MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 1. .Lí do lựa chọn đề tài 1 2. Mục tiêu nghiên cứu 2 3. Nội dung nghiên cứu 2 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3 1.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế 3 1.1.1 Khái niệm 3 1.1.2 Nguồn phát sinh 3 1.1.3 Phân loại chất thải rắn y tế 4 1.1.4 Thành phần chất thải rắn y tế 5 1.1.5 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường và sức khỏe cộng đồng 6 1.1.6 Tổng quan công tác quản lý CTRYT trên thế giới 7 1.1.7 Thực trạng công tác quản lý CTRYT ở Việt Nam 9 1.2. Tổng quan về huyện Hoài Đức 11 1.2.1 Tổng quan về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 11 1.2.2 Giới thiệu về bệnh viện và các trạm y tế 12 1.3 Căn cứ pháp lý liên quan đến quản lý CTR y tế ở Việt Nam 17 CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20 2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20 2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 20 2.2 Phương pháp nghiên cứu 20 2.2.1 Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp 20 2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát 20 2.2.3 Phương pháp dự báo lượng CTRYT 21 2.2.4 Phương pháp phân tích SWOT 21 2.2.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp 21 CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22 3.1 Hiện trạng phát sinh CTR y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức 22 3.1.1 Nguồn phát sinh 22 3.1.2 Khối lượng và thành phần chất thải rắn y tế 23 3.1.3 Dự báo lượng chất thải rắn y tế phát sinh trên địa bàn huyện Hoài Đức đến năm 2020 28 3.2 Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức 29 3.2.1 Đánh giá hiện trạng quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa Hoài Đức 29 3.2.2 Đánh giá hiện trạng quản lý CTRYT tại các trạm y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức 40 3.2.3 Nhận xét chung về công tác quản lý CTRYT trên địa bàn huyện Hoài Đức 43 3.2.4 Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức theo mô hình SWOT 46 3.2.5 Những bất cập, khó khăn, tồn tại chung trong công tác quản lý CTRYT trên địa bàn huyện Hoài Đức 51 3.3 Đánh giá nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về chất thải rắn y tế 52 3.3.1 Ý kiến của cán bộ và nhân viên y tế 52 3.3.2 Ý kiến của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân 53 3.4 Những bất cập, khó khăn, tồn tại chung trong công tác quản lý CTRYT trên địa bàn huyện Hoài Đức 55 3.5 Đề xuất giải pháp khắc phục và nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức 56 3.5.1 Xây dựng hệ thống quản lý môi trường tại bệnh viện. 57 3.5.2 Các giải pháp giáo dục 58 3.5.3 Các giải pháp về cơ sở hạ tầng 59 3.5.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTRYT 61 3.5.5 Giải pháp tài chính 63 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64 KẾT LUẬN 64 KIẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
Đồ án tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu và học hỏi của tôi dưới sự hướngdẫn của ThS Nguyễn Thị Linh Giang, không sao chép ở bất cứ tài liệu nào Các sốliệu, thông tin được sử dụng trong đồ án để thực hiện cho việc đánh giá, nhận xét,
đề xuất đều là số liệu thực tế Ngoài ra, tôi còn tham khảo và sử dụng một số bài cóliên quan đến chất thải rắn y tế từ các nguồn khác nhau và đều được trích dẫn trongdanh mục tài liệu tham khảo
Nếu như phát hiện bất cứ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệmtrước hội đồng cũng như kết quả đồ án của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2017 Sinh viên
Đình Thị Hoàn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đồ án, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân,
em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các cơ quan, các cán bộ,nhân viên y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô hiện đang công tác, giảngdạy tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã truyền đạt cho emnhững kiến thức qúy báu trong suốt 4 năm theo học tại nhà trường Đặc biệt, em xinchân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Môi trường đã cung cấp cho em nhữngkiến thức chuyên ngành quý giá để em có thể hoàn thiện tốt đồ án tốt nghiệp này
Tiếp theo, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Th.S Nguyễn Thị Linh Giang –Giảng viên khoa Môi trường – Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
đã tận tình giúp đỡ, dành nhiều thơi gian và công sức hướng dẫn em trong suốt quátrình thực hiện đồ án
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới ban giám đốc bệnh viện đa khoaHoài Đức, giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng Hoài Đức, các cán bộ, nhân viên y tếbệnh viện, khoa kiểm soát nhiễm khuẩn cùng toàn bộ các y bác sỹ, nhân viên y tếtại 3 trạm y tế thị trấn Trạm Trôi, trạm y tế xã Đức Giang, trạm y tế xã Kim Chung
đã tạo điều kiện cho em được tham quan, khảo sát và cung cấp những thông tin, sốliệu giúp đỡ em hoàn thiện đồ án này
Và em cũng chân thành cảm ơn những bệnh nhân và người nhà bệnh nhânhiện đang nằm tại bệnh viện Hoài Đức đã lắng nghe và cung cấp thêm thông tintrong thời gian khảo sát tại bệnh viện
Do thời gian và trình độ học vấn của bản thân còn thiếu sót, hạn chế nên đồ
án của em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự chỉ dẫn củathầy cô, sự góp ý của bạn bè để đồ án của em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017 Sinh viên
Đình Thì Hoàn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 .Lí do lựa chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Nguồn phát sinh 3
1.1.3 Phân loại chất thải rắn y tế 4
1.1.4 Thành phần chất thải rắn y tế 5
1.1.5 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường và sức khỏe cộng đồng 6
1.1.6 Tổng quan công tác quản lý CTRYT trên thế giới 7
1.1.7 Thực trạng công tác quản lý CTRYT ở Việt Nam 9
1.2 Tổng quan về huyện Hoài Đức 11
1.2.1 Tổng quan về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 11
1.2.2 Giới thiệu về bệnh viện và các trạm y tế 12
1.3 Căn cứ pháp lý liên quan đến quản lý CTR y tế ở Việt Nam 17
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .20
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp 20
Trang 42.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát 20
2.2.3 Phương pháp dự báo lượng CTRYT 21
2.2.4 Phương pháp phân tích SWOT 21
2.2.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp 21
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Hiện trạng phát sinh CTR y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức 22
3.1.1 Nguồn phát sinh 22
3.1.2 Khối lượng và thành phần chất thải rắn y tế 23
3.1.3 Dự báo lượng chất thải rắn y tế phát sinh trên địa bàn huyện Hoài Đức đến năm 2020 28
3.2 Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức 29
3.2.1 Đánh giá hiện trạng quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa Hoài Đức 29
3.2.2 Đánh giá hiện trạng quản lý CTRYT tại các trạm y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức 40
3.2.3 Nhận xét chung về công tác quản lý CTRYT trên địa bàn huyện Hoài Đức 43
3.2.4 Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức theo mô hình SWOT 46
3.2.5 Những bất cập, khó khăn, tồn tại chung trong công tác quản lý CTRYT trên địa bàn huyện Hoài Đức 51
3.3 Đánh giá nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về chất thải rắn y tế 52
3.3.1 Ý kiến của cán bộ và nhân viên y tế 52
3.3.2 Ý kiến của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân 53
3.4 Những bất cập, khó khăn, tồn tại chung trong công tác quản lý CTRYT trên địa bàn huyện Hoài Đức 55
3.5 Đề xuất giải pháp khắc phục và nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức 56
3.5.1 Xây dựng hệ thống quản lý môi trường tại bệnh viện 57
3.5.2 Các giải pháp giáo dục 58
Trang 53.5.3 Các giải pháp về cơ sở hạ tầng 59
3.5.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTRYT 61
3.5.5 Giải pháp tài chính 63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
KẾT LUẬN 64
KIẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Trang 6TT-GDSK Tuyên truyền – Giáo dục sức khỏe
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế 4
Bảng 1.2: Bảng thống kê các khoa – Phòng chức năng ở bệnh viện đa khoa Hoài Đức 13
Bảng 1.3: Một số văn bản pháp lí liên quan đến quản lý CTRYT tại Việt Nam 17
Bảng 3.1: Khối lượng CTRYT 6 tháng cuối năm 2016 tại bệnh viện Hoài Đức 24
Bảng 3.2: Thành phần và khối lượng CTRYT năm 2016 25
Bảng 3.3: Khối lượng CTRYT tại các trạm y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức từ tháng 4 đến hết năm 2016 (9 tháng) 27
Bảng 3.4: Dự báo khối lượng CTRYT phát sinh tại bệnh viện đa khoa Hoài Đức 28 Bảng 3.5: Số lượng và loại thùng rác tại các trạm y tế xã 42
Bảng 3.6: Các tiêu chí đánh giá công tác quản lý CTRYT 44
Bảng 3.7: Những điểm chính trong phân tích SWOT trên địa bàn H.Hoài Đức 47
Bảng 3.8: Dự kiến số lượng và vị trí đặt thùng rác tại các khoa, phòng 59
Bảng 3.9: Thời gian vận chuyển CTRYT của các trạm y tế xã tới điểm tập kết 62
