1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG QUẢN LÝ HỆ THỐNG ĐẢO VIỆT NAM

29 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 52,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUẢN LÝ HỆ THỐNG ĐẢO VN Câu 1: Khái niệm về đảo và quần đảo? Trình bày những nghiên cứu về đảo và quần đảo? 2 Câu 2: Khái quát đặc điểm, phân bố số lượng của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa? 5 Câu 3: Phân bố, số lượng đặc điểm khái quát hệ thống đảo ven bờ? 8 Câu 4: Khái quát về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội các vùng đảo ven bờ Bắc Bộ? 10 Câu 5: Trình bày khái quát về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội các vùng đảo ven bờ Nam Trung Bộ? 12 Câu 6: Tiềm năng phát triển hậu cần nghề cá và dvu tìm kiếm cứu nạn cứu hộ. 14 Câu 7: Tiềm năng phát triển du lịch. Lấy ví dụ ở một số đảo trọng điểm ( Vân Đồn, Cô Tô)? 14 Câu 9: Tiềm năng phát triển tài chính ngân hàng, hội nghị sự kiện 17 Câu 10. Tiềm năng phát triển nông – lâm – ngư nghiệp huyện đảo ven bờ Việt Nam 19 Câu 11. Cơ sở hạ tầng và các loại hình dịch vụ? Cho ví dụ ở một số đảo Cát Bà, Lý Sơn, vịnh Hạ Long? 23 Câu 12. Định hướng phát triển du lịch 23  

Trang 1

QUẢN LÝ HỆ THỐNG ĐẢO VN

Trang 2

Câu 1: Khái niệm về đảo và quần đảo? Trình bày những nghiên cứu về đảo và quần đảo?

Đảo

- Công ước của Liên hợp quốc về luật Biển 1982

(UNCLOS 1982): “Một đảo là một vùng đất tự nhiên

có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn

ở trên mặt nước.”

- Luật Biển Việt Nam: “Đảo là một vùng đất tự

nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước”

các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau

Các nghiên cứu về đảo và quần đảo VN

a, Các nghiên cứu về hệ thống đảo ven bờ

* Thời kỳ phong kiến

- Các nghiên cứu về đất đai, khí hậu, hải văn,luồng lạch, các địa điểm hiểm yếu cho quốc phòng,cũng như các nghề, các sản vật, các phong tục, tậpquán, con người trong các thời kỳ phong kiến ít được

hệ thống hóa và xuất bản nên ít được lưu lại đến nay

- 1414, Quân nhà Minh trong những năm đầu đô

hộ nước ta đã ra lệnh tịch thu hết sách vở và đốthết để làm cho dân ta quên hết cội nguồn lịch sử,văn hóa để dễ bề cai trị

Trang 3

- Khí hậu nước ta nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều;phát triển nhiều loại sâu mọt khiến cho quá trình bảoquản và lưu trữ sách gặp khó khăn

* Sau ngày hòa bình 1954

- Ở miền Bắc việc nghiên cứu các đảo trong vịnhBắc Bộ thực sự bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷtrước cùng với các Chương trình hợp tác điều tranghiên cứu vịnh Bắc Bộ Việt-Trung (1959-1962), Việt-

Xô (1960-1961)

- Ở miền Nam, các đảo ven bờ được nghiên cứuchủ yếu về mặt địa chất bởi các tác giả trong nước,như Trần Huỳnh Anh (1967-1972), Tạ Trần Tấn(1963-1974), và các tác giả nước ngoài như Saurin E.(1952-1971), Fontaine H (1967-1972), Faure C.(1968-1969), về một loạt các đảo như Phú Quý,Côn Đảo, Hòn Khoai, Thổ Chu, An Thới, Phú Quốc,Hòn Rái, Hòn Tre, Hòn Nghệ, Hòn Chuối, Đá Bạc,

