Trong các tranh chấp về thừa kế thì chủ yếu là những tranh chấp về di sản thừa kế, tranh chấp giữa tài sản chung của những người thừa kế khi một trong hai vợ chồng chết trước...Phần lớn
Trang 1
1 Tinh cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 2+ se©se+eerxerxersee 2
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 5- 2-5222 2xxeEkrkerxerkerkerrerrerrrree 3
3 Mục đích - Phạm v1 nghiÊn CỨU - - - <5 <1 HH ky 4
4 Phương pháp nghiÊn CỨU «5 + ng ng ng 5
5 Đóng góp mới của luận VĂT - si ng ng 5
6 Co cau cla LAr Van ececesecesesecesscsesecsssssecesececssecsssnssssvsesesecssacasaneveeens 6
CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN VE DI CHUC
1.1 Khái niệm, sự khác biệt giữa di chúc chung vợ chồng và di chúc thông
0") 117017 7 1.1.1 Khái niệm di chúc chung của vợ chỒng -. .¿7- 25+ ccccscez 7 1.1.2 Đặc điểm di chúc chung của vợ chồng -2- 2555 ccec5e2 8
1.1.3 Sự tất yếu hình thành di chúc chung của vợ chồng 10
1.1.4 Đặc thù của di chúc chung của vợ chồng .- - c - 12 1.2 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung của vợ chỒng - ¿+ + s2 21 2111121111711171111172 117271211 14 1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung của
vợ chồng trên thế giới 2-2-5 xe +x+ESEEEEEEEEEEEEEErkerkerkrrrerrerreee 15
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của chế định di chúc chung của vợ chồng tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch SỬ Ă sex 18
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HANH VE DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHÒNG 22
2.1 Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng - 22
2.1.1 Điều kiện về chủ thể lập di chúc . 2 se ©secseceerxersee 22
Trang 22.1.2 Điều kiện về nội dung và mục đích -2- 2 s+ce+cxerxecsee 25
2.1.3 Điều kiện về ý chí tự nguyện thống nhất - 2 + 5-5552 29
2.1.4 Điều kiện về hình thức -+- se +x+r+rxerxvreerxerxerxerxerree 31
2.1.5 Điều kiện về quan ly di sản khi một người chết trước 33 2.2 Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng - 33 2.2.1 Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của đi
Mì s3 PA 34
2.2.2 Trường hợp vợ chồng thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của di chúc
lì 36 2.3 Vẫn đề sửa đôi, bổ sung, hủy bỏ di chúc chung của vợ chồng 37 2.4 Mỗi quan hệ di chúc chung di chúc TIÊng «55+ s< c++<sessses 39 2.4.1 Trường hợp di chúc chung định đoạt tài sản riêng 40 2.4.2 Trường hợp vừa có di chúc chung vừa có di chúc riêng 43
CHUONG III: KIÊN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY DINH CUA PHAP LUAT VIET NAM HIEN HANH VE HIỆU LỰC DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHÒNG 46 3.1 Nhận xét về những bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực
pháp luật di chúc chung của vợ chỒng -+-2-7sccxcsecrerxerxerxerreee 46 3.1.1 Về thời hiệu khởi kiện về thừa kÉ 2©52ccccceererreeree 46 3.1.2 Về tài sản được quản lý bởi người còn sống - 47 3.1.3 Về tài sản chung và tài sản riêng -5-52©522ceerxerxereeree 47 3.1.4 Di chúc định đoạt vợ chồng là người thừa kế của nhau 48 3.2 Các giải pháp, kiến nghị . 2-2-2 s+cx+x+EeExerkvrerrxerxerxrrxerree 49
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Pháp luật công nhận quyền sở hữu tải sản của cá nhân và khẳng định cá nhân có quyền định đoạt tài sản theo ý của mình, Điều này đã được ghi nhận vả khẳng định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật Tính tự định đoạt, thỏa
thuận là một nét tiêu biểu trong quan hệ pháp luật dân sự Trong quan hệ thừa
kế, người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết Xã hội phát triển, trình độ dân trí nâng cao, người ta muốn định đoạt tài sản của mình
ngay cả khi chết đi bởi những gì họ đã làm, đã gắng và đang có trong tay Luật
Việt Nam quy định tai san vo chồng là thuộc sở hữu chung hợp nhất và vợ
chồng có quyền ngang nhau trong việc định đoạt tài sản Thực tế cho thầy không phải là hiếm những trường hợp vợ chồng lập di chúc chung Và vì pháp luật quy định không rõ ràng về vấn đề này, nên dẫn đến những cách hiểu không giống nhau của những người lập di chúc và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp khác của những người thừa kế
Thực tiễn giải quyết án về di chúc chung của vợ chồng ở các Tòa án tại các tỉnh, thành phố hiện nay rất ít, thậm chí là không có Theo thống kê tại Tòa
án nhân dân thành phố Hà Nội cho thấy, trong khoảng 59 vụ án xét xử phúc
thâm về quan hệ pháp luật thừa kế năm 2008 thì chỉ có hơn 10 vụ liên quan đến
di chúc, trong đó hầu như không có vụ án nảo về vẫn đề di chúc chung của vợ chồng' Trong các tranh chấp về thừa kế thì chủ yếu là những tranh chấp về di sản thừa kế, tranh chấp giữa tài sản chung của những người thừa kế khi một trong hai vợ chồng chết trước Phần lớn những tranh chấp nào liên quan đến di chúc thì cũng bị tuyên hủy hoặc không hợp pháp và chia thừa kế theo pháp luật
Chỉ có một vải vụ án liên quan đến di chúc của một trong hai bên vợ chồng còn
! Theo Số kết quả xét xử phúc thẩm các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân thành phó Hà Nội năn 2008
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 4sống định đoạt phần di sản của người đã chết trong khối tài sản chung là đề cập
chút ít đến đề tài mà luận văn đang nghiên cứu
Quyền lập đi chúc chung của vợ chồng tưởng là vấn đề đơn giản và rất
hợp ly vi no thể hiện đạo đức truyền thống của dân tộc ta Nhưng thực tiễn về đi chúc chung của vợ chồng đã cho thấy, đây là một vấn đề khá phức tạp mà luật hiện hành chưa quy định đầy đủ, rõ ràng Các thiếu sót, bất cập của luật, đã dẫn tới hậu quả là, làm cho van dé nay cang tro nén rắc rối, thậm chí còn tạo ra
nhiêu mâu thuần so với các quy định khác có liền quan
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, các công trình khoa học, các công trình nghiên cứu về vấn đề di
chúc chung của vợ chồng, cũng như tính hiệu lực pháp luật của nó không phổ
biến Có thể kể tên một số thầy giáo đã có tâm huyết trong việc nghiên cứu lĩnh
vực thừa kế, đặc biệt thừa kế theo di chúc như: Tiến sỹ Vũ Văn Mẫu với nghiên
cứu “Thừa kế theo di chúc trong luật Việt Nam”, Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Điện với nghiên cứu “Mộ số suy nghĩ về thừa kế trong luật Dân sự Việt Nam”, Tiễn sỹ Phạm Văn Tuyết với nghiên cứu “Thờa kế theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng”, Tiến sỹ Phùng Trung Tập với nghiên cứu “Luật Thừa kế Việt Nam ” cùng một số thầy cô giáo khác với các bài bình luận, phân tích trên các
tạp chí nghiên cứu như tạp chí Luật học, tạp chí Tòa án nhân dân, tạp chí Dân