Trang 8DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1: Vị trí huyện Hoài Đức trên bản đồ 11
Hình1.2: Bệnh viện Hoài Đức .12
Hình1.3: Vị trí bệnh viện Hoài Đức trên bản đồ 12
Hình 1.4: Trạm y tế xã Đức Giang 17
Sơ đồ 3.1: Quy trình quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa Hoài Đức 30
Hình 3.1: Thùng chứa rác trên xe tiêm 32
Hình 3.2: Hộ lý xách tay CTRYT về khu tâp kết 34
Hình 3.3: Hộ lý vận chuyển CTRYT trên xe chở đồ 34
Hình 3.4: Thu gom rác sinh hoạt 34
Hình 3.5: Thu gom rác có khả năng tái chế trong bệnh viện 34
Hình 3.6: Biển cảnh báo trước cửa nhà lưu giữ rác nguy hại .36
Hình 3.7: Thùng rác và bảng ghi tên, mã CTRYT 36
Hình 3.8: Khu lưu giữ CTRSH 36
Hình 3.9: Chất thải lây nhiễm được buộc kín trước khi vận chuyển 38
Hình 3.10: Xe vận chuyển chất thải nguy hại 39
Hình 3.11: Hướng dẫn phân loại CTRYT 58
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Khối lượng CTRYT của bệnh viện Hoài Đức năm 2014 – 2016 24Biểu đồ 3.2: Thành phần CTRYT của bệnh viện Hoài Đức 26Biểu đồ 3.3: Diễn biến khối lượng CTRYT của bệnh viện đa khoa Hoài Đức giaiđoạn 2017 - 2020 29Biểu đồ 3.4: Nhận thức của cán bộ y tế về phân loại CTRYT 52Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ nhận thức của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về CTRYT .53Biểu đồ 3.6: Mức sẵn lòng chi trả phí bảo vệ môi trường đối với CTRYT 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Toàn thế giới đang hướng tới phát triển kinh tế, kinh tế phát triển kéo theocác vấn đề về văn hóa, y tế, giáo dục cũng phát triển theo dẫn đến nhu cầu và chấtlượng sống của người dân cũng được cải thiện Khi đó, nhiều yếu tố tác động nêncon người như: áp lực công việc làm con người bị stress, làm việc tại nhiều nơi độchại, ăn quá nhiều và dư thừa năng lượng, dẫn đến nhiều căn bệnh khác nhau ảnhhưởng đến con người Từ đó, nhu cầu khám chữa bệnh của người dân càng tăngcao, để đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của bệnh nhân thì các bệnh viện vàcác trung tâm y tế ra đời, vấn đề rác thải y tế bắt đầu xuất hiện và được quan tâm
Việt Nam là nước đang trên đà phát triển, vấn đề về chất thải rắn cũng đang
là vấn đề đáng quan tâm và nóng trên các bài báo, tạp chí, thời sự vì mức độ ảnhcủa nó đến môi trường và sức khỏe con người, trong đó có chất thải rắn y tế Hiệnnay ngành y tế ở các bệnh viện với các quy mô giường bệnh khá lớn Khối lượng y
tế tư nhân đang hoạt động cũng nhiều dẫn đến lượng chất thải y tế càng tăng lên,nguyên nhân là do dân sô tăng, mức sống và sự nâng cao nhu cầu khám chữabệnh.Trong báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia về chất thải rắn năm 2011, trênđịa bàn Hà Nội, lượng rác thải rắn y tế khoảng 5000 tấn/năm, số chất thải được lưutrữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay cơ sở hoặc kí hợp đồng thu gomvận chuyển chất thải rắn y tế với cơ quan xử lý đã được cấp phép Khối lượng chấtthải quá lớn trong khi nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nóiriêng về chất thải rắn y tế còn hạn chế, chình vì vậy dòng thải trong bệnh viện đãhòa lẫn dòng thải khác đi vào môi trường, phát sinh nhiều bệnh lây nhiễm cho conngười, ảnh hưởng đến sức khỏe công đồng Trong khi công tác quản lý chất thải y tếtại hầu hết các cơ sở y tế chưa thực hiện triệt để từ khâu thu gom, phân loại, vậnchuyển, Do đó, việc đào tạo về nhận thức cán bộ, nhân viên y tế và người nhà bệnhnhân tạo điều kiện quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế là rất cần thiết
Huyện Hoài Đức cũng đang nằm trong thực trạng nói trên, vấn đề quản lýchất thải rắn y tế tại bệnh viện cũng còn rất nhiều hạn chế và gặp nhiều khó khăntrong công tác thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý Chất thải y tế hầu như đượcthu gom triệt để nhưng chưa được phân loại cụ thể, xe vận chuyển chất thải y tế cònthô sơ Để thay đổi công nghệ và quy trình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế sẽ mấtrất nhiều kinh phí và thời gian, ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh của bệnhviện Do đó chỉ có thể sử dụng các biện pháp thay thế tạm thời để nâng cao công tác
Trang 11quản lý chất thải rắn y tế.Trước tình trạng đó đòi hỏi phải có giải pháp để phân loại
và thu gom, xử lý và quản lý chất thải rắn một cách phù để hạn chế tối thiểu mức độảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và sức khỏe công đồng, tạo điều kiện
phát triển kinh tế vùng bền vững Do đó mà em chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng
và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y
tế trên địa bàn huyện Hoài Đức – TP Hà Nội” được thực hiện để giải quyết
những vấn đề còn tồn đọng trong công tác phân loại, thu gom và quản lý chất thảirắn y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn huyệnHoài Đức, TP Hà Nội
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y
tế trên địa bàn huyện
3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng phát sinh (Thành phần, tính chất, khối lượng) chất thảirắn y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức
+ Nêu lên hiện trạng CTRYT
+ Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
+ Đánh giá hiện trạng CTRYT
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn huyệnHoài Đức
+ Hiện trạng công tác phân loại, thu gom chất thải rắn y tế trên địa bàn huyệnHoài Đức
+ Hiện trạng xử lý chất thải rắn y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức
- Đánh giá nhận thức của cán bộ y tế và người nhà bệnh nhân
+ Đánh giá nhận thức của cán bộ y tế
+ Đánh giá nhận thức của người nhà bệnh nhân
- Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thảirắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Hoài Đức
Trang 12CHƯƠNG I: TỔNG QUAN1.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế
1.1.1 Khái niệm
Theo thông tư 58/2015/TTLT –BYT – BTNMT: Thông tư liên tịch Bộ y tế
-Bộ TNMT quy định về quản lý chất thải y tế đưa ra một số khái niệm:
- Chất thải y tế là chât thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở
y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế
- Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc
tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm vàchất thải nguy hại không lây nhiễm
- Quản lý chất thải y tế là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu
gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thựchiện
- Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải
chất thải y tế
- Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và
vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý chất thải y tế trong khuôn viên cơ sở y tế
- Vận chuyển chất thải y tế là quá trình chuyên chở chất thải y tế từ nơi lưu
giữ chất thải trong cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý chất thải của cơ sở xử lý chấtthải y tế cho cụm cơ sở y tế, cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung hoặc cơ sở
xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý chất thải y tế
- Cơ sở y tế bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (trừ phòng khám bác sĩ
gia đình; phòng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đohuyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnhtrong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả;bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức); cơ sở y tế dự phòng; cơ sở đào tạo và cơ sởnghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học
1.1.2 Nguồn phát sinh
Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện, các cơ sở y tế khác như:trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khámngoại trú, trung tâm lọc máu,…; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinhhọc; ngân hàng máu,… Hầu hết các CTR y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc
Trang 13thù khác với các loại CTR khác Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở cáckhu xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược.
Bảng 1.1: Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế
Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành
chính, các loại bao gói,…
Chất thải chứa các vi
trùng gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạngcủa người sau khi mổ xẻ và của động vật sau quá trìnhxét nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân,
…Chất thải bị nhiếm bẩn Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh
nhân, các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà,…
Chất thải đặc biệt Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các
chất phóng xạ, hóa chất dược,… từ các khoa khám,chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược,…
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2011)
1.1.3 Phân loại chất thải rắn y tế
Theo thông tư 58/TTLT – BYT – BTNMT thì chất thải y tế được phân loạithành:
- Chất thải lây nhiễm bao gồm:
+ Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vếtcắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của dâytruyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫu thuật
Trang 14Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xétnghiệm.
+ Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xácđộng vật thí nghiệm
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:
+ Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại;
+ Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại
từ nhà sản xuất;
+ Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và cáckim loại nặng;
+ Chất hàn răng amalgam thải bỏ;
+ Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
36/2015/TT-về quản lý chất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT)
- Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế:
+ Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày củacon người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế
+ Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mụcchất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại quy định tạiĐiểm a Khoản 4 Điều này nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguyhại
+ Sản phẩm thải lỏng không nguy hại
- Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế
1.1.4 Thành phần chất thải rắn y tế
Thành phần vật lý
Thành phần vật lý của CTRYT gồm:
- Bông vải sợi: gồm bông băng, gạc, quần áo, khăn lau,
- Giấy: Giấy thải từ nhà vệ sinh, giấy thấm, giấy gói, hộp đựng dụng cụ,
- Nhựa: Hộp đựng bơm tiêm, dây chuyền máu, hộp đựng dụng cụ,
- Kim loại: kim tiêm, dao mổ, kéo mổ,
Trang 15Thành phần hóa học
Thành phần hóa học gồm 2 loại:
- Vô cơ: hóa chất, thuốc thử,
- Hữu cơ: đồ vải sợi, phần cơ thể, thuốc,
Thành phần sinh học
Gồm máu, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ,
1.1.5 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
- Ảnh hưởng đến môi trường
Môi trường nước: Nguồn nước có thể bị nhiễm bản do các chất độc hại cótrong chất thải bệnh viện Chúng có thể chứ các vi sinh vật gây bệnh Chunga có thểchứa kim loại nặng, phần lớn là thủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửaphim X.quang Một số dược phẩm nhất định, nếu xả thải mà không xử lý có thể gâynhiễm độc nguồn nước cấp
Môi trường đất: Tiêu hủy không an toàn chất thải nguy hại như tro lò đốt haybùn của hệ thống xử lý nước thải rất có vấn đề khi các chất gây ô nhiễm từ bãi rác
có khả năng rò thoát ra, gây ô nhiễm đất và nguồn nước, và cuối cùng là tác độngtới sức khỏe cộng đồng trong dài hạn
Môi trường không khí: Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớnchất thải nguy hại được thiêu đốt trong điều kiện không lí tưởng Việc thiêu đốtkhông đủ nhiệt độ trong khi rác thải đưa vào quá nhiều sẽ gây ra nhiều khói đen.Việc đốt chất thải y tế đựng trong túi nilon PVC, cùng với các loại dược phẩm nhấtđịnh có thể tạo ra khí axít, thường là HCl và SO2
- Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Vi sinh vật gây bệnh trong chất thải lây nhiễm có thể xâm nhập vào cơ thểthông qua nhiều đường: Vết thương, vết cắt qua da, qua niêm mạc, qua đường hôhấp, qua đường tiêu hóa Vật sắc nhọn không chỉ gây ra vết thương trên da mà còngây nhiễm trùng vết thương nếu chúng bị nhiễm bẩn Tổn thương do vật sắc nhọn
có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm như HIV Khoảng 80% nhiễm trùngHIV nghề nghiệp là do thương tích do vật sắc nhọn và kim tiêm Việc tái chế hoặc
xử lý không an toàn chất thải lây nhiễm, bao gồm cả nhựa và vật sắc nhọn có thể cótác động lâu dài tới sức khỏe cộng đồng
Trang 16Nhiều hóa chất và dược phẩm sử dụng trong cơ sở y tế là chất nguy hại: gâyđộc, ăn mòn, dễ cháy, gây phản ứng, gây sốc, nhưng thường khối lượng thấp.Trong quá trình thu gom, vận chuyển và lưu trữ chất thải nguy hại có thể bị rò thoát,
đổ tràn, khi tiếp xúc vào cơ thể dễ mắc bệnh lạ, hoặc bị bỏng, tổn thương da,
Nhiều thuốc điều trị ung thư là các thuốc gây độc tế bào, chúng có thể gâychóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da Nhân viên bệnh viện, đặc biệt lànhững người chịu trách nhiệm thu gom chất thải, có thể phơi nhiễm với các thuốcđiều trị ung thu qua hít thở hoặc hạt lơ lửng trong không khí, hấp thu qua da, tiêuhóa qua thực phẩm vô tình nhiễm bẩn với thuốc gây độc tế bào
Chất thải phóng xạ ảnh hưởng tới sức khỏe con người như: đau đầu, chóngmặt, buồn nôn cho đến các vẫn đề đột biến gen dài hạn
1.1.6 Tổng quan công tác quản lý CTRYT trên thế giới
Trên thế giới, quản lý và xử lý chất thải bệnh viện đã được nhiều quốc giaquan tâm và tiến hành một cách triệt để từ lâu Về quản lý, một loạt các chính sách,quy định đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại rác thải này Các hiệp ướcquốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại trong đó cóchất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện ở hầu hết các quốc gia trênthế giới :
Công ước Basel (được thông qua năm 1989, Việt Nam tham gia công ướcngày 13/3/1995) Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự di chuyển chấtthải độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng cả với chất thải y tế Công ước đã đưa
ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các quốc gia không cóđiều kiện công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện vật chất và kỹ thuật
để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt
Nguyên tắc Pollutor pay (1990): nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phátsinh chất thải phải chịu trách nhiệm về luật pháp và tài chính trong việc đảm bảo antoàn và giữ cho môi trường trong sạch
Nguyên tắc Proximitry : quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần đượctiến hành ngay tại nơi phát sinh càng sớm càng tốt Tránh tình trạng chất thải bị lưugiữ trong thời gian dài gây ô nhiễm môi trường
Về xử lý chất thải bệnh viện, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa họccông nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại
Trang 17rác thải nguy hại này Tại vương quốc Anh, công tác quản lý CTRYT rất được chútrọng, cụ thể:
Phân loại chất thải y tế.
Định nghĩa chất thải y tế ở nước Anh dựa trên các quy định về rác thải có
kiểm soát năm 1992 như sau: “Bất kỳ chất thải nào mà gồm toàn bộ hoặc một phần
cơ thể người, mô động vật, máu hoặc các dịch cơ thể, chất bài tiết, biệt dược mà không an toàn có thể gây độc hại cho người khi tiếp xúc với nó Các rác thải khác bắt nguồn từ y tế, chất thải mà gây ra truyền nhiễm cho người khi tiếp xúc với nó.”
Chất thải y tế nằm trong phạm vi định nghĩa này được chia thành 8 loại nhómbao gồm: mô người và chất truyền nhiễm; các vật sắc nhọn; mầm bệnh và các chấtthải phòng thí nghiệm; các chất thải biệt dược; nước tiểu, phân và các sản phẩm vệsinh; các chất thải Cytotoxic; các chất thải phóng xạ; các biệt dược bị kiểm soát
Công nghệ tiêu hủy chất thải y tế hiện nay.
Tại Anh, các phân tách chất thải rắn y tế được thiết lập một cách hợp lý, điểnhình trong các bệnh viện, phòng khám và các cơ sở y tế khác, các tổ chức y tế cóquy định bắt buộc về pháp lý để quản lý chất thải Thiêu hủy tất cả chất thải y tế là
hệ thống tiêu hủy phổ biến nhất, đôi khi kèm theo cả xử lý sơ bộ ban đầu cho cácthành phần độc hại đặc biệt nhờ khử trùng tại bệnh viện Điển hình ở nước Anh cácphương tiện thiêu hủy là Sector riêng và để đạt được tiết kiệm các hệ thống, đượccấp cho từng khu vực Tuy nhiên, một số bệnh viện hiện đang hoạt động nhờ
“Hospital trusts” cũng tiêu hủy chất thải rắn y tế bằng cách tự thiêu hủy hoặc họ kíhợp đồng với bên thứ 3 để thiêu hủy Trong thực tế, không phải tất cả rác thải đượcthiêu hủy Chôn lấp được sử dụng cho loại chất thải rắn y tế ít độc hại hơn (rác thảikhông gây bệnh truyền nhiễm) Lựa chọn phương pháp tiêu hủy cục bộ phải dựatrên điều kiện thực tế và khả năng tiêu hủy có sẵn Tuy vậy, cách thức tiêu hủy cục
bộ hiện nay cũng ít được áp dụng Theo truyền thống, các lò đốt quy mô nhỏ đượcphép thực hiện các tiêu chuẩn môi trường thấp hơn, làm chúng có tính hiệu quả theochi phí (vì chi phí làm sạch khí là 50-60%) Tuy nhiên, phương pháp này có vấn đềkhi lượng khí thải nhỏ hơn, nhưng nồng độ cực đại tại mặt đất có thể cao hơn so vớicác lò đốt quy mô lớn, vì vậy mức độ rủi ro cho sức khỏe sinh ra từ lò đốt quy mônhỏ và lò đốt quy mô lớn là như nhau Khi tiêu chuẩn giới hạn phát thải đối với các
lò đốt quy mô nhỏ được thắt chặt hơn, thì nhiều lò đốt nhỏ tại các bệnh viện sẽ bịđóng cửa Khi đó bệnh viện phải ký hợp đồng thu gom và thiêu hủy với công tydịch vụ
Trang 18Chiến lược tiêu hủy chất thải.
