BG HỌC PHẦN CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA BG HỌC PHẦN CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA BG HỌC PHẦN CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA BG HỌC PHẦN CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA BG HỌC PHẦN CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA BG HỌC PHẦN CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA BG HỌC PHẦN CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP TUY HÒA
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
BÀI GIẢNG HỌC PHẦN: CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG
DÀNH CHO SINH VIÊN HỆ CAO ĐẲNG
TUY HÒA – 2010
Trang 2Nội dung Chương 1
KHÁI NIỆM CƠ BẢN 4
1.1 Giới thiệu đối tượng và nhiệm vụ môn học 4
1.2 Khái niệm môi trường và ô nhiễm môi trường 4
1.3 Các thành phần môi trường 6
1.4 Các chức năng của môi trường 7
1.5 Phát triển bền vững 8
Chương 2 CÁC THÀNH PHẦN CƠ BẢN CỦA MÔI TRƯỜNG 11
2.1 Thạch quyển 11
2.2 Thuỷ quyển 14
2.3 Khí quyển 16
2.4 Sinh quyển 19
2.5 Mối quan hệ giữa con người và các thành phần môi trường 21
Chương 3 CƠ SỞ SINH THÁI HỌC 22
3.1 Nhân tố sinh thái 22
3.2 Quần thể sinh vật 25
3.3 Quần xã sinh vật 27
3.4 Hệ sinh thái 30
3.5 Mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái hệ sinh thái 38
Chương 4 TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 42
4.1 Tài nguyên đất 42
4.2 Tài nguyên nước 52
4.3 Tài nguyên khoáng sản và năng lượng 57
4.3.1 Tài nguyên khoáng sản 57
4.3.2 Tài nguyên năng lượng 60
4.4 Tài nguyên sinh học 63
4.4.1 Tài nguyên rừng 63
4.4.2 Tài nguyên sinh vật hoang dã 67
Trang 3Chương 5
NHỮNG THÁCH THỨC CỦA THỜI ĐẠI NGÀY NAY 71
5.1 Bùng nổ dân số 71
5.2 Biến đổi khí hậu 72
5.3 Ô nhiễm môi trường 74
5.4 Suy giảm đa dạng sinh học 75
5.5 Sac mạc hóa 77
Chương 6 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 80
6.1 Ô nhiễm nước 80
6.2 Ô nhiễm đất 86
6.3 Ô nhiễm không khí 88
6.4 Hiện trạng ô nhiễm môi trường Việt Nam 93
Chương 7 BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 100
7.1 Xu hướng bảo vệ môi trường thế giới 100
7.2 Định hướng bảo vệ môi trường Việt nam 105
7.3 Các chương trình bảo vệ môi trường Thế giới mà Việt Nam tham gia 107
Trang 4Chương 1 KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1 Giới thiệu đối tượng và nhiệm vụ môn học
Ðể giải quyết các vấn đề khổng lồ của sự gia tăng dân số quá mức, sự cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường, đòi hỏi phải có nhiều kiến thức khoa học: sinh học, sinh thái học, khoa học trái đất, khoa học xã hội, khoa học kinh tế
Có thể xem môn học Môi trường và Con người là phần ứng dụng của sinh thái học, nhằm giải quyết các vấn đề nóng bỏng của xã hội Ðó là các vấn đề dân số (population); tài nguyên (resources); và ô nhiễm (pollution) đang gây nên cuộc khủng hoảng môi trường hiện nay
1.2 Khái niệm môi trường và ô nhiễm môi trường
1.2.1 Môi trường
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho
sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người
Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
Nói tới môi trường, người ta thường nghĩ ngay tới mối quan hệ của những yếu tố xung quanh tác động tới đời sống của sinh vật mà trong đó chủ yếu là con người Quan điểm về môi trường nhìn từ góc độ sinh học là những quan điểm phổ biến Một số định nghĩa như:
− Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế - xã hội bao quanh và tác động tới đời sống và sự phát triển của một cá thể hoặc một cộng đồng người (UNEP-Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc, 1980)
− Môi trường là tất cả các hoàn cảnh bên ngoài tác động lên một cơ thể sinh vật hoặc một cơ thể nhất định đang sống; là mọi vật bên ngoài một cơ thể nhất định (G.Tyler Miler, Environmental Science, USA, 1988)
− Môi trường nói chung bao gồm tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mọi sinh vật (Pepa,1997)
− Môi trường là tất cả các hoàn cảnh hoặc điều kiện bao quanh một hay một nhóm sinh vật hoặc môi trường là tổng hợp các điều kiện xã hội hay văn hóa ảnh hưởng tới cá thể hoặc cộng đồng Vì con người vừa tồn tại trong thế giới tự nhiên và đồng thời tạo nên thế giới văn hóa, xã hội và kỹ thuật, nên tất cả đều là thành phần môi trường sống của con người
Trang 5− Theo Điều 1, Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam thì “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”
Qua các định nghĩa trên, môi trường được xem như là những yếu tố bao quanh và tác động lên con người (cá thể hay cộng đồng) và sinh vật Thật vậy, nếu một môi trường nào đó có những yếu tố hoàn toàn không liên quan tới sự sống và con người, chắc rằng sẽ chẳng được ai quan tâm Tuy nhiên, cách nhìn trên làm cho người ta dễ ngộ nhận rằng mối quan hệ giữa con người và môi trường là mối quan hệ một chiều: môi trường tác động tới con người và con người như là một trung tâm tiếp nhận những tác động đó Thực ra, mỗi con người lại là một tác nhân tác động tới các yếu tố chính trong môi trường mà nó đang tồn tại
Tùy theo mục đích nghiên cứu và sử dụng, có nhiều cách phân loại môi trường khác nhau Có thể phân loại môi trường theo các dấu hiệu đặc trưng sau đây:
Theo chức năng
- Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố của tự nhiên tồn
tại khách quan ngoài ý muốn của con người như không khí, đất đai, nguồn nước, ánh sáng mặt trời, động thực vật Môi trường tự nhiên cung cấp các nguồn tài nguyên tự nhiên cho ta như không khí để thổ, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, các
sản cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho
ta cảnh đẹp giải trí tăng khả năng sinh lý của con người
- Môi trường xã hội: Môi trường xã hội là tổng hợp các quan hệ giữa người với
người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định, hương ước ở các cấp khác nhau
- Môi trường nhân tạo: Môi trường nhân tạo bao gồm các nhân tố do con người
tạo nên, làm thành những tiện nghi cho cuộc sống của con người như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo, các khu vui chơi giải trí v.v
Theo quy mô
Theo quy mô chủ yếu người ta phân loại môi trường theo không gian Địa lý như môi trường toàn cầu, môi trường khu vực, môi trường quốc gia, môi trường vùng, môi trường địa phương
Theo thành phần
- Phân loại theo thành phần của tự nhiên người ta thường chia ra:
+ Môi trường không khí
+ Môi trường đất
+ Môi trường nước
+ Môi trường biển
- Phân loại theo thành phần của dân cư sinh sống người ta chia ra:
+ Môi trường thành thị
+ Môi trường nông thôn
Trang 6Ngoài 4 cách phân loại trên có thể còn có các cách phân loại khác phù hợp với mục
đích nghiên cứu, sử dụng của con người và sự phát triển của xã hội Tuy nhiên, dù bất cứ cách phân loại nào thì cũng đều thống nhất ở một sự nhận thức chung: Môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển
1.2.2 Ô nhiễm môi trường
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:
"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến
sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng
độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu
1.3 Các thành phần môi trường
1.3.1 Khí quyển (Atmosphere)
Khí quyển hay môi trường không khí là một hỗn hợp các khí bao quanh bề mặt trái đất, có khối lượng khoảng 5,2× 1018 kg (0,0001% khối lượng trái đất) Khí quyển đóng vai trò quyết định trong việc duy trì cân bằng nhiệt của trái đất, thông qua quá trình hấp thụ bức xạ hồng ngoại từ mặt trời và tái phát xạ khỏi trái đất Khí quyển được chia thành nhiều tầng khác nhau theo sự thay đổi chiều cao và chênh lệch nhiệt độ
1.3.2 Thủy quyển (Hydrosphere)
Bảng 1.1: Diện tích và tỉ lệ diện tích các Đại dương thế giới
Thủy quyển của Trái đất nằm giữa khí quyển và địa quyển Nó gồm có biển, hồ, sông, đầm, nước ngầm, lạch suối (dưới dạng chất lỏng) và băng hà (dưới dạng chất rắn) Theo ước tính của các nhà khoa học, tổng lượng nước trên bề mặt Trái đất vào
Trang 7khoảng 1,370 tỷ km3, trong đó, biển chiếm 97,3% Khối lượng thủy quyển ước chừng 1,38×1021kg=0,03% khối lượng trái đất
1.3.3 Thạch quyển (Lithosphere)
Trên Trái Đất, thạch quyển bao gồm lớp vỏ và tầng trên cùng nhất của lớp phủ (lớp phủ trên hoặc thạch quyển dưới) Thạch quyển bị chia nhỏ ra thành các mảng khác nhau
Đặc trưng phân biệt của thạch quyển không phải là thành phần của nó mà là các thuộc tính về sự trôi dạt của nó Dưới ảnh hưởng của các ứng suất dài hạn và cường độ thấp gây ra các chuyển động kiến tạo địa tầng Lớp vỏ được phân biệt với lớp phủ bằng sự thay đổi trong thành phần hóa học tại khu vực của điểm gián đoạn Mohorovicic
1.3.4 Sinh quyển (biosphere)
Sinh quyển là nơi có sự sống tồn tại, bao gồm các phần của thạch quyển có độ dày 2-3km kể từ mặt đất, toàn bộ thủy quyển và khí quyển tới độ cao 20km (đến tầng ozone) Với chiều dày khoảng 26km Các thành phần trong sinh quyển luôn tác động tương hỗ Sinh quyển có các cộng đồng sinh vật khác nhau từ đơn giản đến phức tạp,
từ dưới nước đến trên cạn, từ vùng xích đạo đến các vùng cực trừ những miền khắc nghiệt
1.4 Các chức năng của môi trường
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật
Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người
Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình
Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực
và tái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới Việc khai thác quá mức
Trang 8không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi
Môi trường trái đất được coi là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người bởi vì chính môi trường trái đất là nơi:
Cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người
Cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất báo động sớm các nguy hiểm đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như các phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xẩy ra các tai biến thiên nhiên và hiện tượng thiên nhiên đặc biệt như bão, động đất, v.v
Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gien, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp và cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, tôn giáo và văn hoá khác
1.5 Phát triển bền vững
1.5.1 Khái niệm và mục tiêu phát triển bền vững
Phát triển bền vững là yêu cầu cấp bách và xu thế tất yếu của toàn cầu
