1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BG HỌC PHẦN PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA

114 228 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BG HỌC PHẦN PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA BG HỌC PHẦN PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA BG HỌC PHẦN PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA BG HỌC PHẦN PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA BG HỌC PHẦN PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA BG HỌC PHẦN PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA BG HỌC PHẦN PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA

Trang 1

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA

KHOA CÔNG NGHỆ HÓA

  

BÀI GIẢNG

HỌC PHẦN: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG

DÀNH CHO SINH VIÊN HỆ CAO ĐẲNG

TUY HÒA – 2010

Trang 2

Mục lục

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 6

1.1 Môi trường 6

1.1.1 Định nghĩa 6

1.1.2 Phân loại 7

1.1.3 Các thành phần môi trường 8

1.2 Tài nguyên 9

1.2.1 Định nghĩa 9

1.2.2 Phân loại 9

1.3 Ô nhiễm môi trường 10

1.4 Tai biến môi trường 10

1.5 Phát triển bền vững 10

1.5.1 Khái niệm và mục tiêu phát triển bền vững 10

1.5.2 Những nguyên tắc của một xã hội bền vững 11

CHƯƠNG 2: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC 15

2.1 Khái niệm 15

2.1.1 Tài nguyên nước 15

2.1.2 Ô nhiễm nước 15

2.2 Môt số tác hại của ô nhiễm nước đối với môi trường 16

2.2.1 Ô nhiễm nước do tác nhân vật lý và hóa học 16

2.2.2 Các kim loại nặng 17

2.2.3 Các chất phóng xạ 19

2.2.4 Ô nhiễm nước do tác nhân sinh học 19

2.3 Các thông số ô nhiễm nguồn nước 20

2.4 Đặc điểm và hiện trạng tài nguyên nước của thế giới 22

2.5 Đặc điểm và hiện trạng tài nguyên nước ở Việt Nam 23

2.6 Quản lý tài nguyên nước 25

2.6.1 Biện pháp quản lý nhà nước 25

2.6.2 Các biện pháp kinh tế 29

CHƯƠNG 3: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ 30

3.1 Khái niệm 30

3.2 Nguồn phát sinh ô nhiễm không khí 30

Trang 3

3.2.1 Nguồn ô nhiễm tự nhiên 30

3.2.2 Nguồn ô nhiễm nhân tạo 30

3.3 Đặc điểm của khí quyển 30

3.3.1 Cấu trúc khí quyển 30

3.3.2 Thành phần khí quyển 31

3.3.3 Sự thay đổi nhiệt độ theo chiều cao và ổn định của khí quyển 31

3.4 Thành phần và ảnh hưởng của các chất gây ô nhiễm không khí 33

3.4.1 Ảnh hưởng đến con người 33

3.4.2 Ảnh hưởng đối với thực vật 35

3.5 Khuếch tán chất ô nhiễm trong môi trường 37

3.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến khuếch tán chất ô nhiễm không khí 37

3.5.2 Tính toán các thông số khuếch tán từ nguồn điểm cao 38

Nồng độ chất ô nhiễm 38

3.6 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đối với môi trường và con người 39

3.7 Hiện trạng môi trường khí Việt Nam 42

3.8 Các biện pháp quản lý môi trường không khí 45

CHƯƠNG 4: Ô NHIỄM TIẾNG ỒN 53

4.1 Âm thanh và khái niệm tiếng ồn 53

4.2 Các nguồn gây ô nhiễm tiếng ồn 53

4.2.1 Tiếng ồn giao thông 53

4.2.2 Tiếng ồn trong xây dựng 54

4.2.3 Tiếng ồn công nghiệp và sản xuất 54

4.2.4 Tiếng ồn trong sinh hoạt 54

4.3 Tác hại của tiếng ồn 55

4.4 Sự lan truyền tiếng ồn ra môi trường xung quanh 55

4.5 Kiểm soát tiếng ồn 56

4.5.1 Qui hoạch kiến trúc hợp lý 56

4.5.2 Giảm tiếng ồn và chấn động ngay tại nguồn 57

4.5.3 Sử dụng các thiết bị tiêu âm, cách âm 57

4.5.4 Phương pháp thông tin giáo dục con người 57

CHƯƠNG 5: Ô NHIỄM ĐẤT 58

5.1 Khái niệm về ô nhiễm môi trường đất 58

Trang 4

5.2 Nguồn và tác nhân gây ô nhiễm môi trường đất 59

5.2.1 Ô nhiễm môi trường đất do chất thải nông nghiệp 59

5.2.2 Ô nhiễm môi trường sinh thái đất do chất thải công nghiệp 59

5.3 Suy thoái tài nguyên đất 60

5.4 Các nhóm đất chính ở Việt Nam 60

5.5 Hiện trạng tài nguyên đất Việt Nam 65

5.6 Quản lý môi trường đất 65

CHƯƠNG 6: Ô NHIỄM PHÓNG XẠ 68

6.1 Khái niệm về phóng xạ 68

6.1.1 Phóng xạ 68

6.1.2 Các tia phóng xạ 68

6.1.3 Đơn vị đo lường và liều lượng tối đa cho phép 69

6.1.4 Đơn vị liều lượng 70

6.1.5 Liều lượng tối đa cho phép 70

6.2 Tác hại của ô nhiễm phóng xạ 71

6.3 Các tổn thương do phóng xạ 74

6.4 Các biện quản lý 80

6.4.1 Biện pháp quản lý nhà nước 80

6.4.2 Biện pháp phòng ngừa và điều trị 80

CHƯƠNG 7: CHẤT THẢI RẮN 83

7.1 Định nghĩa chất thải rắn 83

7.2 Nguồn gốc và phân loại chất thải rắn 83

7.3 Chất thải rắn nguy hại 86

7.4 Các giải pháp quản lý chất thải rắn 87

7.4.1 Lưu trữ 87

7.4.2 Thu gom và vận chuyển 89

7.4.3 Trạm trung chuyển 91

7.4.4 Xử lý chất thải rắn 91

7.5 Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp ủ sinh học 95

7.6 Xử lý rác thải bằng phương pháp đốt 97

7.7 Bãi chôn lấp hợp vệ sinh 98

7.8 Các công cụ hành chí và kinh tế quản lý chất thải rắn 102

Trang 5

7.8.1 Các tiêu chuẩn 102 7.8.2 Các loại giấy phép 103 7.8.3 Các công cụ kinh tế 103

CHƯƠNG 8: THỰC HÀNH PHÂN TÍCH CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG

NƯỚC……….…106

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG

VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 1.1 Môi trường

1.1.1 Định nghĩa

Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho

sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người

Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định

Nói tới môi trường, người ta thường nghĩ ngay tới mối quan hệ của những yếu tố xung quanh tác động tới đời sống của sinh vật mà trong đó chủ yếu là con người Quan điểm về môi trường nhìn từ góc độ sinh học là những quan điểm phổ biến Một số định nghĩa như:

− Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế - xã hội bao quanh và tác động tới đời sống và sự phát triển của một cá thể hoặc một cộng đồng người (UNEP-Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc, 1980)

− Môi trường là tất cả các hoàn cảnh bên ngoài tác động lên một cơ thể sinh vật hoặc một cơ thể nhất định đang sống; là mọi vật bên ngoài một cơ thể nhất định (G.Tyler Miler, Environmental Science, USA, 1988)

− Môi trường là hoàn cảnh vật lý, hóa học, sinh học bao quanh các sinh vật (Encyclopedia of Environmental Science USA, 1992)

− Môi trường nói chung bao gồm tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mọi sinh vật (Pepa,1997)

− Môi trường là tất cả các hoàn cảnh hoặc điều kiện bao quanh một hay một nhóm sinh vật hoặc môi trường là tổng hợp các điều kiện xã hội hay văn hóa ảnh hưởng tới cá thể hoặc cộng đồng Vì con người vừa tồn tại trong thế giới tự nhiên và đồng thời tạo nên thế giới văn hóa, xã hội và kỹ thuật, nên tất cả đều là thành phần môi trường sống của con người

− Theo Điều 1, Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam thì “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”

Trang 7

Qua các định nghĩa trên, môi trường được xem như là những yếu tố bao quanh và tác động lên con người (cá thể hay cộng đồng) và sinh vật Thật vậy, nếu một môi trường nào đó có những yếu tố hoàn toàn không liên quan tới sự sống và con người, chắc rằng sẽ chẳng được ai quan tâm Tuy nhiên, cách nhìn trên làm cho người ta dễ ngộ nhận rằng mối quan hệ giữa con người và môi trường là mối quan hệ một chiều: môi trường tác động tới con người và con người như là một trung tâm tiếp nhận những tác động đó Thực ra, mỗi con người lại là một tác nhân tác động tới các yếu tố chính trong môi trường mà nó đang tồn tại

1.1.2 Phân loại

Tùy theo mục đích nghiên cứu và sử dụng, có nhiều cách phân loại môi trường khác nhau Có thể phân loại môi trường theo các dấu hiệu đặc trưng sau đây:

Theo chức năng

- Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố của tự nhiên tồn

tại khách quan ngoài ý muốn của con người như không khí, đất đai, nguồn nước, ánh sáng mặt trời, động thực vật Môi trường tự nhiên cung cấp các nguồn tài nguyên tự nhiên cho ta như không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, các loại khoáng sản cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp giải trí tăng khả năng sinh lý của con người

- Môi trường xã hội: Môi trường xã hội là tổng hợp các quan hệ giữa người với

người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định, hương ước ở các cấp khác nhau

- Môi trường nhân tạo: Môi trường nhân tạo bao gồm các nhân tố do con người

tạo nên, làm thành những tiện nghi cho cuộc sống của con người như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo, các khu vui chơi giải trí v.v

Theo quy mô

Theo quy mô chủ yếu người ta phân loại môi trường theo không gian Địa lý như môi trường toàn cầu, môi trường khu vực, môi trường quốc gia, môi trường vùng, môi trường địa phương

Theo mục đích nghiên cứu sử dụng

- Mục đích nghiên cứu sử dụng theo nghĩa rộng: môi trường bao gồm tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, các quan hệ xã hội tức là gắn liền việc sử dụng tài nguyên với chất lượng môi trường

- Mục đích nghiên cứu sử dụng theo nghĩa hẹp: Môi trường theo nghĩa hẹp thường chỉ xét tới những nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người

Theo thành phần

- Phân loại theo thành phần của tự nhiên người ta thường chia ra:

+ Môi trường không khí

+ Môi trường đất

+ Môi trường nước

Trang 8

+ Môi trường biển

- Phân loại theo thành phần của dân cư sinh sống người ta chia ra:

+ Môi trường thành thị

+ Môi trường nông thôn

Ngoài 4 cách phân loại trên có thể còn có các cách phân loại khác phù hợp với mục

đích nghiên cứu, sử dụng của con người và sự phát triển của xã hội Tuy nhiên, dù bất cứ cách phân loại nào thì cũng đều thống nhất ở một sự nhận thức chung: Môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển

1.1.3 Các thành phần môi trường

1.1.3.1 Khí quyển (Atmosphere)

Khí quyển hay môi trường không khí là một hỗn hợp các khí bao quanh bề mặt trái đất, có khối lượng khoảng 5,2× 1018 kg (0,0001% khối lượng trái đất) Khí quyển đóng vai trò quyết định trong việc duy trì cân bằng nhiệt của trái đất, thông qua quá trình hấp thụ bức xạ hồng ngoại từ mặt trời và tái phát xạ khỏi trái đất Khí quyển được chia thành nhiều tầng khác nhau theo sự thay đổi chiều cao và chênh lệch nhiệt độ

1.1.3.2 Thủy quyển (Hydrosphere)

Thủy quyển của Trái Đất nằm giữa khí quyển và địa quyển Nó gồm có biển,

hồ, sông, đầm, nước ngầm, lạch suối (dưới dạng chất lỏng) và băng hà (dưới dạng chất rắn) Theo ước tính của các nhà khoa học, tổng lượng nước trên bề mặt Trái đất vào khoảng 1,4 tỷ km3, trong đó biển chiếm 97,3% nước dưới dạng băng hà ở trên mặt đất chiếm 2,7% Nước trong khí quyển so với 2 loại trên quá nhỏ không đáng kể Khối lượng thủy quyển ước chừng 1,38×1021kg=0,03% khối lượng trái đất

1.1.3.3 Thạch quyển (Lithosphere)

Thạch quyển là lớp vỏ cứng ngoài cùng nhất của các hành tinh có đất đá Trên Trái Đất, thạch quyển bao gồm lớp vỏ và tầng trên cùng nhất của lớp phủ (lớp phủ trên hoặc thạch quyển dưới), được kết nối với lớp vỏ Thạch quyển bị chia nhỏ ra thành các mảng khác nhau

Đặc trưng phân biệt của thạch quyển không phải là thành phần của nó mà là các thuộc tính về sự trôi dạt của nó Dưới ảnh hưởng của các ứng suất dài hạn và cường độ thấp gây ra các chuyển động kiến tạo địa tầng, thạch quyển phản ứng về cơ bản như là lớp vỏ cứng, trong khí quyển astheno có tác động như là một lớp chất lỏng có độ nhớt nhẹ Cả lớp vỏ và tầng trên của lớp phủ trôi trên quyển astheno có "độ dẻo" cao hơn Lớp vỏ được phân biệt với lớp phủ và như vậy là tầng trên của lớp phủ bằng sự thay đổi trong thành phần hóa học tại khu vực của điểm gián đoạn Mohorovicic

