MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 Chương 1: Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), các chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và kế toán môi trường 3 1. Định nghĩa về kế toán và chuẩn mực kế toán 3 2. Sự ra đời của kế toán môi trường và hệ thống KTMT 3 3. Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) 4 4. Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) 5 5. Các chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) 5 6. So sánh VAS và IFRS 7 6.1. Các thành phần trong bộ Báo cáo tài chính 7 6.2. Kỳ báo cáo tài chính 7 6.3. Đồng tiền chức năng 7 6.4. Tài sản cố định vô hình 8 6.5. Lợi thế thương mại từ việc hợp nhất kinh doanh 8 Chương 2: Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi trường ở Việt Nam hiện nay. 10 1. Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) liên quan đến kế toán môi trường 10 2. Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) liên quan đến kế toán môi trường 11 3. Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) liên quan đến kế toán môi trường 12 4. Một số điểm khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Niệt Nam (VAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) 13 KẾT LUẬN 14 Tài liệu tham khảo 15 Phụ lục 16
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình toàn cầu hóa cùng sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốn quốc
tế đòi hỏi thông tin tài chính phải nâng cao chất lượng và phải so sánh được với nhau;
để so sánh được với nhau các thông tin tài chính phải được ghi nhận trên cùng hệthống chuẩn mực kế toán chung, là tiền đề để hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế(IAS) được hình thành Trên thực tế, các quốc gia có thể áp dụng các chuẩn mực kếtoán khác nhau để lập các báo cáo tài chính và các chuẩn mực kế toán có thể có sựkhác biệt Sự khác biệt của hệ thống các chuẩn mực kế toán xuất phát từ sự khác nhau
về văn hóa, hệ thống pháp lý, chính trị, quá trình hình thành và phát triển của các hiệphội nghề nghiệp Và các báo cáo tài chính của cùng 1 doanh nghiệp được lập trên các
hệ thống chuẩn mực khác nhau có thể có sự khác biệt
Chuẩn mực kế toán quốc tế đang dần được áp dụng chung trên hơn 100 quốcgia trên thế giới và tại các quốc gia chưa áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế cũngđang diễn ra quá trình hòa hợp giữa hệ thống chuẩn mực kế toán của quốc gia đó vớichuẩn mực kế toán quốc tế
Các nghiên cứu gần đây trên thế giới đã khẳng định rằng chuẩn mực kế toánquốc tế là một chuẩn mực chuẩn các quốc gia cần sử dụng để tham chiếu và thực hiệnkhi xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán của mình
Có 3 cách tiếp cận phổ biến:
− Chấp nhận chuẩn mực kế toán quốc tế là chuẩn mực của quốc gia
− Dựa trên chuẩn mực kế toán quốc tế để hình thành chuẩn mực kế toán quốc gia
− Tự phát triển các chuẩn mực quốc gia và điều chỉnh dần khoảng cách với chuẩn mựcquốc tế
Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ,với các chuẩn mực kế toán đầu tiên đượcban hành vào ngày 31/12/2000,được xây dựng các chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)dựa trên việc kế thừa và điều chỉnh các chuẩn mực kế toán quốc tế cho phù hợp vớiđặc điểm và tình hình của Việt Nam.Tuy nhiên,c việc xây dựng có điều chỉnh đó lạilàm cho các chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện nay có sư khác biệt so với các chuẩnmực kế toán quốc tế
Việc yêu cầu các thông tin trên báo cáo tài chính phải trung thực, hợp lý vàđáng tin cậy là một yêu cầu chính đáng, dựa và đó nhà dầu tư phân tích và đánh giá raquyết định đầu tư Tuy nhiên, sự khác biệt trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam so
Trang 3với chuẩn mực kế toán quốc tế có thể sẽ dẫn đến các khác biệt về các thông tin trongbáo cáo tài chính ảnh hưởng không chính xác đến quá trình phân tích và so sánh để racác quyết định của nhà đầu tư.