Tại Anh, chiến lược tối ưu cho tiêu hủy chất thải y tế là thiêu hủy ở nhiệt độcao với thiết bị làm sạch khí thải hợp lý để thỏa mãn các tiêu chuẩn Châu Âu vềkiểm soát chất phát thải Chiến lược này đã được áp dụng trong quá khứ và sẽ tiếptục được áp dụng trong tương lai Khối lượng chất thải rắn y tế được chôn lấp sẽgiảm Trong khi đó các biện pháp tiêu hủy thích hợp khác luôn luôn sẵn sàng đápứng đủ công suất theo yêu cầu Một phương pháp xử lý rác thải y tế là khử trùngbằng nhiệt đã được đề xuất tại Anh và đã được cơ quan môi trường chấp thuận như
là một giải pháp để giải quyết vấn đề này Bên cạnh đó biện pháp tiêu hủy “đồ sắcnhọn” tại nguồn (là tại các bệnh viện và phòng khám tư) với chi phí thấp cũng đượcphát triển ở nước Anh
1.1.7 Thực trạng công tác quản lý CTRYT ở Việt Nam
- Hiện trạng thu gom, phân loại, vận chuyển CTRYT
Năm 2015, công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâmbởi các cấp từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ởcác bệnh viện khá cao
Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lýcủa Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đóđược xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển
và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khámchữa bệnh đó
Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý,công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt làcông tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường, chấtthải y tế nguy hại )
Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy
để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái che để lưu giữCTR đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường
Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ,còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường đượcđưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý Có 63,6% sử dụng túinhựa làm bằng nhựa PE, PP Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày theo đúng quychế Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng đựng chất thải Tuy nhiên, các
Trang 19bệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bệnh viện cóthùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh viện trung ương và bệnh viện tỉnh).Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTR được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện
có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối đi riêng để vận chuyểnchất thải Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe có nắp đậy
Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có 45,3% đạt yêucầu theo quy chế quản lý chất thải y tế
Phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạttiêu chuẩn Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, dovậy mua sắm phương tiện thu gom CTR đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặp khókhăn Theo báo cáo của JICA (2011), các cơ sở y tế của 5 thành phố điển hình làHải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnhviện sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác.Một số khu vực lưu trữ CTR trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bênngoài được trang bị điều hoà và hệ thống thông gió theo quy định
Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất thải y tế còn thiếu, đặc biệt làcác xe chuyên dụng Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện, cơ
sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm,không có các trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn
- Hiện trạng xử lý và tái chế chất thải rắn y tế thông thường
CTR y tế không nguy hại ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công ty môitrường đô thị thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử lý CTR tập trungcủa địa phương
Hoạt động thu hồi và tái chế CTR y tế tại Việt Nam hiện đang thực hiện không theođúng quy chế quản lý CTR y tế đã ban hành Chưa có các cơ sở chính thống thựchiện các hoạt động thu mua và tái chế các loại chất thải từ hoạt động y tế ở ViệtNam Quy chế Quản lý chất thải y tế (2007) đã bổ sung nội dung tái chế CTR y tếkhông nguy hại làm căn cứ để các cơ sở y tế thực hiện Tuy nhiên, nhiều địaphương chưa có cơ sở tái chế, do vậy việc quản lý tái chế các CTR y tế không nguyhại còn gặp nhiều khó khăn Một số vật liệu từ chất thải bệnh viện như: chai dịchtruyền chứa dung dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn(NaCl 0,9%), các dung dịch acide amine, các loại muối khác; các loại bao gói nilon
và một số chất nhựa khác; một số vật liệu giấy, thuỷ tinh hoàn toàn không có yếu tốnguy hại, có thể tái chế để hạn chế việc thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm
Trang 20Năm 2010, đã phát hiện nhiều hiện tượng đưa CTR y tế ra ngoài bán, tái chếtrái phép thành các vật dụng thường ngày Việc tái sử dụng các găng tay cao su, cácvật liệu nhựa đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho những người trực tiếp tham gia nhưcác nhân viên thu gom, những người thu mua và những người tái chế phế liệu.
1.2 , Tổng quan về huyện Hoài Đức
1.2.1 Tổng quan về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Hình 1.1: Vị trí huyện Hoài Đức trên bản đồ
Hoài Đức là huyện thuộc Hà Tây cũ, nằm phía Tây thủ đô Hà Nội, cáchtrung tâm Hà Nội khoảng 16 km (phía Bắc giáp huyện Đan phượng, phía Nam giáphuyện Quốc Oai và Hà Đông, phía Đông giáp huyện Bắc Từ Liêm và Nam TừLiêm, phía Tây giáp huyện Quốc Oai, Phúc Thọ) Trên địa bàn huyện có các Quốc
lộ, tỉnh lộ chạy qua như: đường Láng - Hoà Lạc, quốc lộ 32 và các đường tỉnh lộ 70,
422, 423
Địa hình của huyện nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng,gồm 3 vùng đồi núi, đồng bằng, vùng bãi Trong vùng có một số núi sót như núiVoi, vua Bà, núi Thầy, Hoàng Xá (núi đá vôi) Trong huyện có sông Tích và sôngĐáy chảy qua Huyện có vùng là đồng bằng châu thổ, bằng phẳng, độ cao trungbình là 5m
Toàn huyện có 19 xã, 01 thị trấn gồm: thị trấn Trạm Trôi (ở phía Bắc) và 19
xã (An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Di Trạch, Dương Liễu, Đắc Sở, Đông La, ĐứcGiang, Đức Thượng, Kim Chung, La Phù, Lại Yên, Minh Khai, Song Phương, SơnĐồng, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn ,Yên Sở), có 54 làng, 132 khu dân cư
Trang 21Tổng diện tích tự nhiên là 8.246,77 ha chia ra vùng đồng 5.824,96 ha, vùngbãi là 2.421,81 ha (trong đó: đất nông nghiệp 4.217,09 ha, đất phi nông nghiệp3.972,38 ha, đất chưa sử dụng 57,30 ha).
1.2.2 Giới thiệu về bệnh viện và các trạm y tế
Huyện Hoài Đức có 1 bệnh viện đa khoa, 1 trung tâm y tế dự phòng, 20 trạm
y tế và các phòng khám chữa bệnh tư nhân
Trong giới hạn của đề tài, em xin được thực hiện đánh giá hiện trạng quản lýchất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Hoài Đức và 3 trạm xá y tế trên địabàn huyện là trạm y tế thị trấn Trạm Trôi, trạm y tế xã Kim Chung và trạm y tế xãĐức Giang Dưới đây là phần giới thiệu về bệnh viện Hoài Đức và 3 cơ sở y tế trênđịa bàn huyện
a .h Bệnh viện đa khoa huyện Hoài Đức
Bệnh viện đa khoa Hoài Đức nằm trên đia phận thôn Lũng Kênh – Xã ĐứcGiang – Huyện Hoài Đức – Thành phố Hà Nội
Hình1.2: Bệnh viện Hoài Đức Hình1.3: Vị trí bệnh viện Hoài Đức trên bản đồ
Bệnh viện đa khoa huyện Hoài Đức là bệnh viện hạng II, được thành lậpngày 20/7/1965, trên cơ sở một phân viện của Bệnh viện Hà Đông Khi mới thànhlập, bệnh viện chỉ có 50 giường bệnh với 13 cán bộ, viên chức Bệnh viện có 200giường bệnh, 24 khoa, phòng chức năng và tổng số 293 cán bộ (Thống kê năm2015) Dưới đây là bảng thống kê các khoa và phòng chức năng của bệnh viện
Trang 22Bảng 1.2: Bảng thống kê các khoa – Phòng chức năng ở bệnh viện đa khoa
Các khoa lâm sàn và cận lâm sàn 17 Khoa Dinh dưỡng tiết chế
5 Khoa ngoại tổng hợp 18 Khoa Khám bệnh
9 Khoa Hồi sức cấp cứu 21 Đơn nguyên cấp cứu
10 Khoa Liên chuyên khoa 22 Đơn nguyên giải phẫu bệnh tế bào
12 Khoa Nhi 24 Đơn nguyên vật tư trang thiết bị y
Trang 23Bệnh viện đã triển khai thực hiện nhiều kỹ thuật trong lĩnh vực ngoại – sảnnhư phẫu thuật thay khớp gối, mổ đẻ lần 2, phẫu thuật chửa ngoài tử cung vỡ, phẫuthuật cắt u nang buồng trứng, siêu âm tim, chụp UIV…với những kỹ thuật mớiđược triển khai đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tạiđơn vị, từ đó thu hút người dân trong huyện và các khu vực lân cận đến khám vàđiều trị Số bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện tăng theo từng năm thể hiện quacông suất sử dụng giường bệnh từ 118% năm 2005 lên 138% năm 2010.