* Sau khi thống nhất đất nước năm 1975

- Về mặt địa chất các đảo ven bờ tiếp tục được

khảo sát ở các tỷ lệ 1/500.000 (hoàn thành năm1982), 1/200.000 (hoàn thành năm 1994) và1/50.000; nhiều đảo quan trọng đều đã được nghiêncứu về địa chất thủy văn, được đánh giá về tiềmnăng nước dưới đất

- Về lãnh vực khảo cổ học ở vùng đảo biển ven

bờ Đông Bắc, các di chỉ thuộc văn hóa Soi Nhụ, CáiBèo, Hạ Long, được tiếp tục nghiên cứu, và ở một sốđiểm cho đến những năm gần đây (2009) đã có cácphát hiện quan trọng về di cốt người cổ Các đảo ven

bờ Nam Trung Bộ và Nam Bộ, các nghiên cứu khảo

cổ còn chưa nhiều, tập trung vào các năm

1978-1979, 1990-1993

- Về các di sản văn hóa vật thể và phi vật thểtrên HTĐVB cũng đã được đẩy mạnh nghiên cứu,

Trang 4

nhiều di tích lịch sử văn hóa đã được nhà nước côngnhận, nhiều lễ hội truyền thống đã được phục hồi

* Sau khi thống nhất đất nước năm 1975

- Những nghiên cứu về các hệ sinh thái và tài

nguyên sinh vật trên đảo và vùng biển nông quanhđảo cũng đã được tiến hành đồng bộ và hệ thống,làm sáng tỏ các đặc trưng của hệ sinh thái rừng mưanhiệt đới trên đảo

- Những năm gần đây các đảo và quần đảo cònđược đánh giá bước đầu nhưng có hệ thống về cácgiá trị của các kỳ quan địa chất và sinh thái, và đặcbiệt là những giá trị về tài nguyên vị thế - một dạngtài nguyên mới được nhận diện và nghiên cứu

Tất cả các nghiên cứu trên một mặt phục vụtrực tiếp cho phát triển kinh tế-xã hội trên đảo, chocông tác di dân ra đảo, lập quy hoạch phát triển kinhtế-xã hội cho các huyện đảo, mặt khác phục vụ chocông tác bảo tồn đảo biển, cũng như tạo cơ sở khoahọc cho việc vinh danh các giá trị về tự nhiên và vănhóa của các đảo và vùng biển quanh đảo ở cấp quốcgia và quốc tế

b, Các nghiên cứu về 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

* Vào thời các triều đại phong kiến Việt Nam,

từ thế kỷ XVII:

- Nhận thức của các nhà hàng hải thời xưa vềHoàng Sa và Trường Sa lúc đầu mơ hồ, họ chỉ biết cómột khu vực rộng lớn rất nguy hiểm cho tàu thuyền

vì có những bãi đá ngầm – gọi là Bãi Cát Vàng,Hoàng Sa, Vạn lý Hoàng Sa

- Về sau, với những tiến bộ của khoa học và hànghải, người ta đã phân biệt có hai quần đảo: quần đảoHoàng Sa và quần đảo Trường Sa Mãi cho đến năm1787-1788, cách đây hai trăm năm, đoàn khảo mới

Trang 5

xác định được rõ ràng và chính xác vị trí của quầnđảo Hoàng Sa, từ đó phân biệt quần đảo này vớiquần đảo Trường Sa ở phía Nam

* Vào thời các triều đại phong kiến Việt Nam,

từ thế kỷ XVII:

- Việc nghiên cứu hai quần đảo này phục vụ việcquản lý và thực thi chủ quyền trên đảo do nhà nướctiến hành Đó là các nghiên cứu về phân bố, hìnhthể, quy mô và kích thước của các đảo, đá, bãi ngầmthuộc hai quần đảo, cũng như nghiên cứu thủy trình,luồng lạch, thủy triều, cùng các nguồn lợi hải sản cácvùng đảo biển