chủ và pháp luật Tuy các thầy cô dù nhiều dù ít đề cập đến vấn đề di chúc chung của vợ chồng nhưng không thầy cô nảo nói về giá trị hiệu lực di chúc chung của vợ chồng cùng các biểu hiện cy thé của nó và các vấn đề pháp lý khác
nhau liên quan như điều kiện của di chúc chung của vợ chồng, mối quan hệ giữa
di chúc chung cua vợ chồng và di chúc riêng của vợ, di chúc riêng của chong
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 53 Muc dich - Pham vi nghién cwu
Ban chat của pháp luật là công cụ đề điều chỉnh xã hội, một trong những
tính chất của nó là tính phô biến, tường minh Nhưng không phải quy định nào
của pháp luật cũng được quy định một cách rõ ràng Người dân rất khó tiếp cận một vấn đề nào đó mà mình quan tâm Ngay cả khi người dân biết được pháp luật quy định vấn đề đó như thế nào cũng chưa chắc đã hiểu được đúng bản chất,
ý nghĩa của điều luật
Hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng là một vấn đề không hè dễ hiểu Dù pháp luật chỉ quy định ở một điều luật duy nhất là Điều 668 Bộ luật
Dân sự 2005 (BLDS 2005), nhưng nội hàm của điều luật ấy lại liên quan đến nhiều điều luật khác trong cùng Bộ luật và cả những điều luật thuộc văn bản
pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Di chúc chung của vợ chồng là một loại di chúc đặc biệt Tính chất đặc
biệt của nó thể hiện trong các quy định về chủ thể, nội dung, ý nghĩa, hình thức Nhưng những nội dung ay lại không được pháp luật quy định rõ Do đó,
tìm hiểu và làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về di chúc chung của
vợ chồng nói chung và hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng nói riêng
sẽ là mục đích đầu tiên của luận văn
Tiếp theo, trên cơ sở phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành, tác giả bài viết sẽ đưa ra những khúc mắc, những mâu thuẫn, sự chồng chéo dẫn tới sự bat hợp lý của các quy định này Những khúc mắc, những mâu thuẫn, sự chồng chéo, bất hợp lý xoay quanh những nội dung chủ yếu của di chúc chung vợ chồng và giá trị pháp lý của di chúc Ví dụ như những quy định
về thời điểm có hiệu lực di chúc chung của vợ chồng, di chúc riêng của vợ
chồng, những quy định về di chúc thông thường
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 6Và cuối cùng, luận văn sẽ đưa ra những kiến nghị, những đề đạt để những quy định của pháp luật về di chúc hạn chế được tối đa sự bất hợp lý, khắc phục những điểm bất tương đồng; để từng quy định trong vấn đề được hiểu thống nhất và áp dụng cho đúng Mặt khác, đóng góp một phần cho sự hoàn thiện pháp luật về di chúc trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung
e Pham vị:
Hiệu lực pháp luật di chúc là mảng đề tài rộng, bao gồm nhiều vấn dé trong đó có tính hợp pháp của một bản di chúc nhự hình thức, điều kiện, nội dung, chủ thê Nhưng trong giới hạn trình độ chuyên môn của mình, tác giả chỉ
đi vào nghiên cứu quy định pháp luật hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu về đề tài này, luận văn sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Chủ yêu nhất vẫn là dựa trên phương pháp nghiên cứu chủ nghĩa duy vật
biện chứng của C.Mác-Lênim; nhìn nhận vẫn đề trong mỗi quan hệ tong thé,
giữa cái chung và cái riêng của từng vấn đề, có logic, có qua có lại giữa các vẫn
dé; va tất cả đều hướng tới trọng tâm chính của dé tài là những giá trị pháp lý di
chúc chung của vợ chồng
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp như so sánh, phân tích, chứng minh để làm sang tỏ, từng vẫn đề cụ thể giữa các quy định cũ và mới, giữa những quy định chung và riêng nhằm đưa ra nhận xét, quan điểm của cá nhân đề làm nỗi bật lên vần đề cần nghiên cứu
3 Đóng gúp mới của luận văn
Đóng góp mới của luận văn với đề tài: “Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng” có ý nghĩa quan trọng Bởi đây
là một vấn đề mới và đặc biệt hữu ích trong thời kỳ hiện đại Luận văn làm sáng
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 7tỏ được một số vẫn đề mà pháp luật chưa quy định cụ thể Luận văn đã đưa ra được khái niệm di chúc chung của vợ chồng, sự khác biệt giữa di chúc thông thường và di chúc chung của vợ chồng Bên cạnh đó, luận văn đưa ra được những điều kiện để di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực pháp luật, tính tất
yếu của di chúc chung vợ chồng Đồng thời, luận văn so sánh di chúc chung của
vợ chồng theo pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia trên thế giới
để từ đó làm sáng tỏ những điểm đặc thù về di chúc chung của vợ chồng, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam
6 Cơ cấu của luận văn
- Mục lục
- Lời mở đầu
- _ Chương I: Một số vấn đề lý luận về di chúc chung của vợ chồng
- Chương II: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về di chúc chung của
vợ chồng
- Chương III: Kiến nghị các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành về hiệu lực di chúc chung của vợ chồng
- Tai ligu tham khao
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 81.1.1 Khái niệm di chúc chung của vợ chồng
Nghiên cứu bât kỳ một vân đê khoa học nói chung và van dé pháp lý nao nói riêng trước tiên chúng ta cần phải đi nghiên cứu khái niệm của nó Bởi nội
hàm của khái niệm ít hay nhiều cũng phản ánh nhiều yếu tố như bản chất, đặc
điểm của đối tượng nghiên cứu
Điều 646 Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) đã quy định “Di chúc là sự
thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết Khác với hợp đồng là sự gặp gỡ của hai hay nhiều ý chí tại một thời
điểm, di chúc được hình thành bởi sự bày tỏ ý chí của người lập di chúc mà thôi
Đó chính là giao dịch pháp lý một bên; theo đó, người có tải sản quyết định chuyển giao không có đền bù một phần hoặc toàn bộ tài sản của rnình cho người
thụ hưởng (có thể là một hoặc nhiều người, có thể là cá nhân hoặc tô chức) mà
không cần quan tâm người thụ hưởng ấy có ý chí như thế nào về việc chuyển giao nay
Di chúc là sự chuyên dịch tài sản của người chết cho người khác, đó là sự tôn trọng và bảo đảm của pháp luật đối với quyền tự định đoạt của chủ sở hữu
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 9với tài sản của họ Cần phải hiểu rằng, cho đến khi người lập di chúc chết, người thụ hưởng di sản theo di chúc không có bất cứ một quyền nào trên bat cứ tài sản nào của người lập di chúc và người thụ hưởng cũng không thể chắc rằng họ được hưởng những di sản ấy về sau này Điều đó có nghĩa là khi người lập di
chúc chưa chết thì thứ nhất, di chúc chưa có hiệu lực pháp luật; thứ hai, di chúc