Bên cạnh đó, bệnh viện chủ động phòng chống dịch, tiếp nhận, cách ly vàđiều trị kịp thời các bệnh nhân mắc bệnh truyển nhiễm gây dịch và không có bệnhnhân tử vong di dịch
Bệnh viện đặc biệt quan tâm và khuyến khích cán bộ học nâng cao trình độchuyên môn Nhiều lượt cán bộ đã được bệnh viện cử tham gia chương trình đào tạo
do các trưởng đại học và ngành y tế tổ chức, đồng thời cũng mở nhiều lớp đào tạotại chỗ, đào tạo lại về kiến thức chuyên môn, phòng chống dịch bệnh, công tácchống nhiễm khuẩn, chăm sóc người bệnh toàn diện Công tác nghiên cứu khoa học,
áp dụng các sáng kiến cải tiến kỹ thuật được bệnh viện triển khai đến từng cán bộ,nhân viên Nhiều đề tài nghiên cứu đã được ứng dụng trong thực tiễn chẫn đoán,điều trị và chăm sóc người bệnh
Trong những năm tiếp theo, bệnh viện tiếp tục xây dựng kế hoạch phát triển
để nâng quy mô lên 300 giường bệnh, 330 biên chế và nhiều kỹ thuật chuyên mônmũi nhọn sẽ được triển khai
b , Trạm y tế thị trấn Trạm Trôi
Thị trấn Trạm Trôi được thành lập theo nghị định 52 của chính phủ (tháng 9năm 1994) Song song với việc phát triển quy hoạch thị trấn, trạm y tế cũng đi vàohoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Tổng số cán bộ, viên chức hiện nay: 06 trong đó có 01 bác sĩ Trong đóTrạm trưởng là y sỹ Nguyễn Hữu Thái, Trạm phó là bác sỹ Nguyễn Mạnh Liên
Từ những ngày đầu hoạt động Trạm y tế gặp không ít khó khăn về nhân lực
và cơ sở vật chất: chỉ có 01 y sỹ y học cổ truyền; 01 y tá; 01 NH.S trung học Cơ sởtrạm y tế chưa ổn định, trang thiết bị y tế nghèo nàn chưa được đầu tư nên gặp nhiềukhó khăn trong khi thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân Hai mươi nămhoạt động trạm y tế phải di chuyển địa điểm nhiều lần, đặc biệt là đều phải hoạtđộng nhờ địa điểm
Trang 24Hiện nay, trạm y tế đã có đội ngũ y, bác sỹ đủ điều kiện hoạt động trongcông tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và thực hiện các chương trình y tế quốc gia.Trạm y tế thị trấn Trạm Trôi được xây dựng khang trang rộng rãi có đầy đủ cácphòng chức năng, đồng thời được đầu tư đầy đủ trang thiết bị như: máy siêu âm,máy điện tim, các máy xét nghiệm, máy nghe tim thai…phục vụ cho công tác chẩnđoán giúp cho công tác điều trị đạt hiệu quả.
Năm 2014, với sự nỗ lực của cán bộ nhân viên trạm y tế và được sự quan tâmchỉ đạo của Ban Giám Đốc TTYT, Đảng ủy – UBND thị trấn Trạm Trôi và sự giúp
đỡ trực tiếp của các khoa phòng TTYT, thị trấn Trạm Trôi đón nhận danh hiệu đơn
vị đạt tiêu chí Quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 – 2020
c Trạm y tế xã Kim Chung
Trạm Y tế xã Kim Chung được xây dựng và đưa vào hoạt động từ năm
1971, ban đầu với 05 gian nhà cấp bốn đơn sơ và điều kiện cơ sở vật chất còn thiếuthốn Hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền địa phương và sự quan tâmcủa các cấp, các ban, ngành, nhất là Ban Giám đốc và các khoa, phòng Trung tâm Y
tế Huyện Hoài Đức, Trạm Y tế xã Kim Chung đã được cấp trên hỗ trợ về công tácchuyên môn, được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất với đầy đủ trang thiết bị y tế phục vụ công tác chuyên môn, chế độ lương, phụ cấp của cán bộ trạm Y tế đượccải thiện, công tác chăm sức khoẻ ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã ngày càngphát triển, đáp ứng được nhu cầu của nhân dân
Tổng số cán bộ viên chức hiện nay: 07 trong đó có 01 bác sỹ Trong đó,Trạm trưởng trạm y tế xã là bác sỹ Nguyễn Mạnh Tưởng
Xác định nhiệm vụ trọng tâm của Trạm là phòng chống dịch bệnh, chăm sócsức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn nên trong những năm qua Trạm Y tế xãKim Chung đã thực hiện tốt các chương trình mục tiêu y tế quốc gia như: Công táckhám chữa bệnh, công tác TT- GDSK, công tác phòng chống dịch bệnh, công táctiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản - KHHGĐ …
Xã Kim Chung đã được UBND Thành phố Hà Nội công nhận là xã đạtchuẩn Quốc gia về Y tế vào năm 2010 và đạt tiêu chí Quốc gia về Y tế xã năm
2012, hàng năm xã vẫn tiếp tục được đầu tư xây dựng bổ sung và duy trì xã đạttiêu chí Quốc gia theo quy định
d , Trạm y tế xã Đức Giang
Trang 25Trạm y tế xã Đức Giang được UBND xã xây dựng từ nửa năm 1965 Nửa thế
kỷ trôi qua, trạm y tế Đức Giang đã qua 4 lần xây dựng và chuyển địa điểm Giờđây, trạm y tế đã được xây dựng khang trang với khu nhà 2 tầng rộng rãi với cácphòng chức năng phục vụ hoạt động khám bệnh, vườn thuốc nam phục vụ quá trình
sơ cứu bệnh nhân khi cần thiết
Từ năm 2008 đến nay Trung tâm Y tế huyện Hoài Đức trực tiếp quản lý chỉđạo Trạm Y tế về các công tác chuyên môn: phòng chống dịch bệnh, ATTP, khámchữa bệnh, thực hiện các chương trình y tế quốc gia
Hàng năm Trung tâm Y tế huyện đã quan tâm đầu tư kinh phí tu sửa, xâydựng, nâng cấp Trạm Y tế, cung cấp trang thiết bị, vật tư chuyên môn và bánchuyên môn như máy siêu âm, máy xét nghiệm nước tiểu, kính hiển vi, máy hútdịch, máy điện tim, giường, tủ, bàn ghế làm việc…Bổ sung nhân lực, cử cán bộtrạm đi đào tạo bác sỹ, cao đẳng siêu âm, xét nghiệm, điện tim…đảm bảo cho Trạm
Y tế thực hiện tốt các chương trình y tế tại địa phương
Năm 2009, xã Đức Giang đạt chuẩn quốc gia về y tế xã Từ năm 2014 đếnnay, Trạm y tế xã Đức Giang đã xây dựng và duy trì tiêu chí quốc gia về y tế xãtheo 10 tiêu chí mới của Bộ y tế
Với sự lãnh đạo của các cấp chính quyền, sự quan tâm và chỉ đạo của ngành
Y tế đặc biệt là Trung tâm Y tế huyện Hoài Đức, Trạm Y tế xã Đức Giang đã có độingũ cán bộ y bác sỹ có trình độ chuyên môn vững và cơ sở vật chất khang trang,trang thiết bị y tế đầy đủ Đảm bảo công tác khám chữa bệnh, phòng chống dịchbệnh, thực hiện tốt các chương trình y tế, làm tốt công tác chăm sóc – bảo vệ sứckhoẻ ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã
Năm 2007, Đảng bộ xã Đức Giang đã quyết định thành lập chi bộ Trạm Y tếvới 03 đảng viên, đồng chí Lê Văn Hải là bí thư chi bộ Đến nay, chi bộ đã có 05đảng viên Hàng năm, chi bộ đều đạt chi bộ trong sạch vững mạnh
Trang 26
Hình 1.4: Trạm y tế xã Đức Giang 1.3 Căn cứ pháp lý liên quan đến quản lý CTR y tế ở Việt Nam
Dưới đây là các văn bản pháp luật và trích dẫn một số điều, khoản trong cácvăn bản pháp luật có liên quan đến quản lý CTRYT ở Việt Nam:
Bảng 1.3: Một số văn bản pháp lí liên quan đến quản lý CTRYT tại Việt Nam STT Tên văn bản Trích dẫn các điều, khoản trong văn bản
1 Luật bảo vệ môi
Theo khoản 1 điểu 72 của Luật BVMT:
“ Bệnh viện và cơ sở y tế phải thực hiện yêu cầubảo vệ môi trường sau:
a) Thu gom, xử lý nước thải y tế đạt quy chuẩn
kỹ thuật môi trường;
b) Phân loại chất thải rắn y tế tại nguồn; thựchiện thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chấtthải rắn y tế bảo đảm đạt quy chuẩn kỹ thuậtmôi trường;
c) Có kế hoạch, trang thiết bị phòng ngừa, ứngphó sự cố môi trường do chất thải y tế gây ra;d) Chất thải y tế phải được xử lý sơ bộ loại bỏmầm bệnh có nguy cơ lây nhiễm trước khichuyển về nơi lưu giữ, xử lý, tiêu hủy tập trung;đ) Xử lý khí thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi
Trang 27“Chất thải nguy hại phải được phân loại bắt đầu
từ thời điểm đưa vào lưu giữ hoặc chuyển đi xửlý.”