* Thời Pháp thuộc

- Việc nghiên cứu quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa gồm vùng nước và cả trên các đảo và bãi ngầmđược tiến hành với việc thành lập Viện Hải dương họcĐông Dương (tên lúc đầu) năm 1922

* Sau năm 1954 đến trước năm 1975

- Năm 1953, các nhà địa chất và sinh vật học

Saurin E., Fontaine H và Lê Văn Hội đã nghiên cứunhiều đảo trong quần đảo Hoàng Sa và sau đó (cácnăm 1955 đến 1962), đã công bố nhiều tài liệu quantrọng về địa chất-địa lý, khoáng sản (phốt phát),thực vật, môi trường vùng đảo

- Năm 1956, hệ thực vật trên các đảo đượcnghiên cứu

- Công tác nghiên cứu đánh giá trữ lượng phốtphát ở Hoàng Sa được tiến hành vào năm 1973 với

sự tham gia của các chuyên gia Nhật Bản

* Sau năm 1975

Một thành tựu nổi bật về nghiên cứu Trường Sa vàBiển Đông nói chung là việc xuất bản tập bản đồ kháquy mô “Atlas điều kiện tự nhiên và môi trường vùngbiển Việt Nam và kế cận” năm 2010

Trang 6

Câu 2: Khái quát đặc điểm, phân bố số lượng của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa?

Quần đảo Hoàng Sa

Đặc điểm:

lệch từ không thay đổi hoặc thay đổi rất nhỏ, rấtthuận lợi cho việc đi biển Quần đảo này có khí hậunhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều, thường có sương mù

và nhiều giông bão, nhất là từ tháng 6 đến tháng 8hằng năm Trên một số đảo có nguồn nước ngọt, câycối um tùm, vô số chim và đặc biệt là có nhiều rùabiển sinh sống

- Nằm phía Đông của Việt Nam, Hoàng Sa án ngựđường hàng hải quốc tế huyết mạch từ Thái BìnhDương qua Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương Vùngbiển này có tiềm năng lớn về khoáng sản và nguồnhải sản, thuận lợi trong việc phát triển kinh tế, quantrọng hơn đây là vị trí quân sự chiến lược, khống chếđường giao thông trên biển và trên không trong khuvực phía Bắc Biển Đông

100 loài đã tạo thành một phần của vòng cung san

hô ngầm dọc bờ biển Đông Nam của lục địa châu Á

tương đối đơn giản nhưng mang đậm bản sắc củađịa hình ám tiêu san hô vùng nhiệt đới, phần lớn cóchân nằm ở độ sâu 1000- 1500m

nhau đó là phần đảo nổi, hành lang bãi triều (thềmsan hô) bao quanh đảo và sườn bờ ngầm dốc đứng

Về điều kiện tự nhiên:

Trang 7

- Thời gian nắng ở quần đảo Hoàng Sa dao động trongkhoảng 2.400-2.600 giờ/năm, trong đó mùa hè (từtháng 5 đến tháng 10) có thời gian chiếu sángkhoảng 1300 giờ, lớn hơn so với mùa Đông (từ tháng

11 đến tháng 4)

đại 28.5o-29oC trong tháng 6, 7 và giảm từ từ tới

tháng nhiệt độ cao nhất và thấp nhất là 5.5oC-6oC

khoảng 1.200-1.600mm, Mưa chủ yếu tập trung vàomùa hè (từ tháng 5 đến tháng 10)

hầu như không bị biến động nhiều theo mùa

Phân bố số lượng:

thuộc chủ quyền của Việt Nam từ lâu đời Trong lịch

sử quần đảo Hoàng Sa còn có tên là “Bãi cát vàng”.Quần đảo gồm 37 đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và một

số đối tượng địa lý khác thuộc huyện Hoàng Sa,thành phố Đà Nẵng Khu vực quần đảo nằm trên