Khái niệm "phát triển bền vững" xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ nhữngnăm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20 Năm 1987, trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên Hợp Quốc (LHQ), "phát triển bền vững" được định nghĩa "là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau"
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nảy sinh từ sau cuộc khủng hoảng môi trường, do đó cho đến nay chưa có một định nghĩa nào đầy đủ và thống nhất
Một số khái niệm của Khoa học Môi trường bàn về phát triển bền vững:
- Phát triển bền vững là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế làm giảm sự khai thác tài nguyên cho phát triển kinh tế, sự suy thoái Môi trường trong tương lai và làm giảm sự đói nghèo
- Phát triển bền vững bao gồm sự thay đổi Công nghệ hiện đại, Công nghệ sạch, Công nghệ có hiệu quả hơn nhằm tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hoặc từ sản phẩm kinh tế –xã hội
Muốn vậy, phải giải quyết các mâu thuẫn như sản xuất – nhu cầu – tài nguyên thiên nhiên và phân phối, vốn đầu tư, cũng như Công nghệ tiên tiến cho sản xuất
- Các nước trên thế giới đều có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; điều kiện kinh tế –xã hội khác nhau, đưa đến hiện tượng có nước giàu và nước nghèo, nước công nghiệp phát triển và nước nông nghiệp Do đó cần xem xét bốn vấn đề: con người, kinh tế, môi trường và công nghệ, qua đó phân tích phát triển bền vững và có đạt được mục tiêu phát triển bền vững
- Về kinh tế, phát triển bền vững bao hàm việc cải thiện giáo dục, chăm lo sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ em, chăm lo sức khoẻ cho cộng đồng, tạo ra sự công bằng về quyền sử dụng ruộng đất, đồng thời xóa dần sự cách biệt về thu nhập cho mọi thành viên trong cộng đồng xã hội
Trang 9- Về con người, để đảm bảo phát triển bền vững cần thiết nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cho người dân, nhờ vậy người dân sẽ tích cực tham gia bảo vệ môi trường cho sự phát triển bền vững Muốn vậy phải đào tạo một đội ngũ các nhà giáo đủ về số lượng, cũng như các thầy thuốc, các kỹ thuật viên, các chuyên gia, các nhà khoa học trong mọi lĩnh vực của đời sống
- Về môi trường, phát triển bền vững đòi hỏi phải sử dụng tài nguyên như đất trồng, nguồn nước, khoáng sản… Đồng thời, phải chọn lựa kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao sản lượng, cũng như mở rộng sản xuất đáp ứng nhu cầu của dân số tăng nhanh
Phát triển bền vững đòi hỏi không làm thoái hoá các ao hồ, sông ngòi, uy hiếp đời sống sinh vật hoang dã, không lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, không gây nhiễm độc nguồn nước và lương thực
-Về Công nghệ, phát triển bền vững là giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất, áp dụng có hiệu quả các loại hình công nghệ sạch trong sản xuất Trong sản xuất công nghiệp cần đạt mục tiêu ít chất thải hoặc chất gây ô nhiễm môi trường, tái sử dụng các chất thải, ngăn ngừa các chất khí thải công nghiệp làm suy giảm tầng ozon bảo vệ trái đất
- Phát triển bền vững và các mục tiêu phát triển kinh tế –xã hội –văn hoá –môi trường
Sơ đồ “Ven” cho thấy phát triển bền vững là trung tâm, là sự hài hoà của các giá trị kinh tế –xã hội –môi trường… trong quá trình phát triển thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng
Mỗi mục tiêu phát triển có vị trí riêng của nó, songnó được gắn với mục tiêu khác
Sự hoà nhập hài hoà hữu cơ này tạo nên sự phát triển tối ưu cho cả nhu cầu hiện tại và tương lai vì xã hội loài người
1.5.2 Những nguyên tắc của phát triển bền vững
Sự bền vững trong cuộc sống của một dân tộc phụ thuộc rất lớn vào sự hoà hợp của dân tộc đó với các dân tộc khác và với thiên nhiên Con người chỉ khai thác được những gì thiên nhiên mang lại nghĩa là con người chỉ phát triển trong giới hạn thiên nhiên cho phép Con người không loại bỏ những phúc lợi do cách mạng kỹ thuật mang lại nhưng cũng phải là những kỹ thuật tuân theo những nguyên tắc nói trên Cuộc sống bền vững phải dựa trên những nguyên tắc nhất định, những nguyên tắc đó liên kết cộng đồng con người lại tạo nên một xã hội phát triển bền vững Những nguyên tắc đưa xã hội hướng tới sự phát triển bền vững liên hệ khăng khít với nhau, chúng hướng dẫn hành vi con người chứ không phải là mệnh lệnh, nó hướng tới tương lai chứ không quay lại quá khứ, nó liên kết các dân tộc với nhau để
có hành động chung còn mức độ vận dụng lại tuỳ thuộc vào từng dân tộc Những nguyên tắc đó là:
Nguyên tắc 1: Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống của cộng đồng
Nguyên tắc 2: Cải thiện chất lượng cuộc sống con người
Nguyên tắc 3: Bảo vệ sự sống và tính đa dạng của trái đất
Nguyên tắc 4: Bảo đảm chắc chắn việc sử dụng các nguồn tài nguyên
Trang 10Nguyên tắc 5: Giữ vững trong khả năng chịu đựng của Trái đất
Nguyên tắc 6: Thay đổi thái độ và thói quen sống của mọi người
Nguyên tắc 7: Cho phép các cộng đồng tự quản lý lây môi trường của mình
Nguyên tắc 8: Tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất cho việc phát triển và bảo vệ Nguyên tắc 9: Kiến tạo một cơ cấu liên minh toàn cầu
Trang 11Chương 2 CÁC THÀNH PHẦN CƠ BẢN CỦA MÔI TRƯỜNG
Khí thải và các hoạt động của núi lửa tạo ra các yếu tố sơ khai của bầu khí quyển Quá trình ngưng tụ hơi nước gia tăng bởi băng và nước ở dạng lỏng được cung cấp bởi các thiên thạch và các tiền hành tinh lớn hơn, các sao chổi, và các vật thể ở xa hơn sao Hải Vương tạo ra các đại dương Hai giả thuyết chính về sự phát triển của các lục địa được đề xuất là: phát triển từ từ cho đến ngày nay hoặc nhanh chóng phát triển trong quá khứ Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng phương án thứ hai khả quan hơn, với tốc độ phát triển ban đầu nhanh của các lớp vỏ lục địa theo sau bởi một quá trình phát triển diện tích lục địa chậm và dài Trong niên đại địa chất, khoảng thời gian hàng trăm triệu năm, bề mặt Trái Đất liên tục thay đổi hình dạng của chính nó dưới dạng các lục địa hình thành và phân rã Các lục địa di chuyển trên bề mặt, đôi khi kết hợp với nhau
để tạo thành một siêu lục địa Khoảng 750 triệu năm trước, một trong những siêu lục địa được biết sớm nhất là Rodinia, đã bắt đầu chia tách Các lục địa sau đó lại kết hợp với nhau để tạo ra Pannotia, 600-540 triệu năm trước, cuối cùng là Pangaea chia tách vào khoảng 180 triệu năm trước
2.1.2 Cấu trúc trái đất
Nghiên cứu sự thay đổi của sóng địa chấn lan truyền trong lòng Trái Đất, người ta
đã biết được Trái Đất có cấu trúc gồm nhiều lớp
Lớp vỏ Trái Đất
Vỏ Trái Đất cấu tạo chủ yếu bằng những vật chất cứng rắn, độ dày dao động từ 5
km (ở đại dương) đến 70 km (ở lục địa) Vỏ Trái Đất chỉ chiếm khoảng 15% về thể tích và khoảng 1% về trọng lượng của Trái Đất nhưng có vai trò rất quan trọng đối với thiên nhiên và đời sống con người
Căn cứ vào sự khác nhau về thành phần cấu tạo, độ dày… vỏ Trái Đất lại chia
thành hai kiểu chính: vỏ lục địa và vỏ đại dương
Vỏ Trái Đất được cấu tạo bởi các tầng đá khác nhau.Trên cùng là tầng đá trầm tích
do các vật liệu vụn, nhỏ bị nén chặt tạo thành Tầng này không liên tục và có nơi mỏng nơi dày Tầng granit gồm các loại đá nhẹ tạo nên như đá granit và các loại đá có tính chất tương tự như đá granit… được hình thành do vật chất nóng chảy ở dưới sâu của
vỏ Trái Đất đông đặc lại Lớp vỏ lục địa được cấu tạo chủ yếu bằng granit Tầng badan gồm các loại đá nặng hơn như đá badan và các loại đá có tính chất tương tự như đá
Trang 12badan… được hình thành do vật chất nóng chảy phun trào lên mặt đất rồi đông đặc lại Lớp vỏ đại dương cấu tạo chủ yếu bằng badan
Bề mặt của hành tinh liên tục tự thay đổi theo thời gian dưới tác dụng của các quá trình kiến tạo và xói mòn Các hình thái của bề mặt được tạo nên và biến dạng bởi các mảng kiến tạo liên tục bị phong hóa bởi giáng thủy, các chu trình nhiệt và các tác nhân hóa học Sự đóng băng, sự xói mòn bờ biển, sự hình thành của các dải san hô ngầm, và
sự va chạm với các mảnh thiên thạch lớn cũng làm thay đổi địa hình
Lớp vỏ lục địa bao gồm các vật chất có độ đặc thấp hơn như đá macma granit và andesit Ít phổ biến hơn là bazan, một loại đá núi lửa đặc là thành phần chính của đáy biển Đá trầm tích được tạo ra do sự tăng số lượng trầm tích và chúng trở nên gắn kết với nhau Đá trầm tích bao phủ gần 75% bề mặt lục địa, mặc dù chúng chỉ chiếm khoảng 5% lớp vỏ Loại đá thứ ba được tìm thấy trên Trái Đất là đá biến chất, được tạo ra do sự biến đổi của các loại đá trước đó dưới tác dụng của áp suất cao, nhiệt độ cao, hoặc cả hai Các khoáng vật silicat ở bề mặt Trái Đất bao gồm thạch anh, fenspat, amphibol, mica, pyroxen, olivin Các khoáng vật cacbonat bao gồm canxit (tìm thấy trong đá vôi), aragonit và dolomit
Thổ quyển là lớp ngoài cùng nhất của Trái Đất, được cấu tạo bởi đất và chịu tác động của các quá trình hình thành đất Nó tồn tại cùng thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển Theo số liệu năm 2009, tổng diện tích đất trồng trọt được chiếm 10.57% tổng diện tích đất bề mặt, với chỉ 1.04% sử dụng được cho việc trồng trọt lâu dài Gần 40% diện tích đất bề mặt đang được sử dụng để trồng trọt hoặc làm đồng cỏ chăn nuôi, ước tính 1.3 ×107km² dùng làm đất trồng và 3,4 ×107km² dùng làm đồng cỏ
Độ cao so với mực nước biển của mặt đất thay đổi từ -418m ở biển Chết tới 8.848m trên đỉnh Everest và độ cao trung bình trên mặt nước biển là 840m
Lớp Manti
Dưới vỏ Trái Đất cho tới độ sâu 2.900 km là lớp Manti (còn được gọi là bao Manti) Lớp này gồm hai tầng chính Càng vào sâu, nhiệt độ và áp suất càng lớn nên trạng thái vật chất của bao Manti có sự thay đổi, quánh dẻo ở tầng trên và rắn ở tầng dưới
Vỏ Trái Đất và phần trên cùng của lớp Manti (đến độ sâu khoảng 100km) vật chất
ở trạng thái cứng, người ta thường gộp vào và gọi chung là thạch quyển Thạch quyển
di chuyển trên một lớp mềm, quánh dẻo - quyển mềm của bao Manti, như các mảng nổi trên mặt nước
Quyển mềm của bao Manti có ý nghĩa lớn đối với vỏ Trái Đất Đây là nơi tích
tụ và tiêu hao nguồn năng lượng bên trong, sinh ra các hoạt động kiến tạo làm thay đổi cấu trúc bề mặt Trái Đất như hình thành những dạng địa hình khác nhau, các hiện tượng động đất, núi lửa…