Theo khoản 2, điều 5, NĐ 174/2007/CN – CP:
“Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với chấtthải rắn nguy hại: không quá 6.000.000đồng/tấn”
thải nguy hại.
Theo điểm d, khoản 3, điều 4, thông tư 36/2015/TT – BTNMT:
“Chủ vận chuyển CTNH hoặc chủ xử lý, tiêuhủy CTNH chỉ được ủy quyền cho cơ sở đượcghi trong Giấy phép hành nghề vận chuyểnCTNH hoặc Giấy phép hành nghề xử lý, tiêuhủy CTNH được cấp theo quy định có trướcngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.”
Trang 288 Quyết định số 2149/QĐ
– TTg ban hành ngày
17/12/2009, quyết định
về việc Phê duyệt chiến
lược quốc gia về quản
cơ sở y tế, bệnh viện được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường.”
Trang 29CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là chất thải rắn y tế trên địa bàn huyệnHoài Đức
tế thị trấn, trạm y tế Đức Giang mang đặc điểm đặc trưng cho trạm y tế là nơi tậpkết CTRYT và trạm y tế Kim Chung mang đặc điểm đặc trưng cho trạm y tế thôngthường
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp
Đề tài thu thập tài liệu từ: Báo cáo công tác quản lý chất thải rắn của bệnhviện, báo cáo khám chữa bệnh năm 2016 Các tài liệu về hiện trạng phát sinh, tìnhhình quản lý chất thải rắn của bệnh viện năm 2016, báo cáo tổng thể điều kiện tựnhiên, KT – XH huyện Hoài Đức Bên cạnh đó, tham khảo thêm các văn bản, sáchbáo, tạp chí, các luận văn, báo cáo và một số tài liệu được tìm trên mạng internet cóliên quan đến vấn đề chất thải rắn y tế
2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
Điều tra, khảo sát trực tiếp hoặc thông qua phiếu điều tra:
- Điều tra khảo sát thực tế về hiện trạng, công tác thu gom, vận chuyển, quản
lý chất thải rắn tại huyện Hoài Đức
Trang 30--Điều tra hiện trạng phân loại rác, lưu trữ rác tạm thời tại bệnh viện.
- Điều tra quá trình xử lý rác y tế tạm thời của bệnh viện
Số phiếu dự kiến 40 phiếu trong đó:
+ Bác sĩ, nhân viên cán bộ y tế bệnh viện đa khoa huyện Hoài Đức: 20 phiếu + Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân: 20 phiếu
2.2.3 Phương pháp dự báo lượng CTRYT
Dự báo lượng CTR phát sinh tại bệnh viện giai đoạn 2017- 2020 dựa vào:+ Lượng chất thải rắn sinh ra trong giai đoạn từ năm 2014- 2016 để tính ra hệ
số phát sinh CTRYT nguy hại trung bình của bệnh viện
+ Sự biến động quy mô giường bệnh tại cơ sở từ khi thành lập đến năm 2016
để dự tính quy mô giường nằm tại các giai đoạn tiếp theo
Từ đó dự báo được lượng CTR của bệnh viện:
M (n) = H.N (n)
Trong đó:
M(n): Khối lượng CTRYT năm (n)
H : Hệ số phát sinh CTRYT nguy hại trung bình
N(n) : Tổng số giường bệnh năm (n)
2.2.4 Phương pháp phân tích SWOT
Sử dụng phương , pháp SWOT đánh giá hệ thống quản lý chất thải rắn y tếtrên địa bàn huyện Hoài Đức Đây là phương pháp phân tích điểm mạnh(Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunies) và thách thức (Threats).Điểm mạnh và điểm yếu thường xuất phát từ nội tại trog tổ chức của huyện Cơ hội
và nguy cơ liên quan tới những nhân tố từ bên ngoài
2.2.5 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Với số liệu đã thu thập được về hiên trạng và nguồn phát sinh chất thải rắn y
tế, sử dụng thông tư 58/2015/TTLT – BYT – BTNMT để đánh giá công tác quản lýchất thải rắn y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức
Với số liệu đã thu thập được từ phiếu điều tra, tổng hợp và đánh giá nhậnthức của cán bộ, bác sĩ, nhân viên y tế và người nhà bệnh nhân về công tác quản lýchất thải rắn y tế
Trang 31CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN3.1 Hiện trạng phát sinh CTR y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức
- Nguồn phát sinh tại bệnh viện đa khoa Hoài Đức:
Nguồn phát sinh CTRYT chủ yếu từ 14 khoa lâm sàng, cận lâm sàng và 06đơn nguyên tại bệnh viện Dưới đây là một số CTRYT khảo sát được tại 03 khoacủa bệnh viện:
- Khoa xét nghiệm: CTRYT chủ yếu là máu, hóa chất, bơm kim tiêm, kimchích máu, chai lọ đựng bệnh phẩm sau khi xét nghiệm, môi trường nuôi cấy, cácvật liệu sử dụng trong các xét nghiệm, chụp X- quang, chất hóa học có trong phimchụp chiếu,…
- Khoa nhi: CTRYT chủ yếu là hóa chất, bơm kim tiêm, kim chích máu,bông, băng, gạc, chai lọ đựng thuốc , lọ và dây truyền nước,
- Khoa sản: Bông băng, nhau thai, thai nhi chết lưu, bình và dây truyền nước,găng tay cao su, khăn giấy,
Tại bệnh viện, một nguồn thải không thể không kể đến là rác thải sinh hoạt ởbệnh viện, lượng rác này khá lớn mà chủ yếu là từ hoạt động sinh hoạt của bệnhnhân và cán bộ y bác sỹ trong bệnh viện Chúng phát sinh từ các buồng bệnh, phònglàm việc, hành lang, nhà kho, nhà giặt, nhà ăn, bao gồm: túi nilon, vật liệu góithực phẩm, hộp sữa, thức ăn thừa, thùng catton, giấy báo, tài liệu, chất thải quét dọn
từ các sàn nhà
- Nguồn phát sinh tại các trạm y tế
Trong quá trình điều tra và phỏng vấn cán bộ y bác sỹ, nhân viên tại các trạm
y tế xã thì đặc điểm của các trạm y tế chỉ có bệnh nhân ngoại trú, không lưu bệnhnhân qua ngày nên tại các cơ sở này chủ yếu là chất thải rắn lâm sàng và chất thảirắn sinh hoạt:
Trang 32- Chất thải rắn lâm sàng chủ yếu đến từ hoạt động tiêm chủng hàng tháng vàocác ngày tiêm cố định cho trẻ em và phụ nữa mang thai Cụ thể:
+ Trạm y tế thị trấn Trạm Trôi có 2 đợt tiêm vào ngày mùng 5 và ngày 18hàng tháng
+ Trạm y tế xã Kim Chung có 3 đợt tiêm vào ngày mùng 5, mùng 6 và ngày
- Chất thải rắn sinh hoạt đến từ hoạt động hằng ngày của cán bộ làm việc ởtrạm xá như: thực phẩm thừa, vỏ bánh kẹo, giấy báo,
3.1.2 Khối lượng và thành phần chất thải rắn y tế
- Bệnh viện đa khoa Hoài Đức
Năm 2016, theo thống kê của bệnh viên đa khoa Hoài Đức, bệnh viện đãchăm sóc và điều trị nội trú cho 13.305 bệnh nhân, phẫu thuật cho 1.461 bệnh nhân,xét nghiệm 420.519 lượt, chụp Xquang 31.804 lượt Với quy mô và số lượng ngườiđến khám, chữa bệnh khá cao Bệnh viện đa khoa Hoài Đức cũng phải đối mặt vớivấn đề đó là rác thải y tế của bệnh viện ngày càng gia tăng cả về chất thải sinh hoạtcũng như rác thải lây nhiễm, nguy hại