Lưỡi Liềm ở phía Tây; cụm An Vĩnh ở phía Đông

Cụm Lưỡi Liềm có hình cánh cung hay lưỡi liềm, nằm

về phíaTây quần đảo, gần đất liền Việt Nam, gồm 08đảo chính là Đá Bắc, Hoàng Sa, Hữu Nhật, DuyMộng, Quang Ảnh, Quang Hòa, Bạch Quy, Tri Tôn vàcác bãi ngầm, mỏm đá

Cụm đảo An Vĩnh đặt tên theo một xã An Vĩnh thuộchuyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, nằm ở phía

Trang 8

Đông, bao gồm các đảo tương đối lớn của quần đảoHoàng Sa và cũng là các đảo san hô lớn nhất củaBiển Đông như đảo Phú Lâm, đảo Cây, đảo Linh Côn,đảo Trung, đảo Bắc, đảo Nam, đảo Tây, đảo Hòn đá.

Trường Sa:

Đặc điểm:

- Điều kiện tự nhiên và khí hậu vùng này rất khắcnghiệt: nắng gió, giông bão thường xuyên, thiếunước ngọt, nhiều đảo không có cây Một số hiệntượng thời tiết cũng diễn biến khác với trong đất liền

mùa: mùa khô và mùa mưa Mùa khô từ tháng 1 đếntháng 5, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau,lượng mưa trung bình hàng năm rất lớn vào khoảnghơn 2.500 mm

phi lao, bàng vuông và một số loại dây leo cỏ dại

san hô, có lẫn những lớp phân chim lẫn mùn cây có

bề dày khoảng 5 - 10 cm

phú, đặc biệt có loại vích là động vật quý hiếm, cángừ đại dương có giá trị kinh tế cao Không chỉ có trữ

trọng án ngữ phía Đông Nam nước ta

Phân bố số lượng:

khoảng 200 hải lý về phía Nam, bao gồm hơn 100đảo, đá, bãi ngầm, bãi san hô, nằm rải rác trongphạm vi biển, khoảng từ vĩ tuyến 6030’ Bắc đến

đến 117020’ Đông Đảo gần đất liền nhất là

Trang 9

đảo Trường Sa cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa)khoảng 250 hải lý, cách điểm gần nhất của đảo HảiNam (Trung Quốc) khoảng gần 600 hải lý và cáchđảo Đài Loan khoảng 960 hải lý.

làm tám cụm: Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết,Sinh Tồn, Trường Sa, Thám Hiểm, Bình Nguyên Song

Tử Tây là đảo cao nhất (cao khoảng 4 - 6m lúc thủytriều xuống); Ba Bình là đảo rộng nhất (0,6 km2)

Câu 3: Phân bố, số lượng đặc điểm khái quát

hệ thống đảo ven bờ?

a, Phân bố, số lượng và diện tích:

HTĐVB phân bố trên thềm lục địa, suốt từ biên giớicực Bắc tại tỉnh Quảng Ninh cho đến sát biên giớiphía Tây Nam tại tỉnh Kiên Giang Số lượng các đảoven bờ được thống kê theo hải đồ tỷ lệ 1/25.000 và1/100.000, với con số tổng cộng 2.773 đảo/ với tổngdiện tích 1720,8754 km

Trang 10

Số lượng và diện tích các đảo ven bờ theo các vùngbiển.

b, Đặc điểm

* Các nhân tố tạo thành hệ thống đảo ven bờ

- Các nhân tố nội sinh: có liên quan mật thiết với

đặc điểm địa chất-kiến tạo phần lục địa ven biển, màthực chất các đảo là phần kéo dài từ đó ra thềm lụcđịa trên biển Bao gồm 3 nhóm nhân tố nội sinh chủyếu là:

+ Kiến tạo-cấu trúc,

+ Núi lửa

+ Thạch học

- Các nhân tố ngoại sinh bao gồm tác động của

khí quyển, thủy quyển, sinh quyển với sự tham giacủa con người, thể hiện là các quá trình bóc mòn,xâm thực, mài mòn, thổi mòn, tích tụ