Vỏ đại dương hay quyển sima là bộ phận cấu thành nên các đại dương ở lớp vỏ của Trái Đất: Lớp vỏ này có độ dày 6-15km, nằm ở bên trên lớp vỏ Trái đất Lớp vỏ đại dương được cấu tạo bởi sắt, silic, magie và có 2 lớp là trầm tích (phía trên, dày 1 km), lớp bazan (ở giữa, dày 2,5 km) Ngoài ra, lớp này còn có thể có lớp gabbro ở dưới dày khoảng 5 km phân bố không liên tục Ở lớp vỏ đại dương không có lớp granit (dưới lòng sâu đại dương)

Trang 9

Vỏ lục địa hay quyển sial là lớp vỏ cấu thành nên các lục địa trên Trái đất Bề dày trung bình của lớp vỏ này khoảng 40 km Ranh giới giữa vỏ lục địa và manti là mặt Moho Vỏ lục địa được nghiên cứu bằng phương pháp khảo sát, khoan và địa chấn

1.1.3.4 Sinh quyển (biosphere)

Sinh quyển là nơi có sự sống tồn tại, bao gồm các phần của thạch quyển có độ dày 2-3 km kể từ mặt đất, toàn bộ thủy quyển và khí quyển tới độ cao 10km (đến tầng ozone) Với chiều dày khoảng 16km Các thành phần trong sinh quyển luôn tác động tương hỗ (ví dụ: khí O2 và CO2 phụ thuộc vào mức độ sinh tồn của thực vật và khả năng hòa tan của chúng trong môi trường nước)

Sinh quyển có các cộng đồng sinh vật khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ dưới nước đến trên cạn, từ vùng xích đạo đến các vùng cực trừ những miền khắc nghiệt Sinh quyển không có giới hạn rõ rệt vì nằm cả trong các quyển vật lý và không hoàn toàn liên tục vì chỉ tồn tại và phát triển trong những điều kiện môi trường nhất định Trong sinh quyển ngoài vật chất, năng lượng còn có thông tin với tác dụng duy trì cấu trúc và cơ chế tồn tại, phát triển của các vật sống Dạng thông tin phức tạp và cao nhất là trí tuệ con người, có tác động ngày càng mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển trên Trái Đất

1.2 Tài nguyên

1.2.1 Định nghĩa

Với nhận thức mới nhất hiện nay, người ta định nghĩa tài nguyên như sau: "Tài nguyên là tất cả các dạng vật chất, phi vật chất và tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất, hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới cho con người" Như vậy, theo quan niệm mới này tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người Xã hội loài người càng phát triển, số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người khai thác ngày càng tăng Trong khuôn khổ của bài giảng, chúng ta chỉ xem xét tới các nguồn tài

nguyên thiên nhiên

Tài nguyên không có khả năng tái sinh: là những nguồn tài nguyên có một mức

độ giới hạn nhất định trên Trái Đất, chúng ta chỉ được khai thác chúng ở dạng nguyên khai một lần, đối với loại tài nguyên này được chia thành ba nhóm:

− Tài nguyên không có khả năng tái sinh nhưng tạo tiền đề cho tái sinh, ví

dụ như đất, nước tự nhiên

Trang 10

− Tài nguyên không có khả năng tái sinh nhưng tái tạo Ví dụ như kim loại, thủy tinh, chất dẻo

− Tài nguyên cạn kiệt Ví dụ như than đá, dầu khí

1.3 Ô nhiễm môi trường

Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:

"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường"

Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến

sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng

độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu

1.4 Tai biến môi trường

"Tai biến môi trường là quá trình gây mất ổn định trong hệ thống môi trường" Đó

là một quá trình gây hại vận hành trong hệ thống môi trường gồm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn nguy cơ (hay hiểm hoạ): Các yếu tố gây hại tồn tại trong hệ thống, nhưng chưa phát triển gây mất ổn định

- Giai đoạn phát triển: Các yếu tố tai biến tập trung lại, gia tăng, tạo trạng thái mất

ổn định nhưng chưa vượt qua ngưỡng an toàn của hệ thống môi trường

- Giai đoạn sự cố môi trường: Quá trình vượt qua ngưỡng an toàn, gây thiệt hại cho con người về sức khoẻ, tính mạng, tài sản, Những sự cố gây thiệt hại lớn được gọi là tai hoạ, lớn hơn nữa được gọi là thảm họa môi trường

1.5 Phát triển bền vững

1.5.1 Khái niệm và mục tiêu phát triển bền vững

Phát triển bền vững là một khái niệm mới nảy sinh từ sau cuộc khủng hoảng môi trường, do đó cho đến nay chưa có một định nghĩa nào đầy đủ và thống nhất

Một số khái niệm của Khoa học Môi trường bàn về phát triển bền vững:

- Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết phát triển bền vững; nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ Môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế

- Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commission and Environment and Development, WCED) thì “phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”

- Phát triển bền vững là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế làm giảm sự khai thác tài nguyên cho phát triển kinh tế, sự suy thoái Môi trường trong tương lai và làm giảm sự đói nghèo

Trang 11

- Phát triển bền vững bao gồm sự thay đổi Công nghệ hiện đại, Công nghệ sạch, Công nghệ có hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc từ sản phẩm kinh tế –xã hội

Muốn vậy, phải giải quyết các mâu thuẫn như sản xuất – nhu cầu – tài nguyên thiên nhiên và phân phối, vốn đầu tư, cũng như Công nghệ tiên tiến cho sản xuất

- Các nước trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; điều kiện kinh tế –xã hội khác nhau, đưa đến hiện tượng có nước giàu và nước nghèo, nước công nghiệp phát triển và nước nông nghiệp Do đó cần xem xét bốn vấn đề: con người, kinh tế, môi trường và công nghệ, qua đó phân tích phát triển bền vững và có đạt được mục tiêu phát triển bền vững

- Về kinh tế, phát triển bền vững bao hàm việc cải thiện giáo dục, chăm lo sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ em, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng, tạo ra sự công bằng về quyền sử dụng ruộng đất, đồng thời xóa dần sự cách biệt về thu nhập cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội

- Về con người, để đảm bảo phát triển bền vững cần thiết nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cho người dân, nhờ vậy người dân sẽ tích cực tham gia bảo vệ môi trường cho sự phát triển bền vững Muốn vậy phải đào tạo một đội ngũ các nhà giáo đủ về số lượng, cũng như các thầy thuốc, các kỹ thuật viên, các chuyên gia, các nhà khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống

- Về môi trường, phát triển bền vững đòi hỏi phải sử dụng tài nguyên như đất trồng, nguồn nước, khoáng sản… Đồng thời, phải chọn lựa kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng, cũng như mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của dân số tăng nhanh

Phát triển bền vững đòi hỏi không làm thoái hoá các ao hồ, sông ngòi, uy hiếp đời sống sinh vật hoang dã, không lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, không gây nhiễm độc nguồn nước và lương thực

-Về Công nghệ, phát triển bền vững là giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất, áp dụng có hiệu quả các loại hình công nghệ sạch trong sản xuất Trong sản xuất công nghiệp cần đạt mục tiêu ít chất thải hoặc chất gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng các chất thải, ngăn ngừa các chất khí thải công nghiệp làm suy giảm tầng ozon bảo vệ trái đất

- Phát triển bền vững và các mục tiêu phát triển kinh tế –xã hội –văn hoá –môi trường Sơ đồ “Ven” cho thấy phát triển bền vững là trung tâm, là sự hài hoà của các giá trị kinh tế –xã hội –môi trường… trong quá trình phát triển thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng

Mỗi mục tiêu phát triển có vị trí riêng của nó, song nó được gắn với mục tiêu khác Sự hoà nhập hài hoà hữu cơ này tạo nên sự phát triển tối ưu cho cả nhu cầu hiện tại và tương lai vì xã hội loài người

1.5.2 Những nguyên tắc của một xã hội bền vững

Sự bền vững trong cuộc sống của một dân tộc phụ thuộc rất lớn vào sự hoà hợp của dân tộc đó với các dân tộc khác và với thiên nhiên Con người chỉ khai thác

Trang 12

được những gì thiên nhiên mang lại nghĩa là con người chỉ phát triển trong giới hạn thiên nhiên cho phép Con người không loại bỏ những phúc lợi do cách mạng kỹ thuật mang lại nhưng cũng phải là những kỹ thuật tuân theo những nguyên tắc nói trên Cuộc sống bền vững phải dựa trên những nguyên tắc nhất định, những nguyên tắc đó liên kết cộng đồng con người lại tạo nên một xã hội phát triển bền vững Những nguyên tắc đưa xã hội hướng tới sự phát triển bền vững liên hệ khăng khít với nhau, chúng hướng dẫn hành vi con người chứ không phải là mệnh lệnh, nó hướng tới tương lai chứ không quay lại quá khứ, nó liên kết các dân tộc với nhau để

có hành động chung còn mức độ vận dụng lại tuỳ thuộc vào từng dân tộc Những nguyên tắc đó là:

Nguyên tắc 1: Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống của cộng đồng: Con người

có trách nhiệm phải quan tâm đến đồng loại và các hình thức tồn tại khác của sự sống trong hiện tại và tương lai Cần phải chia sẻ công bằng những phúc lợi và chi phí trong việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường giữa các cộng đồng với các nhóm có liên quan giữa người nghèo với người giàu, giữa thế hệ hiện tại với nhau và thế hệ hiện tại với thế hệ mai sau Toàn thể các dạng sống trên trái đất tạo thành một hệ thống vĩ đại lệ thuộc nhau, tác động lên nhau và cùng phụ thuộc vào các yếu tố của sinh quyển Giữa các xã hội loài người cũng liên quan đến nhau và các thế hệ tương lai chịu ảnh hưởng của những hành động của con người thế hệ hiện tại Thế giới tự nhiên ngày càng bị tác động mạnh mẽ của con người vì vậy phải làm sao cho những tác động đó không đe doạ sự sống còn của muôn loài khác để chúng ta còn có cơ hội dựa vào đó để sinh tồn và phát triển Vì vậy nguyên tắc này vừa thể hiện trách nhiệm vừa thể hiện đạo đức của con người

Nguyên tắc 2: Cải thiện chất lượng cuộc sống con người: Mục tiêu của sự phát

triển kinh tế xã hội của con người là không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, đây

là đặc thù mà con người từ thế hệ này sang thế hệ khác hướng tới Phát triển kinh tế là rất quan trọng nhưng nó không mang ý nghĩa tự nhân, các dân tộc có chiến lược, sách lược và mục tiêu cụ thể khác nhau nhưng cái chung nhất có thể thống nhất được là xây dựng một cuộc sống lành mạnh no đủ, có một nền giáo dục tốt, có quyền sống tự do về chính trị được bảo đảm an toàn và không có bạo lực, có đủ tài nguyên cho sự phát triển lâu dài Tóm lại là con người ngày một đầy đủ hơn, cuộc sống tốt hơn trong sự phát triển chân chính

Nguyên tắc 3: Bảo vệ sự sống và tính đa dạng của Trái Đất: Cuộc sống mà loài

người hoàn toàn phụ thuộc vào những hệ thống thiên nhiên trên Trái Đất Vì vậy sự phát triển trên cơ sở bảo vệ phải bảo vệ được cấu trúc, chức năng và tính đa dạng của những hệ thống ấy Vì thế chúng ta phải:

- Bảo vệ hệ thống nuôi dưỡng sự sống, đó là các quá trình sinh thái nuôi dưỡng

và bảo tồn sự sống, nó điều chỉnh khí hậu, điều hoá chất lượng không khí, nguồn nước, chu chuyển các yếu tố cơ bản làm các hệ sinh thái luôn được hồi phục

Trang 13

- Bảo vệ tính đa dạng sinh học không chỉ là tất cả các loài động thực vật cùng các tổ chức sống khác mà còn bảo vệ nguồn gen di truyền có trong mỗi loài và các dạng sinh thái khác nhau

Nguyên tắc 4: Bảo đảm chắc chắn việc sử dụng các nguồn tài nguyên: Nguồn tài

nguyên tái tạo bao gồm đất, nước, không khí, thế giới động thực vật phải được sử dụng sao cho chúng có thể phục hồi được Nguồn tài nguyên không tái tạo phải được kéo dài quá trình sử dụng bằng cách tái sinh tài nguyên, dùng tài nguyên có thể tái tạo

để thay thế hoặc sử dụng tiết kiệm Chỉ có như vậy mới có nguồn tài nguyên cung cấp cho hàng trăm triệu người tăng lên hàng năm và cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp

Nguyên tắc 5: Giữ vững trong khả năng chịu đựng của Trái Đất: Khả năng chiu

đựng của Trái Đất thực chất là tổng hợp khả năng chịu đựng của tất cả các hệ sinh thái

có trên Trái Đất Các tác động lên các hệ sinh thái do đó tác động tới sinh quyển sao cho chúng không bị biến đổi theo hướng xấu đi nguy hiểm, chúng có thể tự phục hồi, chúng "chịu đựng" được Khả năng chịu đựng này thay đổi theo từng vùng và rõ ràng rất phụ thuộc vào mật độ tác động tức là phụ thuộc vào số lượng con người và hành vi

sử dụng của con người Chính sách kinh tế, chính sách dân số và cách sống của con người trên một địa bàn và khả năng chịu đựng của thiên nhiên ràng buộc chặt chẽ với nhau và cần quản lý chặt chẽ

