ USD Cho tới thời điểm này, UBGQCK Trung Quốc và Cục Quản lý ngoại hối
đã cấp hết số hạn ngạch được phê duyệt cho 52 tổ chức đầu tư QFII (danh sách đính
kèm) Các tổ chức QFII được cấp hạn ngạch đầu tư từ 50 triệu USD tới 800 triệu USD Theo đại diện của Cục Quản lý Ngoại hối, Trung Quốc chưa có ý định nâng hạn ngạch đầu tư cho phép các tổ chức đầu tư tài chính tham gia TTCK Trung Quốc trong thời gian sắp tới
1.2.7.3 Kinh nghiệm của một số quốc gia khác
1) Đài Loan
Thị trường chứng khoán Đài Loan được thành lập năm 1962, đến nay có 638 công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán tập trung và 384 cổ phiếu giao dịch trên thị trường OTC Trên thị trường chứng khoán tập trung, tổng giá trị cổ phiếu niêm yết đạt khoảng 275 tỉ USD, trong đó các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ khoảng 12% Việc mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán được thực hiện từ năm 1982 với những bước đi thận trọng Từ những năm 80, Đài Loan cũng áp dụng hệ thống quản lý đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài theo cơ chế cấp hạn ngạch QFII mà Trung Quốc hiện nay áp dụng Sau đó, trong quá trình mở cửa
Trang 40Đề tài “Các biện pháp thu hút vốn FII vào TTCK Việt Nam” Nguyễn Thu Thủy
thị trường, Đài Loan nới dần các hoạt động quản lý NĐTNN và hiện nay, hệ thống này chỉ đơn giản là hệ thống đăng ký đầu tư Hệ thống đăng ký đầu tư của Đài Loan tương đối thông thoáng nhưng vẫn đảm bảo cơ quan quản lý nhà nước có đủ các thông tin cần thiết về hoạt động dòng vốn ra/vào TTCK cũng như bản chất và mục tiêu của nhà đầu tư
Nhà đầu tư nước ngoài chỉ được tham gia thị trường chứng khoán tập trung
và ban đầu chỉ có hai đối tượng được phép kinh doanh chứng khoán, đó là: ngân hàng phải nằm trong danh sách 500 ngân hàng lớn nhất thế giới và có lượng vốn trên 300 triệu USD để đầu tư chứng khoán; và các công ty bảo hiểm phải có thời gian kinh doanh bảo hiểm trên 10 năm và có tài sản trên 500 triệu USD Năm 1993, các điều kiện trên được nới lỏng (ngân hàng nằm trong nhóm 1.000 ngân hàng hàng đầu và công ty bảo hiểm có 5 năm kinh doanh bảo hiểm) và mở rộng thêm hai đối tượng là công ty quản lý quỹ (đã thành lập được 3 năm và có tài sản trên 300 triệu USD) và công ty chứng khoán (có tài sản 150 triệu USD và có kinh nghiệm kinh doanh chứng khoán) Các quy định tiếp tục được nới lỏng vào năm 1996 và năm
2003 Hiện nay, nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường chứng khoán của Đài Loan bao gồm: ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty quản lý quỹ, công ty tín thác và quĩ cộng đồng phải có vốn đầu tư chứng khoán trên 100 triệu USD, công ty chứng khoán phải có vốn trên 50 triệu USD
Tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu tăng dần từ 10%, 12%, 20%, 25%, 30% và 50% cổ phiếu công ty (qua các năm 1991, 1995, 1998, từ 1999 đến nay) Hạn mức đầu tư tăng từ 2,5 tỉ USD năm 1991 lên 7,5 tỉ USD (hiện nay), sau ba tháng hoạt động mới được chuyển vốn gốc ra nước ngoài và mỗi năm chỉ được chuyển lãi ra nước ngoài một lần, những hạn chế này được xóa bỏ hoàn toàn vào năm 2001
2) Malaysia
Malaysia không hạn chế các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào nước này, mà các giao dịch này chịu sự điều chỉnh của các hướng dẫn đầu tư do uỷ ban đầu tư nước ngoài quy định Các quy định này nhằm quản lý sự cân bằng về sở hữu vốn giữa các bên đối tác trong nước và nước ngoài