Bối cảnh nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập ngày càng sâu, rộng với khuvực và thế giới, để cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển bền vững, hỗ trợ thịtrường chứng khoán, bảo vệ nhà đầu tư và thu hút đầu tư nước ngoài, Chính phủ đãyêu cầu phải nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính Mặt khác, để có thể tiếpcận các dòng vốn trên thị trường quốc tế, niêm yết tại thị trường nước ngoài, yêu cầulập báo cáo tài chính (BCTC) theo IFRS đang trở thành nhu cầu ngày càng bức thiết và
là xu hướng tất yếu của các tập đoàn, các công ty đại chúng Ngày càng có nhiềudoanh nghiệp và tổ chức tại Việt Nam áp dụng các Chuẩn mực Báo cáo Tài chínhQuốc tế (IFRS) Việc áp dụng IFRS giúp tăng cường khả năng so sánh và tính minhbạch của hoạt động báo cáo tài chính Các báo cáo tài chính lập theo IFRS được chấpnhận rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới Các yếu tố này là điều kiện tiên quyết đểtiếp cận thị trường vốn quốc tế
Do vậy em đã đi sâu nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với
kế toán môi trường ở Việt Nam hiện nay”.
Tiểu luận hoàn thành ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, bao gồm
2 chương:
Chương 1: Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS),
hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), các chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế(IFRS) và kế toán môi trường
Chương 2: Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi trường ở ViệtNam hiện nay
Chương 1: Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), các chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế
(IFRS) và kế toán môi trường
Trang 41. Định nghĩa về kế toán và chuẩn mực kế toán
Kế toán là một hoạt đọng mang tính chuyên môn cao có chức năng cung cấp
các thông tin trung thực, hợp lý về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, giúp cho người sử dụng có thể đưa ra các quyết định.Kế toán phải làmcho người sử dụng hiểu được, tin cậy và phải giúp so sánh được các thông tin tàichính Muốn vậy, cần phải có các qui định làm khuôn mẫu giúp đánh giá, ghi nhận vàtrình bày thông tin tài chính, đó chính là những chuẩn mực kế toán
Chuẩn mực kế toán là những qui định và hướng dẫn các nguyên tắc, nội dung,
phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản, chung nhất, làm cơ sở ghi chép kế toán và lậpbáo cáo tài chính nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý, khách quan về thựctrạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
2. Sự ra đời của kế toán môi trường và hệ thống KTMT
− Kế toán môi trường (KTMT) là một vấn đề khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng
nó đã xuất hiện ở các nước phát triển từ thập niên 90 của thế kỷ trước Kế toán môitrường xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1972 Tuy nhiên, phải đến năm 1990, kế toánmôi trường mới bắt đầu được nghiên cứu tại các doanh nghiệp Và đến năm 1992, Ủyban Bảo vệ môi trường (BVMT) Hoa Kỳ mới tiến hành dự án về kế toán môi trườngnhằm khuyến kích và thúc đẩy các doanh nghiệp nhận thức đầy đủ các yếu tố về chiphí môi trường và sự ảnh hưởng của chi phí môi trường đến quyết định kinh doanh
− Kế toán môi trường ra đời từ áp lực của công chúng và các phong trào bảo
vệ môi trường Nhờ có áp lực này mà các doanh nghiệp phải quan tâm hơn đến vấn đềmôi trường trong quá trình kinh doanh của mình Nếu gây ra sự cố về môi trường thìdoanh nghiệp sẽ phải bồi thường trước chính phủ nhưng điều này lại làm tăng chi phí,ảnh hưởng đến các khoản nợ tiềm tàng, từ đó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và lợi íchcủa cổ đông
Hệ thống KTMT
− Kế toán truyền thống là hệ thống kế toán có kết hợp yếu tố môi trường, đolường tác động môi trường đến tình hình tài chính của DN dưới hình thức tiền tệ, baogồm:
+ KTQT môi trường, theo ủy ban phát triển bền vững của Liên hợp quốc định nghĩa “ làmột sự hiểu biết tốt hơn và đúng đắn hơn về KTQT
Trang 5+ Kế toán tài chính môi trường có nhiệm vụ ghi nhận, đo lường và khai báo các tác độngmôi trường trong báo cáo tài chính và được thiết kế nhằm thỏa mãn nhu cầu của đốitượng bên ngoài quan tâm đến tình hình tài chính của DN.
3. Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS)
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống chuẩn mực đề cập đến
những vấn đề mang tính nền tảng, khuôn mẫu, những nguyên tắc, phương pháp có tínhchất cơ bản được chấp thuận rộng rãi trên toàn thế giới
Cơ quan đầu tiên xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tếchính là Uỷ Ban chuẩn mực kế toán quốc tế(IASC).Đây là một tổ chức độc lập thànhlập vào năm 1973, bao gồm đại diện của 13 nước thành viên trực thuộc Liên đoàn kếtoán quốc tế (IFAC), đại diện của 3 tập đoàn kinh tế lớn và Một số quan sát viên độclập đến từ Uỷ Ban Châu Âu, Trung Quốc, Uỷ Ban chứng khoán quốc tế (IOSCO), UỷBan chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ
Đến năm 12/1999, IASC đã chỉ định ủy ban lựa chọn và thành lập Hội đồngthành viên (Trustees) gồm 22 thành viên đến từ các khu vực địa lý, lĩnh vực và chuyênmôn khác nhau Để thực hiện chức năng của mình, vào tháng 2/2001, hội đồng thànhviên Trustees đã thiết lập nên ủy ban sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế gồm 3 tổchức chính là Uỷ ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội đồng cố vấn chuẩn mực(SAC) và Uỷ ban hướng dẫn các chuẩn mực báo cáo tài chính (IFRIC)
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế được ban hành và quản lí bởi ủy ban sánglập chuẩn mực kế toán quốc tế Các chuẩn mực kế toán quốc tế (IASs) vẫn được kếthừa các chuẩn mực kế toán quốc tế do IASC ban hành trước đây và Uỷ ban sáng lậpchuẩn mực kế toán quốc tế tiếp tục xây dựng, ban hành và phát triển các chuẩn mực kếtoán mới với tên goi là chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRSs
Cho đến 1/1/2009, IASC và IASB đã ban hành được 30 chuẩn mực ké toánquốc tế(IAS) và 8 chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế(IFRS)
Hiện nay, đang có sự dịch chuyển dần từ IAS sang IFRS bằng việc ban hànhthêm IFRS Trong đó, IAS đứng trên khía cạnh nào đó mang nguyên tắc giá gốc nhiềuhơn cùng với sự chuyển đổi qua IFRS nguyên tắc giá trị hợp lí được đề cập nhiềuhơn.IFRS đề cập nhiều hơn đến việc trình bày thông tin tài chính như thế nào để đảmbảo lợi ích cao hơn cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính được lập ra từ kết quảcủa công việc kế toán
Trang 64. Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)
Với mục tiêu đáp ứng cho nhu cầu hội nhập, từ năm 1996 Việt Nam dã nghiêncứu toàn bộ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế( IAS) Hệ thống chuẩn mực kế toánViệt Nam được nghiên cứu và xây dựng dựa trên cơ sở các IAS và IFRS được cập nhậtmới nhất, nên thuận lợi là chuẩn mực kế toán Việt Nam đã được vận dụng sát với hệthống chuẩn mực kế toán quốc tế
Tại Việt Nam, Bộ Tài Chính là cơ quan có thẩm quyền ban hành các chuẩn mực