* Các kiểu nguồn gốc, hình thái đảo ven bờ

- Đảo núi thấp bóc mòn-mài mòn hình thành do

nâng tân kiến tạo dạng vòm- khối tảng các thểmagma trước Neogen (quần đảo Côn Lôn)

- Đảo núi thấp bóc mòn-mài mòn hình thành donâng kế thừa theo đứt gãy các cấu trúc nếp lồi củatrầm tích PZ, bao gồm các đảo phân bố chủ yếu ởven bờ Quảng Ninh (Cô Tô, Thanh Lam, Trà Bản )

- Đảo núi thấp bóc mòn-mài mòn, nâng tân kiếntạo mạnh theo đứt gẫy tạo cấu trúc đơn nghiêng củatrầm tích MZ Điển hình với đảo Phú Quốc, Thổ Chu

Trang 11

- Đảo đồi thoải hình thành do hoạt động phuntrào basalt trong Neogen-Đệ Tứ, bị tác động mạnhcủa rửa trôi bề mặt và phá hủy mài mòn Bao gồmcác đảo đá basalt ven bờ miền Trung: Cồn Cỏ, LýSơn, Phú Quý, Mái Nhà.

- Đảo núi thấp bóc mòn-thạch học mài mòn, hìnhthành do nâng tân kiến tạo các khối đá xâm nhậpMZ-KZ, với các đảo điển hình như Cù Lao Chàm, HònLớn, Hòn Khoai, Hòn Rái

- Đảo núi thấp bóc mòn-thạch học mài mòn, hìnhthành do nâng tân kiến tạo các khối đá magma phuntrào tuổi trước KZ Thuộc kiểu này gồm một loạt cácđảo ven biển Miền Trung và trong vịnh Thái Lan: Hòn

Mê, Hòn La, Hòn Tre, Nam Du,

- Đảo núi thấp bóc mòn-rửa lũa mài mòn, hìnhthành do nâng nhẹ vùng đá carbonat tuổi PZ, với địahình karst nhiệt đới phát triển ở vùng vịnh Hạ Long

và đảo Cát Bà

- Đảo thềm tích tụ thành tạo bởi trầm tích bở rời

Đệ Tứ tại các vùng hạ lún cửa sông, bị tác độngmạnh bởi các quá trình tích tụ, xâm thực và mài mòn(Cồn Đen, Cồn Thủ, Cồn Vành )

- Đảo dạng chỏm, mô sót mài mòn, bóc mòn,hình thành trên các loại đá khác nhau tại các vùngnâng tương đối (gồm tuyệt đại bộ phận các đảo đárất nhỏ và cực nhỏ

Trang 12

Câu 4: Khái quát về điều kiện tự nhiên – kinh tế

- xã hội các vùng đảo ven bờ Bắc Bộ?

a) Điều kiện tự nhiên

* Về các thành tạo địa chất

- Đá có tuổi cổ nhất là Ordovic-Silur (O-S) cấutạo nên huyện đảo Cô Tô và một số đảo khác, gồmsét bột kết, cát kết tufogen và sạn kết, đá phiến silic

anh dạng quarzit, bột kết, đá phiến sét, sét vôi phân

bố rộng rãi tại các đảo Chàng Ngọ, Cái Lim, Trà Bản,Thẻ Vàng

với cuội kết, cát kết đá phiến sét

- Đảo Lão Vọng, Cống Đông, Trà Bản, Soi Đán,Đông Hội,… lại là đá vôi phân lớp xen silic, sét vôi

- Những tập đá vôi mầu xám đen, đá vôi trứng cásilic tuổi carbon sớm (C1) gặp trên các đảo trong vịnhBái Tử Long, quần đảo Cát Bà, Long Châu

- Đá vôi phân lớp dày dạng khối xám sáng, xenthấu kính vôi silic thuộc Carbon-Permi (C-P) đã tạonên cảnh quan karst nhiệt đới kỳ vĩ vịnh Hạ Long, Bái