Trang 13km là nhân trong, áp suất từ 3 triệu đến 3,5 triệu atm, vật chất ở trạng thái rắn Thành phần vật chất chủ yếu của nhân Trái Đất là những kim loại nặng như niken (Ni), sắt (Fe) nên nhân Trái Đất còn được gọi là nhân Nife
Hình 2.1: Cấu tạo trái đất
là khoáng vật phổ biến nhất trong các loại đá mácma và đá biến chất Từ tính toán dựa trên 1.672 phân tích các loại đá, Clarke đưa ra thành phần phần trăm trung bình theo khối lượng như sau:
Bảng 2.1: Thành phần các nguyên tố trong vỏ trái đất
Oxy (O2) Silic (SiO2) Nhôm (Al) Sắt (Fe) Calci (Ca) Natri (Na) Kali (K) Magne (Mg) Titan (Ti) Hydrogen (H2) Các nguyên tố khác
Trang 142.2 Thuỷ quyển
Toàn bộ lớp nước bao quanh Trái Đất, nằm giữa khí quyển và vỏ Trái Đất, gồm nước lỏng của các đại dương, biển, sông, hồ, đầm lầy và nước ngầm (nước dưới đất), lớp tuyết phủ hay nước đóng băng Sự tuần hoàn của nước làm thay đổi địa hình của Trái Đất, chi phối điều kiện khí hậu và quyết định môi trường sống trên Trái Đất
2.2.1 Sự hình thành đại dương
Hình 2.2: Cấu trúc các Đại dương theo tuổi
Khi lớp khí nóng dày đặc bao phủ trái đất nguội đi và chuyển thành những đám mây Những đám mây này tạo ra mưa rơi xuống trái đất trong một thời gian dài Nước mưa tích tụ trong những phần thấp của trái đất tạo thành các đại dương Sau đó, có những thay đổi dữ dội bởi vì bề mặt của trái đất có chỗ được nâng cao lên có chỗ bị lún xuống Điều này tạo ra các núi lửa Dần dần trái đất trở nên lắng dịu từ từ, các đại dương, núi đồi đã được định hình
Đại dương là nơi chứa một lượng nước lớn trên trái đất Đại dương có diện tích
361 triệu km² chiếm 75% bề mặt Trái Đất Ban đầu chỉ có một đại dương duy nhất mà thôi vì ban đầu phần đất liền của Trái Đất cũng là một khối thống nhất Nhưng sau khi các mảng lục địa được tách ra như bây giờ (thuyết lục địa trôi) thì các đại dương do vậy mà cũng được chia ra thành 5 phần nhỏ hơn là: Thái Bình Dương, Đại Tây Dương,
Ấn Độ Dương, phần phía Nam cực và phần thứ năm nằm ở phía cực Bắc (Antarctic and Arctic Oceans).Tuy nhiên hai phần Nam và Bắc cực đều được gọi chung là Bắc Băng Dương và do vậy chúng ta đều biết đến tên của bốn đại dương đó là:Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương, Bắc Băng Dương
2.2.2 Phân bố tài nguyên nước
Tổng lượng nước trên Trái Đất khoảng 1.370 triệu km3 Trong đó, 97% lượng nước toàn cầu ở các đại dương, 3% còn lại là nước ngọt tồn tại ở dạng băng tuyết, nước ngầm, sông ngòi và hơi nước trong không khí Hệ thống nước khí quyển, nguồn động lực của thuỷ văn nước mặt chỉ khoảng 12.900 km3, chưa đầy 1/100.000 tổng lượng nước toàn cầu Tổng số nước ngọt toàn Trái Đất khoảng 35x106 km3 chỉ chiếm
có 3% tổng lượng nước Trái Đất Trong đó nước ngầm chiếm 30,1%, băng tuyết vĩnh cửu chiếm 68,7%, nước sinh vật 0,003%, nước trong khí quyển 0,04%, nước trong ao
Trang 15hồ, đầm lầy và trong lòng sông chỉ chiếm chưa đầy 0,3%, (ao hồ 0,26%, đầm lầy
0.03% và trong sông 0,006%)
Nước mặt
TOP
Sự bốc hơi nước trong đất, ao, hồ, sông, biển; sự thoát hơi nước ở thực vật và
động vật , hơi nước vào trong không khí sau đó bị ngưng tụ lại trở về thể lỏng rơi
xuống mặt đất hình thành mưa, nước mưa chảy tràn trên mặt đất từ nơi cao đến nơi
thấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, suối, sông và được tích tụ lại ở
những nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc được đưa thẳng ra biển hình thành nên
lớp nước trên bề mặt của vỏ trái đất
Trong quá trình chảy tràn, nước hòa tan các muối khoáng trong các nham thạch
nơi nó chảy qua, một số vật liệu nhẹ không hòa tan được cuốn theo dòng chảy và bồi
lắng ở nơi khác thấp hơn, sự tích tụ muối khoáng trong nước biển sau một thời gian
dài của quá trình lịch sử của quả đất dần dần làm cho nước biển càng trở nên mặn
Có hai loại nước mặt là nước ngọt hiện diện trong sông, ao, hồ trên các lục địa và
nước mặn hiện diện trong biển, các đại dương mênh mông, trong các hồ nước mặn trên
các lục địa
Ðó là loại nước tích tụ trong các lớp đất đá dưới sâu trong lòng đất, nước tích tụ
làm đất ẩm ướt và lấp đầy những tế khổng trong đất Phần lớn nước trong các tế khổng
của lớp đất mặt bị bốc hơi, được cây hấp thụ và phần còn lại dưới ảnh hưởng của trọng
lực, trực di xuống tới các lớp nham thạch nằm sâu bên dưới làm bảo hòa hoàn toàn các
lổ trống bên trong cho các lớp đá này ngậm nước tạo nên nước ngầm Quá trình hình
thành nước ngầm diễn ra rất chậm từ vài chục đến hàng trăm năm
Có hai loại nước ngầm: nước ngầm không có áp lực và nước ngầm có áp lực
Nước ngầm không có áp lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm
nước và lớp đá này nằm bên trên lớp đá không thấm như lớp diệp thạch hoặc lớp sét
nén chặt
Nước ngầm có áp lực: là dạng nước được giữ lại trong các lớp đá ngậm nước và
lớp đá này bị kẹp giữa hai lớp sét hoặc diệp thạch không thấm Do bị kẹp chặt giữa hai
lớp đá không thấm nên nước có một áp lực rất lớn vì thế khi khai thác người ta dùng
Hình 2.3: Phân bố nước trên Trái đất
Trang 16khoan xuyên qua lớp đá không thấm bên trên và chạm vào lớp nước này nó sẽ tự phun lên mà không cần phải bơm Loại nước ngầm này thường ở sâu dưới mặt đất, có trữ lượng lớn và thời gian hình thành nó phải mất hàng trăm năm thậm chí hàng nghìn năm
2.3 Khí quyển
Khí quyển là lớp vỏ ngoài của trái đất với ranh giới dưới là bề mặt thuỷ quyển, thạch quyển và ranh giới trên là khoảng không giữa các hành tinh Khí quyển trái đất được hình thành do sự thoát hơi nước, các chất khí từ thuỷ quyển và thạch quyển Thời kỳ đầu, khí quyển chủ yếu gồm hơi nước, amoniac, metan, các loại khí trơ và hydro Dưới tác dụng phân huỷ của tia sáng mặt trời hơi nước bị phân huỷ thành oxy
và hydro Oxy tạo ra tác động với amoniac và metan tạo ra khí nitơ và cácboníc Quá trình tiếp diễn, một lượng hidro nhẹ mất vào khoảng không vũ trụ, khí quyển còn lại chủ yếu là hơi nước, nitơ, cácboníc, một ít oxy Thực vật xuất hiện trên trái đất cùng với quá trình quang hợp đã tạo nên một lượng lớn oxy và làm giảm đáng kể nồng độ
CO2 trong khí quyển Sự phát triển mạnh mẽ của động thực vật trên trái đất cùng với
sự gia tăng bài tiết, phân huỷ xác chết động thực vật, phân huỷ yếm khí của vi sinh vật
đã làm cho nồng độ khí N2 trong khí quyển tăng lên nhanh chóng, để đạt tới thành phần khí quyển hiện nay
Khối lượng khí quyển trái đất bằng 5,26.1018 kg Trong khi đó khối lượng của địa quyển là 5,96.1024 kg Như vậy khối lượng khí quyển chỉ bằng 1/1.000.000 khối lượng của địa quyển Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy: Gần 50% khối lượng khí quyển phân bố từ mặt đất đến độ cao 5km, 75% ở độ cao 10km và 95% ở độ cao từ mặt đất đến 20km Lớp khí quyển trên 80km chỉ chứa 0,5% khối lượng của nó Cho đến nay việc xác định độ cao của khí quyển còn gặp nhiều khó khăn vì càng lên cao không khí càng thưa loãng Người ta còn quan sát thấy hiện tượng cực quang ở độ cao 1.100 km Ðiều đó cho ta thấy ở độ cao đó vẫn còn không khí Những chất khí ở độ cao 1000 km trở lên hết sức loăng Các chất khí có tốc độ chuyển động lớn vì gần như thoát khỏi trường trọng lực của trái đất và tỏa vào không gian vũ trụ
2.3.1 Cấu trúc theo chiều thẳng đứng của khí quyển
Hình 2.4: Cấu trúc khí quyển
Trang 17Dựa trên những đặc tính vật lý và tính chất hoạt động, khí quyển trái đất được chia thành 5 tầng mỗi tầng có những đặc trưng vật lý khác nhau
Tầng đối lưu (Troposphere)
Là tầng không khí gần mặt đất nhất, độ cao trung bình của nó vào khoảng 11 km:
ở hai cực trái đất chỉ cao từ 8 - 10 km, còn ở vùng xích đạo là 13-15 km Ðộ cao của tầng khí quyển này do độ cao của các dòng đối lưu quyết định, bởi vậy nó thay đổi theo mùa trong năm và thay đổi theo vĩ độ địa lý, do tính chất nhiệt lực quyết định Tầng đối lưu là tầng khí quyền hoạt động nhất Các hiện tượng thời tiết, mưa, nắng, mây, dông bão đều xảy ra ở tầng khí quyển này Tầng đối lưu cũng là môi trường sống của tất cả các sinh vật trên trái đất
Ðặc điểm quan trọng của tầng đối lưu là nhiệt độ giảm dần theo độ cao Trung bình cứ lên cao 100m nhiệt độ giảm xuống 0,640C
Ở tầng này thường xảy ra hiện tượng các dòng không khí đi lên hoặc đi xuống (do các trung tâm khí áp cao, khí áp thấp , do gặp các chướng ngại vật trên mặt đất, do sự tranh chấp giữa các khối không khí ) Hiện tượng thăng giáng của các khối không khí
đã làm thay đổi chế độ nhiệt, ẩm của không khí
Hiện tượng thăng, giáng của các khối không khí trong tầng đối lưu thường diễn ra hàng ngày, với cường độ mạnh hay yếu tùy theo chế độ nhiệt của mặt đất và là nguyên nhân làm hơi nước ngưng kết, tạo thành mây, mưa Hiện tượng đi xuống của các khối không khí (ở các trung tâm áp cao, trên các sườn núi xuống ) làm cho không khí nóng lên, độ ẩm xa dần trạng thái bão hòa Hiện tượng thăng, giáng của các khối không khí
là một hiện tượng đặc trưng quan trọng của tầng đối lưu
Tầng đối lưu chiếm 80% khối lượng khí quyển và 90% hơi nước, thành phần khí quyển ở tầng này luôn luôn diễn ra sự trao đổi giữa mặt đất, mặt đại dương và khí quyển
Tầng bình lưu (Stratosphere)
Tầng bình lưu là tầng tiếp giáp với tầng đối lưu, lên cao tới 50km Ðặc điểm của tầng bình lưu là không khí ít bị xáo trộn theo chiều thẳng đứng Có thể tách tầng này thành hai lớp:
- Lớp đẳng nhiệt: nằm sát tầng đối lưu lên cao tới 25km, nhiệt độ ít thay đổi, trung bình vào khoảng -550C Lớp khí quyển này thường chuyển động theo chiều nằm ngang
từ đông sang tây Kích thước các khối không khí này có thể tới hàng nghìn cây số
- Lớp nghịch nhiệt: ở độ cao từ 25 đến trên 50km Ở tầng này nhiệt độ tăng dần theo độ cao, nhiệt độ trung bình vào khoảng 00C, tối đa có thể tới trên +20C
Sư tăng dần nhiệt độ của lớp khí quyển này có thể là do sự có mặt của tầng ôzôn, chất hấp thu mạnh các tia sóng ngắn của bức xạ mặt trời
- Phía trên tầng nghịch nhiệt là đỉnh tầng bình lưu (Stratopause), nhiệt độ khá ổn định, khoảng -20C ở độ cao 50km
- Tầng Ôzôn đạt nồng độ cực đại từ độ cao 19 – 23km
Tầng Ôzôn - lá chắn bảo vệ
Tác dụng của bức xạ Mặt trời đã duy trì sự sống trên hành tinh của chúng ta Tác dụng đó phụ thuộc vào độ dài ban ngày, độ cao Mặt trời, mây, độ ẩm và độ nhiễm bẩn
Trang 18của không khí Bức xạ Mặt trời chiếu xuống Trái đất dưới dạng sóng điện từ với phổ bước sóng rất rộng Bức xạ Mặt trời chiếu tới giới hạn ngoài của khí quyển Trái đất (độ cao cách mặt đất khoảng 3000km) gồm các tia gamma, tia rơn ghen, tia tử ngoại, tia nhìn thấy, tia hồng ngoại và các bước sóng dài (sóng radio, TV) Các tia nhìn thấy