có thê bị sửa đổi, bố sung, thay thế hoặc huỷ bỏ theo ý chí của ngưòi lập ra nó Ngoài ra, ngay cả khi người lập di chúc đã chết thì di chúc cũng có thé bị rơi vào một trong những trường hợp không có hiệu lực
BLDS 2005 chỉ đưa ra một quy định rất chung chung, mang tính tuỳ nghị,
đó là: “Vợ, chông có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung” (Điều
663 BLDS 2005) Co thé thay, BLDS 2005 không đưa ra một khái niệm cụ thể
thé nao là di chúc chung của vợ chồng Tuy nhiên, di chúc chung của vợ chồng
cũng có nhiều điểm tương đồng với di chúc của cá nhân Do đó, dựa vào khái
niệm di chúc thông thường, ta có thể đưa ra khái niệm di chúc chung của vợ chồng như sau: “Di chúc chung của vợ chéng là sự thể hiện ý chí đồng thuận, thống nhất của vợ và của chồng nhằm chuyển dịch tài sản chung của vợ chẳng cho người khác sau khi chết"
1.1.2 Đặc điểm di chúc chung của vợ chồng
Là một loại di chúc nên di chúc chung của vợ chồng cũng mang những đặc điểm của di chúc thông thường được nêu như là giao dịch pháp lý đơn phương, di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm người lập di chúc chết và di
chúc được sửa đôi, bô sung, thay thế, hủy bỏ theo ý chí của người lập di chúc
Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất đặc thù của di chúc chung, di chúc chung của
vợ chồng mang những đặc điểm khác biệt cần được lưu ý sau đây
Thứ nhất, về ý chí đơn phương của di chúc: Ngay cả khi vợ chồng cùng lập di chúc thì tính chất một bên của giao dịch vẫn không mắt đi Điều đó có
nghĩa là khi vợ chồng đã thỏa thuận, thống nhất định đoạt tải sản chung của rninh thì pháp luật hoàn toàn tôn trong Tai san ay có thể định đoạt một phần
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 10hoặc toàn bộ Người thụ hưởng có thể là cá nhân hoặc tổ chức bất kỳ mà không
phụ thuộc vào quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng Vợ chồng lập di chúc chung có thể gắn nghĩa vụ hoặc không gắn nghĩa vụ đối với người thụ hưởng và cũng không cần quan tâm người thụ hưởng ấy có đồng ý, có muốn nhận di sản hay không Đây là sự chuyển giao không có đền bù và hoàn toàn phụ thuộc ý chí của
vợ chồng lap di chic chung Tinh chất một bên ở đây không phải là khi vợ chồng lập di chúc chung thì chỉ có một bên hoặc vợ hoặc chồng thể hiện ý chí
Mà một bên ở đây là sự xác lập giữa một bên lập di chúc để định đoạt tài sản của
minh, cy thé @ đây là cả vợ và chồng với một bên là người thụ hưởng Tính chất một bên là xuất phát từ ý chí của người lập di chúc
Tóm lại, không có sự ràng buộc hoặc căn cứ nào bắt buộc vợ chồng phải tuân theo khi vợ chồng đồng thuận định đoạt tài sản chung của mình
Thứ hai, khi vợ chồng lập di chúc chung, việc sửa đổi, bỗ sung, thay thế
và hủy bỏ di chúc chỉ có thể được thực hiện khi có sự đồng ý của cả hai người nếu cả hai còn sống Trong trường hợp một người chết trước, người còn sống chỉ
có thê sửa đổi, bỗ sung di chúc liên quan đến phần tải sản của mình trong khối
tài sản chung và nhất là không thê thay thế, hoặc hủy bỏ di chúc chung đã lập
Có thể hiểu vấn đề này như sau: vợ chồng thỏa thuận thống nhất ý chí lập di
chúc chung thì khi sửa đổi, bố sung thay thế hủy bỏ di chúc ấy cũng phải có sự thỏa thuận thống nhất ý chí của cả hai người Sự thống nhất ý chí này phải được
cụ thể ở từng vấn đề của di chúc chung ấy Ví dụ nếu người chồng muốn bỗ sung người thừa kế là con riêng ngoàải giá thú của mình trong di chúc chung thi phải có sự đồng ý của người vợ Sự đồng ý của người vợ bao gồm là đồng ý cho
bổ sung thêm người thừa kế, đồng ý với người thừa kế đó là con riêng của chồng, đồng ý với số tài sản sẽ giảnh cho người con đó, đồng ý với việc có trao nghĩa vụ cho người đó hay không Nếu người vợ chỉ đồng ý cho người chồng
bỗ sung thêm người thừa kế mà không biết người đó là ai, người đó được hưởng bao nhiêu thì sự thay đôi di chúc chung đó của người chồng không được coi là
đã có sự thống nhất ý chí với người vợ Nói cách khác, sự thống nhất ý chí được
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 11biểu hiện ra ngoài khi cả vợ và chồng cùng tham gia vào việc thay đôi những nội dung liên quan đến di chúc chung đã lập Khi cả hai còn sống, một người thay
đổi di chúc chung mà không có sự đồng ý của người kia thì sự thay đổi ấy không
có giá trị pháp lý Trong trường hợp một người chết trước, người còn sống muốn thay đổi những nội dung liên quan đến di chúc chung của vợ chồng đã lập thì chi
có thể sửa đôi, bô sung di chúc chung liên quan đến phần tài sản của mình trong khối tài sản chung (vì tài sản định đoạt trong di chúc chung là tài sản chung) Nếu nguoi con song thay thế hoặc hủy bỏ di chúc chung: sửa đôi, bố sung liên quan đến phần tài sản của người đã chết trong di chúc chung thì những sự thay
đổi đó sẽ không có giá trị, không được pháp luật công nhận
1.1.3 Sự tất yếu hình thành di chúc chung của vợ chồng
Tại sao pháp luật lại quy định chủ thê có quyền lập di chúc chung đề định
đoạt tài sản của mình sau khi chết chỉ có thê là vợ chồng mà không trao quyền này cho những trường hợp khác Điều này có thể được lý giải bởi các lý do sau đây:
Thứ nhất, về mỗi quan hệ vợ chồng: chồng vợ là khái niệm chỉ hai cá
nhân nam nữ độc lập trong xã hội, gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân hợp
pháp Khi là vợ chồng, vợ chồng phải “cung thủy, thương yêu, quỷ trọng, chăm chỉ, giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bằn vững” (Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000) Xuất phát từ bản chất của hôn nhân là vợ chồng cùng chung tay xây dựng mái am, cùng nghĩa vụ yêu thương chăm sóc nhau, chăm nơm gia đình, giáo dục nuôi dưỡng các con Trong gia đình ấy, vợ chồng cùng phải nhìn về một phía, vì sự phát triển chung Thứ hai, về tài sản: Bên cạnh đời sống tỉnh cảm vợ chồng còn phải quan
tâm tới vấn đề vật chất, tài sản của vợ chồng Cuộc sống chung của vợ chồng cùng với tính chất của quan hệ hôn nhân đã xác lập đòi hỏi vợ chồng phải có
khối tải sản chung Và khối tai sản ấy sẽ là cơ sở kinh tế của gia đình, đáp ứng
các nhụ câu thiết yêu của gia đình đề từ đó thực hiện tốt các chức năng xã hội
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 12Tài sản chung của vợ chồng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng như vậy Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 quy định: “Tài sản chung của vợ chỗng gồm tài sản do vợ, chẳng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chẳng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chẳng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chẳng thỏa thuận là tài sản chung” Tài sản chung của vợ
chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung ay thường được sự nhất trí của vợ chồng
Vậy nên vợ chồng có quyền lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung
là vấn đề cần thiết Tuy nhiên sự định đoạt này chỉ được đảm bảo nếu vợ chồng đều tự nguyện, thống nhất và tuân theo các quy định của pháp luật về di chúc hợp pháp Di chúc chung của vợ chồng là loại đi chúc đặc biệt được xác lập do hai người có tài sản chung hợp nhất, cùng định đoạt chung Bởi vậy, BLDS
2005 đã quy định về loại đi chúc đặc biệt và phức tạp nảy Nếu vợ chồng không đồng thuận trong việc lập di chúc chung này thì họ có thé lập di chúc riêng cho mình; mỗi người đều có thê lập di chúc riêng để định đoạt một nửa khối tải sản chung hợp nhất của vợ chồng và những tải sản thuộc sở hữu riêng của người đó Thứ ba, về mỗi quan hệ của vợ chẳng với những người thừa kế như ta đã biết nam nữ sau khi xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp hình thành nên gia đình
— tế bào của xã hội “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau Ảo quan
hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau” (Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000) Pháp luật cho phép vợ chồng lập di chúc chung cũng xuất phát từ sự liên kết ràng buộc đó Thông thường, vợ chồng lập di chúc chung để trao quyền thừa
kế cho những người có cùng quan hệ huyết thống (các con đẻ của vợ chồng, cha
mnẹ anh chị em ruột của một bên vợ hoặc chồng) hoặc quan hệ nuôi dưỡng như con nuôi Người thừa kế cũng có thé là cá nhân, tổ chức khác không thuộc các
quan hệ trên nhưng điều đó ít khi xảy ra khi vợ chồng lập di chúc chung Mặt khác, dù vợ chồng có định đoạt tài sản chung không cho những người trong gia
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 13đình (thuộc ba quan hệ: hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng) hưởng thì pháp luật
cũng hạn chế sự định đoạt đó bằng điều luật 669 BLDS 2005
Thứ tư, về thực tế: từ lâu đời vẫn đề di chúc chung của vợ chồng đã có từ lầu đời và ngày càng trở nên phố biến trong đời sống xã hội hiện đại Nó thể hiện truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc ta, thê hiện đạo lý tỉnh nghĩa vợ
chồng Và chế định này đã được BLDS 2005 quy định để tôn trọng ý chí của họ
Đó cũng là sự tất yếu hình thành di chúc chung của vợ chồng
Từ sự tất yếu trên, có thể nhận thấy quy định hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng có ý nghĩa rất quan trọng 7 nhất, hiệu lực pháp luật di
chúc chung giúp chia thừa kế theo di chúc chung một lần, nhằm tránh chia di san
nhiều lần; vì điều luật quy định di chúc chung của vợ chồng chỉ có hiệu lực từ hai thời điểm xác định là TIEƯỜI Sau cùng chết hoặc vợ chồng cùng chết Thứ hai,
đảm bảo quyền sở hữu và quyền sử dụng di sản thừa kế của người sống: vi tai sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là loại tài sản chung hợp nhất;
khi nó được định đoạt bằng một chúc thư chung thì phần nào đó các quyền của
người thừa kế sẽ được đảm bảo một cách ưu việt hơn so với việc không có di chúc hoặc di chúc riêng Thứ ba, việc quy định như vậy, phần nảo đó ngăn chặn
sự mắt ôn định của gia đình; bởi một khi động chạm đến vấn đề lợi ích, tài sản tiền bạc thì rất dễ xảy ra mâu thuẫn giữa những người trong gia đình với nhau, đặc biệt khi một người chết trước, người còn sống quản lý di sản chưa chia, những người thừa kế theo di chúc chưa thể nhận di sản từ di chúc chung của vợ chồng Tnà người vợ hoặc người chồng còn sống Di sản đang được quản lý đó
cần luôn đảm bảo sự minh bạch rõ rằng
1.1.4 Đặc thù của di chúc chung của vợ chồng
Trên cơ sở khái nệm, đặc điểm di chúc chung của vợ chồng đã nêu ra Ở
trên, ta thấy cùng là di chúc, di chúc chung của vợ chồng có những đặc điểm
giống di chúc thông thường Nhưng vì là một loại di chúc đặc biệt, di chúc chung của vợ chồng so với di chúc thông thường có một số điểm đặc thủ sau:
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 14nhân có quyền lập di chúc riêng
để định đoạt tài sản của mình, trừ
trường hợp di chúc chung của vợ
bao gồm tài sản riêng và phần tài
sản trong khối tài sản chung với
người khác
Là tài sản chung hợp nhât của vợ
chồng; không bao gồm tải sản
riêng; nếu vợ hoặc chồng định
đoạt tài sản riêng trong di chúc chung thì cũng không được xem
Có thê băng miệng, băng văn bản
hoặc các hình thức tương đương
Dù điêu luật không quy định, nhưng vợ chồng có thể lập di
chuc chung bang văn bản hoặc
bằng miệng nếu đáp ứng đủ các điều kiện của pháp luật
Người
hưởng Không bao giờ là người lập ra di
đến người chết trước có hiệu lực
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 15
là một trong những người thừa kế của người chết trước
Hiệu lực
pháp luật
Điều 667 BLDS 2005: “Di chúc
có hiệu lực pháp luật kể từ thời
điểm mở thừa kê”
Điều 6ó8 BLDS 2005: “Di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực
từ thời điểm người sau cùng chết
hoặc tại thời điểm vợ chồng cùng
chúc hoặc được những người
thừa kế thoả thuận cử ra Và
người này chỉ có thể bảo quản,
tránh sự hao hụt của di sản Nếu
di sản phát sinh hoa lợi, lợi tức
thì thuộc di sản thừa kế
Nêu một người chết trước, người
vợ hoặc chồng còn lại quản lý sử dụng và phát triển khối tài sản của vợ, chồng Sau thời điểm một người chết, người còn lại
phát triển gia sản và làm ra tải sản mới thì đó là tài sản riêng của người đó, không nằm trong khối
“di san” ma vo chồng đã định đoạt trong di chúc chung
1.2 Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung của vợ chẳng
Quá trình hình thành và phát triển pháp luật về đi chúc chung của vợ chồng là phần nội dung nghiên cứu tiến trình lịch sử được sắp xếp theo thời gian
của chế định di chúc chung của vợ chồng trên thé giới và tại Việt Nam; trong đó
chủ yếu tập trung tìm hiểu quá trình đó tại Việt Nam
Day la phan tim hiểu giúp chúng ta có cái nhìn mở rộng và toàn diện hơn
về che dinh di chic chung cua vo chong
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 161.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung của vợ chồng trên thế giới
Trước khi đi tìm hiệu pháp luật của các nước trên thê giới về quyền lập di chúc chung của vợ chồng, chúng ta đi xem xét pháp luật của những quốc gia không ghi nhận quyền này trong hệ thống pháp luật của họ Tiêu biểu đó là Luật