kế toán Các chuẩn mực kế toán này được nghiên cứu và soạn thảo bởi Ban chỉ đạonghiên cứu, soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam gồm 13 thành viên, bao gồm cácthành viên đến từ các cơ quan trực thuộc Bộ Tài Chính và các thành viên đến từ cáctrường đại học và Hội kế toán Việt Nam.Vụ chế độ kế toán là đơn vị thường trực củacác Ban chỉ đạo và các Tổ soạn thảo chuẩn mực, có nhiệm vu tổ chức triển khai việcsoạn thảo, tiếp thu ý kiến và hoàn chỉnh trình Bộ ký ban hành
Việt Nam đã ban hành được 26 chuản mực kế toán sau 5 đợt ban hành Cácchuẩn mực kế toán của Việt Nam cũng đã dịch ra Tiếng Anh nhằm đáp ứng nhu cầucủa nhà đầu tư nước ngoài trong việc tìm hiểu hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam.Các chuẩn mực kế toán Việt Nam so với chuẩn mực kế toán quốc tế đã có sự tương đốiphù hợp về nội dung, về cơ sở đánh giá, ghi nhận và trình bày trên báo cáo tài chính
mà còn cả về hình thức trình bày
5. Các chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS)
Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) là điều kiện để đảm bảo cácdoanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán một cáchthống nhất trong công tác lập báo cáo tài chính Việc áp dụng IFRS nhằm cải thiệnchất lượng thông tin kế toán và do HĐ chuẩn mực kế toán quốc tế thuận tiện cho cácnghiệp vụ tài chính trên thế giới
Giữa những năm 1973 và năm 2000, chuẩn mực quốc tế phát hành Trong thời
kỳ này các nguyên tắc kế toán được biểu hiện là chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Từnăm 2001, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế mô tả các nguyên tắc kế toán với têngọi mới là Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế, mặc dù các chuẩn mực kế toánquốc tế vẫn tiếp tục được thừa nhận
Trang 7Năm 2005, đánh dấu sự bắt đầu của kỷ nguyên mới về cách quản lý kinh doanhtoàn cầu và hoàn thành sự nỗ lực trong 30 năm bằng việc ban hành các nguyên tắc lậpbáo cáo tài chính cho thị trường vốn trên thế giới
Hầu hết các nguyên tắc kế toán được chấp nhận phổ biến (GAAP) của các quốcgia đã bị giảm tầm quan trọng hoặc đang dần dần được thay thế bởi IFRS
IFRS do Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) và Hội đồng giải thíchlập báo cáo tài chính quốc tế (IFRIC) biên soạn theo định hướng thị trường vốn và hệthống lập báo cáo tài chính Phương thức lập báo cáo tài chính được mô tả là tập trungvào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà đầu tư và tập trung vào luồng thông tinđến thị trường vốn Cơ quan nhà nước vẫn sử dụng báo cáo tài chính như là hoạt độngkinh tế, tuy nhiên báo cáo tài chính này được lập cho mục đích của nhà đầu tư
IFRS được áp dụng sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư
Đặc điểm cơ bản của IFRS thông qua các chuẩn mực đó là nguyên tắc giá trịhợp lý được đề cập nhiều hơn Đáng chú ý đó là việc áp dụng giá trị hợp lý trong cácchuẩn mực IAS 16, 36, 38, 39, 40, IFRS 2, IFRS 3 Danh sách các chuẩn mực sử dụnggiá trị hợp lý sẽ nhiều thêm qua thời gian