có bước sóng từ 0,36µm (ánh sáng tím) đến 0,76µm (ánh sáng đỏ) Khí quyển Trái đất
có tác dụng khuếch tán, hấp thụ và lọc một bộ phận lớn các tia bức xạ Mặt trời Vì vậy, người ta gọi khí quyển là màn chắn các tia bức xạ, nó chỉ dành lại 2 cửa sổ cho một phần bức xạ Mặt trời chiếu xuống mặt đất, đó là “cửa sổ” dành cho các tia nhìn thấy, một số tia tử ngoại đi qua và một "cửa sổ" dành cho các bước sóng dài chiếu xuống Trái đất
Trong khí quyển Trái đất, tới độ cao khoảng 80km là tầng điện ly (tầng ion hoá) Tầng điện ly có tác dụng hấp thụ sóng cực ngắn (bước sóng nhỏ hơn 0,099µm) Các tia tử ngoại có bước sóng ngắn, dao động từ 0,20 - 0,39µm Các tia có bước sóng từ 0,20 - 0,28µm gọi là UV-C, từ 0,28-0,32µm gọi là UV- B Các tia còn lại có bước sóng dài hơn từ 0,32 - 0,39µ gọi là UV - A Trong số các tia này thì UV- B có tác dụng tích cực nhất đối với động, thực vật và con người UV - C bị hấp thụ bởi thành phần
O3 của khí quyển và UV - A xuyên qua tầng ôzôn, nhưng lại bị phản xạ bởi oxi và nitơ trở lại vũ trụ Như vậy, trên thực tế tồn tại một cơ chế tự nhiên bảo vệ sinh quyển chống lại tác động nguy hiểm của các tia tử ngoại Sở dĩ các tia tử ngoại có bước sóng dưới 0,28 µ không xuyên qua tầng bình lưu được vì có tầng ôzôn Khí ôzôn tự nhiên được hình thành là do các tia tử ngoại chiếu vào các phân tử oxi (O2), phân tách chúng thành các nguyên tử (O), các nguyên tử oxi lại tiếp tục kết hợp với các phân tử oxi khác để hình thành ôzôn (O3) Phản ứng diễn ra theo các bước:
O2 + Bức xạ tử ngoại = O + O
O + O2 = O3
Ôzôn có thể hấp thụ năng lượng bức xạ tử ngoại và lại phân huỷ theo phản ứng:
O3 + Bức xạ tử ngoại = O2 + O Như vậy, trong thiên nhiên, khí ôzôn luôn luôn phân huỷ và tái tạo, giữ được sự tồn tại ổn định cho lớp ôzôn Khí ôzôn hấp thu tia tử ngoại nên có tác dụng che chắn cho bề mặt trái đất Vì thế, lớp ôzôn trong khí quyển được gọi là chiếc "ô bảo vệ" hay
"lá chắn" cho sinh vật trên Trái đất Ở giới hạn ngoài khí quyển, bức xạ tử ngoại chiếm 7% tổng năng lượng bức xạ mặt trời, khi qua tầng khí quyển bị ôzôn giữ lại, chỉ còn l% chiếu tới mặt đất Ở mặt đất hàm lượng bức xạ sóng ngắn không những không gây độc hại cho cơ thể sống mà còn có tác dụng kích thích, thúc đẩy các quá trình trao đổi chất, làm tăng cường sinh trưởng, phát triển để cho năng suất cao
Tầng trung lưu (Mesosphere)
Tầng trung gian nằm trên tầng bình lưu cho đến độ cao 80 - 90 km Tầng này nhiệt
độ giảm dần theo độ cao và đạt đến giá trị -920C
Tầng nhiệt lưu (Thermosphere)
Còn gọi là tầng nhiệt quyển là tầng không khí có độ cao từ 80 - 500km Ở tầng này không khí rất thưa loãng Dưới tác dụng của các tia bức xạ, các chất khí đều bị phân ly và bị ion hoá mạnh Khí quyển ở đây có độ dẫn điện cao
Trang 19Ðộ dẫn điện cao ở tầng điện ly là nguyên nhân làm phản hồi các sóng vô tuyến phát đi từ mặt đất, nhờ vậy mà mọi thiết bị vô tuyến điện ở mặt đất, ở các vệ tinh nhân tạo mới có thể hoạt động bình thường được
Tầng ion có thể nhận thấy hai cực đại ion hóa ở độ cao 100 km và 180 - 200km Ðặc điểm quan trọng của tầng khí quyển này là nhiệt độ không khí cao và tăng nhanh theo độ cao Ở độ cao 200km có nhiệt độ 6000C, còn ở giới hạn trên là 1700oC
Tầng khuyếch tán (Exosphere)
Giới hạn trên của tầng này vào khoảng 2000 đến 3000 km, là tầng chuyển tiếp giữa khí quyển và không gian vũ trụ (Outer space), không khí tầng này rất thưa loãng thành phần chủ yếu là Hydrô và Hêli
2.3.2 Thành phần không khí của lớp khí quyển gần mặt đất
Sự trao đổi liên tục giữa khí quyển, địa quyển, thủy quyển và sinh quyển đã tạo nên những cân bằng động duy trì sự có mặt và tồn tại của các chất khí trong khí quyển Trong một đơn vị thể tích của không khí khô và sạch có chứa 78,08% nitơ (N2), 20,95% ôxy (O2), 0,93% acgon (Ar), 0,03% cacbonic Các chất khí nêon, hê li, cripton, hyđrô, xênon và ôzôn chỉ chiếm 0,01% (Bảng 2.2) Trong khí quyển còn có một số chất có thành phần biến động như hơi nước, bụi khói, các chất khí độc hại, các ion và các chất hữu cơ do thực vật thải ra
Bảng 2.2: Thành phần không khí khô, không bị ô nhiễm
STT Tên chất Công thức Tỉ l ệ Tổng khối lượng (tấn)
Các dạng sự sống trên hành tinh đôi khi được nói đến như là "sinh quyển" Người
ta nói chung cho rằng sinh quyển Trái Đất bắt đầu tiến hóa cách đây khoảng 3,5 tỷ năm Trái Đất là nơi duy nhất đã biết có sự sống tồn tại Các nhà khoa học cho rằng một sinh quyển như ở Trái Đất là rất hiếm
Sinh quyển được phân chia thành một số quần xã sinh vật, bao gồm các hệ thực vật và hệ động vật tương đối giống nhau sinh sống Các quần xã sinh vật được phân
Trang 20chia chủ yếu theo vĩ độ và theo độ cao trên mực nước biển Các quần xã sinh vật nằm trong phạm vi vòng Bắc cực và vòng Nam cực là tương đối hiếm về thực vật và động vật, trong khi phần lớn các quần xã sinh vật phong phú về chủng loại nhất nằm gần đường xích đạo
Hình 2.5: Phân bố sinh quyển trên Trái Đất
Sinh quyển của Trái Đất tạo ra các thay đổi khá lớn đối với bầu khí quyển và, ngược lại, cũng nhờ có bầu khí quyển mà có những bước phát triển đáng kể Sự quang hợp sinh ôxy tiến triển từ 2,7 tỷ năm trước đã tạo ra bầu không khí chứa nitơ-ôxy tồn tại như ngày nay Sự thay đổi này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phổ biến của các vi sinh vật hiếu khí, cũng như việc tầng ôzôn - cùng với từ trường của Trái Đất- đã ngăn chặn các tia phóng xạ, cho phép sự sống tồn tại trên Trái Đất Các chức năng khác của khí quyển đối với sự sống bao gồm vận chuyển, cung cấp các loại khí hữu dụng, đốt cháy các thiên thạch nhỏ trước khi chúng va chạm với mặt đất và điều hòa nhiệt độ Hiện tượng cuối cùng được biết dưới cái tên hiệu ứng nhà kính: các phân tử khí thu nhiệt năng tỏa ra từ mặt đất, làm tăng nhiệt độ trung bình Điôxít cacbon, hơi nước, mêtan và ôzôn là các khí nhà kính đầu tiên trong bầu khí quyển của Trái Đất Nếu không có hiệu ứng duy trì nhiệt này, nhiệt độ trung bình bề mặt sẽ là -17°C và sự sống
sẽ không có khả năng tồn tại
Trái Đất là nơi sinh sống của hơn 6.740.000.000 người tính đến tháng 11 năm
2008, và các dự án nghiên cứu chỉ ra rằng dân số thế giới sẽ đạt tới 7 tỷ vào năm 2013
và 9,2 tỷ vào năm 2050 Phần lớn sự gia tăng này diễn ra ở các nước đang phát triển Mật độ dân số rất đa dạng ở khắp nơi trên thế giới, nhưng phần lớn sống ở Châu Á Sinh quyển Trái Đất tạo ra các sản phẩm sinh học có ích cho con người bao gồm thức ăn, gỗ, dược phẩm, khí ôxy và tái chế nhiều chất thải hữu cơ Hệ sinh thái lục địa phụ thuộc vào tầng đất mặt và nước sạch còn hệ sinh thái đại dương dựa vào các chất dinh dưỡng hòa tan trong nước được rửa trôi từ đất liền ra Con người cũng sống trên đất bằng cách sử dụng các vật liệu xây dựng để kiến thiết nhà cửa
Trang 212.5 Mối quan hệ giữa con người và các thành phần môi trường
Trái đất, bằng lực hút của mình đã tập trung xung quanh nó một lớp các chất khí được gọi là khí quyển Lớp khí quyển gần mặt đất có vai trò hết sức lớn lao đối với sự sống trên trái đất, là môi trường quan trọng của nền sản xuất nông nghiệp
Trong khí quyển liên tục xẩy ra các quá trình và hiện tượng vật lý: sự tuần hoàn nước, các hiện tượng quang học, điện học Tập hợp các hiện tượng và quá trình vật lý
đó chính là chế độ thời tiết của một vùng Ở một chừng mực nào đó sự biến đối của thời tiết đã tạo nên những điều kiện cần thiết cho sự sống nói chung và cho ngành sản xuất nông nghiệp nói riêng Sự biến động thái quá của nó có thế dẫn đến những thiên tai đe dọa cuộc sống và các hoạt động sản xuất của con người
Giữa khí quyển, sinh quyển, thủy quyển và địa quyển luôn luôn trao đổi tương tác lẫn nhau trong suốt quá trình lịch sử hình thành trái đất đă tạo nên những cân bằng động Những cân bằng này có tác dụng duy trì, tái tạo các pha của cân bằng tư nhiên Nếu một điều kiện nào đó trong cân bằng bị phá vỡ sẽ gây ra những tổn thất không lường trước được Sự hoạt động thiếu ý thức bảo vệ thiên nhiên của con người ngày càng xâm phạm cân bằng sinh thái, làm cho nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt Cuộc sống của con người cũng chịu những tác động xấu từ các dạng thời tiết chu
kì như bão, áp thấp nhiệt đới hay các biến động bất thường như động đất, lở đất, sóng thần, phun trào núi lửa, lốc xoáy, sụt đất, bão tuyết, lũ lụt, hạn hán và các thảm họa thiên tai khác
Con người cũng là thủ phạm của nhiều xáo trộn tiêu cực cho Trái Đất, nhiều trong
số đó ảnh hưởng lại chính con người: sự ô nhiễm không khí và nguồn nước, mưa axít
và các chất độc hại khác, sự biến mất của thảm thực vật (chăn thả quá mức, nạn chặt phá rừng, sa mạc hóa) và của động vật hoang dã (tuyệt chủng loài), hiện tượng bạc màu đất, sự mất đất, sự xói mòn và sự xuất hiện của các sinh vật xâm hại
Người ta đồng ý rằng có một mối liên hệ giữa các hoạt động của con người với hiện tượng nóng lên toàn cầu do sự phát thải khí điôxít cacbon trong các hoạt động công nghiệp Hiện tượng này làm tan băng, gia tăng các dải nhiệt độ khắc nghiệt, biến đổi khí hậu lớn và dâng cao mực nước biển
Việc bảo vệ cân bằng sinh thái là vấn đề quyết định sự tồn vong của loài người Mọi người cần có ý thức bảo vệ nó
Trang 22Chương 3
CƠ SỞ SINH THÁI HỌC
3.1 Nhân tố sinh thái
3.1.1 Khái niệm
Trong môi trường, sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật luôn chịu tác động của rất nhiều yếu tố sinh thái (gồm các yếu tố trực tiếp cũng như gián tiếp) Các yếu tố này rất đa dạng, chúng có thể là tác nhân có lợi cũng như có hại đối với các sinh vật
sinh vật Ví dụ: ánh sáng, CO2, nước, khoáng chất, đất, địa hình
3.1.2 Phân loại
Dựa vào nguồn gốc và đặc trưng tác động của các yếu tố sinh thái, người ta chia ra nhóm các yếu tố vô sinh, yếu tố hữu sinh và con người
Yếu tố vô sinh
Là thành phần không sống của tự nhiên, gồm các chất vô cơ tham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất như CO2, N2, O2, C, H2O, các chất hữu cơ riêng biệt (như protein, lipid, glucid, mùn) và các yếu tố vật lý như các yếu tố khí hậu (ánh sáng, nhiệt
độ, nước, không khí-gió-áp suất), đất (thành phần khoáng vật, thành phần cơ giới đất, các tính chất lý hóa học của đất), địa hình (độ cao, trũng, dốc, hướng phơi của địa hình)