La Mã và pháp luật Cộng hòa Pháp Sở dĩ chọn hai hệ thống pháp luật này vì vị trí, ý nghĩa và vai trò của nó có tác động lớn tới sự hình thành phát triển hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Đặc biệt từng là thuộc địa của Pháp, Việt Nam chịu ách thống trị nặng nề cả về kinh tế, văn hóa Pháp luật của Việt Nam thời kỳ đó cũng bị chị phối, ảnh hưởng rất nhiều của Bộ luật Dân sự Pháp
Thứ nhất, Luật La Mã là một Bộ luật cỗ xưa nhất trong văn minh nhân
loại Nó có vai trò và vị trí vô cùng lớn đối với sự phát triển pháp luật của tất cả
các nước trên thế giới từ cổ chí kim Nhiều chế định của Luật La Mã có giá trị như một nguồn tri thức chung của nhân loại về cầu trúc lập pháp và trình độ lập
pháp Những quy định của Luật La Mã đã đặt nền móng vững chắc có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hầu hết tất cả luật thành văn của các nước trên
thế giới trong quá trình xây dựng luật dân sự hiện đại Đặc biệt có thé thấy các quy định hết sức mở thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với quyền bình đẳng của con người trong các gia đình vợ chồng, con cái, trong các quan hệ hợp đồng như mua bán, sở hữu, thừa kế
Khái niệm luật La Mã, theo Ang-ghen: “Luật La Mã là hình thức pháp luật hoàn thiện nhất dựa trên cơ sở tư hữu Sự thể hiện pháp lý những điều kiện sống và những xung đột xã hội trong đó thông trị tư hữu mà những nhà làm luật sau đó không thể mang thêm điều gì hoàn thiện hơn ” Luật La Mã là một nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu pháp luật và các nhà lập pháp trong thời hiện đại
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 17Trong lĩnh vực thừa kế, Luật La Mã quy định hai hình thức cơ bản là thừa
kế theo di chúc (/esfaro) và thừa kế theo lu4t (intestato), ngoài ra còn có thừa kế theo lệnh của các quan Tuy nhiên, trong thừa kế theo di chúc lại không hè đề cập đến vẫn đề di chúc chung của vợ chồng Cho đến nay các nhà làm luật vẫn
không lý giải được tại sao pháp luật La Mã lại không quy định van đề di chúc
chung của vợ chồng trong hệ thống pháp luật của mình
Thứ hai, pháp luật Cộng hỏa Pháp là một hệ thông được xếp vào hàng danh giả, có ý nghĩa và ảnh hưởng lớn với các nước trên thế giới, đặc biệt là các
nước châu Âu lục địa Trong hệ thống pháp luật ay, nôi bật nhất là Bộ Luật Dan
sự Napoleon 1804 Đó là một bộ luật đồ sộ, tồn tại lâu đời, còn nguyên giá trị
cho đến bây giờ Trong lĩnh vực thừa kế, dù pháp luật của Pháp cho phép “Mọi người đều có thể định đoạt bằng di chic dé lập thừa kế hoặc để di tặng hoặc được gọi bằng bất cứ tên nào khác để thể hiện ý chỉ của mình" (Điều 961 Bộ
Luật Dân sự Pháp) Tuy nhiên các nhà làm luật Pháp lại không chấp nhận vẫn đề
di chúc chung của vợ chồng, điều đó thể hiện tại một điều luật riêng biệt Điều
968 Bộ Luật Dân sự Pháp quy định: “Hai hoặc nhiều người không thể làm chung một di chúc để lại tài sản cho một người thứ ba hoặc để lại tài sản cho
nhau” Điều đó có nghĩa là mặc dù tôn trọng sự tự định đoạt tài sản của chủ sở hữu nhưng pháp luật Pháp lại hạn chế một số trường hợp định đoạt tài sản nảy,
thể hiện qua việc không cho phép vợ chồng lập di chúc chung mà không phân biệt vợ chồng đó theo chế độ cộng đồng tài sản hay chế độ phân sản trong hôn nhân
Hai hệ thống pháp luật tiêu biểu trên đều là những công trình đồ sộ, nơi tập hợp trí tuệ của các luật gia lỗi lạc thời đó Nhưng cả hai hệ thống pháp luật
đó đều không quy định di chúc chung của vợ chồng cũng là một điều đáng phải suy nghĩ Ta biết việc xây dựng pháp luật của mỗi quốc gia phụ thuộc nhiều vào
tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, trình độ lập pháp của quốc gia đó
Khó có thể áp dụng nguyên vẹn một hệ thống pháp luật nào vào điều kiện thực
té của một quốc gia khác Việc quôc gia này quy định một vân đề nào mả quốc
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 18gia khác không quy định là điều dễ hiểu và đương nhiên Vậy nên có những quốc gia vẫn quy định di chúc chung của vợ chồng trong hệ thống pháp luật của
mình Chúng ta sẽ đi tìm hiểu hai hệ thống pháp luật tiêu biểu, đó là hệ thống
pháp luật Cộng hòa liên bang Đức và hệ thống pháp luật của Quebec (Canada) Thứ nhất, pháp luật của Cộng hòa liên bang Đức cũng như pháp luật Cộng hòa Pháp đều được hình thành trên cơ sở kết hợp luật tập quán địa phương
và Luật La Mã nhưng lại có sự khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật này trong
vấn đề di chúc chung của vợ chồng Ở Đức, các để chế Đức tồn tại thời kỳ giữa năm 962 và năm 1806 tự cho mình là kế thừa của đề chế La Mã Luật La Mã
được nghiên cứu tại các trường đại học của Đức vả các nước lục địa châu Âu và
được coi là nguồn luật bổ sung, được áp dụng trực tiếp nếu luật pháp thành văn
va tập quản pháp luật của họ chưa có quy định đối với quan hệ xã hội cần thiết phải điều chỉnh pháp luật
Bộ luật Dân sự Đức năm 1896 được gọi là “proƒessorenrechf”, tức là luật của các giáo sư bởi sự thành công trong kỹ năng lập pháp cũng như trong các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh Pháp luật của Đức quy định vợ chồng có thể lập di chúc chung
Thứ hai, từng là một trong những phần lãnh thô thuộc Pháp, nhưng
Quebec (hiện nay thuộc Canada) lại quy địh theo hướng công nhận di chúc chung của vợ chồng
Với những quốc gia này nếu khi kết hôn vợ chồng lập hôn ước để định
đoạt tài sản của mình hoặc hôn nhân của họ là chế độ phân sản thì quyền lập di chúc chung cũng không bị hạn chế trừ điều kiện về tải sản vợ chồng định đoạt
trong đi chúc phải là tài sản chung Tuy nhiên, trường hợp này gặp tất ít trên thực tế; và đa phần di chúc chung của vợ chồng được lập trên cơ sở chế độ cộng đồng tài sản của vợ và chồng
Ngoài ra, với những nước thuộc hệ thống common law, đặc điểm giải
quyết tranh chấp của họ là phụ thuộc phần lớn vào những case (án lệ) Và hầu như không có vụ tranh chấp, rắc rỗi nào là không giải quyết được Nếu không có
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 19case thì hướng giải quyết phụ thuộc vào y chi chủ quan của người thâm phán giải quyết vụ án đó Tranh chấp di chúc chung của vợ chồng ở những nước này nếu có không phải là không có hướng giải quyết
Để tránh sự xung đột pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp giữa những quốc gia có công nhận hoặc không công nhận di chúc chung của vợ chồng, Công ước Whasington 1984, hay còn gọi là Công ước về vấn đề di chúc
quốc tế đã quy định: Di chúc có hiệu lực kế từ thời điểm nó tuân thủ các quy
định về hình thức của di chúc quy định trong pháp luật của nước nơi lập di chúc hoặc các quy định về hình thức của di chúc của nước mà người lập di chúc có quốc tịch Quy định này có ý nghĩa rat quan trọng, đặc biệt trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề di chúc nói chung và đi chúc chung của vợ