Theo kết quả điều tra cho thấy, khối lượng CTRYT nguy hại phụ thuộc vào
số lượng bệnh nhân, do đó khối lượng CTRYT không ổn định theo thời gian Bảng3.2 là khối lượng CTRYT nguy hại 6 tháng cuối năm 2016 tại bệnh viện:
Trang 33Bảng 3.1: Khối lượng CTRYT 6 tháng cuối năm 2016 tại bệnh viện Hoài Đức
(Nguồn: Sổ giao nhận CTRYT nguy hại - Khoa KSNK - BV Hoài Đức)
Khối lượng CTRYT nguy hại có chiều hướng tăng dần về các tháng cuốinăm Khối lượng giữa các tháng chênh lệch nhau khoảng từ 30 – 100 (kg) Từ đó,bệnh viện cần chú trọng công tác quản lý CTRYT hơn về cuối năm
Theo báo cáo kết quả công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện đakhoa Hoài Đức năm 2014 - 2016 thì khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại được thểhiện qua biểu đồ như sau:
Khối lượng CTRYT của bệnh viện Hoài Đức (kg)
Khối lượng CTRYT của bệnh viện Hoài Đức năm 2014 - 2016
Biểu đồ 3.1: Khối lượng CTRYT của bệnh viện Hoài Đức năm 2014 – 2016
Nhìn vào biểu đồ có thể thấy khối lượng CTRYT tại bệnh viện tăng dần quacác năm, khối lượng chênh lệch giữa năm 2014 và 2015 là 720 (kg) và chênh lệch
Trang 34giữa năm 2015 và 2016 là 716 (kg) Điều này cho thấy, chất thải rắn tăng lên do sốbệnh nhân tới khám chữa bệnh gia tăng theo các năm đòi hỏi công tác quản lýCTRYT cần thực hiện chặt chẽ để đảm bảo không bị thất thoát CTRYT ra bênngoài, tránh ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe người dân.
Qua kết quả điều tra thực tế tại bệnh viện đa khoa Hoài Đức mỗi ngày thải ramột lượng chất thải rắn y tế nguy hại khoảng 0,125 kg/giường/ngày, tức khoảng 25kg/ngày, dao động khoảng 8 - 9 tấn/năm Đây là một con số khá lớn, thành phầnchất thải y tế cũng rất đa dạng Dưới đây là thành phần chủ yếu trong CTRYT tạibệnh viện Hoài Đức
Bảng 3.2: Thành phần và khối lượng CTRYT năm 2016
lượng (kg)
Phần trăm (%)
Chất thải
lây nhiễm
Chất thải sắc nhọn lây nhiễm
Các vật sắc nhọn và các vật bịgãy, vỡ có dính máu trong khi mổ, khi tiêm truyền; các vật liệu sử dụng trong quá trình khám chữa bệnh
Ống đựng mẫu nuôi cấy trongphòng thí nghiệm
Chất thải không sắc nhọn lây nhiễm
Túi đựng máu, bông, gạc thấm máu, thấm dịch, găng tay, dây truyền máu,
Chất thải giải phẫu – tế bào)
(Nguồn: Báo cáo công tác quản lý CTRYT của bệnh viện Hoài Đức)
Từ bảng số liệu được cụ thể hóa bằng biểu đồ 3.2:
Trang 35Sắc nhọn lây nhiễm
Không sắc nhọn lâynhiễm
Giải phẫu - tế bàoDược phẩm
28%
18%
35%
19%
Thành phần CTRYT của bệnh viện Hoài Đức
Biểu đồ 3.2: Thành phần CTRYT của bệnh viện Hoài Đức
Thành phần chất thải rắn tại bệnh viện rất đa dạng chủ yếu gồm: chai nhựa,bông băng, kim tiêm, ống tiêm, xilanh, bệnh phẩm, lọ thủy tinh đựng dượcphẩm, Chất thải y tế tại bệnh viện chủ yếu là những chất thải trong quá trình tiêm,truyền máu do đó những lọ thủy tinh đựng thuốc thải bỏ trong quá trình tiêm chiếm
tỷ lệ lớn nhất khoảng 35%, chất thải sắc nhọn lây nhiễm chiếm 28%, sau đó đếnchất thải giải phẫu – tế bào chiếm 19% và thấp nhất là chất thải không sắc nhọn lâynhiễm chiếm 18%
- Các trạm y tế thị trấn, xã
Do số lượng bệnh nhân tới bệnh viện khám chữa bệnh khá cao nên hầu nhưcác trạm y tế hầu như không có bệnh nhân tới điều trị, tại đây chủ yếu phục vụ côngtác tiêm phòng cho trẻ em và phụ nữa mang thai vào những ngày cố định trongtháng nên lượng chất thải phát sinh tại các trạm y tế là rất ít Khảo sát thực tế tại 3trạm y tế cho thấy số lượt người tới tiêm phòng giữa các trạm y tế chênh lệch nhaukhá lớn, tuy nhiên do khối lượng CTRYT phát sinh từ quá trình tiêm phòng khôngnhiều nên lượng rác y tế tại các trạm y tế cũng không chênh lệch nhau nhiều Kếtquả điều tra tại Trung tâm Y tế dự phòng Hoài Đức (Trung tâm quản lý hoạt độngcủa các trạm y tế huyện) cho biết từ khi thông tư 58/2015/TTLT – BYT – BTNMTđược ban hành thì khối lượng CTRYT tại các trạm y tế xã mới được ghi chép vào
sổ Do thông tư bắt đầu có hiệu lực vào ngày 31/12/2015, kế hoạch tập huấn vềcông tác quản lý CTRYT tại trung tâm cho các trạm y tế xã từ đó mới bắt đầu triểnkhai lại nên khối lượng CTRYT được ghi chép từ tháng 4/2016 Khối lượngCTRYT nguy hại tại các trạm y tế huyện Hoài Đức được thể hiện dưới bảng sau:
Trang 36Bảng 3.3: Khối lượng CTRYT tại các trạm y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức từ tháng 4
đến hết năm 2016 (9 tháng)
(Nguồn: Trung tâm Y tế dự phòng huyện Hoài Đức,2016)
Khối lượng CTRYT phát sinh tại các trạm y tế ít, không đồng đều, dao độngtrung bình khoảng 2 kg CTRYT nguy hại/tháng/1 trạm y tế Tổng khối lượng trongnăm 2016 là 368 kg (9 tháng)
Tiến hành phát phiếu điều tra, khảo sát địa bàn 3 trạm y tế thị trấn Trạm Trôi,
xã Đức Giang, Kim Chung nhận thấy đặc thù của các trạm xá gần như giống nhau:
số giường bệnh giao động từ 6 -10 giường nhưng do không có bệnh nhân nội trúnên chỉ sử dụng 2 – 3 giường dùng để khám bệnh, siêu âm, Thành phần chủ yếu làchất thải sinh hoạt và chất thải y tế nguy hại, lây nhiễm rất ít gồm: bông băng, kimtiêm, lọ thuốc, vỏ xilanh, chai thuốc,
Trang 373.1.3 Dự báo lượng chất thải rắn y tế phát sinh trên địa bàn huyện Hoài Đức đến năm 2020
Để có thể dự báo được khối lượng chất thải rắn phát sinh tại mỗi bệnh việntrong tương lai giai đoạn từ năm 2017 – 2020 ta dựa vào khối lượng chất thải rắnsinh ra trong giai đoạn từ năm 2014 – 2016 để tính hệ số chất thải rắn nguy hại phátsinh trung bình và sự biến động quy mô giường bệnh tại bệnh viện
Theo số liệu điều tra giai đoạn khi thành lập bệnh viện có 50 giường bệnh,đến năm 2015 là 200 giường, năm 2016 là 230 giường, năm 2017 là 250 giường,năm 2018 là 270 giường, 2019 là 290 và năm 2020 là 310 giường bệnh