Nguyên tắc 6: Thay đổi thái độ và thói quen sống của mọi người: Cuộc sống bền

vững được xây dựng trên những cơ sở đạo đức mới do đó con người phải xem xét lại các giá trị và thay đổi cách ứng xử Cuộc sống xã hội phải xây dựng, đề ra các tiêu chuẩn đạo đức và phê phán lối sống không dựa trên nguyên tắc bền vững Dùng mọi hình thức giáo dục chính thức và không chính thức để mọi người có cách ứng xử có các hành vi cần thiết trong việc tác động lên thiên nhiên hướng tới thiên nhiên vững bền

Nguyên tắc 7: Cho phép các cộng đồng tự quản lý lấy môi trường của mình: Phần

lớn các hoạt động sáng tạo và có hiệu quả của cá nhân và các nhóm đều xảy ra trong cộng đồng, các cộng đồng thường tạo ra những điều kiện thuận lợi và sẵn sàng thực hiện các hành động có ích cho xã hội vì các cộng đồng hơn ai hết biết quan tâm đến đời sống của chính mình Nhờ nắm vững tình hình môi trường xung quanh nên khi họ

có quyền lực họ có thể tự quản lý môi trường họ sống một cách thích hợp nhất, tiết kiệm và hiệu quả nhờ đó mà chất lượng môi trường được nâng cao

Nguyên tắc 8: Tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất cho việc phát triển và bảo

vệ: Mỗi xã hội tiến bộ phải dựa trên cơ sở nguồn thông tin phong phú, kiến thức dồi dào, cơ cấu luật pháp vững chắc, giáo dục toàn diện, một nền kinh tế ổn định

và chính sách xã hội phù hợp Tuy vậy, để cho xã hội phát triển bền vững các quốc gia phải xây dựng chất lượng phát triển tính đến tất cả các quyền lợi dự kiến cũng như ngăn chặn các trở lực có thể xảy ra do sự suy thoái điều kiện phát triển là chất lượng môi trường, các chính sách điều chỉnh liên tục hoạt động phát triển để phù hợp các nhu cầu mới của xã hội cũng như bảo vệ được điều kiện môi trường

Trang 14

Vì vậy, chính sách quốc gia phải gắn liền chính sách kinh tế với khả năng chịu đựng của môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo đảm sao cho nguyên tắc người sử dụng tài nguyên phải trả giá cho việc sử dụng đó

Nguyên tắc 9: Kiến tạo một cơ cấu liên minh toàn cầu: Trong thế giới ngày nay

không một quốc gia nào tồn tại theo phương thức tự cấp tự túc được vì vậy sự phát triển bền vững toàn cầu phải là hành động của toàn nhân loại, toàn cầu phải là một liên minh vững chắc Do mức độ phát triển không đồng đều nên các nước có thu nhập thấp phải được sự hỗ trợ của các nước giàu có và của cộng đồng quốc tế nói chung thì mới bảo vệ được môi trường của mình Các nguồn tài nguyên của hành tinh nhất là không khí, nguồn nước và các hệ sinh thái chỉ có thể bảo vệ bằng sự quản lý chung, mục đích chung và giải pháp thích hợp Toàn thể các quốc gia đều được lợi từ sự phát triển bền vững và cùng bị thiệt hại nếu không thực hiện được điều đó

Trang 15

Chương 2

Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC

2.1 Khái niệm

2.1.1 Tài nguyên nước

Theo luật Tài nguyên nước, Tài nguyên nước bao gồm nước mưa, nước mặt, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ một quốc gia Tài nguyên nước mặt gồm nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo, trong lòng sông (dòng chảy sông), ao hồ, đầm lầy Nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất

2.1.2 Ô nhiễm nước

Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã"

Theo luật bảo vệ tài nguyên nước Việt Nam: Ô nhiễm nguồn nước là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hoá học, thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép

Nguồn gốc ô nhiễm nước:

- Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt

đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng

- Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại

chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước

Phân loại nguồn gây ô nhiễm

+ Nguồn điểm là các nguồn gây ô nhiễm có thể xác định được vị trí, kích thước, bản chất, lưu lượng phóng thải tác nhân gây ô nhiễm Nguồn thải điểm chủ yếu: các cống xả nước thải

+ Nguồn không có điểm là các nguồn gây ô nhiễm không có điểm cố định, không xác định được vị trí, bản chất, lưu lượng tác nhân gây ô nhiễm Thí dụ nước mưa chảy tràn qua đồng ruộng, đường phố, đổ vào sông rạch gây ô nhiễm nước

Ô nhiễm bắt nguồn từ đâu?

Ô nhiễm nước do nước thải khu dân cư

Nước thải từ hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trường học, cơ quan, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người được gọi chung

là nước thải sinh hoạt, nước thải từ khu dân cư hoặc nước thải vệ sinh

Ô nhiễm nước do nước thải công nghiệp

Nước thải công nghiệp là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải

Trang 16

Nước thải công nghiệp không có đặc điểm chung mà phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành sản xuất

Ô nhiễm nước do nước chảy tràn mặt đất

Nước chảy tràn từ mặt đất do nước mưa hoặc do thoát từ đồng ruộng là nguồn gây ô nhiễm nước sông, hồ, nước rửa trôi qua đồng ruộng có thể cuốn theo chất rắn (rác), hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón Nước rửa trôi qua khu dân cư, đường phố, cơ sở sản xuất công nghiệp có thể là ô nhiễm nguồn nước

do chất rắn, dầu mỡ, hóa chất vi trùng

2.2 Môt số tác hại của ô nhiễm nước đối với môi trường

2.2.1 Ô nhiễm nước do tác nhân vật lý và hóa học

Các hạt chất rắn

Các hạt lơ lửng trong nước bao gồm nhiều loại hạt hợp chất hữu cơ và vô cơ Một vài chất, do kích thước nhỏ, nên lơ lửng trong cột nước và tạo ra độ đục cho nguồn nước, một số chất khác ở dạng hạt lớn hơn lại chìm xuống đáy tồn tại ở dạng trầm tích đáy Các hạt lơ lửng trong nước có nguồn gốc đầu tiên là từ hiện tượng xói mòn đất, từ các dòng nước mưa chảy tràn qua đô thị, qua các vùng đất nông nghiệp và các khu vực xây dựng Cùng với các quá trình xói mòn tự nhiên, các hoạt động như phá hủy các thảm cây xanh, tăng cường các hoạt động nông nghiệp trên các vùng đất dốc, gia tăng các bề mặt không thấm nước đã gây ra hiện tượng xói mòn quá mức tự tạo ra một lượng trầm tích lớn lắng tụ hoặc lơ lửng trong các dòng sông Các hạt lơ lửng gây ra rất nhiều tác hại cho sức khỏe con người, bởi vì chúng có thể giúp chuyển tải các vi sinh vật gây bệnh vào nguồn nước và đóng vai trò chuyển tải các chất độc, chất dinh dưỡng cũng như kim loại nặng vào nước Do sự gia tăng các hạt lơ lửng trong nước làm giảm cường độ ánh sáng khuyếch tán trong nước, các hệ sinh thái thủy vực bị ảnh hưởng mạnh

Việc thiếu ánh sáng làm cho các loài thực vật thủy sinh không thể phát triển được Ngoài ra do sự tích tụ quá nhiều các hạt trầm tích nên các đặc điểm thủy văn của các nguồn nước cũng bị thay đổi, thường dẫn đến giảm thể tích chứa của hồ nước

Ô nhiễm nhiệt

Do nhiều hoạt động trên lưu vực dẫn đến nhiệt độ biên của các dòng nước tăng lên bất thường Khi nhiệt độ biên tăng lên 30C có thể gây ra nhiều tác động cho các hệ sinh thái thủy vực Các dòng nước nóng đổ vào các nguồn nước thường là từ các nhà máy nhiệt điện, các cơ sở công nghiệp, và phổ biến hơn cả là các dòng nước mưa có nhiệt

độ cao Thêm vào đó do các hoạt động trong quá trình đô thị hóa càng làm gia tăng các dòng nước nóng tự nhiên Khi nhiệt độ của nước cao hơn bình thường, các kim loại như đồng, cadmi được tích lũy trong các thủy sinh vật tăng lên gấp đôi Hơn nữa các ảnh hưởng trực tiếp của việc gia tăng nhiệt độ lên hệ thống sinh vật thủy sinh còn là đẩy mạnh quá trình tích tụ sinh học các kim loại độc trong chuỗi thức ăn Do ảnh

hưởng của ô nhiễm nhiệt số lượng fecal coliorm sẽ tăng từ 100 lên 1000 các thể trong

trầm tích đáy Một vài loại vi khuẩn và tảo lại phát triển rất mạnh trong điều kiện nhiệt

độ cao này, dẫn đến chi phí về khử trùng tăng lên Ngoài ra chúng còn kéo theo nhiều

Trang 17

rắc rối khác liên quan đến sự xuất hiện mùi, vị khó chịu, nước có màu sẫm hơn, thay đổi pH, phóng thải các chất độc và giảm lượng oxi hòa tan

Các tác động lên sức khỏe tùy thuộc hoàn toàn vào tính chất các hợp chất hữu cơ

và liều lượng con người hấp thu vào Một vài loại thuốc trừ sâu và dung môi hữu cơ có thể gây ung thư, một số khác lại gây tác hại đến các cơ quan nội tạng của con người, một số khác có khả năng gây đột biến gen

hợp hóa học, được dùng để phòng trừ sinh vật có hại cho cây trồng và nông sản với các tên gọi khác nhau: thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh, thuốc trừ cỏ, v.v Có thể chia thuốc bảo vệ thực vật thành ba nhóm cơ bản:

+ Nhóm Clo hữu cơ, gồm các hợp chất hóa học chứa gốc Cl rất bền vững trong môi trường tự nhiên, với thời gian phân hủy dài Thuộc về nhóm này có Aldrin, Diedrin, DDT, Heptachlor, Lindane, Endrin, v.v

+ Nhóm lân hữu cơ: bao gồm hai hợp chất là Parathion và Malathion Nhóm này có thời gian phân hủy ngắn so với nhóm clo hữu cơ, nhưng thường có độ độc cao đối với người và động vật

+ Nhóm cacbamat: gồm các hóa chất ít bền vững trong môi trường, nhưng cũng rất độc đối với người và động vật Đại diện cho nhóm này là các hợp chất gốc cacbamat như Sevi, Puradan, Basa, Mipcin Chúng có tác động trực tiếp vào men cholinesteraza của hệ thần kinh côn trùng

Dầu mỡ

Dầu mỡ là các hợp chất khó tan trong nước, tan trong các dung môi hữu cơ Dầu

mỡ có thành phần hóa học rất phức tạp Độc tính và tác động sinh thái của dầu mỡ phụ thuộc vào từng loại dầu Dầu thô có chứa hàng ngàn phân tử khác nhau, nhưng phần lớn là các hydrocacbon có số cacbon từ 4 đến 26 Trong dầu thô còn có các hợp chất lưu huỳnh, nitơ, kim loại nặng (vanadi) Các loại dầu nhiên liệu sau khi tinh chế (dầu

DO, FO) và một số sản phẩm dầu mỡ còn chứa các chất độc như hydrocacbon đa vòng (PHA), polyclobiphenyl (PCB), kim loại (chì) Do đó dầu mỡ có tính độc cao và tương đối bền vững trong môi trường nước

2.2.2 Các kim loại nặng

Kim loại nặng là những nguyên tố có tỉ trọng >5 Các kim loại nặng có trong nước uống thường được xem là các kim loại lượng vết, vì chúng thường có tác dụng ở một nồng độ cực kỳ bé Dưới đây là một số kim loại nặng và sự liên quan của chúng đến môi trường và chất lượng nước

Trang 18

Cadmi: xâm nhập vào nguồn nước từ các hoạt động công nghiệp như mạ điện,

đúc kim loại, khai thác mỏ, sản xuất sơn màu và chất dẻo Các dòng nước chảy qua thành phố cũng đóng góp một lượng Cadmi đáng kể Cadmi được U.S EPA (Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ) xác định là có thể gây ung thư Ở hàm lượng thấp cadmi

có thể gây nôn mửa, nếu bị ảnh hưởng lâu dài sẽ gây rối loạn chức năng của thận Hàm lượng cao có thể gây tử vong

Crôm: được tìm thấy từ chất thải của nhà máy tráng mạ kim loại, các khu khai

thác mỏ, từ khí thải động cơ Crôm ở trạng thái hóa trị III là một nguyên tố cần thiết cho quá trình sống; nhưng khi ở dạng hóa trị IV nó trở nên rất độc hại đối với gan và thận, có thể gây xuất huyết nội và rối loạn hô hấp Khi hít phải crom thì có thể gây ra các bệnh ung thư Nếu tiếp xúc thường xuyên với crôm sẽ bị viêm loét da