Tử Long, Cát Bà

bố trên phần ĐN của Cái Bầu, trên đảo Bồ Hòn, VạnVược, Vạn Mặc, Tuần Châu

* Kiểu địa hình:

- Đảo núi thấp bóc mòn-mài mòn hình thành donâng kế thừa các cấu trúc nếp lồi của trầm tích Cổsinh, gồm quần đảo Cô Tô, Trà Bản, đảo Trần,…

- Đảo núi thấp bóc mòn-mài mòn do nâng cáccấu trúc đơn nghiêng của trầm tích Trung sinh và Cổsinh, gồm đảo Cái Bầu, Ngọc Vừng, Hạ Mai và lâncận

Trang 13

- Đảo đồi thoải bóc mòn-mài mòn do nâng tânkiến tạo nghịch đảo dạng vòm-địa lũy trầm tíchKainozoi: đảo Bạch Long Vĩ.

- Đảo núi thấp bóc mòn-rửa lũa-mài mòn tạo bởicác khối đá carbonat tuổi Cổ sinh, phân bố rộng rãitrong vịnh Hạ Long-Bái Tử Long, quần đảo Cát Bà

* Kiểu khí hậu:

- Vùng đảo biển này thuộc khí hậu biển nhiệt đới

gió mùa, có mùa đông lạnh, chịu ảnh hưởng mạnh

của gió mùa Đông bắc, có 2-3 tháng lạnh

- Nhiệt độ không khí cao nhất vào tháng 7

mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưatrung bình năm 1600-2200 mm (Cái Bầu: 2662 mm,

Cô Tô: 1685 mm)

nước biển trung bình năm 23,7oC và độ mặn là30,9‰

* Đất, lớp phủ rừng và hệ sinh thái:

- Phổ biến một số ít loại đất, gồm: đất cát biển,

đất mặn, đất feralit bị biến đổi do canh tác, đấtferalit vàng đỏ trên sản phẩm dốc tụ, đất feralit nâuvàng trên sản phẩm phong hóa đá vôi và đất feralitvàng đỏ trên sa diệp thạch

- Lớp phủ rừng trên các đảo có độ che phủ bình

quân đạt trên 50% diện tích, nhiều đảo đạt đến 90% như Ba Mùn, Trà Bản, Cát Bà,…

80 Các vùng biển quanh đảo gồm nhiều hệ sinh

thái đặc thù như các hệ sinh thái rừng ngập mặn,

rong-cỏ biển, rạn san hô, vùng triều, vùng dưới triều

và vùng biển nông ven bờ

b) Kinh tế - xã hội

* Huyện đảo Cô Tô:

Trang 14

- Gồm 1 thị trấn và 2 xã (đã có đề án lập xã mới

- Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt: 16,5%

- Cơ cấu kinh tế: nông-lâm-thủy- sản 76,3%,công nghiệp-xây dựng 16,6%, dịch vụ 7,1%

* Huyện đảo Vân Đồn:

dân số 40.204 người

- Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt: 15%

* Huyện đảo Cát Hải:

- Gồm 2 thị trấn và 10 xã với diện tích 323,1

- Cơ cấu kinh tế: dịch vụ 66%, công nghiệp-xâydựng 16%, nông lâm, ngư nghiệp 18%

* Huyện đảo Bạch Long Vĩ:

- Là một trong hai huyện đảo nhỏ nhất, với diệntích 4,5 km2 dân số1.280 người

- Cơ cấu kinh tế: nông lâm, thủy sản 12,7%, côngnghiệp, xây dựng 15,2%, dịch vụ 72,1% (trong đóthương mại chiếm 51,5%)

Câu 5: Trình bày khái quát về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội các vùng đảo ven bờ Nam Trung Bộ?

- Đảo núi thấp bóc mòn-mài mòn khối tảng trên

đá magma xâm nhập và phun trào với sườn dốc (Cù

Ngày đăng: 14/07/2017, 22:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w