Có thể nói rằng việc áp dụng IFRS đã mở ra một thời kỳ mới làm thay đổi cáchthức ghi nhận, đo lường và trình bày các chỉ tiêu và khoản mục trên báo cáo tài chính.IFRS được chấp nhận như chuẩn mực chuẩn mực lập báo cáo tài chính cho các công tytìm kiếm sự thừa nhận trên thị trường chứng khoán thế giới Việc áp dụng IFRS sẽtăng khả năng so sánh của các thông tin tài chính và tăng chất lượng thông tin cungcấp cho các nhà đầu tư, giảm sự bất định trong đầu tư, giảm rủi ro đầu tư, tăng hiệuquả của thị trường và giảm thiểu chi phí vốn Hơn nữa, thông qua việc áp dụng IFRS
sẽ giảm ngăn cách buôn bán chứng khoán bằng việc đảm bảo báo cáo tài chính minhbạch hơn báo cáo tài chính được lập theo IFRS dễ hiểu và có thể so sánh sẽ cải thiện
và tạo lập mối quan hệ với người sử dụng báo cáo tài chính
Tuy nhiên, việc áp dụng IFRS cũng không hoàn toàn dễ dàng đối với các doanhnghiệp Một trong những thách thức đó là phải có đội ngũ nhân viên kế toán và tàichính có năng lực Điều này không phải là vấn đề đơn giản vì IFRS được coi là rấtphức tạp ngay cả đối với các nước phát triển Theo đó, phương pháp hạch toán cácgiao dịch theo IFRS dựa trên bản chất các giao dịch và dựa trên nhiều xét đoán vàđánh giá phân tích của các nhà quản lý, những người sẽ tư vấn cho kế toán viên lập
Trang 8báo cáo tài chính Hơn nữa, để áp dụng IFRS đơn vị phải bỏ ra chi phí ban đầu lớn,xây dựng lại hệ thống thu thập, xử lý và trình bày các thông tin tài chính.
6. So sánh VAS và IFRS
6.1.Các thành phần trong bộ Báo cáo tài chính
Theo VAS, bộ báo cáo tài chính gồm 4 báo cáo:
− Bảng cân đối kế toán
− Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
− Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
− Thuyết minh báo cáo tài chính
Theo IFRS, bộ báo cáo tài chính ngoài 4 báo cáo trên còn có thêm các báo cáosau:
− Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu: Với VAS, nội dung này thường được gộp chungtrong phần Thuyết minh báo cáo tài chính
− Báo cáo thu nhập tổng hợp khác: được áp dụng từ 01/01/2009
6.2.Kỳ báo cáo tài chính
VAS cho phép kỳ báo cáo tài chính đầu tiên và cuối cùng có thể kéo dài tối đa
15 tháng
IFRS quy định phải lập báo cáo tài chính ít nhất là 1 năm 1 lần Thời gian của
kỳ kế toán được phép nhiều hoặc ít hơn 1 năm trong trường hợp đơn vị thay đổi thờiđiểm kết thúc năm tài chính
6.3.Đồng tiền chức năng
VAS không định nghĩa khái niệm “đồng tiền chức năng” mà chỉ định nghĩađồng tiền ghi sổ (VAS10)
− “Đồng tiền kế toán” mặc định là Đồng Việt Nam
− Đơn vị muốn sử dụng “Đồng tiền kế toán” khác phải được sự chấp thuận của Bộ tàichính
− Nếu sau kỳ báo báo cáo tài chính đầu tiên mới được chấp thuận:
+ Phải áp dụng các thủ tục xác định số dư đầu kỳ theo “đồng tiền kế toán” mới, màkhông xem xét đến việc đồng tiền trong kỳ kế toán trước là gì
+ Chênh lệch được ghi nhận là “Chênh lệch đánh giá lại tài sản”
IFRS yêu cầu các đơn vị lập báo cáo xác định đồng tiền chức năng của mình
− Đồng tiền chức năng là đồng tiền được sử dụng trong môi trường kinh tế chính mà đơn
vị đang hoạt động
− Lập sổ sách kế toán bằng đồng tiền chức năng