Sự phân loại các nhóm sinh thái như trên, chủ yếu cho các sinh vật trên cạn Đối với các sinh vật dưới nước cũng chịu tác động tổng hợp của nhiều yếu tố do tính chất của môi trường nước quyết định
Yếu tố hữu sinh
Gồm các cá thể sống như: thực vật, động vật, nấm, vi sinh vật… Mỗi sinh vật thường chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp của các cơ chế khác nhau trong mối liên hệ cùng loài hay khác loài ở môi trường xung quanh Các yếu tố này là thế giới hữu cơ, một thành phần rất quan trọng của môi trường
cộng sinh, kỵ khí), ảnh hưởng gián tiếp làm thay đổi môi trường sống qua các sinh vật khác (qua động vật và vi sinh vật), qua môi trường vô sinh (cạnh tranh, cảm nhiễm qua lại)
gián tiếp qua môi trường sống
Yếu tố sinh thái giới hạn là yếu tố mà khi tác động đến sinh vật được giới hạn từ điểm cực hại thấp đến điểm cực hại cao qua điểm cực thuận Dưới điểm cực hại thấp
và trên điểm cực hại cao, sinh vật không tồn tại được Nhiệt độ, nồng độ muối, pH, chất độc… được coi là những yếu tố giới hạn đối với sinh vật Nếu các sinh vật có phạm vi chống chịu rộng đối với yếu tố sinh thái nào đó mà nó có hàm lượng vừa phải
và ổn định trong môi trường, thì yếu tố này không phải là yếu tố giới hạn sinh thái Ngược lại, nếu các sinh vật có phạm vi chống chịu hẹp đối với một yếu tố thay đổi nào
đó, thì chính yếu tố đó là yếu tố sinh thái giới hạn
Trang 23Yếu tố con người
Con người được tách ra làm yếu tố độc lập vì con người có thể tác động vào môi trường tự nhiên một cách có ý thức và quy mô đặc trưng
Tất cả các dạng hoạt động của xã hội loài người đều làm biến đổi môi trường sống
tự nhiên của các sinh vật Ở một góc độ nhất định, con người và động vật đều có những tác động tương tự đến môi trường (lấy thức ăn, thải chất thải vào môi trường
…) Tuy nhiên, do con người có sự phát triển trí tuệ cao hơn, hoạt động của con người cũng đa dạng nên đã tác động mạnh đến môi trường, thậm chí có thể làm thay đổi hẳn môi trường và sinh giới ở nơi này hoặc nơi khác
- Các nhân tố độc lập với mật độ và các nhân tố phụ thuộc vào mật độ
- Sự phân loại không gian dựa vào đặc tính môi trường:
+ Nhân tố khí hậu: nhiệt độ, không khí, ánh sáng, mưa
+ Nhân tố thổ nhưỡng: pH, thành phần cơ giới
+ Nhân tố thủy sinh: dòng chảy, chất hòa tan
- Phân loại theo thời gian: ảnh hưởng của sự biến thiên theo năm, mùa hay ngày đêm (tính chu kỳ)
Các nhân tố sinh thái không bao giờ tác động riêng lẻ mà luôn tác động kết hợp với nhau Nhân tố sinh thái nào cũng có thể trở thành nhân tố hạn chế trong không gian hoặc thời gian
3.1.3 Một số quy luật giới hạn sinh thái
Quy luật tác động tổng hợp của các nhân tố sinh thái: Các nhân tố sinh thái tác
động đến sinh vật một cách đồng thời và tổng hợp
Quy luật Liebig (1840): Chất có hàm lượng tối thiểu điều khiển năng suất, xác
định đại lượng và tính ổn định của mùa màng theo thời gian”
Quy luật Shelfords (1913): Sự tác động của các nhân tố sinh thái lên cơ thể không
chỉ phụ thuộc vào tính chất của nhân tố mà còn phụ thuộc vào cường độ (lượng) của nhân tố đó Sự giảm hay tăng cường độ tác động của nhân tố vượt ra ngoài giới hạn thích hợp của cơ thể thì làm giảm khả năng sống của cơ thể Khi cường độ lên đến ngưỡng cao nhất hoặc xuống tới ngưỡng thấp nhất đối với khả năng chịu đựng của cơ thể thì sinh vật sẽ không thể tồn tại Những vùng tác động của các nhân tố sinh thái
Nhân tố giới hạn: Bất kể ở mức độ tổ chức nào (cá thể, quần thể, hay quần xã sinh
vật) người ta cũng phải khảo cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái riêng biệt của mỗi môi trường Các thông số này là những thông số lý, hóa hay sinh học có tác động trực tiếp lên sinh vật
Thực nghiệm cho thấy rằng tất cả các nhân tố sinh thái vào lúc này hay lúc khác trong những điều kiện địa phương đều có thể tác động như là các nhân tố hạn chế Nếu xem xét một nhân tố nào đó, tùy theo điều kiện không gian và thời gian, nhân tố đó có thể xuống dưới một trị số tối thiểu không thể đáp ứng được yêu cầu của một loài hay một quần xã Ðể phát triển trong một sinh cảnh, tất cả các sinh vật đều cần có những điều kiện về nhiệt độ, thức ăn, muối khoáng Nhân tố nào ở gần mức tối thiểu nhất sẽ
là nhân tố giới hạn
Trang 24Ðịnh luật tối thiểu
Ðịnh luật này liên quan đến ảnh hưởng của các chất khoáng cần thiết cho cây trồng Sự tăng trưởng của cây chỉ có thể có trong điều kiện các chất cần thiết phải có
đủ liều lượng trong đất Chính những chất bị thiếu chi phối sản lượng mùa màng Do
đó năng suất của mùa màng tùy thuộc duy nhất vào chất dinh dưỡng hiện diện trong môi trường với liều lượng ít nhất (so với lượng tối ưu)
Ðịnh luật tối thiểu có thể mở rộng sự áp dụng cho các nhân tố sinh thái dưới dạng các định luật của các nhân tố hạn chế, có thể được phát biểu như sau: sự thể hiện (tốc
độ và qui mô ) của tất cả quá trình sinh thái học được chi phối bởi các nhân tố hiện diện với liều lượng ít nhất trong môi trường
Cần nhấn mạnh là định luật tối thiểu thay đổi trong sự thể hiện của nó do nơi có sự tác dộng qua lại của các nhân tố sinh thái Do đó ở thực vật, kẽm thì cần thiết ở nồng
độ thấp cho cây mọc trong bóng râm hơn là cây mọc ngoài ánh sáng Tương tự, côn trùng phát triển trong môi trường khô ráo thì có nhiệt độ gây chết cao hơn các cá thể phát triển trong môi trường ẩm ướt (ở nơi khô, côn trùng chịu nóng giỏi hơn)
Hình 3.1: Các khoảng giới hạn sinh thái của sinh vật - Loài rộng và loài hẹp
theo định luật về sự chống chịu
Khoảng chịu đựng đối với mỗi nhân tố thay đổi tùy loài Nó xác định biên độ sinh thái học của loài Biên độ dao động này càng rộng khi khoảng chịu đựng các nhân tố sinh thái của loài càng lớn Ðiều này cũng áp dụng được cho quần thể hay quần xã sinh vật Có loài rộng hay hẹp đối với một nhân tố nào đó Thí dụ: loài rộng nhiệt (eurythermes), rộng muối (euryhalines), loài hẹp nhiệt (stenothermes) hay hẹp muối (stenohalines)
Trang 25Sự thích nghi của sinh vật với các nhân tố sinh thái:
Các cá thể, quần thể hay toàn thể sinh vật không phải thụ động chịu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái Chúng có một sự linh động sinh thái cho phép chúng thích nghi với các biến đổi trong không gian và thời gian đối với các nhân hạn chế của môi trường Chúng có những phản ứng bù trừ đối với những biến đổi của môi trường cho từng cá thể, hoặc quần thể, quần xã sinh vật bằng các thích nghi khác nhau
Các thích nghi của sinh vật có thể ở mức đơn giản, cho đến mức độ phức tạp và sâu sắc hơn
dưỡng, cho phép các sinh vậût giữ cho nội môi trường ở điều kiện ổn định và tối ưu so với điều kiện biến đổi bên ngoài
Thí dụ: sự ổn định thân nhiệt của động vật máu nóng và sự thay đổi thân nhiệt của động vật máu lạnh khác nhau so với nhiệt độ của môi trường Hay trường hợp gia tăng lượng hồng cầu nơi người từ đồng bằng lên miền núi cao
Thích nghi kiểu hình
Ðó là sự biến đổi kiểu hình do nơi tác động của các nhân tố lên sự tăng trưởng của sinh vật Thí dụ: Cây Tràm mọc riêng rẽ có tán lá hình cầu, cành nhánh phát triển ở các cao độ khác nhau và thường hướng ngang Ngược lại, cũng là loài này nhưng khi phát triển trong rừng, nơi có sự cạnh tranh ánh sáng ráo riết, thì có phát triển mạnh về chiều cao và có tán chụm
Thích nghi kiểu di truyền
Sự xuất hiện các kiểu sinh thái tiêu biểu cho một sự thích nghi hoàn chỉnh của các quần thể của một loài theo các điều kiện sinh thái địa phương Khác với sự thích nghi kiểu hình, các loài địa phương tạo ra các tính chất di truyền và linh động của sinh vật Khi đem trồng các hột của các cây lấy từ những nơi có độ cao khác nhau trong cùng một vườn thực vật (có điều kiện môi trường giống nhau) thì thấy chúng vẫn còn giữ những đặc tính riêng của từng kiểu sinh thái của nơi cư trú gốc của chúng
Chọn lọc tự nhiên và thích nghi sinh thái học
Sự kết hợp tác động của các nhân tố sinh thái và của chọn lọc tự nhiên là nguồn gốc của sự xuất hiện các loài điạ phương và tiếp theo là sự phân hóa các loài (sự hình thành loài mới)
Trang 26khi nghiên cứu các quần thể trong môtü thời gian tương đối dài người ta thấy rằng các quần thể thường không thay đổi lớn lắm Tuy nhiên vẫn có những biến động về số lượng cá thể xoay quanh một trị số trung bình được chi phối bởi các nhân tố môi trường
3.2.2 Các chỉ số đặc trưng của quần thể
3.2.2.1 Mật độ
Ðịnh nghĩa
Mật độ của quần thể là số lượng cá thể trên một đơn vị không gian (diện tích hoặc thể tích) Ðơn vị đo lường chủ yếu là diện tích được chọn sao cho phù hợp với kích thước hay số lượng của sinh vật Do đó, người ta thường sử dụng số dân/km2; số cây đại mộc/ha rừng; số vi sinh vật/ml nước Người ta cũng có thể dùng sinh khối để diễn
tả mật độ Thí dụ số kg cá/m2 ao nuôi hay trọng lượng sóc/km2 rừng cây
Sinh vật có kích thước nhỏ thường phong phú hơn sinh vật có kích thuớc lớn
Mật độ quần thể còn thay đổi tùy thuộc vào các nhân tố khác, chủ yếu là vị trí của
nó trong chuỗi dinh dưỡng Mật độ càng thấp ở các quần thể chiếm vị trí càng cao của chuỗi
Xác định số lượng cá thể
Việc xác định số lượng cá thể tuy thuộc vào đặc tính của sinh vật Trường hợp các sinh vật có đời sống cố định thì đơn giản Ðó là trường hợp của thực vật, động vật không xương sống có đời sống cố định như hàu, san hô Còn trường hợp các loài động vật khác, nhất là các loài di trú thì khó khăn hơn nhiều
Một cách tổng quát thì không thể đếm một cách tuyệt đối số lượng cá thể của quần thể, ngoại trừ trường hợp loài người Cho nên người ta phải ước lượng với phương pháp sao cho sự ước lượng này gần với sự thật nhất
- Ðếm trực tiếp: áp dụng đối với các động vật lớn như: sư tử, linh dương, cọp, beo Người ta còn dùng không ảnh hay chụp hình bằng hồng ngoại (sử dụng ban đêm)
- Phương pháp lấy mẫu với dụng cụ thích hợp cho từng đối tượng sinh vật
- Phương pháp đánh dấu và bắt lại Ðể xác địnhsố lượng N cá thể của một quần thể, người ta bắt và đánh dấu T cá thể rồi thả chúng Một thời gian sau người ta thực hiện một đợt bắt nữa được n cá thể ttrong đó có t cá thể được đánh dấu.Phương pháp này đòi hỏi một số điều kiện Chẳng hạn như các cá thể có đánh dấu cần phải được
Trang 27phân bố đều trong quần thể và cùng bị bắt với xác suất như nhau Sự tử vong phải giống nhau và không mất các dấu Hơn nữa quần thể phải được xem như ổn định giữa hai lần bắt