Đồng: tìm thấy trong các dòng suối có nguồn gốc từ núi đá trần, từ hoạt động

xử lý tảo sử dụng sunphat đồng Các dòng nước mưa đô thị thường được xem là một trong những nguồn cung cấp đồng lớn Hầu hết lượng đồng có trong nước máy là do

sự ăn mòn của các ống dẫn làm bằng đồng và đồng thau Đồng là một nguyên tố cần thiết phải có trong cơ thể, nhưng nếu ăn quá nhiều thì cũng gây ra nhiều căn bệnh ác tính Ở hàm lượng cao đồng sẽ phá hủy gan và thận, gây rối loạn tiêu hóa và tình trạng thiếu máu Hiện tại chưa có bằng chứng rõ ràng để có thể kết luận đồng có thể gây ung thư hay không

Chì: đã được U.S EPA xác định là một trong những chất ô nhiễm phổ biến nhất

trong các dòng nước mưa đô thị Trong nước máy, hầu hết lượng chì tìm thấy là do sự bào mòn các ống dẫn làm bằng chì hoặc được hàn bằng chì Chì có thể là nguyên nhân gây ra rất nhiều triệu chứng ốm đau như thiếu máu, đau thận, rối loạn khả năng sinh sản, suy giảm trí nhớ và kìm hãm các quá trình phát triển trí tuệ cũng như cơ bắp Dựa trên nghiên cứu về các khối u ở chuột U.S EPA đã kết luận rằng chì là chất có khả năng gây ung thư

Thủy ngân: là kim loại gây ô nhiễm nước liên quan đến sự lắng tụ từ không

khí, từ các dòng nước mưa đô thị, các xí nghiệp dược, việc sử dụng thuốc trừ sâu và các bãi rác Trong nước, thủy ngân thường tồn tại ở dạng muối Trong các trầm tích và trong cơ thể sinh vật thủy sinh nó tồn tại ở dạng hữu cơ Thủy ngân khi ở dạng hữu cơ (ví dụ tồn tại trong cơ thể cá với hàm lượng cao) sẽ tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương gây rối loạn hệ thần kinh vận động và tâm lý và có thể gây tử vong Ở dạng

vô cơ, thường tìm thấy trong nước, thủy ngân có thể gây suy giảm hoạt động của thận

Nikel: rất hay được tìm thấy trong các nguồn cung cấp nước uống Theo nghiên

cứu của U.S EPA đã xác định rằng 86% các nguồn nước ngầm và 84% các nguồn nước mặt có chứa một lượng nhỏ nikel Các nguồn nikel có thể là từ nhà máy luyện kim, các xưởng mạ kim loại, các lò rèn, các khu mỏ, các nhà máy lọc dầu Nikel không

bị hấp thu trong dạ dầy Ở hàm lượng lớn có thể gây ra các căn bệnh trầm trọng cho sức khỏe con người Nikel làm sút cân và thay đổi hệ thống enzym và máu Khi hít phải nhiều nikel có thể bị ưng thư U.S EPA xếp nikel vào loại chất có thể đột biến và ung thư

Trang 19

Magan: nguồn mangan trong nước thường do quá trình thối rửa, xói mòn và do

nhiễm chất thải từ công nghiệp luyện kim màu, sản xuất thép, accu khô, phân bón Mangan có độc tính không cao nhưng có khả năng ảnh hưởng đến vị giác Trong nước sông có nồng độ: 1-500 mg/L

2.2.3 Các chất phóng xạ

Các chất phóng xạ là các nguyên tử có thể phát ra các tia phóng xạ trong quá trình phân rã Chúng có thể ở dạng khí (radon) hoặc ở dạng kim loại (radium), có thể có nguồn gốc nhân tạo và cũng có thể có nguồn gốc tự nhiên U.S EPA đã đưa ra qui định

về tổng lượng hạt anpha hoạt động và các hoạt động của tia beta các hạt photon và radium 226 và 228 Nếu các phép đo về tổng lượng hạt anpha và photon vượt quá tiêu chuẩn cho phép thì bắt buộc phải thu thêm thông tin để xác định ra nguồn phát sinh của các hạt này U.S EPA rất lưu ý đến các chất phóng xạ trong nước uống có chu kỳ bán rã dài hơn một giờ Những chất phóng xạ loại này sẽ có khả năng tồn tại đủ lâu trong nước uống đi vào tận đường tiêu hóa của người uống, do vậy sẽ gây ra các tác hại đối với sức khỏe Các chất phóng xạ có trong nước chủ yếu có nguồn gốc tự nhiên Nơi có hàm lượng phóng xạ cao nhất là ở các giếng có đáy là đá granit Nói chung các nguồn nước mặt thường có nồng độ phóng xạ thấp, mặc dù trong không khí vẫn luôn tồn tại một lượng rất bé bụi phóng xạ do các vụ thử hạt nhân Nguồn phóng xạ còn có thể là từ các Trung tâm Y tế có sử dụng các máy X quang, các Trung tâm Y học hạt nhân có sử dụng các nguồn phóng xạ để xử lý bướu hoặc các khối u ung thư Các nhà máy điện hạt nhân, các chất thải phóng xạ, các phương tiện nghiên cứu có nguồn phóng xạ đều có khả năng phát ra các tia bức xạ Các nhà máy công nghiệp như thuốc

lá, chế biến thực phẩm, sản xuất khai thác vật liệu xây dựng như đá, cát đều được xem

là các nguồn thải chất phóng xạ vào nguồn nước uống Các chất phóng xạ là nguyên nhân của nhiều căn bệnh ung thư do chúng làm thay đổi các cấu trúc của nhiễm sắc thể trong các tế bào Hơn nữa các đột biến gen này còn mang tính chất di truyền Các ảnh hưởng đến sức khỏe là do tổng liều lượng bức xạ cơ thể hấp thu Với tia beta/photon, EPA qui định tổng liều lượng an toàn cho một người là 4 mrem/năm Thực ra phóng

xạ cơ thể thu nhận từ nước uống là rất ít, mà lượng phóng xạ chủ yếu gây ra các rủi ro cho sức khỏe đặc biệt là các ca ung thư phổi là phóng xạ từ khí radon phát ra từ cát sạn, đá xây nhà

2.2.4 Ô nhiễm nước do tác nhân sinh học

Hầu hết các vi sinh vật gây bệnh trong nước thường có nguồn gốc từ phân người, động vật, chúng xâm nhập vào nguồn nước, vượt qua các quá trình khử trùng và rồi tiến vào các ống dẫn nước Các hệ thống hố xí, các dòng nước mưa từ các khu chợ búa, các trang trại chăn nuôi, do phân của các sinh vật hoang dã, chất thải từ thuyền bè chính là nguồn cung cấp các mầm bệnh cho các nguồn nước Do các múi nối của ống dẫn vỡ, các bể chứa bị thủng và các hoạt động khử trùng không thích hợp chính là những cơ hội giúp vi sinh vật dễ dàng xâm nhập vào nước máy

Những tác nhân sinh học chính, truyền qua nước có thể xếp thành 4 loại: vi khuẩn, virus, ký sinh trùng và các loại vi sinh vật khác

Trang 20

Sự nguy hại đến sức khỏe con người do uống nước trực tiếp, do ăn các loại thực phẩm, hoặc do sử dụng nước trong chế biến thức ăn, vệ sinh cá nhân

2.3 Các thông số ô nhiễm nguồn nước

pH của nước thải

pH của nước thải có một ý nghĩa quan trọng trong quá trình xử lý Các công trình

xử lý nước thải áp dụng các quá trình sinh học làm việc tốt khi pH nằm trong giới hạn

từ 7 - 7,6 Các xí nghiệp sản xuất có thể thải ra nước thải có tính acid hoặc kiềm rất cao chẳng những làm cho nguồn nước không còn hữu dụng đối với các hoạt động của con người mà còn làm ảnh hưởng đến hệ thủy sinh vật Nồng độ acid sulfuric cao làm ảnh hưởng đến mắt của những người bơi lội ở nguồn nước này, ăn mòn thân tàu thuyền, hư hại lưới đánh cá nhanh hơn Nguồn nước lân cận một số xí nghiệp có thể có

pH thấp đến 2 hoặc cao đến 11; trong khi cá chỉ có thể tồn tại trong môi trường có 4,5

< pH < 9,5 Hàm lượng NaOH cao thường phát hiện trong nước thải ở các xí nghiệp sản xuất bột giặt, thuộc da, nhuộm vải sợi NaOH ở nồng độ 25 ppm đã có thể làm

chết cá

Nhiệt

Các nước thải từ nhà máy nhiệt điện và lò hơi của một số ngành công nghiệp có nhiệt độ rất cao Khi thải ra môi trường, nó làm tăng nhiệt độ của các thủy vực ảnh hưởng đến một số thủy sinh vật và làm suy giảm ôxy hòa tan trong nguồn nước (do khả năng bão hòa ôxy trong nước nóng thấp hơn và vi khuẩn phân hủy chất hữu cơ sẽ hoạt động mạnh hơn)

Màu

Các nước thải từ nhà máy dệt, giấy, thuộc da, lò mổ có độ màu rất cao Nó có thể làm cản trở khả năng khuếch tán của ánh sáng vào nguồn nước gây ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của hệ thủy sinh thực vật Nó còn làm mất vẽ mỹ quan của nguồn nước

DO (Dissolved oxigen)

Oxi hoàn tan trong nước rất cần cho sinh vật hiếu khí Bình thường oxi hòa tan trong nước khoảng 8 – 10 mg/l, chiếm 70 – 85% khi oxi bão hòa Mức oxi hòa tan trong nước tự nhiên và nước thải phụ thuộc vào mức độ ô nhiễm chất hữu cơ, vào hoạt động của thế giới thủy sinh, các hoạt động hóa sinh, hóa học và vật lý của nước Trong môi trường nước bị ô nhiễm niặng, oxi được dùng nhiều cho các quá trình hóa sinh và xuất hiện hiện tượng thiếu oxi trầm trọng

Phân tích chỉ số oxi hòa tan (DO) là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá

sự ô nhiễm của nước và giúp ta đề ra các biện pháp xử lý thích hợp

Phân tích DO có 2 phương pháp thường dùng là: phương pháp Iod và phương pháp đo oxi hòa tan trực tiếp bằng điện cực oxi với màng nhạy trên các máy đo

BOD (Biochemical Ôxygen Demand)

Nhu cầu ôxy sinh hóa là lượng ôxy cần thiết để vi sinh vật ôxy hóa các chất hữu

cơ trong một khoảng thời gian xác định và được ký hiệu bằng BOD được tính bằng

Trang 21

mg/L Chỉ tiêu BOD phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ của nước thải BOD càng lớn thì nước thải (hoặc nước nguồn) bị ô nhiễm càng cao và ngược lại

Thời gian cần thiết để các vi sinh vật ôxy hóa hoàn toàn các chất hữu cơ có thể kéo dài đến vài chục ngày tùy thuộc vào tính chất của nước thải, nhiệt độ và khả năng phân hủy các chất hữu cơ của hệ vi sinh vật trong nước thải Để chuẩn hóa các số liệu người

ta thường báo cáo kết quả dưới dạng BOD5 (BOD trong 5 ngày ở 20oC) Mức độ ôxy hóa các chất hữu cơ không đều theo thời gian Thời gian đầu, quá trình ôxy hóa xảy ra

với cường độ mạnh hơn và sau đó giảm dần

COD (Chemical oxigen Demand)

Chỉ số này được dùng rộng rãi để đặc trưng cho hàm lượng chất hữu cơ của nước thải và ô nhiễm của nước tự nhiên

COD là lượng oxi cần thiết cho quá trình oxi hoá toàn bộ các chất hữu cơ có trong mẫu nước thành CO2 và nước

- Chất rắn trong nước phân thành 2 loại (theo kích thước hạt):

Chất rắn qua lọc có đường kính hạt nhỏ hơn 1µm, trong đó có chất rắn dạng keo có kích thước từ 10-6 – 10-9m và chất rắn hòa tan (các ion và phân tử hòa tan)

Chất rắn không qua lọc có đường kính trên 10-6m (1µm): Các hạt là xác rong tảo,

vi sinh vật có kích thước 10-5 - 10-6m ở dạng lơ lửng; cát sạn, cát nhỏ có kích thước trên 10-5m có thể lắng cặn

Tổng chất rắn (TS) được xác định bằng trọng lượng khô phần còn lại sau khi cho bay hơi 11 mẫu nước trên bếp cách thủy rồi sấy khô ở 1030C cho đến khi trọng lượng không thay đổi Đơn vị tính bằng mg ( hoặc g/l)

Chất rắn ở dạng huyền phù (SS) hàm lượng trong các chất huyền phù (SS) là trọng lượng khô của chất rắn còn lại trên giấy lọc sợi thủy, khi lọc 11 mẫu nước qua phễu lọc Gooch sấy khô ở 103 -1050C tới khi trọng lượng không thay đổi đơn vị tính mg hoặc g/l

Chất rắn hòa tan (DS) Hàm lượng chất rắn hòa tan chính là hiệu số của tổng chất rắn với huyền phù: DS = TS – SS

Chỉ số E.Coli

Trong nước thải, đặc biệt là nước thải sinh hoạt, nước thải bệnh viện, nước thải vùng du lịch, dịch vụ, khu chăn nuôi…nhiễm nhiều vi sinh vật có sẵn ở trong phân người và phân súc vật Trong đó có thể có nhiều vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hóa, như tả, lị thương hàn, các vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm

Trang 22

Trong ruột người, động vật có vú khác không kể lứa tuổi có những nhóm vi sinh vật cư trú, chủ yếu là vi khuẩn Các vi khuẩn này thường có ở trong phân

Vi khuẩn đường ruột gồm 3 nhóm:

- Nhóm Coliform đặc trưng là Escherichia coli (E.coli)

- Nhóm Streptococcus đặc trưng là Streptococcus faecalis

- Nhóm Clostridium đặc trưng là Clostridium perfringens

Hàm lượng các kim loại và kim loại nặng: asen, cadimi, chì, niken, crom, sắt,

kẽm, mangan, thuỷ ngân, thiếc, thường phân tích bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử

Ngoài ra còn các chỉ tiêu sau:

+ Hàm lượng dầu mỡ khoáng, dầu động thực vật

+ Photpho tổng số, photpho hữu cơ

+ Tổng nitơ, amoniac theo nitơ

+ Hàm lượng florua, clorua, sunfua

+ Hàm lượng phenol, xianua

2.4 Đặc điểm và hiện trạng tài nguyên nước của thế giới

Khoảng một nửa các sông trên thế giới bị cạn kiệt nghiêm trọng và bị ô nhiễm 60% trong số 227 con sông lớn nhất thế giới bị chia cắt ở mức cao và trung bình do xây dựng các đập và các công trình kỹ thuật khác

Các lợi ích gồm tăng sản lượng lương thực và thủy điện Song các thiệt hại không thể khôi phục lại xảy ra đối với các vùng đất ngập nước và các hệ sinh thái khác Từ những năm thập kỷ 50, đã có 40-80 triệu người đã phải di dời

Một phần ba dân số thế giới – tương đương 2 tỷ người phụ thuộc vào các nguồn cung cấp nước ngầm Ở một số nước như các vùng của Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Á, gồm Bán đảo Arabia, Liên Xô cũ và phía Tây nước Mỹ, các mực nước ngầm hạ xuống

là kết quả của sự khai thác quá mức nguồn nước này

Bơm hút quá mức có thể dẫn đến sự xâm nhập mặn ở các vùng ven biển Ví dụ, nhiễm mặn đã lấn sâu vào đất liền hơn 10km ở Madras - Ấn Độ - trong những năm gần đây

Gần 80 nước, chiếm tới 40% dân số thế giới đang trong tình trạng thiếu nước nghiêm trọng kể từ giữa thập kỷ 90 Có khoảng 1,1 tỷ người không có nước sạch an toàn và 2,4 tỷ người được hưởng các điều kiện vệ sinh đã được cải thiện, chủ yếu ở Châu Phi và Châu Á

Tuy nhiên, tỷ lệ người dân có được các nguồn cấp nước đã được cải thiện mới chỉ tăng từ 4,1 tỷ người, chiếm 79% dân số thế giới (năm 1990) đến 4,9 tỷ người, chiếm 82% dân số thế giới (năm 2000)

Thiệt hại do các bệnh liên quan đến nước lại thật sự tăng nhanh Hai tỷ người chịu rủi ro vì bệnh sốt rét, trong đó 100 triệu người có thể bị ảnh hưởng bất cứ lúc nào và hàng năm số người tử vong vì căn bệnh này là 2 triệu người Ngoài ra, có khoảng 4 tỷ trường hợp khác bị mắc bệnh tiêu chảy và số tử vong hàng năm là 2,2 triệu người

Trang 23

Các bệnh lây nhiễm đường ruột do giun làm khổ sở 10% dân số ở các nước đang phát triển Có tới 6 triệu người bị mù do bệnh đau mắt hột Khoảng 200 triệu người khác bị ảnh hưởng do bệnh sán máng là nguyên nhân gây bệnh giun trong máu ở người

2.5 Đặc điểm và hiện trạng tài nguyên nước ở Việt Nam

Lượng nước mặt bình quân đầu người hiện nay ở nước ta đạt khoảng 3.840

m3/người/năm Nếu tính tổng lượng tài nguyên nước sông ngòi ở Việt Nam (kể cả tài nguyên nước từ ngoài chảy vào) thì bình quân đạt 10.240m3/người/năm

Với tốc độ phát triển dân số như hiện nay thì đến năm 2025 lượng nước mặt tính bình quân đầu người ở nước ta chỉ đạt khỏang 2.830m3/người/năm Tính cả lượng nước từ bên ngoài chảy vào thì bình quân đạt 7.660m3/người/năm

Theo chỉ tiêu đánh giá của Hội tài nguyên nước quốc tế (IWRA), quốc gia nào có lượng nước bình quân đầu người dưới 4.000m3/người/năm là quốc gia thiếu nước Như vậy nếu chỉ tính riêng lượng tài nguyên nước mặt sản sinh trên lãnh thổ nước ta thì ở thời điểm hiện nay nước ta đã thuộc số các quốc gia thiếu nước và Việt Nam sẽ gặp phải rất nhiều thách thức về tài nguyên nước trong tương lai gần

Cũng theo một quan chức của Bộ Tài nguyên Môi trường, tài nguyên nước tại Việt Nam phân bố không đều giữa các vùng Trên 60% nguồn nước sông tập trung ở khu vực ĐBSCL (lưu vực sông Mê Kông) trong khi toàn phần lãnh thổ còn lại chỉ có gần 40% lượng nước nhưng lại chiếm tới gần 80% dân số cả nước và trên 90% khối lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ

Đặc biệt các địa phương vùng miền Đông Nam Bộ và lưu vực Đồng Nai – Sài Gòn, lượng nước bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 2.900m3/ người/năm, bằng 28% so với mức trung bình của cả nước

Bên cạnh đó, tài nguyên nước của Việt Nam cũng phân bố không đều theo thời gian trong năm và giữa các năm Lượng nước trung bình trong 4 đến 5 tháng mùa mưa chiếm khoảng 75 – 85% trong khi những tháng mùa khô (kéo dài đến 7- 8 tháng) lại chỉ có khoảng

15 – 25 % lượng nước của cả năm

Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao không đi đôi với làm tốt công tác bảo vệ môi trường đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới tài nguyên nước

ở nước ta Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt ngày càng tăng cả về mức độ và quy mô Nguồn nước dưới đất ở nhiều đô thị, một số khu vực đồng bằng đã có biểu hiện ô nhiễm do các chất hữu cơ khó phân hủy và hàm lượng vi khuẩn cao Các biểu hiện suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất đang trở nên rõ rệt và phổ biến ở nước ta

Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại

Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn

ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường

Trang 24

nước do không có công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD), nhu cầu ôxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép

Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư

Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung

là rất lớn

Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt Ở thành phố Thái Nguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu

cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…

Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước

và môi trường trong khu vực

Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh Ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý tập trung

mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương) Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở Y tế lớn chưa có hệ thống

xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng

Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000

m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, ôxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở Y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ

sở sản xuất gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời

Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ôxy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí

20 lần TCCP

Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay

Trang 25

Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc

bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Fecal coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu

Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức khoẻ nhân dân

Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nên đã gây nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản, thì các thức ăn dư lắng xuống đáy ao,

hồ, lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam

Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của người dân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưa sâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gây nguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con người cũng như

sự phát triển bền vững của đất nước Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước) Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành

và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước

Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nước ASEAN đã đầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉ đạt 0,1%) Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân)

2.6 Quản lý tài nguyên nước

2.6.1 Biện pháp quản lý nhà nước

Bảo vệ môi trường biển

Nguyên tắc bảo vệ môi trường biển

Trang 26

1 Bảo vệ môi trường là một nội dung của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển nhằm giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường biển và tăng hiệu quả kinh tế biển

2 Phòng ngừa và hạn chế chất thải từ đất liền và từ các hoạt động trên biển; chủ động, phối hợp ứng phó sự cố môi trường biển

3 Bảo vệ môi trường biển phải trên cơ sở phân vùng chức năng bảo vệ và sử dụng tài nguyên thiên nhiên

4 Bảo vệ môi trường biển phải gắn với quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển phục vụ phát triển bền vững

Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển

1 Các nguồn tài nguyên biển phải được điều tra, đánh giá về trữ lượng, khả năng tái sinh và giá trị kinh tế phục vụ việc quản lý và bảo vệ môi trường biển

2 Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, khai thác nguồn lợi, tài nguyên biển và hoạt động khác liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên biển phải được thực hiện theo quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên đã được phê duyệt

3 Hoạt động trong khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng ngập mặn, di sản tự nhiên biển phải tuân theo quy chế của ban quản lý, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan

4 Nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp, phương tiện, công cụ có tính huỷ diệt trong khai thác tài nguyên và nguồn lợi biển

Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển

1 Nguồn thải từ đất liền, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, khu dân cư ven biển, trên biển, trên đảo phải được điều tra, thống kê, đánh giá và có giải pháp ngăn ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường biển

2 Chất thải và các yếu tố gây ô nhiễm khác từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, giao thông, vận tải, khai thác trên biển phải được kiểm soát và xử

lý đạt tiêu chuẩn môi trường

3 Dầu, mỡ, dung dịch khoan, hoá chất và các chất độc hại khác được sử dụng trong các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên biển sau khi sử dụng phải được thu gom, lưu giữ trong thiết bị chuyên dụng và phải được xử lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại

4 Nghiêm cấm mọi hình thức đổ chất thải trong vùng biển nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển

1 Tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản, chủ phương tiện vận chuyển xăng, dầu, hoá chất, chất phóng xạ và các chất độc hại khác trên biển phải có kế hoạch, nhân lực, trang thiết bị bảo đảm phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường

2 Lực lượng cứu nạn, cứu hộ quốc gia, lực lượng cảnh sát biển phải được đào tạo, huấn luyện, trang bị phương tiện, thiết bị bảo đảm ứng phó sự cố môi trường trên biển

3 Chủ phương tiện vận tải, kho lưu giữ hàng hoá trên biển có nguy cơ gây ra sự cố môi trường phải có hình thức thông báo cho các lực lượng quy định tại khoản 2 Điều

Trang 27

này và tổ chức, cá nhân liên quan khác được biết và có phương án phòng tránh sự cố môi trường

4 Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ven biển trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phát hiện, cảnh báo, thông báo kịp thời về tai biến thiên nhiên, sự cố môi trường trên biển

và tổ chức ứng phó, khắc phục hậu quả

Bảo vệ môi trường nước sông

Nguyên tắc bảo vệ môi trường nước sông

1 Bảo vệ môi trường nước sông là một trong những nội dung cơ bản của quy hoạch khai thác, sử dụng và quản lý tài nguyên nước trong lưu vực sông

2 Các địa phương trên lưu vực sông phải cùng chịu trách nhiệm bảo vệ môi trường nước trong lưu vực sông; chủ động hợp tác khai thác nguồn lợi do tài nguyên nước trong lưu vực sông mang lại và bảo đảm lợi ích cho cộng đồng dân cư

Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường nước trong lưu vực sông

1 Nguồn thải trên lưu vực sông phải được điều tra, thống kê, đánh giá và có giải pháp kiểm soát, xử lý trước khi thải vào sông

2 Chất thải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, giao thông vận tải, khai thác khoáng sản dưới lòng sông và chất thải sinh hoạt của các hộ gia đình sinh sống trên sông phải được kiểm soát và bảo đảm yêu cầu về bảo vệ môi trường trước khi thải vào sông

3 Việc phát triển mới các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, dân cư tập trung trong lưu vực sông phải được xem xét trong tổng thể toàn lưu vực, có tính đến các yếu tố dòng chảy, chế độ thuỷ văn, sức chịu tải, khả năng tự làm sạch của dòng sông và hiện trạng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phát triển đô thị trên toàn lưu vực

4 Việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án phát triển mới khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, dân cư tập trung, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quy mô lớn trong lưu vực phải có sự tham gia ý kiến của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi có sông chảy qua

Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với bảo vệ môi trường nước trong lưu vực sông

1 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông có trách nhiệm sau đây:

a) Công khai thông tin các nguồn thải ra sông;

b) Kiểm soát nguồn thải vào nước sông và xử lý các trường hợp vi phạm tiêu chuẩn môi trường;

c) Phối hợp với cơ quan hữu quan trong việc xác định đối tượng gây thiệt hại về môi trường và giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường trong trường hợp đối tượng bị thiệt hại thuộc các địa phương khác trên lưu vực

2 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên thượng nguồn dòng sông có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên hạ nguồn dòng sông trong việc điều tra phát hiện, xác định nguồn gây ô nhiễm nước sông và áp dụng các biện pháp xử lý

Trang 28

Trường hợp có thiệt hại về môi trường, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra thiệt hại có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan để tổ chức việc điều tra, đánh giá về mức độ thiệt hại và yêu cầu các đối tượng gây thiệt hại phải bồi thường

3 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh nơi phát sinh nguồn thải có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc đối tượng gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn phải thực hiện nghĩa vụ khắc phục và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật

Tổ chức bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông

1 Việc điều phối hoạt động bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông nằm trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

2 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông

3 Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện quy định của Thủ tướng Chính phủ về bảo vệ môi trường nước của lưu vực sông