Trang 9− Nếu đơn vị muốn trình bày các Báo cáo tài chính theo đồng tiền khác không phải đồngtiền chức năng, thì áp dụng phương pháp quy đổi trong IAS 21
6.4.Tài sản cố định vô hình
VAS vẫn cho phép ghi nhận một số chi tiêu là chi phí trả trước dài hạn Ví dụ:chi phí đào tạo, chi phí chuyển địa điểm, chi phí nghiên cứu, v.v Những chi phí trảtrước này được khấu hao trong thời gian không quá 3 năm Tuy nhiên những chi tiêulại này không đáp ứng đầy đủ các điều kiện để ghi nhận theo định nghĩa “tài sản vôhình” Ví dụ: không thể để ghi nhận chi tiêu cho đào tạo là tài sản vô hình nếu không
có hợp đồng hợp pháp bắt buộc nhân viên phải làm việc trong một khoảng thời gian tốithiểu nào đó sau khi được đào tạo, chi tiêu cho giai đoạn nghiên cứu phải ghi nhậnngay vào chi phí
VAS đưa ra mức tối đa 20 năm để khấu hao tài sản cố định vô hình
IFRS yêu cầu đánh giá thời gian hữu dụng của tài sản vô hình là hữu hạn hay vôhạn
− Tài sản vô hình có thời gian hữu dụng hữu hạn phải được khấu hao
− Tài sản vô hình có thời gian hữu dụng vô hạn không cần khấu hao nhưng phải thựchiện đánh giá tổn thất tài sản
Tổn thất giá trị tài sản
+ Không có VAS tương đương với IAS 36, Tổn thất giá trị tài sản
+ Có được phép ghi nhận lỗ do tài sản bị suy giảm giá trị hay không?
− Một số VAS đã đề cập đến khái niệm “giá trị có thể thu hồi”; đây là nguyên tắc cơ bản
để hạch toán tổn thất giá trị tài sản
− Bộ Tài chính không yêu cầu các báo cáo theo VAS phải ghi nhận lỗ do tổn thất giá trịtài sản
Lưu ý: IAS 39 có quy định riêng về tổn thất giá trị tài sản tài chính
6.5.Lợi thế thương mại từ việc hợp nhất kinh doanh
VAS 11 – Hợp nhất kinh doanh:
− Lợi thế thương mại được ghi nhận thành chi phí ngay hoặc phân bổ không quá 10 năm
IFRS 3 – Hợp nhất kinh doanh:
− Không được phân bổ lợi thế thương mại nhưng phải đánh giá tổn thất giá trị ít nhất 1năm 1 lần hoặc trong thời gian ngắn hơn hơn nếu có dấu hiệu tổn thất
+ Cả VAS và IFRS đều yêu cầu ghi nhận lợi thế thương mại âm vào thu nhập ngay saukhi tính toán và đánh giá lại các tài sản sẽ nhận và công nợ ước tính phát hiện đượctrong quá trình hợp nhất kinh doanh
Trang 10Giai đoạn phát triển của doanh nghiệp
+ VAS cho phép hoãn lại một số chi phí của giai đoạn trước hoạt động:
− Chi phí thành lập
− Chênh lệch tỷ giá phát sinh trong giai đoạn trước hoạt động của doanh nghiệp mớithành lập
+ IFRS không cho phép hoãn lại những chi phí đó
6.6.Phúc lợi cho nhân viên
− Không có VAS tương đương với IAS 19, Phúc lợi cho nhân viên
− Hướng dẫn ghi nhận dự phòng trợ cấp thôi việc chưa rõ
Doanh nghiệp có thể sử dụng phương pháp thống kê để dự tính và ghi nhậncông nợ liên quan đến phúc lợi của nhân viên sau khi nghỉ hưu hay không?
− Khái niệm về giá trị hiện tại đã được sử dụng trong VAS (ví dụ: VAS 18- Các khoản
dự phòng, Tài sản và Nợ tiềm tàng, VAS 14 –Doanh thu và thu nhập khác)
− Khái niệm về xây dựng mô hình xác suất thống kê đã được sử dụng trong VAS 18
Chương 2: Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi trường ở Việt Nam
hiện nay.
1. Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) liên quan đến kế toán môi trường
Kế toán môi trường có tác dụng đối với DN cụ thể:
− Khắc phục được nhược điểm của kế toán truyền thống: Trong hoàn cảnh ngày nay, kếtoán truyền thống có những hạn chế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến môi trường
Kế toán truyền thống không tách biệt được rõ yếu tố môi trường và cung cấp thông tin
về thiệt hại môi trường của DN, các thông tin về chi phí môi trường thường bị tiềm ẩntrong tài khoản chi phí chung Do đó, nhà quản lý khó có thể nắm bắt được thông tin
về chi phí môi trường khi cần thiết Ngoài ra, việc sử dụng tài khoản chi phí chung cho
Trang 11các chi phí môi trường thường dẫn đến khó hiểu khi các khoản chi phí này được phân
bổ trở lại vào giá thành sản phẩm tại các công đoạn sản xuất dựa vào khối lượng sảnphẩm hay giờ làm việc, sự phân bổ này có thể dẫn đến sai lầm khi không phân bổchính xác một số loại chi phí môi trường Khi thực hiện kế toán môi trường, sẽ giúpcác DN khắc phục được những nhược điểm này
− Nâng cao khả năng cạnh tranh của DN: Việc áp dụng kế toán môi sẽ giúp cung cấpthông tin chính xác, đầy đủ và toàn diện hơn để đo lường quá trình thực hiện, từ đó cảithiện hình ảnh của DN với các bên liên quan, tránh được những chi phí như tiền phạt,chi phí rủi ro khắc phục, Mặt khác, nếu thực hiện tốt kế toán môi trường sẽ hạn chếđược yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, năng lượng, nhân công bị tiêu hao trong quátrình tạo ra ô nhiễm, làm tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, tăng lợi thế cạnh tranh dogiảm được giá thành sản xuất Từ việc thực hiện tốt kế toán môi trường giúp nhà quảntrị có thể đưa ra những quyết định quan trọng như giảm chi phí sản xuất, tăng năngsuất, đầu tư máy móc thiết bị để sản xuất tốt hơn, sạch hơn, đem lại những sản phẩm
có chất lượng, dẫn đến làm giảm giá thành Điều này sẽ giúp DN có lợi thế cạnh tranh
về giá bán và lợi nhuận cao hơn, cải thiện hình ảnh DN và mối quan hệ với cộng đồng,giảm được các vấn đề về mặt pháp lý, nâng cao vị thế của DN trên thị trường
Kế toán môi trường có tác dụng đối với các bên liên quan:
Các bên liên quan đối với DN không chỉ là người lao động trong DN, chịu ảnhhưởng lớn và tác động trực tiếp từ môi trường làm việc mà còn là các đối tượng bênngoài DN như cơ quan chính phủ, các nhà đầu tư, các cổ đông, khách hàng, nhà cungcấp, cộng đồng dân cư xung quang bị ô nhiễm và những đối tượng quan tâm tới môitrường khác
Nếu DN có thái độ và hành vi tốt với môi trường thì đây sẽ là một thuận lợi rấtlớn trong quá trình phát triển của DN, nâng vị thế của DN đối với thị trường trongnước và toàn cầu, giúp DN hoà nhập vào thị trường quốc tế một cách dễ dàng hơn.Việc áp dụng tốt kế toán môi trường vào DN sẽ làm hài lòng và củng cố lòng tin vớicác bên có liên quan
Chúng ta có thể thấy, kế toán môi trường còn là khá mới với các DN Việt Namnhưng áp dụng kế toán môi trường vào kế toán Việt Nam là rất cần thiết Bởi hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các DN hiện nay có liên quan tới những yếu tố môitrường xung quanh như môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Nó có vai trò quantrọng trong sự phát triển bền vững đối với các DN nói riêng và nền kinh tế nói chung
Trang 12Khi áp dụng kế toán môi trường sẽ giúp các nhà quản lý nắm bắt được những thông tin
về môi trường, chi phí môi trường giúp các nhà quản lý nắm rõ và đưa ra những địnhhướng trong tương lai./
2. Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) liên quan đến kế toán môi trường
Chuẩn mực kế toán quốc tế 1 (IAS 1) – Trình bày báo cáo tài chính
Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm với môi trường nhưngành công nghiệp, hóa chất, giấy… việc thiếu thông tin kế toán liên quan đến xử lý
nợ phải trả môi trường, suy giảm tài sản nhằm cung cấp cho các đối tượng sử dụngthông tin bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ
IAS 1 không yêu cầu trong việc công khai thông tin của chi phí môi trườnghoặc nợ phải trả môi trường Việc ghi nhận nợ phải trả về môi trường có thể là rõ rànghơn trong việc xác định và xử lý, vì liên quan đến thời gian, đo lường và sự khôngchắc chắn của khoản nợ
Thực tiễn tại nhiều quốc gia, IAS 1 được vận dụng trong việc công bố thông tinriêng của chi phí môi trường và nợ phải trả môi trường của doanh nghiệp bởi tác dụngcủa những thông tin về tình hình tài chính, hoạt động và thay đổi trong tình hình tàichính của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của các đối tượng
sử dụng báo cáo tài chính
Trang 13 Chuẩn mực kế toán quốc tế 16 (IAS 16) – Nhà xưởng, máy móc, thiết bị
IAS 16 liên quan đến việc ghi nhận và đo lường tài sản, nhà xưởng và thiết bị.Nhà xưởng, thiết bị có thể được mua một phần hoặc toàn bộ chủ yếu vì mục đích bảo
vệ môi trường IAS 16 thừa nhận chi phí liên quan đến một khoản mục tài sản, nhàmáy, thiết bị được vốn hóa chỉ khi mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai Nếu chi phímôi trường liên quan đến giảm nhẹ thiệt hại về môi trường và tránh đóng cửa nhà máytrong tương lai sẽ được vốn hóa
IAS 16 yêu cầu rằng nếu số tiền thu hồi của một tài sản, nhà máy, thiêt bị môitrường đã giảm xuống dưới giá trị ghi sổ của nó suy giảm, giá trị suy giảm nên đượcghi nhận là một khoản chi phí
Chuẩn mực kế toán quốc tế 37 (IAS 37) – Các khoản dự phòng, tài sản tiềm tàng
và nợ tiềm tàng
IAS 37 yêu cầu rằng một điều khoản được ghi nhận dự phòng nợ phải trả khidoanh nghiệp có nghĩa vụ pháp lý hiện tại hoặc như là kết quả của một sự kiện trongquá khứ mà có thể được ước tính một cách đáng tin cậy và rất có thể nhiều khả năng sẽlàm giảm sút về những lợi ích kinh tế dẫn đến yêu cầu phải thanh toán nghĩa vụ nợ
Theo IAS 37, một nghĩa vụ phát sinh từ hành động của một doanh nghiệp màtrong thực tiễn hoặc trong quá khứ hoặc một chính sách môi trường công bố sẽ chỉ rarằng doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm và do đó doanh nghiệp sẽ dự báo rằng nó
sẽ xảy ra trách nhiệm đó Khi các doanh nghiệp có thể tránh được mức độ và thời gianlàm sạch môi trường dẫn đến khó có khả năng phải chi trả thì một trách nhiệm pháp lý
về môi trường tiềm tàng sẽ được công khai
Chuẩn mực kế toán quốc tế 38 (IAS 38) – Tài sản vô hình
IAS 38 được sử dụng để xác định, ghi nhận và công bố thông tin các mục tàisản vô hình hình thành từ hoạt động môi trường
3. Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) liên quan đến kế toán môi trường
Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm với môi trường nhưngành công nghiệp, hóa chất, giấy… việc thiếu thông tin kế toán liên quan đến xử lý
nợ phải trả môi trường, suy giảm tài sản nhằm cung cấp cho các đối tượng sử dụngthông tin bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của họ
IFRS không yêu cầu trong việc công khai thông tin của chi phí môi trường hoặc
nợ phải trả môi trường Việc ghi nhận nợ phải trả về môi trường có thể là rõ ràng hơn