3.2.2.2 Tháp tuổi và tỉ lệ đực cái
Tháp tuổi
Thành phần tuổi của quần thể thể hiện đặc tính chung của biến động số lượng quần thể vì nó ảnh hưởng đến khả năng sinh sản hay tử vong của quần thể Thành phần tuổi thường được biểu diễn bằng tháp tuổi Tháp tuổi được thành lập bởi sự xếp chồng lên nhau của các hình chữ nhật có chiều cao bằng nhau, còn chiều dài thì tỉ lệ với số lượng
cá thể trong mỗi lứa Các cá thể đực và cái được xếp thành hai nhóm riêng ở hai bên đường phân giác của hình tháp, bởi vì sự tử vong không giống nhau ở hai cá thể đực
và cái
Hình 3.2: Ba dạng tháp tuổi chính của con nguời
Người ta có thể đơn giản hóa tháp tuổi thành ba nhóm cá thể khác nhau Ðó là: cá thể trẻ (tiền sinh sản), trưởng thành (sinh sản), và già (hậu sinh sản)
Tùy theo thành phần của ba nhóm cá thể trên, người ta có thể xếp loại thành quần thể phát triển, quần thể ổn định hay quần thể suy thoái
Tỉ lệ đực - cái
Ðó là tỉ lệ giữa số cá thể đực và số cá thể cái của một quần thể sinh vật Theo qui tắc tổng quát thì các loài động vật là đơn phái tức là có con đực và con cái riêng Nhưng cũng có hiện tượng lưỡng phái và trinh sản thường thấy ở động vật không xương sống
Ở đa số động vật có xương sống, có một sự thặng dư nhẹ nhàng ở con đực lúc mới sinh (như ở người chẳng hạn) Ðến tuổi trưởng thành tỉ lệ đực cái có thể thiên về con đực hoặc con cái tùy theo nhóm sinh vật và tùy vào nơi ở và các điều kiện khác của môi trường
3.3 Quần xã sinh vật
3.3.1 Định nghĩa
Quần xã sinh vật là một tập hợp các quần thể phân bố trong một vùng hoặc trong một sinh cảnh nhất định Ðó là một đơn vị có tổ chức, tức là có một số tính chất đặc biệt không thấy ở mức quần thể và cá thể
Trang 28Thuật ngữ quần xã dùng để chỉ một một đơn vị chức năng Thí dụ quần xã vi sinh
vật cố định đạm trong một khu rừng; quần xã động vật có xương sống ăn kiến ở rừng
Tây Nguyên
Quần xã sinh vật là một thể thống nhất nhờ sự chuyển hóa và trao đổi chất tương
hỗ Thuật ngữ này cần đuợc hiểu theo nghĩa rộng và dùng để chỉ các đơn vị thiên
nhiên có kích thước khác nhau, từ quần xã một thân cây đến quần xã của một rừng hay
đại dương
3.3.2 Đặc trung của quần xã
3.3.2.1 Sự phân tầng trong quần xã
Quần xã sinh vật bao gồm rất nhiều loài Các loài này thường chiếm các khoảng
không gian khác nhau, tạo nên sự phân tầng trong quần xã sinh vật Người ta thường
phân biệt các tầng sau
a Tầng tự dưỡng và tầng dị dưỡng
Tầng tự dưỡng là nơi xảy ra hoạt động quang tổng hợp mạnh của các sinh vật sản
xuất Ðó là tầng mà tán lá phát triển nhất, còn gọi là "tầng xanh", nơi nhận nhiều ánh
sáng mặt trời nhất Còn trao đổi dị dưỡng xảy ra ở dưới, trong đất và trong chất trầm
tích, còn gọi là "tầng nâu", nơi tích lũy nhiều chất hữu cơ
b Sự phân tầng trên mặt đất của động vật và thực vật
Thảm thực vật có thể phân thành tầng cỏ, tầng cây bụi, tầng tiểu mộc và tầng đại
mộc Rừng dầy nhiệt đới có sự phân tầng phức tạp nhất
Ðộng vật nhất là chim và các thú nhỏ sống trên cây (Sóc, Khỉ, Chồn bay ) cũng
có sự phân tầng nhưng không rõ rệt như sự phân tầng ở thực vật
c Sự phân tầng dưới mặt đất của rễ cây
Sự phân tầng này không được rõ ràng lắm Rễ của các loài cây cắm vào đất với
các độ sâu khác nhau
d Sự phân tầng trong nước
Sự phân tầng của các thủy sinh vật thấy rõ trong các hồ sâu nhất là trong biển Các
loài tảo biển và các động vật cố định (hàu, balane ) chỉ gặp ở những độ sâu nhất định
Số lượng loài (species richness)
Số lượng loài là tổng số loài của quần xã trong một hệ sinh thái Thực tế ít khi đếm
được tổng số loài trong một quần xã Vì vậy người ta thường nghiên cứu một phần của
hệ sinh thái, khi đó người ta sử dụng số lượng trung bình của loài, đó là số trung bình
các loài có trong mẫu của hệ sinh thái
Sự hiểu biết về tổng số loài thì tương đối dễ khi nghiên cứu quần xã các cây đại
mộc, nhất là ở trong rừng ôn đới Công việc trở nên khó khăn hơn khi đó là các thực
vật nhỏ hay động vật mà sự hiếm hay quá nhiều và việc di chuyển của chúng làm cho
việc đếm trở nên khó khăn
Người ta có thể ước lượng tổng số loài bằng cách sử dụng đường biểu diễn số
lượng tích lũy của loài ứng với số lần thu mẫu Ðường tiệm cận của đường cong này là
tổng số loài Có sự biến thiên đáng kể trong tổng số loài của các quần xã Nhìn chung
Trang 29thì số lượng loài rất dồi dào ở các quần xã xích đạo và rất ít ở vùng cực Người ta thấy
có 2.000 cây mộc ở trong rừng mưa của Malaysie (100.000 km2) trong khi toàn bộ châu Âu chỉ có 100 loài mà thôi Cũng tương tự , người ta đếm được 488 loài chim cư trú trong 15km2 rừng mưa Eïquateur (Nam Mỹ) còn các rừng ôn đới chỉ có chừng 20 loài
Sự phong phú của các loài (species abondance)
Ðóï là số lượng cá thể của mỗi loài trong quần xã Ở đây, mật độ không phải là thông số tốt để so sánh các quần xã mà các loài có kích thước quá chênh lệch nhau Do
đó sinh khối và trọng lượng khô trên diện tích cho ta một sự ước lượng chính xác hơn
về sự phong phú này Các quần xã thực vật có thể được nghiên cứu bằng cách đánh giá
sự phong phú của các loài khác nhau bằng phần trăm diện tích được che phủ bởi các cac thể của mỗi loài
Trong các quần xã thực vật ở vùng Bắc Cực có sự ưu thế rất mạnh, chỉ có một hoặc hai loài tạo thành hơn 90% của tầng đại mộc Ngược lại có đến hơn 20 loài cây
ưu thế ở rừng mưa nhiệt đới
Sự đa dạng về loài (species diversity)
Ðể mô tả cấu trúc của một quần xã, số lượng loài chưa đủ để biểu diễîn đầy đủ Thât vậy sự phong phú tương đối về loài cũng tham dự vào, bởi vì chỉ có vài phần trăm loài là thực sự phong phú (có thể được tiểu biểu bởi mật độ sinh khối ) Trái lại, phần lớn còn lại được tạo ra bởi nhiều loài ít phổ biến, hiếm hoặc rất hiếm Trong khi vài loài có vai trò quan trọng trong quần xã thì vài loài hiếm chi phối sự đa dạng của quần xã
3.3.4 Mối quan hệ trong quần xã
Quan hệ dinh dưỡng
Trong quần xã luôn luôn có hai nhóm sinh vật có kiểu dinh dưỡng khác nhau Ðầu tiên là nhóm sinh vật tự dưỡng, gồm chủ yếu là cây xanh Chúng có thể tổng hợp chất hữu cơ từ chất vô cơ của môi trường, được gọi là sinh vật sản xuất, cung cấp thức ăn cho nhóm sinh vật dị dưỡng Sinh vật dị dưỡng không tự tạo được chất hữu cơ mà phải nhờ vào nhóm trước Sinh vật dị dưỡng gồm hai nhóm khác nhau Nhóm thứ nhất là sinh vật tiêu thụ gồm đa số các động vật Nhóm còn lại là sinh vật phân hủy, gồm vi khuẩn và nấm, có nhiệm vụ phân hủy chất hữu cơ từ xác bã động vật, thực vật và các chất thải thành chất vô cơ trả lại cho môi trường Ba nhóm sinh vât trên tạo thành chuỗi thức ăn hay chuỗi dinh dưỡng
Quan hệ cạnh tranh (competition)
Là sự tranh giành nhau nguồn tài nguyên giữa hai sinh vật cùng một loài hoặc thuộc hai loài khác nhau
Trang 30Cạnh tranh cùng loài khi các cá thể của một quần thể cùng tranh nhau thức ăn,
nước uống, đối tượng sinh dục
Cạnh tranh khác loài xảy ra khi các cá thể của hai loài khác nhau cùng tranh nhau một nguồn tài nguyên
Quan hệ ăn mồi (predation)
Là hiện tượng một sinh vật bắt và ăn một sinh vật khác Thí dụ thỏ ăn cỏ, thỏ là vật ăn mồi còn cỏ là mồi Khi sói ăn thỏ thì thỏ là con mồi và sói là vật ăn mồi
Quan hệ ký sinh (parasitism)
Là hiện tượng một sinh vật sống lợi dụng một sinh vật khác Trên hay trong cơ thể động thực vật có rất nhiều ký sinh vật
Có nhiều điểm giống và khác nhau giữa sự ăn mồi và sự ký sinh; trong sự ký sinh, vật ký sinh thường nhỏ hơn vật chủ và không nhất thiết phải giết chết vật chủ, trong khi vật ăn mồi nhất thiết phải giết chết con mồi
Quan hệ tiết chất cảm nhiễm ở thực vật
Người ta thường phân biệt sự tiết chất kháng sinh ở thực vật bậc thấp như nấm Thí dụ nấm Penicilium tiết chất penicilin Ở thực vật bậc cao có hiện tượng tiết chất độc xa nguồn (teletoxie) Thí dụ như cây Artemisia californica tiết ra một chất terpène bay hơi có tác dụng ngăn cản sự nẩy mầm của các hoà bản và các cây nhất niên khác
Quan hệ hội sinh (commensalism)
Ðây là mối quan hệ đơn giản và bước đầu của sự phát triển quan hệ hai bên cùng
có lợi Thí dụ : điạ y trên cây xoài, mận; dương xỉ, lan trên cây rừng
Quan hệ hợp tác (cooperation)
Ðó là mối quan hệ hai bên cùng có lợi nhưng không bắt buộc giữa hai loài Thí dụ : hải quì và tôm ký cư
Quan hệ cộng sinh (symbiosis)
Ðây là mối quan hệ bắt buộc và có lợi giữa hai loài Thí dụ rong và nấm trong địa y; vi khuẩn nốt rễ và cây họ đậu; mối và nguyên sinh động vật
3.4 Hệ sinh thái
3.4.1 Định nghĩa
Hệ sinh thái là đối tượng nghiên cứu của sinh thái học Tất cả các sinh vật trong cùng một khu vực đều có tác động qua lại với môi trường vật lý bằng các dòng năng lượng tạo nên các cấu trúc dinh dưỡng, sự đa dạng về loài và chu trình tuần hoàn vật chất
Tất cả tạo thành một thể thống nhất một đơn vị chức năng gọi là hệ sinh thái Vậy
hệ sinh thái là một hệ thống của sinh vật và môi trường trong đó diễn ra các quá trình trao đổi năng lượng và vật chất giữa sinh vật với sinh vật; giữa sinh vật với môi trường
Một trong những đặc điểm chung nhất của hệ sinh thái là quan hệ tương hỗ của các sinh vật tự dưỡng và sinh vật dị dưỡng Các sinh vật này và chức năng do chúng đảm nhận có thể tìm thấy trong không gian và thời gian khác nhau Trong không gian chúng có thể chia thành tầng lớp Sự trao đổi chất tự dưỡng thường xảy ra mạnh ở tầng trên, "tầng xanh" nơi nhận nhiều ánh sáng mặt trời nhất Còn sự trao đổi dị dưỡng xảy
Trang 31ra ở tầng dưới, trong lòng đất hay trong các trầm tích, "tầng nâu" là nơi tích lũy nhiều chất hữu cơ
Chức năng của sinh vật tự dưỡng và dị dưỡng đôi khi cũng phân biệt theo thời gian Sinh vật dị dưỡng có thể chậm trễ rất nhiều trong việc sử dụng sản phẩm của sinh vật tự dưỡng Chỉ một phần rất ít sản phẩm quang hợp được sử dụng ngay ( ăn cỏ và
ký sinh), còn phần lớn dưới dạng lá, gỗ và chất dinh dưỡng dự trữ dưới dạng hạt, rễ
sẽ rơi vào lớp mục thực vật và sẽ được tiêu thụ rất lâu sau đó
Sự phân chia không gian và thời gian của các quá trình dinh dưỡng cho phép chia dòng năng lượng theo hai kiểu: (1) kiểu gặm cỏ là quá trình trực tiếp sử dụng cả cây hay từng phần của cây sống; đó là kiểu xảy ra ở hệ sinh thái đồng cỏ (2) Kiểu ăn chất hữu cơ mục nát hay ăn các phế liệu là quá trình phân hủy hay tích tụ các vật chất chết, như hệ sinh thái rừng sát
3.4.2 Cấu trúc
Về mặt chức năng có thể chia các loại sinh vật trong hệ sinh thái thành 3 nhóm:
Sinh vật sản xuất (hay tự dưỡng)
Chủ yếu là thực vật xanh, có khả năng chuyển hóa quang năng thành hóa năng nhờ quá trình quang hợp; năng lượng này tập trung vào các hợp chất hữu cơglucid, protid, lipid, tổng hợp từ các chất khoáng (các chất vô cơ có trong môi trường)
Sinh vật tiêu thụ (cấp 1, 2, 3)
Chủ yếu là động vật Tiêu thụ các hợp chất hữu cơ phức tạp có sẵn trong môi trường sống
• Sinh vật tiêu thụ bậc 1: tiêu thụ trực tiếp các sinh vật sản xuất Chủ yếu là
động vật ăn thực vật (cỏ, cây, hoa, trái …) Các động vật, thực vật sống ký sinh trên cây xanh cũng thuộc loại này
• Sinh vật tiêu thụ bậc 2: ăn các sinh vật tiêu thụ bậc 1 Gồm các động vật ăn
thịt, ăn các động vật ăn thực vật
• Sinh vật tiêu thụ bậc 3: thức ăn chủ yếu là các sinh vật tiêu thụ bậc 2 Đó là
động vật ăn thịt, ăn các động vật ăn thịt khác
Sinh vật phân hủy
Sinh vật phân hủy là những loại vi sinh vật hoặc động vật nhỏ bé hoặc các sinh vật hoại sinh có khả năng phân hủy các chất hữu cơ thành vô cơ Ngoài ra còn có những nhóm sinh vật chuyển hóa chất vô cơ từ dạng này sang dạng khác (như nhóm vi khuẩn nitrat hóa chuyển NH4+ thành NO3−) Nhờ quá trình phân hủy, sự khoáng hóa dần dần
mà các chất hữu cơ được thực hiện và chuyển hóa chúng thành chất vô cơ
Để duy trì chất lượng môi trường hay nói đúng hơn duy trì được cân bằng tự nhiên, cũng như để tất cả các hoạt động của con người đạt hiệu quả tốt nhất, vừa phát triển kinh tế vừa hài hòa với tự nhiên thì việc quy hoạch và quản lý lãnh thổ trên quan điểm sinh thái sẽ là giải pháp hữu hiệu nhất Theo yêu cầu của con người, các hệ sinh thái tự nhiên có thể được phân thành Hệ sinh thái sản xuất; Hệ sinh thái bảo vệ; Hệ sinh thái đô thị; Hệ sinh thái với mục đích khác (du lịch, giải trí, khai thác mỏ …)
Trang 323.4.3 Sự chuyển hóa vật chất trong hệ sinh thái
Chuỗi và lưới thức ăn
Trong HST luôn xảy ra sự trao đổi vật chất và năng lượng trong nội bộ quần xã, giữa quần xã và môi trường bên ngoài của nó (sinh cảnh)
Trong chu trình trao đổi vật chất, luôn có các nguyên tố hoá học, muối hoà tan, khí
CO2 và O2 từ sinh cảnh tham gia tạo thành cơ thể sinh vật (Quần xã), đồng thời lại có
bộ phận của quần xã lại chuyển hoá thành sinh cảnh thông qua quá trình phân huỷ xác sinh vật thành những chất vô cơ
Các thành phần của quần xã liên hệ với nhau bằng quan hệ dinh dưỡng Quan hệ dinh dưỡng của các loài trong quần xã được thực hiện bằng chuỗi và lưới thức ăn + Chuỗi thức ăn (Foodchain): là một dãy bao gồm nhiều loài sinh vật, mỗi loài là một "mắt xích" thức ăn; mắt xích thức ăn phía trên tiêu thụ mắt xích thức ăn phía dưới
và nó lại bị mắt xích thức ăn phía trên tiêu thụ
Hình 3.3: Sơ đồ chuỗi thức ăn
+ Lưới thức ăn (Foodweb): là phức hợp các chuỗi thức ăn có quan hệ với nhau trong HST Vì mỗi loài trong quần xã không phải chỉ liên hệ với một chuỗi thức ăn mà
có thể liên hệ với nhiều chuỗi thức ăn Tất cả các chuỗi thức ăn trong quần xã hợp thành lưới thức ăn
Hình 3.4: Sơ đồ lưới thức ăn
Trang 33Những mắt xích thức ăn thuộc một nhóm sắp xếp theo các thành phần của chuỗi thức ăn như: Sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ bậc 1, bậc 2, được gọi là các bật dinh dưỡng Như vây, vật chất trong hệ sinh thái được chuyển hóa, trao đổi thông qua các các quan hệ dinh dưỡng Lưới thức ăn càng phức tạp thì mức độ liên hệ giữa các sinh vật trong HST càng chặt chẽ Điều đó cho thấy rằng để đảm bảo cho 1 HST được cân bằng và bền vững cần duy trì HST đó ở mức độ đa dạng sinh học cao
Sự trao đổi năng lượng
Sự hoạt động của tất cả sinh vật đòi hỏi sử dụng năng lượng từ ngoài vào Năng lượng này là ánh sáng ở sinh vật tự dưỡng, hoặc là chất sinh hóa (như glucid chẳng hạn) cho các sinh vật dị dưỡng Trong mọi trường thì năng lượng mặt trời là nguồn năng lượng duy nhất được trực tiếp hay gián tiếp sử dụng bởi các sinh vật Số lượng sinh vật trong mỗi hệ sinh thái, sự phát triển và sinh sản nhanh hay chậm là tùy thuộc vào mức độ xâm nhập của năng lượng vào HST, vào tốc độ di chuyển của dòng năng lượng và lưu chuyển vật chất qua hệ
Cần phân biệt sự khác nhau giữa dòng năng lượng và chu trình vật chất Các chất
C, N, H2O, P, di chuyển giữa môi trường và sinh vật, được sử dụng và tái sử dụng vô tận Chu trình vật chất như vậy là khác với dòng năng lượng di chuyển một chiều xuyên qua sinh vật sống trong sinh quyển Ðó là một hiện tượng phổ biến và tuân theo hai định luật căn bản của nhiệt động học (nguyên lý Carnot)
Trái đất nhận năng lượng từ ánh sáng mặt trời
Ánh sáng này phát tán liên tục trong khoảng không vũ trụ, với năng lượng là 2 cal/cm2 phút, gọi là hằng số mặt trời Khi đi qua khí quyển, ánh sáng này giảm rất nhiều, nhất là khi đi qua lớp lớp mây mù, lớp nước và thảm thực vật, sống ở trên hoặc gần mặt đất, sinh vật chịu tác động của dòng năng lượng gồm bức xạ ánh sáng mặt trời
và bức xạ nhiệt có độ dài sóng dài từ các vật thể ở cự ly gần Cả hai yếu tô únày đã quyết định điều kiện khí hậu của môi trường Ðó là nhiệt độ, sự bốc hơi nước, chuyển động của không khí (gió, bão) và của nước (mưa, sông, suối)
Thực vật chỉ hấp thu khoảng 1% năng lượng mặt trời tới trái đất; trong vài trường hợp hiếm hoi như các hoa màu cao sản, có thể tới 3%
Hình tháp sinh thái
Hình 3.5: Một kiểu hình tháp sinh thái
Mạng lưới dinh dưỡng trong hệ sinh thái tiêu biểu cho một cấu trúc được đặc trưng bởi tính chất và số lượng sinh vật ở mỗi bậc dinh dưỡng Cấu trúc này tương ứng với
Trang 34một trị số đặc thù của mối tương quan "kích thước cá thể/kiểu biến "của các loài trong quần xã
Ngoài ra, sự di chuyển của vật chất trong hệ sinh thái là sự chuyển hóa liên tục năng lượng dưới dạng sinh hóa theo chiều từ sinh vật tư dưỡng đến sinh vật dị dưỡng Nguyên lý thứ hai của nhiệt động học cho thấy rằng, trong tất cả phản ứng về năng lượng, hiệu suất luôn luôn dưới 100% Do vậy, chuỗi thức ăn phải đặc trưng bởi sự giảm năng lượng tự do hiện diện ở mỗi bậc dinh dưỡng mỗi khi lên bậc cao hơn Sự biến dưỡng của quần xã sinh vật đều chịu sự chi phối của nguyên lý này
Các hình tháp sinh thái diễn tả bằng dạng hình học cấu trúc dinh dưỡng trong hệ sinh thái Người ta đặt các hình chữ nhật có cùng chiều cao nhưng chiều dài thì tỉ lệ với tầm quan trọng của thông số tính toán Do đó ta có được các hình tháp số lượng, sinh khối và năng lượng Chúng cho thấy hai tính chất cơ bản của cấu trúc dinh dưỡng của bất cứ hệ sinh thái nào Ðó là:
- Chiều cao của tháp tỉ lệ với chiều dài của chuỗi thức ăn, tức là số lượng bậc dinh dưỡng của chuỗi
- Dạng hình tháp sẽ rộng hay hẹp là tùy vào hiệu quả của sự chuyển hóa năng lượng bậc này lên bậc khác Hiệu suất của phản ứng nhiệt động học càng cao, thì lượng vật chất sinh hóa cho các bậc kế tiếp càng lớn
Hình tháp số lượng
Hình 3.6: Một kiểu hình tháp số lượng
Nó là hình thức đơn giản nhất để nghiên cứu cấu trúc dinh dưỡng của một hệ sinh thái Người ta thấy rằng, theo qui tắc tổng quát thì trong môi trường có nhiều cây cỏ hơn động vật, nhiều vật ăn cỏ hơn vật ăn thịt, nhiều côn trùng hơn chim
Trong mọi trường hợp, các động vật có kích thước nhỏ thì nhiều hơn và sinh sản nhanh hơn Hơn nữa, mỗi vật ăn mồi cần con mồi với kích thước tối ưu Việc săn bắt một khối lượng con mồi có kích thước nhỏ thì mất nhiều công hơn Trái lại, con mồi quá lớn lại gây bối rối cho vật ăn thịt
Người ta thấy rằng qua mỗi bậc dinh dưỡng thì số lượng cá thể giảm đi Nhưng kích thước lại gia tăng Chẳng hạn trên một ha đồng cỏ, người ta đếm được gần 6 triệu cây (bậc dinh dưỡng I) hơn 700 ngàn côn trùng ăn thực vật (bậc dinh dưỡng II) hơn
Trang 35350 côn trùng và nhện thiên địch (bậc dinh dưỡng III) và chỉ có 3 con chim ăn côn trùng (bậc dinh dưỡng IV) (Odum, 1959)
Tuy nhiên có nhiều thay đổi về hình dạng của hình tháp số lượng, đôi khi có dạng đảo ngược Chẳng hạn trong một cánh rừng, có ít đại mộc (sinh vật sản xuất sơ cấp) hơn là côn trùng ăn cỏ Chuỗi dinh dưỡng ký sinh hoặc chuỗi ăn xác bã cũng vậy Rốt cuộc hình tháp số lượng không tiêu biểu cho mối quan hệ dinh dưỡng của quần xã bởi vì nó chấp nhận tầm quan trọng như nhau cho các cá thể bất kể kích thước hay trọng lượng ra sao
Hình tháp sinh khối
Nó phản ánh khá trung thực các mối quan hệ dinh dưỡng trong HST Dạng của nó cũng giống như dạng của số lượng Nhưng đôi khi sinh khối của vật tiêu thụ lại lớn hơn sinh khối của vật sản xuất Ðiều này thường thấy trong môi trường nước nơi mà sản lượng sơ cấp do các sinh vật li ti (phiêu sinh thực vật ) đảm nhiệm Chúng có vận tốc đổi mơí rất nhanh và biến dưỡng mạnh (sinh khối nhỏ, sức sản xuất quan trọng) Chẳng hạn người ta thấy ở biển Manche, sinh khối phiêu sinh thực vật là 4g/m2 trong khi tới 21g/m2 của phiêu sinh động vật (Ramade,1987)
Hình tháp sinh khối cũng có nhược điểm là cho các mô có cùng một tầm quan trọng như nhau cho dù cấu tạo sinh hóa tức giá trị năng lượng không bằng nhau
Hình 3.7: Một kiểu hình tháp sinh khối
Hình tháp năng lượng: Hiệu suất của các hệ sinh thái
Tháp năng lượng tiêu biểu cho tần suất trao đổi năng lượng và năng suất trong chuỗi thức ăn Nó được thiết lập bằng cách tính toán trên đơn vị diện tích và thời gian
và lượng kcal sử dụng của mỗi bậc dinh dưỡng Nếu việc xác định giá trị năng lượng của chất hữu cơ chứa trong sinh khối là khá dễ dàng, thì việc đánh giá số lượng tổng năng lượng được hấp thu thực sự bởi mỗi bậc dinh dưỡng là phức tạp hơn nhiều Các sinh vật phân hủy mà tầm quan trọng thì ít hay không đáng kể trong hình tháp sinh khối đã nhận một phần đáng kể năng lượng đi qua hệ sinh thái Chỉ một phần nhỏ của năng lượng được cố định trong sinh vật của mỗi bậc dinh dưỡng và được tích trữ trong sinh khối, còn bao nhiêu thì dùng vào nhu cầu biến dưỡng của sinh vật: bảo trì, tăng trưởng, sinh sản Hơn nữa động vật còn tiêu tốn một số lượng quan trọng cho việc tạo
ra công của cơ
Bây giờ chúng ta hãy khảo sát tỉ mỉ xem dòng năng lượng xuyên qua một chuỗi dinh dưỡng Ta biết rằng chỉ 1% năng lượng mặt trời thực sự được biến đổi thành năng
Trang 36lượng hóa học bởi sinh vật tự dưỡng ( sinh vật sản xuất sơ cấp) Tổng số chất hữu cơ tạo ra tương ứng vơí sự quang hợp thô (sản lượng sơ cấp thô, PB) Thực vật sẽ sử dụng một phần năng lượng này để đảm bảo nhu cầu biến dưỡng; nó sẽ được phát tán bởi sự