Bảo vệ môi trường các nguồn nước khác

Bảo vệ môi trường nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch

1 Nguồn nước hồ, ao, kênh, mương, rạch phải được điều tra, đánh giá trữ lượng, chất lượng và bảo vệ để điều hoà nguồn nước

2 Hồ, ao, kênh, mương, rạch trong đô thị, khu dân cư phải được quy hoạch cải tạo, bảo vệ; tổ chức, cá nhân không được lấn chiếm, xây dựng mới các công trình, nhà

ở trên mặt nước hoặc trên bờ tiếp giáp mặt nước hồ, ao, kênh, mương, rạch đã được quy hoạch; hạn chế tối đa việc san lấp hồ, ao trong đô thị, khu dân cư

Chủ dự án ngăn dòng chảy kênh, mương; dự án san lấp hồ, ao, kênh, mương, rạch phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định của pháp luật

3 Không được đổ đất, đá, cát, sỏi, chất thải rắn, nước thải chưa qua xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường và các loại chất thải khác vào nguồn nước mặt của hồ, ao, kênh, mương, rạch

4 Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức điều tra, đánh giá trữ lượng, chất lượng và lập quy hoạch bảo vệ, điều hoà chế độ nước của hồ, ao, kênh, mương, rạch; lập và thực hiện kế hoạch cải tạo hoặc di dời các khu, cụm nhà ở, công trình trên

hồ, ao, kênh, mương, rạch gây ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn dòng chảy, suy thoái hệ sinh thái đất ngập nước và làm mất mỹ quan đô thị

Bảo vệ môi trường hồ chứa nước phục vụ mục đích thuỷ lợi, thủy điện

1 Việc xây dựng, quản lý và vận hành hồ chứa nước phục vụ mục đích thủy lợi, thuỷ điện phải gắn với bảo vệ môi trường

2 Không được lấn chiếm diện tích hồ; đổ chất thải rắn, đất, đá, nước thải chưa qua

xử lý vào lòng hồ

3 Môi trường nước trong hồ chứa nước phục vụ mục đích thủy lợi, thuỷ điện phải được quan trắc định kỳ nhằm dự báo diễn biến chất lượng nước, chế độ thuỷ văn để điều hoà nguồn nước và bảo vệ môi trường

Trang 29

4 Cơ quan quản lý hồ chứa nước phục vụ mục đích thủy lợi, thuỷ điện có trách nhiệm thực hiện quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Bảo vệ môi trường nước dưới đất

1 Việc bảo vệ môi trường trong thăm dò, khai thác nước dưới đất được quy định như sau:

a) Dự án khai thác nước dưới đất có công suất từ 10.000 mét khối trong một ngày đêm trở lên phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường;

b) Chỉ sử dụng các loại hoá chất trong danh mục cho phép của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền trong thăm dò, khai thác nước dưới đất;

c) Nghiêm cấm việc đưa vào nguồn nước dưới đất các loại hoá chất, chất độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định và các tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật;

d) Có biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm nguồn nước dưới đất qua giếng khoan thăm

dò, khai thác nước dưới đất; cơ sở khai thác nước dưới đất có trách nhiệm phục hồi môi trường khu vực thăm dò, khai thác; các lỗ khoan thăm dò, lỗ khoan khai thác không còn sử dụng phải được lấp lại theo đúng quy trình kỹ thuật để tránh làm ô nhiễm nguồn nước dưới đất

2 Dự án khai thác khoáng sản, dự án khác có sử dụng hoá chất độc hại, chất phóng xạ phải có biện pháp bảo đảm không để rò rỉ, phát tán hoá chất, chất thải độc hại, chất thải phóng xạ, sinh vật nhiễm bệnh vào nguồn nước dưới đất

3 Kho chứa hoá chất, cơ sở xử lý, khu chôn lấp chất thải nguy hại phải được xây dựng bảo đảm an toàn kỹ thuật, có biện pháp ngăn cách hoá chất độc hại ngấm vào nguồn nước dưới đất

4 Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức điều tra, đánh giá, quan trắc định kỳ trữ lượng, chất lượng nước dưới đất

2.6.2 Các biện pháp kinh tế

Nước thải đang là vấn đề nan giải của nước đang phát triển như Việt Nam Việc

xử lý và thu phí nước thải hợp lý, trang trải được các chi phí đầu tư, vận hành và bảo dưỡng là vấn đề bức xúc đang được bàn cãi Chính phủ đã ra Nghị định về phí môi trường đối với nước thải nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường từ nước thải và tiết kiệm nước sạch, tạo nguồn kinh phí cho Quĩ bảo vệ môi trường:

Nghị định 67/2003 về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành từ giữa tháng 6 năm 2003, có hiệu lực từ 01/01/2004

Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 8/1/2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2003/NĐ-CP

Theo nhận xét của các nhà quản lý, đây là một bước tiến quan trọng trong quản lý môi trường theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” Tuy nhiên việc thu phí nước thải vẫn còn ách tắc, thiếu quy định chặt chẽ, công tác quản lý chưa tốt, khiến

việc thu phí nước thải các doanh nghiệp vẫn cứ lúng túng, khó khăn

Trang 30

Chương 3

Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ

3.1 Khái niệm

Ô nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí hoặc có

sự xuất hiện các khí lạ làm cho không khí không sạch, có sự tỏa mùi, làm giảm tầm nhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây bệnh cho con người và sinh vật

Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí Có thể chia ra thành nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo

3.2 Nguồn phát sinh ô nhiễm không khí

3.2.1 Nguồn ô nhiễm tự nhiên

Do các hiện tượng tự nhiên gây ra: núi lửa, cháy rừng Tổng hợp các yếu tố gây ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên rất lớn nhưng phân bố tương đối đồng đều trên toàn thế giới, không tập trung trong một vùng Trong quá trình phát triển, con người đã thích nghi với các nguồn này

3.2.2 Nguồn ô nhiễm nhân tạo

Công nghiệp

Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất của con người Các quá trình gây ô nhiễm là quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch: than, dầu, khí đốt tạo ra: CO2, CO, SO2, NOx, các chất hữu cơ chưa cháy hết: muội than, bụi, quá trình thất thoát, rò rỉ trên dây truyền công nghệ, các quá trình vận chuyển các hóa chất bay hơi, bụi

Đặc điểm: nguồn công nghiệp có nồng độ chất độc hại cao, thường tập trung trong một không gian nhỏ Tùy thuộc vào quy trình công nghệ, quy mô sản xuất và nhiên liệu sử dụng thì lượng chất độc hại và loại chất độc hại sẽ khác nhau

Giao thông vận tải

Đây là nguồn gây ô nhiễm lớn đối với không khí đặc biệt ở khu đô thị và khu đông dân cư Các quá trình tạo ra các khí gây ô nhiễm là quá trình đốt nhiên liệu động cơ:

CO, CO2, SO2, NOx, Pb Các bụi đất đá cuốn theo trong quá trình di chuyển Nếu xét trên từng phương tiện thì nồng độ ô nhiễm tương đối nhỏ nhưng nếu mật độ giao thông lớn và quy hoạch địa hình, đường xá không tốt thì sẽ gây ô nhiễm nặng cho hai bên đường

Sinh hoạt

Là nguồn gây ô nhiễm tương đối nhỏ, chủ yếu là các hoạt động đun nấu sử dụng nhiên liệu nhưng đặc biệt gây ô nhiễm cục bộ trong một hộ gia đình hoặc vài hộ xung quanh Tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu: CO, bụi

3.3 Đặc điểm của khí quyển

3.3.1 Cấu trúc khí quyển

Tầng đối lưu (Troposphere): cao đến 10-15km tính từ mặt đất, là tầng tiếp giáp với

bề mặt trái đất Nhiệt độ và áp suất của tầng này giảm theo chiều cao Trên mặt đất có nhiệt độ trung bình là

Trang 31

170C lên đến độ cao 10km chỉ còn từ −500C đến −800C

Tầng bình lưu (Stratosphere): ở độ cao từ 10-50km Nhiệt độ và áp suất của tầng này tăng theo chiều cao Các nhà khoa học giải thích rằng sự gia tăng nhiệt độ là do càng lên cao càng gần với lớp ozone Lớp ozone là lớp không khí nơi đó có hàm lượng khí ozone rất cao, có khả năng hấp thu tia cực tím của mặt trời Lớp ozone xuất hiện ở

độ cao 18-30 km Nồng độ ozone cao nhất ở độ cao 20-25km, cao hơn 1000 lần so với tầng đối lưu (khoảng 10ppm)

Tầng trung lưu (Mesosphere) ở độ cao trên 50-90 km Đặc điểm của tầng này là nhiệt độ giảm dần từ đỉnh của tầng bình lưu (50 km) đến đỉnh tầng trung lưu (90 km), nhiệt độ giảm nhanh hơn tầng đối lưu và có thể đạt đến −92oC

Tầng nhiệt lưu (Thermoshpere) và Tầng ngoài (Exosphere): Đặc điểm của tầng này là nhiệt độ tăng lên rất nhanh và rất cao Mật độ phân tử khí ở đây cực loảng

3.3.2 Thành phần khí quyển

Bảng 3.1: Thành phần không khí khô, không bị ô nhiễm

STT Tên chất Công thức Tỉ l ệ Tổng khối lượng (tấn)

3.3.3 Sự thay đổi nhiệt độ theo chiều cao và ổn định của khí quyển

Khi một khối không khí bổ sung bốc lên cao trong khí quyển theo phương thẳng đứng, nó sẽ chịu tác động của một áp suất mỗi lúc một giảm nhỏ, nó sẽ giãn nở và nhiệt độ sẽ hạ thấp Ngược lại khi khối không khí hạ dần độ cao thì nó bị nén ép, áp suất tăng và kéo theo nhiệt độ cũng tăng cao

Người ta gọi gradian nhiệt độ đoạn nhiệt khô là độ hạ hoặc tăng nhiệt độ của một khối không khí trong quá trình bốc lên cao hoặc hạ xuống thấp trong khí quyển khô

Trang 32

Trong trường hợp không khí được vận chuyển theo phương thẳng đứng trong bầu khí quyển, hiệu quả của quá trình thay đổi áp suất và nhiệt độ là chiếm ưu thế, còn quá trình truyền nhiệt với môi trường xung quanh bằng dẫn nhiệt và bức xạ là thứ yếu, có thể bỏ qua Điều đó có nghĩa là khối lượng không khí được nung nóng hoặc làm nguội

từ các nguồn nhiệt bên ngoài (mà chỉ do nội tại của quá trình giãn nở), tức dQ = 0 mọi quá trình xảy ra với dQ = 0 được gọi là quá trình đoạn nhiệt (adiabatic)

Điều kiện phân bố nhiệt độ siêu đoạn nhiệt là điều kiện khí quyển không ổn định Trong điều kiện này các chất ô nhiễm khuếch tán ra môi trường xung quanh thuận lợi

và nhanh chóng

Trong trường hợp phân bố nhiệt độ theo chiều cao trùng với đường đoạn nhiệt ta

có điều kiện khí quyển trung tính

Trong điều kiện khí quyển trung tính nếu một khối không khí ở vị trí ban đầu bất

kỳ bị đẩy lên cao hoặc xuống thấp, nhiệt độ của nó sẽ nhanh chóng thay đổi theo quá trình đoạn nhiệt và luôn luôn cân bằng với nhiệt độ môi trường xung quanh, khối lượng của nó không nặng cũng không nhẹ hơn so với không khí xung quanh và do đó

nó sẽ chiếm vị trí cân bằng mới mà không tiếp tục chuyển động theo lực đẩy ban đầu Trong điều kiện không khí trung tính sự khuếch tán chất ô nhiễm không thuận lợi bằng điều kiện không ổn định

Khi độ giảm nhiệt độ theo chiều cao dương nhưng nhỏ hơn so với gradian nhiệt độ của áu trình đoạn nhiệt khô, ta có khí quyển ổn định

Trong trường hợp này một khối không khí bị đẩy lên cao hoặc xuống thấp thì nhiệt

độ của nó theo quá trình đoạn nhiệt sẽ nhỏ hơn hoặc lớn hơn nhiệt độ xung quanh tức khối lượng của nó nặng hơn hoặc nhẹ hơn khối không khí xung quanh Sự chênh lệch nhiệt độ đó cũng tức là chênh lệch khối lượng đơn vị - sẽ có xu hướng kéo khối không khí trở lại vị trí ban đầu Như vậy trong điều kiện khí quyển ổn định luôn luôn có hiện tượng kìm hãm sự chuyển động thẳng đứng của không khí và do đó sự khuếch tán các chất ô nhiễm cũng bị hạn chế

Trang 33

3.4 Thành phần và ảnh hưởng của các chất gây ô nhiễm không khí

3.4.1 Ảnh hưởng đến con người

Bụi

Bụi vào phổi gây kích thích cơ học và phát sinh phản ứng sơ hoá phổi gây nên những bệnh hô hấp Nói chung, bụi đất không gây bệnh phổi cấp tính, nhưng nếu trong bụi có trên 2% silic tự do thì có thể phát sinh bệnh bụi phổi - silic sau nhiều năm tiếp xúc (ngành sản xuất vật liệu xây dựng)

Bụi ôxít sắt khi thở hít vào lâu ngày có thể phát sinh bệnh bụi phổi - sắt Đây là loại bụi phổi lành tính gặp phải khi hít phải bụi sắt với nồng độ cao (công nghiệp luyện kim)