chồng nói riêng có tính chất nước ngoài Đặc biệt nó đã hài hòa được phần nào những khác biệt giữa các hệ thông pháp luật trên thế giới
1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển của chế định di chúc chung của vợ chồng tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
Đây là phần tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của chế định di chúc chung của vợ chồng qua các thời kỳ lịch sử trong pháp luật Việt Nam từ cô luật, thời kỳ Pháp thuộc, thời kỷ 1954 — 1975, thời kỳ 1975 — nay Có sự phân
định như vậy là vì mỗi thời kỳ đó ở Việt Nam gan với điều kiện chính trị, kinh
tế, xã hội, phong tục tập quán nhất định; mà pháp luật lại là sản phẩm của trí tuệ
con người phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể ấy Thời kỳ sau không hoàn toàn giống thời kỳ trước mà nó có sự biến đối, kế thừa và phát triển cho phù hợp với tình hình thực tế
* Cổ luật
Hệ thống văn bản pháp luật của nước ta thời kỳ này khá rời rạc Những van đề về thừa kế đã không còn được lưu giữ kế từ trước thời kỳ nhà Lê (1428 — 1527) Chỉ dưới thời vua Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông mới ban hành một số
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 20điều luật về thừa kế Quan điểm của các nhà làm luật thời này khá gần với quan
điểm hiện đại về thừa kế
Khi ban hành Bộ Quốc Triều Hình Luật, hay còn gọi là Bộ Luật Hồng Đức, các vấn đề về thừa kế theo di chúc được quy định tại các Điều 354, Điều
388 Ở đây, nguoi con gai co quyén thừa kế ngang bằng người con trai và Bộ luật đã phân định nguồn gốc tài sản của vợ chồng là tài sản riêng của mỗi người
và tài sản chung của vợ chồng Đây là một điểm được đánh giá là rất tiễn bộ, tuy
nhiên bộ luật lại không có quy định về di chúc chung của vợ chồng
Bộ Hoàng Triều Luật Lệ, tức Luật Gia Long dưới thời nhà Nguyễn SO VỚI
Bộ Luật Hồng Đức thì hà khắc hơn rất nhiều; cụ thể những vấn đề về bình đẳng nam nữ không được công nhận; luật không đề cập về quyền thừa kế của con gái
với những tài sản thông thường và mặc dù luật có quy định về thừa kế theo di chúc nhưng vấn đề di chúc chung không được đề cập
Tuy nhiên theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, việc lập di chúc chung của vợ chồng lại được thừa nhận từ lâu trong phong tục tập quản, thể hiện quan niệm
truyền thống đạo lý người Việt coI trọng nghĩa tảo khê, luôn củng có tình yêu
thương, sự gắn kết trong gia đình và thực tiễn tục lệ của Việt Nam trong các xã
hội trước đây cho thấy di chúc chung của vợ chồng là hình thức di chúc thông dụng và việc vợ chồng cùng lập di chúc chung là hiện tượng phô biến thời bay gid’
* Thời kỳ Pháp thuộc
Thời kỳ nảy chúng ta có ba Bộ luật tiêu biểu là Bộ Dân luật Giản yếu
1883, Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung kỳ 1936; và tất cả chúng
đều dựa trên cơ sở những nguyên tắc đại cương của Bộ Dân Luật Pháp 1804
nhưng lại có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với đời sống, sinh hoạt người Việt
Luật quy định trong gia đình, người vợ không có quyền định đoạt tài sản
chung của vợ chồng Điều 346 Dân luật Bắc kỳ và Điều 341 Dân luật Trung kỳ
đêu quy định: Nêu người chồng chết trước, thì người vợ chỉ được hưởng tai san
! Vũ Văn Mẫu “Thừa kế theo di chúc trong luật Việt Nam”
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 21riéng cua minh, con tài sản chung thì không được hưởng Người vợ goá chỉ trở
thành sở hữu di sản của người chồng khi không còn thừa kế nào về bên nội, bên
ngoại của người chồng Trong trường hợp người vợ chết trước, thì Điều 113 Dân Luật Bắc kỳ và Điều 111 Dân Luật Trung kỳ đều quy định: Người chồng đương nhiên trở thành chủ sở hữu duy nhất của tất cả tài sản chung của vợ chồng, trong
đó có cả tài sản riêng của vợ
Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý, đó là luật đã ghi nhận quyền lập di chúc chung của vợ chồng Tại Điều 321 Dân luật Bắc kỳ và Điều 313 Dân luật
Trung kỳ quy định: “Người cha được lập chúc thư đề xử trí tài sản chung của gia đình tuỳ theo ý mình, nhưng phải có vợ chính đồng ÿ Trừ tài sản của vợ chính ra thì người chẳng được làm chúc thư để xử trí tài sản của gia đình tùy
theo ý mình, không có vợ chính thuận tình cũng được”
di sản của người chết trước, người sống vẫn có quyên huỷ bãi hay thay đổi chúc thư về phân mình `
Còn hai văn bản khác là Luật gia đình 1959 và Sắc luật 64 lại không đề
cập đến vần đề di chúc chung của vợ chồng
* Thời kỳ 1975 — nay
Trước khi có Pháp lệnh thừa kế ngày 30-8-1990, thì chỉ có Thông tư 81 của Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 24-7-1981 đề cập một cách tương
đối toàn diện về chế định thừa kẻ, trong đó có đề cập đến vân đề di chúc chung
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 22của vợ chồng Sau khi Pháp lệnh thừa kế ban hành, chương II của Pháp lệnh đã
quy định trình tự thừa kế theo di chúc và dù không trực tiếp quy định về di chúc
chung của vợ chồng nhưng cũng gián tiếp thừa nhận hiệu lực của di chúc chung,
và những quy định này đã được pháp điển hoá tại phần thứ tư Bộ luật dân sự 1995 Mặt khác, luật Hôn nhân và gia đình 1986, Luật Hôn nhân và gia đình
2000 hiện hành đều khang dinh “Vo chéng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” và dù pháp luật tôn trọng sở hữu riêng của mỗi bên vợ và chồng nhưng Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã quy định: “Tời sản chung của vợ chông thuộc sở hữu chung hợp nhất"
Điều 635 Bộ luật dân sự 1995 cũng đã quy định về quyền bình đẳng trong quan hệ thừa kế “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyển để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật” Điều
đó có nghĩa là phụ nữ hay là nam giới đều bình đẳng với nhau trong việc để lại
di sản thừa kế, hưởng di sản thừa kế, có toàn quyền định đoạt tài sản của mình;
Chính vì thế, việc lập di chúc chung của vợ chồng để định đoạt tài sản đã được
quy định khá rõ trong những điều luật riêng biệt (Điều 667, Điều 671 Bộ luật
Dân sự 1995)
Và các quy định này đã có nhiều sửa đổi trong BLDS 2005, cụ thể tại các Điều 663, Điều 664 và Điều 668 Nếu Điều 671 Bộ luật Dân sự 1995 quy định
về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng: “Trong trường hợp vợ,
chông lập di chúc chung mà có một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên quan đến phân di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật; néu vo, chéng có thỏa thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc
là thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chẳng theo di chúc chung chỉ được phaan chia từ thời điểm đó ” thì trong BLDS 2005 lại chỉ quy định hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng: “Di cbúc chung của vợ, chẳng có hiệu lực từ thời điêm người sau cùng chết hoặc tại thời điêm vợ, chông cùng
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 23chét”, ma không quy định cụ thể trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng chết
trước thì giả trị di chúc chung sẽ như nảo
CHƯƠNG 2:
QUY ĐỊNH PHAP LUAT VIET NAM HIEN HANH VE
DI CHUC CHUNG CUA VQ CHONG
2.1 Điều kiện có hiệu lực của dĩ chúc chung của vợ chẳng
Di chúc chung của vợ chồng cũng giống di chúc thông thường muốn có hiệu lực trước hết phải được thừa nhận là hợp pháp Và một di chúc hợp pháp thì phải đảm bảo những điều kiện của pháp luật về chủ thẻ, về ý chí, về hình thức,
về nội dung và một số điều kiện khác Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất đặc biệt,
di chúc chung sẽ phải đảm bảo những điều kiện cụ thể khác nữa mà nếu không tuân theo thì di chúc chung ấy cũng không được công nhận
2.1.1 Điều kiện về chủ thế lập di chúc
DI chúc nói chung và di chúc chung của vợ chồng nói riêng là một giao dịch pháp lý đơn phương Nó cũng phải đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của
giao dịch dân sự Một trong những điều kiện đầu tiên mả người lập di chúc cần
phải có đó là năng lực hành vi dân sự Khoản 1 Điều 122 quy định: “Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự ” Đó là khả năng của vợ, chồng thông qua hành vi của mình để thực hiện các quyền và gánh vác các nghĩa vụ Theo quy định của pháp luật, một người được coi là có năng lực hành vị dân sự đầy
đủ khi người đó đủ mười tám tuổi mả không mắc các bệnh không thê nhận thức
và làm chủ được hành vi của mình Về nguyên tắc chỉ những người đủ mười tám tuôi trở lên mới có quyền lập di chúc Tuy nhiên, khoản 2 Điều 647 BLDS 2005
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 24quy định: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tắm tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giảm hộ đồng ý” Điều đó có nghĩa là, những người này khi họ có tài sản nhất định thì vẫn có quyền lập di chúc để định
đoạt tài sản của mình Tuy nhiên, ở độ tuổi nảy, cá nhân mới chỉ đạt được sự
nhận thức nhất định, chưa thể coi là hoàn thiện, chưa thể kiểm soát được sự định
đoạt của mình nên pháp luật quy định chỉ khi có sự cho phép của cha, mẹ hoặc
người giám hộ người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuôi mới có quyền lập di chúc Vấn đề không có gì đáng nói và tưởng chừng những quy định
của pháp luật về vấn đề trên hoàn toàn hợp lý nếu không có sự khác biệt giữa những quy định ấy với Luật Hôn nhân và Gia đình Ta biết Điều 663 BLDS
2005 cho phép: “Vợ chẳng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung ” Trong khi điều kiện đầu tiên để nam nữ có thê kết hôn là yêu cầu về độ
tuôi “Nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên ” (Khoản 1 Điều
9, Luật Hôn nhân và Gia đình 2000) Ở đây ta thấy sự mâu thuẫn Điều 18
BLDS 2005 quy định “Người từ đủ mười tắm tuổi trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên ” Nếu người nữ qua tuôi mười bảy (tức là chỉ cần một ngày sau sinh nhật của người ấy), bước sang tuôi
mười tám mà kết hôn thì theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 điều đó hoàn
toàn hợp pháp Nhưng nếu sau khi kết hôn, TEƯỜI này cùng chồng thỏa thuận thống nhất lập di chúc chung thì đi chúc ấy có được pháp luật công nhận hay không Vì trong trường hợp này, người vợ không có đầy đủ năng lực hành vi
dân sự đề tự mình quyết định việc lập di chúc Người vợ muốn lập di chúc thì phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ Quy định như vậy có là hợp
ly vì người con gái sau khi “xuất giá” (“làm con nhà người”) muốn định đoạt tài sản, ở đây lại là tài sản chung với người chồng cua minh, lai phai xin y kiến của cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý hay không đồng ý Nếu cha, mẹ hoặc TEƯỜI giám hộ không đồng ý thì có phải là đã không đảm bảo quyền lập di chúc này của người vợ Nhưng nếu không quy định quyền lập di chúc của người vợ trong trường hợp nảy thì cũng không là hợp lý, không đảm bảo yếu tố công bằng so
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 25với những chủ thể khác Vậy nếu người vợ cùng chồng thỏa thuận thống nhất
lập di chúc chung mà người vợ không xin ý kiến của cha, mẹ hoặc TIBƯỜI giảm hộ; hoặc có xin ý kiến mà cha, rnẹ hoặc người giám hộ không đồng ý nhưng
người vợ cùng chồng vẫn lập di chúc chung thì di chúc ấy có giá trị pháp lý, có được pháp luật công nhận hay không?
Pháp luật không đề cập vẫn đề này, phải chăng các nhà làm luật cho rằng:
Thứ nhất, những người từ mười tám tuôi đối với nữ mà kết hôn không phải là nhiều, đặc biệt trong xã hội hiện đại; Thứ hai, các nhà làm luật đã loại trừ khả năng vợ chồng mới cưới có khối tài sản chung nhất định để định đoạt những tải
sản ấy trong di chúc chung Sự lý giải như vậy hoàn toàn không hợp lý Không
phải vì Ít xảy ra mà pháp luật lại không quy định Mặt khác, không thể nói vợ
chồng mới cưới chưa thể có khối tài sản chung nhất định được Vì có khả năng,
nam ni chung sống với nhau như vợ chồng đã lâu, đợi đến khi đủ tuôi họ mới đăng ký kết hôn, chính thức trở thành vợ chồng trước pháp luật Khối tài sản mà
họ đã có với nhau có thể được họ thỏa thuận làm tài sản chung Hơn nữa, những tài sản mà hai vợ chồng nhận được trong lễ cưới cũng không hắn là không có giá
tri
Thiết nghĩ, nam nữ khi đến tuổi kết hôn, tức là họ đã đạt được sự phát
triển nhất định về thể xác lẫn trí tuệ Người con gái sau khi đi lấy chồng trở
thành người phụ nữ biết lo toan, thu vén mọi chuyện trong gia đình nhà chồng,
không còn sống cuộc sống phụ thuộc nhà mẹ đẻ và cũng không thể coi người vợ
trong trường hợp nảy không có đủ sự kiểm soát đối với sự định đoạt của mình
được nữa Cho nên, không phải chuyện gì cũng phải có sự tham gia, đồng ý, đóng góp của cha, mẹ hoặc người giám hộ Trong trường hợp lập di chúc chung này cũng vậy Mặc dù pháp luật quy định người chưa thành niên muốn lập di
chúc phải có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ Nhưng thật phi lý khi
đây là di chúc chung mà người vợ muốn lập với người chồng của mình, định đoạt những tải sản mà vợ chồng có trong đời sống chung Vậy nên có thể coi đây là trường hợp ngoại lệ của khoản 2 Điều 647 BLDS 2005
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 26Tiếp nữa, đây là một giao dịch pháp lý đơn phương được thực hiện bởi