hô hấp (R1) Sự quang hợp nguyên (sản lượng sơ cấp/PN1) là sự chênh lệch giữa sự quang hợp thô và năng lượng mất đi do hô hấp
Lindeman (1942) đã đề nghị định luật về chuyển hóa năng lượng trong các hệ sinh thái, mà người ta gọi là định luật 10% Luật này xác định là chỉ một phần năng lượng của hệ đi vào bậc dinh dưỡng được chuyểín cho sinh vật của bậc dinh dưỡng cao hơn Phần năng lượng này sẵn sàng cho các sinh vật dị dưỡng thường nằm trong khoảng từ 10% đến 20% Áp dụng định luật này ta dễ dàng tính được số năng lượng sẵn sàng cho động vật ăn thịt bậc 3 ( bậc dinh dưỡng 5) là bằng 1/10.000 của năng lượng cố định bởi sinh vật sản xuất Như vậy sự biến đổi năng lượng tong một mạng thức ăn được thực hiện với một hiệu số rất thấp Ðiều này giải thích tại sao số bậc dinh dưỡng trong chuỗi thức ăn cần phải ít, bất kỳ quần xã ra sao
Một cách tổng quát thì 1000 Kcal/ngày/m2 được tạo ra bởi sinh vật sản xuất, 10 kcal/ngày/m2 đi vào sinh khối vật ăn cỏ, 1 Kcal/ngày/m2 trong vật ăn thịt bậc 1 Cho nên ở bậc dinh dưỡng thứ tư, chỉ có một số ít cá thể có thể sống được với số năng lượng ít ỏi sẵn sàng cho bậc này mà thôi
Ngoài ra, các động vật đẳng nhiệt có hiệu suất thấp hơn động vật biến nhiệt, bởi vì một phần đáng kể của thức ăn được dùng để giữ cho thân nhiệt ở mức cao và ổn định
Hình 3.8: Một kiểu hình tháp năng lượng
và sinh vật dị dưỡng trong hệ sinh thái Các loài khác nhau của mỗi nhóm sinh vật này tìm kiếm và hấp thu liên tục các chất tối cần thiết cho sự tăng trưởng, duy trì, sinh sản của chúng và loại ra môi trường các chất thải, cặn bã vô cơ và hữu cơ ít nhiều phức tạp
Trang 37Hình 3.9: Chu trình Cacbon
Cho nên các nguyên tố C, H, O, P, S và khoảng 30 nguyên tố khác không ngừng được biến đổi thành chất sinh hóa glucid, lipid, protid hoặc là được hấp thu dưới dạng ion vô cơ bởi sinh vật tự dưỡng, sau đó được sử dụng bởi sinh vật dị dưỡng và các vi sinh vật phân hủy Các vi sinh vật này phân hủy các chất thải, các mảnh vụn thực vật và các xác chết thành các chất khoáng tan trong nước hay các chất khí trở về đất hoặc khí quyển
Ở mức độ sinh quyển người ta sử dụng thuật ngữ chu trình sinh địa hóa để chỉ sự
di chuyển tuần hoàn của các chất giữa môi trường vô sinh và sinh vật mà nhiều pha của chu trình diễn ra trong hệ sinh thái
Sự hiện diện của chu trình này làm cho sinh quyển có khả năng tự điều chỉnh, đảm bảo cho các sự trường tồn của các hệ sinh thái và sự giữ cân bằng các chất có trong mỗi môi trường
Người ta có thể phân biệt 3 nhóm chính của các chu trình:
- Chu trình nước
- Chu trình của các chất chủ yếu ở dạng khí
- Chu trình của các chất chủ yếu ở dạng trầm tích
3.4.4 Diễn thế sinh thái
Diễn thế nguyên sinh
Là sự hình thành rừng ở những nơi hoàn toàn chưa hề có rừng, trải qua 1 loạt các
sự biến đổi của các quần xã thực vật khác nhau cuối cùng hình thành nên quần xã thực vật rừng tương đối ổn định
Diễn thế nguyên sinh gồm 4 pha:
Di cư: Sự di cư các mầm mống thực vật đến vùng đất mới
Trang 38Định cư: Các mầm mống thực vật thích nghi, phát triển những thế hệ đầu tiên
Quần tập: Xuất hiện tái sinh tự nhiên
Xâm nhập: Nhóm thực vật khác xâm nhập vào nhóm thực vật đã thích nghi
ổn định trước và đã tác động đến môi trường sống
Ví dụ: Diễn thế rừng ngập mặn Cây Mắm, Sú đã tiên phong xâm nhập vùng đất ngập nước mới lắng động cát ở ven bờ, chúng thích nghi và phát triển, cố định cát bùn, làm thay đổi dần môi trường sống, đến 1 giai đoạn nào đó sẽ xuất hiện sự xâm nhập của Vẹt, Rà, các loài này sẽ chiếm ưu thế và lấn áp loài cũ để phát triển thành quần xã
ưu thế, môi trướng sống sẽ thay đổi,tích lũy nhiều mùn hơn, cạn hơn Sau giai đoạn này sẽ xuất hiện các loài sống bán ngập (Đước), tiến dần đế xuất hiện các loài thực vật sống cạn (Tràm)
Diễn thế thứ sinh
Diễn thế thứ sinh diễn ra trên cơ sở diễn thế nguyên sinh, bắt đầu từ khi hệ sinh thái rừng bị tác động từ bên ngoài (khai thác, chặt phá, nương rẫy ), sau đó là phục hồi rừng và hình thành nên các rừng thứ sinh
Các nhân tố ảnh hưởng đến diễn thế thứ sinh: Hình thức và mức độ tác động vào rừng, điều kiện khí hậu,thổ nhưỡng
Ví dụ: Nương rẫy hoang hóa → Cây bụi → Các loài ưa sáng → Rừng thứ sinh
3.5 Mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái hệ sinh thái
3.5.1 Tác động của các yếu tố sinh thái đến con người
Ảnh hưởng của phương thức sống và thức ăn
Karl Linné từ thế kỷ thứ 18 đã đặt con người vào bộ linh trưởng (Primatas) Thực
ra bản chất con người vừa là cơ thể sinh học (somatic) vừa là văn hóa (cultural) Quá trình khai thác môi trường từ cỏ cây, thú vật và quá trình thích nghi với điều kiện sống này là xuất phát điểm sâu xa dẫn đến chế tác công cụ và sáng tạo công nghệ chính là biểu tượng văn hóa, thể hiện trên những cấu tạo và chức năng mới của cơ thể
• Hoàn thiện khả năng cầm nắm hướng tới chế tác và cải tiến công cụ
• Tăng cường ý nghĩa của kích thích thị giác trên cơ sở phát triển thị giác
• Thoái hóa hàm răng, chuyển chức năng cầm nắm từ răng sang bàn tay, chuyên biệt hóa chi sau với chức năng đi thẳng
• Phức tạp hóa cấu trúc và chức năng não bộ đặc biệt là các trung tâm liên quan đến hoạt động tổng hợp (ngôn ngữ và chữ viết)
• Việc tăng cường sử dụng protein động vật đã cung cấp thêm năng lượng, có liên quan mật thiết đến toàn bộ hoạt động của cơ thể và liên quan đến sự tiến hóa về hình thái cấu tạo của các loại hình Người Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng lâu dài đến các đặc điểm cơ thể Ví dụ có 2 bộ tộc ở châu Phi sống gần nhau nhưng
bộ tộc Maxai chuyên chăn nuôi, ăn thịt nhiều hơn cho nên cao hơn đến 10cm và nặng hơn 10kg so với tộc người Kaknia (thuộc Kenia) chuyên trồng trọt
• Môi trường sinh thái và chế độ dinh dưỡng tạo ra những dị biệt khá lớn về đáp ứng sinh học Ví dụ tiến bộ của y học (văn hóa) đã làm yếu hoặc loại trừ một số
Trang 39áp lực chọn lọc nhưng lại tạo cơ hội cho một số áp lực mới như AIDS, các bệnh
về tim mạch, béo phì
Hình 3.10: Con người và sinh vật
Ảnh hưởng của yếu tố khí hậu
Ảnh hưởng của yếu tố khí hậu biểu hiện ở nhiều trạng thái khác nhau theo mùa, theo địa lý Là đều là tổ hợp của nhiều thành phần như nhiệt độ, độ ẩm, gió, mây mưa, nắng tuyết Tác động cua tổ hợp này được thông qua nhiều rào chắn tự nhiên (sông,
hồ, biển, núi, cây rừng .) và rào chắn văn hóa (nhà cửa, quần áo, tiện nghi sinh hoạt ) tạo thành khí hậu toàn cầu, địa phương, tiểu khí hậu (ở tiểu vùng) và vi khí hậu (tại chỗ có giới hạn hẹp)
Điều hòa nhiệt là thích nghi sinh học chủ đạo liên quan đến các chức năng của các
tổ chức cơ thể Một số cơ cấu góp phần bảo đảm tốt thích nghi với vi khí hậu Ví dụ khi nhiệt độ môi trường thay đổi thì nhiệt da biến đổi nhưng nhiệt trung tâm của cơ thể bao giờ cũng được giữ ổn định – gọi là động vật ổn nhiệt 36 – 37oC
Ảnh hưởng của môi trường địa hóa
Hàm lượng khoáng chất trong thành phần sinh hóa của cơ thể có liên quan đến quá trình biến đổi nội bào (tạo xương, điều hòa áp lực thẩm thấu ) Tương quan về tỉ lệ
số lượng các thành phần khoáng trong môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến thành phần khoáng trong cơ thể từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng, tăng trưởng và phát triển
Ví dụ bệnh bướu cổ liên quan đến hàm lượng Iode, bệnh sâu răng liên quan đến hàm lượng fluor trong nước …
Cân bằng khoáng trong cơ thể phải được đảm bảo trong một biên độ nhất định, thừa và thiếu quá mức đều làm rối loạn cân bằng và gây bệnh Nghiên cứu mức khoáng hóa của bộ xương bằng tia Rơnghen có thể giúp kiểm tra phản ứng địa hóa một cách khách quan
Người ta đặc biệt quan tâm đến mối tương quan giữa Strontium (Sr) và Calcium (Ca) cũng như sự có mặt hoặc vắng mặt của các yếu tố khoáng đa lượng (hoặc cả vi lượng) trong đất không chỉ ảnh hưởng đến mức khoáng hóa xương mà còn ảnh hưởng đến kích thước và hình dạng chung của cơ thể hoặc từng phần cơ thể
Trang 403.5.2 Tác động của con người đến sinh quyển
Con người là một thành viên trong các hệ sinh thái tự nhiên quanh mình, có quan
hệ tương hổ thông qua các mắt xích thức ăn, các hoạt động lao động sản xuất nhưng đặc biệt là hành vi cư xử của con người
Trong quá trình phát triển, con người đã tác động vào hệ sinh thái tự nhiên rất nhiều như khai thác sinh vật thủy sinh, chăn nuôi, trồng trọt, khai thác các sản phẩm của rừng… Ngoài ra, con người còn tạo ra những hệ sinh thái nhân tạo như kết hợp trồng trọt, trồng rừng, chăn nuôi và con người tích cực tham gia bảo vệ môi trường, chống lại quá trình ô nhiễm môi sinh và quản lý các nguồn tài nguyên tự nhiên và môi trường
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, con người đã để lại những tác động xấu đến môi trường gây những hậu quả khác nhau
Gây ô nhiễm môi trường
Một số hậu quả nghiêm trọng của ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến toàn cầu như mưa acid; Hiệu ứng nhà kính; Lỗ thủng tầng ozone
Công nghiệp, nông lâm ngư nghiệp, sinh hoạt thải ra môi trường đủ dạng chất thải rắn, nước, khí với hàng triệu tấn/năm Nước mặt tràn lên mặt đất, sông hồ, ngấm sâu xuống đất, chất khí độc cũng dâng lên cao, gây hại cho tầng ozone
Mặt đất bị xói mòn, lớp phủ đất – dinh dưỡng cho thực vật cũng bị mất dần, đồng thời trở thành bãi chôn rác và phóng xạ Đất nông nghiệp bị thâm canh bằng đủ các loại hóa chất gây chai cứng đất Diện tích canh tác bị thu hẹp hàng năm 5 – 7 triệu ha Nguồn nước sạch bị thu hẹp do khai thác bừa bãi, do ô nhiễm 60% dân đô thị và nông thôn không có nước để dùng
Gây suy giảm đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học là thuật ngữ để chỉ sự phong phú của các sinh vật sống từ tất cả các nguồn, bao gồm lục địa, biển và các hệ sinh thái thủy sinh khác cũng như tổ hợp sinh thái, bao gồm sự đa dạng trong các chủng loài và hệ sinh thái
Đa dạng sinh học cung cấp nguồn thực phẩm cho con người, cung cấp nguồn gen quý hiếm, là tác nhân điều hòa sinh học, cung cấp các sản phẩm tự nhiên như thuốc trừ sâu, dược phẩm và các nguyên vật liệu khác, đồng thời còn phục vụ cho môi trường cũng như nhu cầu giải trí của con người
Nguyên nhân chính gây suy giảm đa dạng sinh học là những hành động phá hoại môi trường sống làm hủy diệt các loài động thực vật, mất tính đa dạng, số cá thể còn lại ít sẽ không đủ sức hỗ trợ cho sự tồn tại của một quần thể, quần thể dễ bị tiêu diệt,