Bụi chì vô cơ khi thâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc tiêu hoá sẽ bị đào thải một phần Phần còn lại sẽ bị tích luỹ ở gan lách, thận, hệ thần kinh, lông tóc và đầu xương, răng gây thiếu máu, tăng huyết áp và nhiễm độc thần kinh

Những hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 10µm có thể được giữ lại trong phổi Tuy nhiên nếu các hạt bụi này có đường kính nhỏ hơn 1µm thì nó được chuyển đi như các khí trong hệ thống hô hấp Khi có tác động của các hạt bụi tới mô phổi, đa số xảy ra các hư hại sau đây:

- Viêm phổi: làm tắt nghẽn các phế quản, từ đó làm giảm khả năng phân phối khí

- Khí thủng phổi: phá hoại các túi phổi từ đó làm giảm khả năng trao đổi khí ôxy

và O2

- Ung thư phổi: phá hoại các mô phổi, từ đó làm tắt nghẽn sự trao đổi giữa máu và

tế bào, làm ảnh hưởng khả năng tuần hoàn của máu trong hệ thống tuần hoàn Từ đó kéo theo một số vấn đề đáng lưu ý ở tim, đặt biệt là lớp khí ô nhiễm có nồng độ cao

Khí axít SOx khi tiếp xúc với ôxy và hơi nước trong không khí sẽ biến thành các hơi axít gây kích thích khi tiếp xúc với niêm mạc Hơi axít vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hoà tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá sau đó phân tán vào máu Hơi axít khi kết hợp với bụi tạo thành các hạt bụi axít lơ lửng, nếu kích thước nhỏ hơn 2-3µm sẽ vào tới phế nang, bì đại thực bào phá huỷ hoặc đưa đến hệ thống bạch huyết

SO2 xâm nhập vào cơ thể động vật qua đường hô hấp và tiếp xúc với các niêm mạc ướt hình thành nhanh chóng các axít sau đó sẽ phân tán vào máu qua hệ thống tuần hoàn Ở máu các axít chuyển hoá thành các muối sulphat rồi thải qua nước tiểu Tác hại của SO2 là do hình thành các acid H2SO4, H2SO3 độc hơn rất nhiều lần Nồng

độ tối đa cho phép của SO2 trong không khí xung quanh (trung bình 24 giờ) là 0,3mg/l

Các hợp chất sulphat được hình thành trong khí quyển từ SO2 được thải ra có liên quan đến việc làm giảm tầm nhìn, nghĩa là chúng ta không thể nhìn xa được như trong khi chúng ta nhìn trong môi trường không khí bình thường (không khí trong lành) Các sol khí sulphat ảnh hưởng tới tính chất lí học và quang học của đám mây Đây là ảnh hưởng đáng kể thể hiện giữa sulphat acid trong khí quyển và sương mù Các sol khí này có khả năng tán xạ ánh sáng mạnh

Trang 34

Khí NOx và NH 3

NOx là khí axít và có tác động tương tự như khí SOx Các chất khí này sau khi được hấp thụ qua màng nhầy sẽ lan toả và đi vào máu Toàn bộ phế nang có diện tích rất lớn với một mạng lưới mao mạch dày đặc giúp chất độc khuếch tán nhanh vào máu, không qua gan và không được giải độc như theo đường tiêu hoá mà đi ngay qua tim để đi đến các phủ tạng, đặc biệt là đến hệ thần kinh trung ương Do đó, chất độc xâm nhập qua đường hô hấp tác động gây độc nhanh gần như là tiêm thẳng vào tĩnh mạch

Oxit Nitơ (NO) là một chất khí không màu, không mùi, không tan trong nước NO

có thể gây nguy hiểm cho cơ thể do tác dụng với hồng cầu trong máu, làm giảm khả năng vận chuyển ôxy, gây bệnh thiếu máu Nitơ Oxit được biết đến như một chất gây kích thích viêm tấy (viêm xơ phổi mãn tính) và có tác hại đối với hệ thống hô hấp NO với nồng độ thường có trong không khí không gây tác hại đối với sức khoẻ của con người, nó chỉ nguy hại khi bị ôxy hoá thành NO2 Tiêu chuẩn Việt Nam qui định nồng

độ NO2 cho khu dân cư nhỏ hơn 0,1mg/m3 (trung bình 24 giờ), khu vực sản xuất nhỏ hơn 0,5mg/m3

Dioxit Nitơ (NO2): Khi tiếp xúc với niêm mạc, tạo thành axit qua đường hô hấp hoặc hoà tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá, sau đó vào máu Ở hàm lượng 15 – 50ppm, NO2 gây nguy hiểm cho tim, phổi và gan Tác dụng của NO2 phụ thuộc vào nồng độ và thời gian tiếp xúc Ở nồng độ thấp thường gặp trong môi trường lao động hoặc trong không khí xung quanh, tác hại của NO2 tương đối chậm và khó nhận biết Amoniac (NH3): có mùi khó chịu và gây viêm đường hô hấp cho người, động vật, gây loét giác mạc, thanh quản, khí quản Amoniac thường gây nhiễm độc cấp tính Là một chất khí gây kích thích đường hô hấp, có mùi khai đặc trưng và có khả năng gây ngạt Người làm việc trong môi trường có nồng độ NH3 cao thường gặp các triệu chứng cay mắt, khó thở, viêm phế quản, ở nồng độ quá cao có thể gây chết người Tác động của

NH3 lên cơ thể tuỳ thuộc vào nồng độ NH3 trong môi trường lao động Nồng độ không

gây tác hại đáng kể khi tiếp xúc trong vòng 1 giờ là 0.03% thể tích, khi tiếp xúc trong vòng 4-5 giờ là 0.01% thể tích Trong trường hợp phải hít nhiều NH3 và đột ngột, khí

NH3 chưa vào đến phổi mà đã gây phản xạ ở thanh quản, cuống họng, co rút đột ngột đường hô hấp làm nạn nhân nghẹt thở chết

Cacbon oxit

CO ngăn cản sự vận chuyển O2 đến các tế bào, các mô của cơ thể: Khi có mặt CO trong không khí hít vào, CO kết hợp với Hb thành một hợp chất bền là cacboxihemoglobin (COHb), chất này làm cho O2 không vận chuyển đến các tế bào, theo phản ứng:

O2Hb + CO = COHb + O2

Trong điều kiện tiếp xúc với CO dẫn đến hậu quả là cơ thể thiếu O2 dẫn đến ngạt với các triệu chứng khác nhau, cuối cùng cơ thể bị chết do thiếu O2 Tuy nhiên phản

Trang 35

ứng thuận trên đây có thể trở thành nghịch, nghĩa là CO có thể bị tách khỏi COHb dưới tác dụng của O2 áp suất cao hoặc O2 nguyên chất, giải phóng Hb để làm nhiệm vụ vận chuyển O2 như sau:

COHb + O2 = O2Hb + CO

Chì (Pb)

Chì được biết đến như một chất độc, hợp chất của chì đã được dùng để pha vào nhiên liệu cho động cơ Chì là một chất dễ dàng hấp thu qua da Chúng làm thúc đẩy quá trình tiêu hoá mỡ trong cơ thể, bao gồm cả no Khoảng 50% chì được hấp thụ vào

cơ thể qua đường hô hấp được giữ lại Khi số lượng chì trong cơ thể ở mức độ cao nó

sẽ làm cản trở quá trình tạo máu Không khí bị ô nhiễm chì là điều rất nguy hiểm cho môi trường sống của con người, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ

Ở nước ta từ khi cấm xử dụng xăng pha chì thì vấn đề ô nhiễm không khí do chì giảm đáng kể Ozon 99% ozon có trong không khí sinh ra từ quá trình quang hóa các oxit có trong không khí Nồng độ khí ozon lớn hơn 196mg/m3 (0.1ppm) là nguyên nhân gây kích thích mắt Nếu tiếp xúc với ozon trong 8h ở nồng độ > 0.3ppm thì triệu chứng đầu tiên là kích thích ở khoang mũi và cổ họng Tiêu chuẩn cho phép tiếp xúc với ozon trong 1h là 0.15ppm Khi nồng độ ozon từ 0.3 – 1ppm nếu tiếp xúc từ 15 phút – 2h thì xuất hiện triệu chứng ngạt thở, ho, mệt mỏi Nếu nồng độ 1.5 – 2ppm mà tiếp xúc quá 2h gây ra các chứng đau ngực, ho, đau đầu, cơ thể mất cân bằng, mỏi mệt, đau nhức các khớp xương; ở nồng độ 9ppm gây ốm nặng

3.4.2 Ảnh hưởng đối với thực vật

Khí axít SOx nói riêng khi kết hợp với nước mưa tạo nên mưa axít gây ảnh hưởng tới sự phát triển của cây trồng và thảm thực vật Khi nồng độ hơi axít trong không khí cao có thể gây chấn thương đối với lá cây sau vài giờ tiếp xúc Theo R Hyperman (1979) ngưỡng chịu đựng của cây ăn quả đối với SO2 khi bị tác động trong thời gian dài là 0.010- 0.083 ppm (0.0285 - 0.23 mg/m3) Khi nồng độ SO2 khoảng 1-2 ppm (2.85 - 5.70mg/m3) có thể gây chết từng phần đối với lá cây Một số cây rất bền vững đối với SO2 (ví dụ: cây ngô, hành) Oxít lưu huỳnh (SOx), oxít nitơ (NOx), florua hydrô (HF) và các chất ô nhiễm khác thâm nhập từ không khí vào cây xanh thông qua quá trình trao đổi khí hoặc sa lắng nước mưa, sương, bụi trên bề mặt chồi cây Các loại khí axít (SO2, NO2, HF) tác động vào cây xanh khi bị tiếp xúc lâu dài, với nồng độ lớn

sẽ gây tổn thương tới cây trồng sau vài giờ tiếp xúc

Nồng độ SO2 từ 0,029 mg/m3 - 0,23mg/m3 gây ảnh hưởng tới cành cây, nồng độ

SO2 từ 2,85 - 5,70mg/m3 có thể làm chết từng phần của lá cây Ở dạng khí, nồng độ

SO2 khoảng 0.03ppm đã gây ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của rau quả Nhiều loài thực vật nhạy cảm khác, giới hạn gây độc kinh niên khoảng 0.15-0.30 ppm Nhạy cảm nhất với SO2 là các loài thực vật bậc thấp: rêu, địa y Nồng độ thấp nhưng thời gian kéo dài có thể gây vàng lá, rụng Khi nồng độ SO2 khoảng 1-2ppm có thể gây chấn thương lá cây sau vài giờ tiếp xúc Ở nồng độ cao thì trong một thời gian ngắn đã làm rụng lá và gây chết hoại đối với thực vật

Trang 36

Khi SO2 chuyển hoá thành H2SO4 tạo ra tính axit trong nước mưa làm tổn thương

lá cây, lá cây, trở ngại quá trình quang hợp làm cho cây bị vàng úa rồi rụng, phá hoại các tổ chức bên trong, khiến cho cây trồng mọc rất khó khăn, cản trở sự sinh trưởng của rễ làm giảm khả năng chống bệnh và sâu hại cây Ảnh hưởng gián tiếp: nước mưa làm axit hoá đất giải phóng các ion kim loại gây độc

Khí H 2 S

H2S có tác dụng làm tổn thương lá cây, làm rụng lá và làm giảm sinh trưởng H2S làm ngộ độc rễ thực vật, gây chết cho động vật và một số vi sinh vật hiếu khí trong môi trường đất Lưu huỳnh xuất hiện dưới dạng sunfide thì rất độc với các mô thực vật Lưu huỳnh bị biến đổi thành dạng sunfide trong quá trình phân hủy yếm khí trong đất và tích lũy đến nồng độ gây độc trong đầm lầy mặn Sự thích ứng với nồng độ sulfur cao của thực vật ngập nước có biên độ thay đổi rộng Các loài thực vật khác nhau thì có khả năng chịu độc khác nhau

NOx tạo mưa axit, bản chất hoá học của mưa axit không phức tạp lắm nhưng vấn

đề mưa axit có thể đưa đến hàng loạt những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp trên hệ sinh thái cạn và hệ sinh thái thuỷ vực Trong những ảnh hưởng của mưa axit được công bố là suy thoái rừng, suy thóai hệ sinh thái thuỷ vực và chuyển từ thảm thực vật nghèo nitơ sang giàu nitơ Các axit hoá có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp Những tác động trực tiếp là những tác động xảy ra do thực vật hoặc động vật tiếp xúc với không khí có chứa chất ô nhiễm với nồng độ quá cao Tác động gián tiếp khi thảm thực vật và hệ sinh thái bị phá huỷ do đất hoặc nước bị axít hoá Đặc biệt khó dự đoán các tác động gián tiếp vì chúng còn phụ thuộc vào tính chất lý hoá của đất và nước số thực vật có tính nhạy cảm đối với môi trường sẽ bị tác hại khi nồng độ NOx khoảng 1ppm và thời gian tác dụng là khoảng 1 ngày Nếu NOx nhỏ khoảng 0.35ppm thì thời gian tác dụng 1 tháng