Dựa vào khối lượng CTRYT (9372kg/năm) và số giường bệnh năm 2016 là
230 giường ta có lượng chất thải rắn phát sinh vào khoảng 0,112 kg/giường/ngày
Hệ số phát sinh chất thải rắn y tế trung bình là 0,1151 kg/giường/ngày (Cách tínhxem phần phụ lục 4)
Ta có kết quả dự bảo lượng chất thải rắn tại bệnh viện (Cách tính cụ thể xemphụ lục 4) như sau:
Bảng 3.4: Dự báo khối lượng CTRYT phát sinh tại bệnh viện đa khoa
Hoài Đức Năm Hệ số CTR nguy hại phát
sinh (kg/giường/ngày)
Số giường bệnh (giường)
Tổng khối lượng CTRYT (kg/năm)
Trang 38Từ bảng trên thể hiện qua biểu đồ ta có:
Biểu đồ 3.3: Diễn biến khối lượng CTRYT của bệnh viện đa khoa Hoài Đức
giai đoạn 2017 - 2020
Có thể nói, lượng chất thải rắn y tế phát sinh dự báo năm 2020 là 13024kg/năm, lớn hơn năm 2016 khoảng 3652 kg/năm Tuy nhiên, lượng rác này khôngquá lớn và vẫn nằm trong tầm kiểm soát được của bệnh viện, nhà lưu giữ CTRYTvẫn rất rộng rãi để chứa và lượng nhân viên, hộ lý vẫn đủ số lượng người để thựchiện công tác thu gom CTRYT tại bệnh viện
3.2 Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên địa bàn huyện Hoài Đức
3.2.1 Đánh giá hiện trạng quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa Hoài Đức
a Đánh giá hệ thống quản lý chất thải rắn y tế
Trong các bệnh viện tuyến huyện thì hầu hết sẽ phân công một khoa trực tiếpchịu trách nhiệm quản lý CTRYT tại bệnh viện, đó là khoa kiểm soát nhiễm khuẩn.Công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện do đồng chí Lê Văn Thuyên chịu tráchnhiệm trực tiếp dưới sự chỉ đạo của trưởng khoa kiểm soát nhiễm khuẩn là ThS.Đoàn Thịnh Trường Ngoài cán bộ chuyên môn phụ trách về CTRYT, các hộ lý, y
tá, lao công cũng có vai trò, trách nhiệm quản lý CTRYT trong bệnh viện tại cáckhoa, phòng Trong quá trình vệ sinh và thu gom chất thải rắn trong bệnh viện, cán
Diễn biến khối lượng CTRYT của bệnh viện Hoài
Đức giai đoạn 2017 - 2020
Trang 39bộ chịu trách nhiệm về công tác này đều được trang bị những đồ bảo hộ như : quần
áo, găng tay, khẩu trang nhưng vẫn chưa có đồ chuyên dụng cho nhân viên thu gom
Hiện nay, bệnh viện chỉ có đồng chí Lê Văn Thuyên là nhân viên làm việc tạikhoa kiểm soát nhiễm khuẩn kiêm nhiệm, chịu trách nhiệm về mảng CTRYT tạibệnh viện Theo điều tra cho thấy, đồng chí Thuyên không phải là cán bộ chuyênngành về môi trường Nhưng đồng chí cho biết, bệnh viện đang cử người đi học vềchuyên ngành môi trường để phục vụ công tác quản lý chất thải y tế cũng như bảo
vệ môi trường tại bệnh viện nhưng hiện chưa có quyết định đưa cán bộ chuyênngành môi trường về bệnh viện Tuy vậy, công tác giám sát, kiểm tra quá trình quản
lý CTRYT tại bệnh viện tương đối nghiêm ngặt
Bệnh viện chưa có đội ngũ quản lý môi trường chuyên ngành nên công tácquản lý CTRYT tại bệnh viện chưa thật sự đồng bộ, quá trình thu gom và vậnchuyển chưa thật sự thống nhất Dưới đây là sơ đồ quy trình quản lý CTRYT tạibệnh viên đa khoa Hoài Đức
Sơ đồ 3.1: Quy trình quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa Hoài Đức
Rác thải từ các khoa, phòng được phân loại sơ bộ ngay tại chỗ Chúng đượctập chung vào các túi lớn theo từng loại Rác thải y tế được phân loại ngay tại cáckhoa, phòng bằng các sọt rác được lót túi nilon có màu theo quy định; các chất thải
y tế sắc nhọn được thu gom bằng các dụng cụ, thiết bị đặc biệt khác sau đó được
Chất thải rắn tại các khoa, phòng
Thu gom và phân loại
Vận chuyển
Tập trung và phân loại
Rác sinh hoạt Rác tái chế Rác y tế nguy hại
HTX Thành Công
vận chuyển
Công ty CP Môitrường đô thị và côngnghiệp 10 – Urenco 10Bán cho cơ sở tái
chế
Trang 40Công ty Môi trường đô thị và công nghiệp 10 – Urenco 10 vận chuyển, xử lý Rácthải sinh hoạt được tập trung tại một nơi, hằng ngày vào mỗi chiều tối đội vệ sinhcủa bệnh viện lại chuyển ra trước cổng bệnh viện, nhân viên thu gom rác thải sinhhoạt sẽ mang đến nơi tập kết rác thải sinh hoạt chung của địa phương và HTXThành Công đến vận chuyển, xử lý Rác tái chế sẽ được thu gom lại và lưu giữ tạikhu nhà phân loại rác sơ bộ của bệnh viện và khi thu gom được số lượng lớn sẽ báncho cơ sở hoặc người thu mua phế liệu.
Có thể nói, hệ thống quản lý CTRYT tại bệnh viện chưa hoàn thiện nhưngcông tác quản lý CTRYT khá tốt, tuân theo quy định của Bộ Y tế, công tác giám sáttương đối chặt chẽ
b Đánh giá công tác phân loại, lưu trữ chất thải rắn y tế
- Phân loại
Qua quá trình khảo sát, điều tra và thu thập kết quả phiếu điều tra cho thấyquy trình phân loại rác thải y tế tại bệnh viện Hoài Đức được áp dụng theo quy chếcủa Bộ Y tế làm 4 loại: tái chế, thông thường, lây nhiễm và nguy hại Tại mỗi khoalâm sàng và cận lâm sàng đều được trang bị các loại túi và thùng rác với những màusắc khác nhau theo quy định Cụ thể:
+ Thùng, túi nilon màu xanh: đựng chất thải sinh hoạt thông thường baogồm: giấy, báo, tài liệu, khăn, gạc, các đồ dùng và các vật liệu y tế chăm sóc ngườibệnh không dính máu, thức ăn thừa, vật liệu đóng gói, hoa, lá cây,
+ Thùng, túi nilon màu vàng: để thu gom các loại chất lâm sàng không sắcnhọn
+ Thùng, hộp nhựa màu vàng đựng các vật sắc nhọn, bên ngoài có biểutượng về nguy hại sinh học: để thu gom các chất thải lâm sàng sắc nhọn như: kimtiêm, bơm tiêm kèm kim tiêm, dao mổ, các lọ thủy tinh dính máu hay các vật sắcnhọn khác…
+ Khoa cận lâm sàng còn có thêm thùng, túi màu đen: để thu gom các chấtthải hóa học và chất thải phóng xạ, thuốc gây độc tế bào
Công tác phân loại rác tại bệnh viện thực hiện tương đối tốt trong quá trìnhtiêm hàng ngày cho bệnh nhân Trên xe tiêm và xe làm thủ thuật được trang bị đầy
đủ phương tiện để thu gom chất thải thông thường, tái chế và chất thải sắc nhọn Cụthể ngăn dưới của xe tiêm được trang bị 5 thùng rác trong đó có 4 thùng bằng kimloại được lót túi nilon phù hợp với từng loại chất thải (2 thùng lót túi nilong trắng