hai chủ thể là vợ và chồng cùng thỏa thuận thống nhất lập di chúc chung Điều kiện cần thiết phải có đối với di chúc chung nữa là phải còn tồn tại tình trạng hôn nhân giữa vợ và chồng Tôn tại tình trạng hôn nhân được hiểu là trên phương diện pháp luật họ là vợ chồng của nhau một cách hợp pháp (có đăng ký kết hôn hoặc hôn nhân thực tế do nam nữ sống chung trước ngày 3/1/1987 không đăng ký kết hôn và được công nhận là vợ chồng) Ở đây loại trừ khả năng tình trạng hôn nhân chấm dứt do một người chết trước (bao gồm cả chết về mặt
sinh học và chết về mặt pháp lý), vì đây là sự chấm dứt tình trạng hôn nhân ngoài ý chí vợ chồng Xuất phát từ bản chất di chúc chung được tạo lập giữa vợ
chồng, thể hiện sự gắn kết hoà hợp, tỉnh thương yêu trong gia đình Hai cá nhân nam nữ đơn lẻ đương nhiên không có quyền lập di chúc chung Pháp luật chỉ trao quyền này cho duy nhất vợ chồng mà thôi Khi nam nữ kết hôn trở thành vợ chồng, họ định đoạt tài sản của mình bằng cách lập di chúc chung, pháp luật tôn trọng quyền này của họ Nhưng vì một lý do nào đó, sau khi di chúc chung đã
được lập vợ chồng lại ly dị, tài sản phân chia, đời sống hôn nhân không còn tồn
tại, thì đương nhiên di chúc chung đã lập cũng không còn giá trị Do vậy, phải đang là vợ chồng, phải đang trong tình trạng hôn nhân hợp pháp thì di chúc chung đã lập của vợ chồng mới có được pháp luật công nhận
2.1.2 Điều kiện về nội dung và mục đích
Nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ chồng phải không vị phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội (khoản 2 Điều 122
BLDS 2005) Mục đích của di chúc chung của vợ chồng là sự định đoạt tài sản
chung của vợ chồng cho những người thừa kế, rằng như một sự chắc chắn những người mả vợ chồng chỉ định trong di chúc chung sẽ được hưởng những tài sản do vợ chồng định đoạt, trừ trường hợp những người thừa kế đó từ chối Nội dung di chúc chung của vợ chồng là những vấn đề cụ thê được vợ chồng thể
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 27hiện trong bản di chúc chung đó như tên người nhận phần tài sản là ai, được bao nhiều, có trao nghĩa vụ gì không
Nếu di chúc chung của vợ chồng lập ra không có có tính chất định đoạt tài sản của vợ chồng cho những người thừa kế, mà chỉ là sự căn dặn, sắp đặt mọi
chuyện sau khi vợ chồng chết, giống như là ý nguyện cuối cùng, lời trăn trở của người chết trước đối với họ hàng con cháu thì dù vợ chồng có ghi tên nó là đi chúc chung của vợ chồng, bản chất của nó cũng không phải là di chúc thuộc đối
tượng điều chỉnh của Luật Dân sự Ở đây không có sự chuyên dịch tải sản cho
những người thừa kế, những người thừa kế được nhắc đến cũng không xác định
cụ thé là cá nhân, tô chức nào Mục đích di chúc chung của vợ chồng không đạt được Nên điều kiện tiếp theo để một bản di chúc chung có hiệu lực là vợ chồng phải định đoạt những tải sản chung của mình là giành cho những al, bao nhiều phân, phải có sự chắc chắn có sự chuyên dịch tài sản cho những người thừa kế
Những vấn đề cụ thể vợ chồng định đoạt trong di chúc chung được coi là nội dung của bản di chúc ấy Về mặt lý thuyết, khi lập di chúc chung, vợ và
chồng không loại trừ khả năng chỉ định lẫn nhau làm người hưởng di sản của người chết trước Trong trường hợp đó, di chúc chung trở thành một hợp đồng
mà việc phát sinh hiệu lực của hợp đồng ấy sẽ bị hoãn lại cho đến thời điểm mở thừa kế của một trong hai bên giao kết Việc vợ chồng tự định đoạt tài sản cho
người kia có được pháp luật cho phép không? BLDS 2005 không quy định về vẫn đề này Có thể thấy rằng hiệu lực di chúc chung chỉ phát sinh từ thời điểm
cả hai vợ chồng cùng chết Nếu người này là người thừa kế của người kia và đều không còn vào thời điểm mở thừa kế thì di chúc chung lúc này không có giá trị pháp lý Số di sản của người chết sẽ được chia theo pháp luật Tuy nhiên, nếu vợ chồng chỉ định đoạt một phần tài sản trong khối di sản chung cho người kia, còn
những phần khác giành cho những người thừa kế khác thì khi cả hai vợ chồng cùng chết thì phần di chúc định đoạt tài sản cho những người thừa kế khác vẫn
có hiệu lực Phần di chúc vợ chồng định đoạt tài sản cho nhau sẽ không có giá
trị pháp lý và sẽ được chia theo pháp luật Nếu một người chết trước, người còn
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng
Trang 28sống sửa đổi phần di chúc liên quan đến tài sản của mình trong khối tài sản chung thì khi đó, phần di chúc của người chết trước có hiệu lực pháp luật Trong
phần di chúc có hiệu lực ay lại có sự định đoạt một phần di sản cho người chồng hoặc người vợ còn sống Như vậy, người chồng hoặc người vợ còn sống là
người thừa kế theo di chúc của người chết trước Nếu số di sản mà người chết trước định đoạt cho người kia ít hơn hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật thì căn cứ Điều 669 BLDS 2005, người còn sống còn được hưởng ít nhất hai phần
ba suất thừa kế theo pháp luật nữa Như vậy việc vợ chồng định đoạt tài sản cho
nhau trong di chúc chung luôn là có lợi đối với người chết sau Điều này có thể dẫn đến hành vì lừa dối hoặc những hành vi phạm pháp khác nhằm mục đích
trục lợi của người còn sống
Từ phân tích ở trên, có thể thấy dù pháp luật không cắm vợ chồng định
đoạt tài sản cho nhau trong di chúc chung nhưng như vậy cũng đã ảnh hưởng Ít
nhiều đến quyền lợi của những người thừa kế khác Thiết nghĩ, việc vợ chồng
định đoạt tải sản cho nhau trong di chúc chung là không cần thiết Ngoài ra, khi phần đi chúc của người chết trước có hiệu lực pháp luật thì người còn sống vẫn
sẽ được hưởng số di sản ít nhất bằng hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, vì thuộc đối tượng thừa kế quy định tại Điều 669 BLDS 2005
Về vấn đề tài sản: Điều 663 BLDS 2005 quy định: “Vợ chẳng có thể lập
di chúc chung để định đoạt tài sản chung ”, với quy định nhự vậy, pháp luật chỉ cho phép vợ chồng định đoạt tài sản chung trong di chúc chung ấy Vợ chồng là
đồng sở hữu đối với tài sản chung hợp nhất trong thời kỳ hôn nhân Khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 quy định: “Tải sớn chung của vợ
chéng gdm tai san do vợ chẳng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chông trong thời lỳ hôn
nhân; tài sản mà vợ chẳng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và
những tài sản khác mà vợ chẳng thoả thuận là tài sản chung ” Vẫn đề tài sản chung cũng là một điều kiện tiên quyết trong hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng Điều đó đồng nghĩa với việc nếu không phải là vợ chồng định
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chéng