Tác động do khí HF

Nồng độ HF rất nhỏ 0.001 - 0.002 ppm (tức là 0.00089 - 0.00178 mg/m3) đã gây tác động đối với lá cây như làm cháy lá Khi tiếp xúc với nồng độ HF lớn hơn 0.002 mg/m3 thì lá cây bị tổn thương hoặc cây đã bị phá huỷ Một số cây ăn quả rất nhạy đối với HF Một số cây rất bền vững đối với HF như cà chua, hướng dương, măng tre, lúa Theo Treshow (1980): nồng độ HF: 0.2-0.5 µg/m3 trong thời gian 24 giờ: ngưỡng độc hại đối với thực vật

- Dioxit cacbon (CO2) với nồng độ nhỏ hơn 1 % không những không độc hại đối với cây xanh mà ngược lại làm tăng cường quá trình đồng hóa dẫn đến tăng sinh trưởng

- Thực vật ít nhạy cảm với CO so với người và động vật nhưng khi nồng độ CO cao (100 - 10.000 ppm) làm cho lá rụng, bị xoắn, quăn, cây non bị chết, cây cối chậm phát triển Ngoài ra, CO làm mất khả năng cố định Nitơ, làm thực vật bị thiếu đạm Ví

Trang 37

dụ: Trái cây có thể bị nhiễm CO2 khi để ngoài không khí, vỏ có màu nâu, nhám, bị lõm vào …

3.5 Khuếch tán chất ô nhiễm trong môi trường

3.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến khuếch tán chất ô nhiễm không khí

Biến trình ngày và sự phân bổ nhiệt độ theo chiều cao

Thông thường, trong điều kiện thời tiết nêu trên, độ giảm nhiệt độ theo chiều cao diễn ra theo đường gần như đoạn nhiệt vào nữa cuối ngày sau buổi trưa, khi Mặt Trời

đã cung cấp đủ năng lượng để làm ấm lớp không khí sát mặt đất

Cũng điều kiện thời tiết như trên nhưng nếu cường độ bức xạ Mặt Trời lớn (mùa hè) mặt đất có thể bị đốt nóng dữ dội, làm cho lớp không khí tiếp giáp mặt đất lần lượt

bị nung nóng nhanh chóng, cuối cùng ta sẽ có khí quyển siêu đoạn nhiệt

Sau khi Mặt Trời lặn, vào ban đêm do không có bức xạ Mặt Trời và mặt đất là vật đen lý tưởng phát ra tia hồng ngoại rất mạnh và hiệu quả vào không trung nên nó được làm nguội một cách nhanh chóng làm cho lớp không khí sát mặt đất tuần tự nguội theo Kết quả là vào sáng hôm sau quan sát thấy ở mặt đất nhiệt độ tăng dần theo chiều cao và độ cao có thể đạt đến là 300m Đó là lớp khí quyển nghịch nhiệt, người ta gọi lớp khí quyển này là nghịch nhiệt bức xạ

Khi Mặt Trời lên cao làm ấm lớp không khí sát mặt đất, quá trình tiếp tục diễn ra cho đến giữa trưa khi mà lớp không khí này đủ năng lượng phá tan lớp nghịch nhiệt tồn tại từ đêm hôm trước

Lớp nghịch nhiệt

Nghịch nhiệt đóng vai trò rất quan trọng trong khí hậu học ô nhiễm không khí Khi

có nghịch nhiệt không khí trở nên rất ổn định và ngăn cản môi chuyển động thẳng đứng của khối khí do lực nổi gây ra Độ ổn định do nghịch nhiệt tạo ra còn làm hạn chế trao đổi năng lượng gió của lớp không khí sát mặt đất với gió ở các lớp khí quyển trên cao và do đó làm cản trở quá trình khuếch tán các chất ô nhiễm theo cả phương đứng lẫn phương ngang

Nghịch nhiệt được hình thành do nhiều nguyên nhân khác nhau:

+ Làm lạnh lớp không khí từ bên dưới

+ Làm nóng không khí từ phía trên

+ Chuyển động của dòng không khí lạnh bên dưới lớp không khí ấm

+ Chuyển động của dòng không khí ấm bên trên không khí lạnh

Trang 38

3.5.2 Tính toán các thông số khuếch tán từ nguồn điểm cao

2

2

2

exp 2

exp

z

e z

H Z

σσ

, g/m3 (1)

- He : Chiều cao hiệu quả của ống khói, m

Khi tính toán nồng độ ô nhiễm trên mặt đất thì z = 0 và công thức (1) sẽ trở thành:

C(x,y,0) = u y z

M

σσ

2

2

y = 0 và thu được:

C(x,0,0) = u y z

M

σσ

2

2 y

e H

σ

, g/m3 (3)

Chiều cao hiệu quả của ống khói

Tại miệng ống khói, nhờ vận tốc phụt, luồng khói có một động năng ban đầu làm cho luồng khói có xu hướng bốc thẳng đứng lên trên Mặt khác, do nhiệt độ của khói

Trang 39

cao hơn nhiệt độ không khí xung quanh, luồng khói chịu tác dụng của “lực nổi” do chênh lệch nhiệt độ gây ra Cùng với lực nâng, luồng khói chịu tác dụng của lực gió nằm ngang, do đó đỉnh cao nhất của luồng khói sẽ nằm cách xa ống khói một khoảng cách nhất định nào đó xuôi theo chiều gió Khi đã đạt được độ cao ấy, tức là lúc động năng ban đầu của luồng khói đã bị triệt tiêu và nhiệt độ khói đã trở nên cân bằng với nhiệt độ của khí quyển do kết quả của quá trình hoà trộn với không khí xung quanh, luồng khói sẽ đi theo phương nằm ngang song song với chiều gió Độ cao gia tăng đó của luồng khói được gọi là độ nâng cao tổng cộng của luồng khói do động năng ban đầu và do chênh lệch nhiệt độ giữa khói thải và nhiệt độ không khí xung quanh Vì vậy, khi tính toán khuếch tán ô nhiễm từ các nguồn điểm cao, chiều cao tính toán của ống khói sẽ bằng tổng chiều cao hình học của ống khói với độ nâng cao tổng cộng của luồng khói:

He = h+ ∆h (4)

Trong đó:

- He: Chiều cao hiệu quả của ống khói, m;

- h: chiều cao thực của ống khói, m;

- ∆h: Độ nâng cao tổng cộng của luồng khói do động năng ban đầu và do chênh lệch nhiệt độ, m

3.6 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đối với môi trường và con người

Đối với sức khỏe

Ô nhiễm không khí có những ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ con người, đặc biệt đối với đường hô hấp Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, khi môi trường không khí bị ô nhiễm, sức khoẻ con người bị suy giảm, quá trình lão hoá trong cơ thể bị thúc đẩy, chức năng của phổi bị suy giảm; gây bệnh hen suyễn, viêm phế quản; gây bệnh ung thư, bệnh tim mạch và làm giảm tuổi thọ con người Các nhóm cộng đồng nhạy cảm nhất với sự ô nhiễm không khí là những người cao tuổi, phụ nữ mang thai, trẻ em dưới 14 tuổi, người đang mang bệnh, người thường xuyên phải làm việc ngoài trời… Mức độ ảnh hưởng của từng người tùy thuộc vào tình trạng sức khoẻ, nồng độ, loại chất và thời gian tiếp xúc với môi trường ô nhiễm

Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, trong những năm gần đây, các bệnh về đường

hô hấp có tỷ lệ mắc cao nhất trên toàn quốc Thực tế cho thấy nhiều bệnh đường hô hấp có nguyên nhân trực tiếp bởi môi trường không khí bị ô nhiễm do bụi, SO2, NOx,

CO, chì, Các tác nhân này gây ra các bệnh: viêm nhiễm đường hô hấp, hen, lao, dị ứng, viêm phế quản mãn tính, ung thư

Tỷ lệ mắc các bệnh về đường hô hấp của dân cư sống gần các KCN cao hơn nhiều

so với vùng nông thôn Tỷ lệ mắc bệnh viêm phế quản mãn tính ở vùng đô thị, công nghiệp (khu Thượng Đình (Hà Nội) chiếm 14,6%) cao gấp 2,32 lần so với vùng nông thôn (khu Kim Bảng (Hà Nam) chiếm 6,3%) (Nguồn: Đề tài cấp Nhà nước-KYĐL-94-03) Tại Hải Phòng, nghiên cứu cho thấy tất cả các triệu chứng và bệnh tật liên quan đến đường hô hấp ở nơi bị ô nhiễm đều cao hơn nơi không bị ô nhiễm từ 1,91 đến 7,6 lần

Trang 40

Tỷ lệ người mắc bệnh liên quan đến ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn như

Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng thường cao hơn ở các tỉnh/thành phố khác Điều này cũng được phản ánh phần nào thông qua các số liệu đánh giá tình hình mắc bệnh về đường hô hấp tại các tỉnh, thành phố mà điển hình là bệnh lao

Đáng chú ý là ô nhiễm không khí không những gây nên các bệnh lý ở đường hô hấp mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, là nguyên nhân làm chậm phát triển hệ thần kinh, trí não ở trẻ

Trong những năm sắp tới, mức độ ô nhiễm không khí đô thị tăng lên, nếu không

có những biện pháp kiểm soát hiệu quả, mức độ ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng cũng sẽ tăng lên

Thiệt hại kinh tế

Thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí ảnh hưởng đến sức khoẻ bao gồm các khoản chi phí: chi phí khám và thuốc chữa bệnh, tổn thất mất ngày công lao động do nghỉ ốm, tổn thất thời gian của người nhà chăm sóc người ốm, Dự án “Điều tra, thống kê, đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sức khoẻ cộng đồng” của Cục Bảo vệ môi trường (2007) được tiến hành tại hai tỉnh Phú Thọ và Nam Định cho kết quả ước tính thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí tác động đến sức khoẻ trung bình trên đầu người mỗi năm là 295.000 đồng, khoảng 5,5% GDP trên đầu người Nếu giả thiết, tổn thất về kinh tế do ô nhiễm không khí tác động đến sức khoẻ đối với người dân Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tương tự như người dân ở Phú Thọ và Nam Định thì

Hà Nội - với 3,2 triệu dân - mỗi ngày thiệt hại 2,58 tỷ đồng và TP Hồ Chí Minh - với 6,1 triệu dân - mỗi ngày thiệt hại 4,93 tỷ đồng Thực tế, môi trường không khí ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng bị ô nhiễm hơn hẳn so với các tỉnh Phú Thọ và Nam Định, nên thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí thực tế ở

Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có thể còn lơn hơn con số nói trên

Bụi trong không khí hấp thụ những tia sóng cực ngắn của mặt trời làm cho cây không lớn và khó nảy mầm Những nơi ô nhiễm không khí nặng, lá cây hai bên đường quốc lộ bị phủ một lớp đất bụi dày đặc làm cho quá trình quang hợp khó khăn, do vậy, cây cối ở đó còi cọc không phát triển và rất cằn cỗi

Thiệt hại đối với hoạt động du lịch

Ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm không khí nói riêng đã và đang là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động du lịch của Việt Nam Điều đáng lo ngại là môi trường du lịch tại nhiều khu vực đã bị ô nhiễm do tác động của nhiều ngành kinh tế, trong đó có tác động từ chính các hoạt động du lịch (ví dụ: hoạt động xây dựng bừa bãi, không có kế hoạch, gia tăng rác và các loại phế thải, phá hủy san hô làm vật liệu xây dựng )

Ảnh hưởng đến khí hậu

Biến đổi khí hậu ngày một gia tăng là một hiểm hoạ vô cùng lớn Trái đất đang nóng lên Theo Tổ chức Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) thì sự nóng lên của khí hậu trái đất không còn đơn thuần là vấn đề môi trường mà đã trở thành vấn đề của

sự phát triển Sự biến đổi diễn ra trên toàn cầu, trong các khu vực, bao gồm cả các thay

Ngày đăng: 14/07/2017, 10:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Huy Bá, 2006, Tài Nguyên Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững, NXB Khoa Học Kỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài Nguyên Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững
Nhà XB: NXB Khoa Học Kỹ Thuật
[2]. Không rõ tác giả, 2004, Quản Lý Chất Thải Rắn Cho Cán Bộ Kỹ Thuật, NXB Khoa học công nghệ và quản lý môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản Lý Chất Thải Rắn Cho Cán Bộ Kỹ Thuật
Nhà XB: NXB Khoa học công nghệ và quản lý môi trường
[3]. Phạm Ngọc Đăng, 2004, Quản Lý Môi Trường Đô Thị Và Khu Công Nghiệp, NXB Xây Dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản Lý Môi Trường Đô Thị Và Khu Công Nghiệp
Nhà XB: NXB Xây Dựng
[4]. Trần Hiếu Nhuệ, Ứng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái, 2001, Quản Lý Chất Thải Rắn-Tập 1: Chất Thải Rắn Đô Thị, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản Lý Chất Thải Rắn-Tập 1: Chất Thải Rắn Đô Thị
Nhà XB: NXB Xây dựng
[5]. Đinh Hải Hà, 2009, Phương Pháp Phân Tích Các Chỉ Tiêu Môi Trường, Trường Đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương Pháp Phân Tích Các Chỉ Tiêu Môi Trường
[6]. Trương Mạnh Tiến, 2005, Quan Trắc Môi Trường, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan Trắc Môi Trường
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w