1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi trường ở Việt Nam hiện nay

26 694 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 55,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1: Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), các chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và kế toán môi trường. 2 1.1. Định nghĩa về kế toán và chuẩn mực kế toán 2 1.2. Chuẩn mực kế toán quốc tế 2 1.3. Chuẩn mực kế toán Việt Nam 3 1.4. Sự ra đời của kế toán môi trường và hệ thống KTMT 3 1.5. Các chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) 4 Chương 2: Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi trường 7 ở Việt Nam hiện nay 7 2.1. Chuẩn mực IAS, VAS với kế toán môi trường 7 2.1.1. VAS không tách biệt được rõ yếu tố môi trường và cung cấp thông tin về thiệt hại môi trường của DN 7 2.1.2. VAS chưa đề cập cụ thể về kế toán môi trường: 7 2.1.3. VAS về các tài khoản kế toán môi trường còn có nhiều hạn chế 8 2.1.4. VAS chưa phân loại rõ rang nợ phải trả trong lĩnh vực kế toán môi trường 9 2.1.5. Không giống như IAS thì VAS cũng chưa phân loại rõ ràng các loại chi phí môi trường 10 2.1.6. Kinh nghiệm đối với Việt Nam về việc áp dụng kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm môi trường 11 2.1.7. Thu nhập môi trường 12 2.2. Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) liên quan đến kế toán môi trường 13 KẾT LUẬN 14 Tài liệu tham khảo 15 Phụ lục 16

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

Quá trình toàn cầu hóa cùng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường vốnquốc tế đòi hỏi thông tin tài chính phải nâng cao chất lượng và phải so sánh được vớinhau; để so sánh được với nhau các thông tin tài chính phải được ghi nhận trên cùng

hệ thống chuẩn mực kế toán chung, là tiền đề để hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế(IAS) được hình thành Trên thực tế, các quốc gia có thể áp dụng các chuẩn mực kếtoán khác nhau để lập các báo cáo tài chính và các chuẩn mực kế toán có thể có sựkhác biệt Sự khác biệt của hệ thống các chuẩn mực kế toán xuất phát từ sự khác nhau

về văn hóa, hệ thống pháp lý, chính trị, quá trình hình thành và phát triển của các hiệphội nghề nghiệp Và các báo cáo tài chính của cùng một doanh nghiệp được lập trêncác hệ thống chuẩn mực khác nhau có thể có sự khác biệt

Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, với các chuẩn mực kế toán đầu tiên đượcban hành vào ngày 31/12/2000, việc xây dựng các chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)dựa trên việc kế thừa và điều chỉnh các chuẩn mực kế toán quốc tế cho phù hợp vớiđặc điểm và tình hình của Việt Nam Tuy nhiên, việc xây dựng có điều chỉnh đó lạilàm cho các chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện nay có sự khác biệt so với các chuẩnmực kế toán quốc tế Tuy nhiên, sự khác biệt trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam

so với chuẩn mực kế toán quốc tế có thể sẽ dẫn đến các khác biệt về các 3 thông tintrong báo cáo tài chính ảnh hưởng không chính xác đến quá trình phân tích và so sánh

để ra áp dụng vào kế toán môi trường ở Việt Nam Với tình hình chung như vậy đề tài

“Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi trường ở Việt Nam hiện nay”

hy vọng sẽ cung cấp làm rõ thêm một số vấn đề về việc áp dụng kế toán môi trường tạiViệt Nam hiện nay

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tiểu luận gồm 2 chương:

Chương 1: Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS),

hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), các chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế(IFRS) và kế toán môi trường

Chương 2: Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi trường ở ViệtNam hiện nay

Trang 3

Chương 1: Khái quát chung về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS), các chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế

(IFRS) và kế toán môi trường.

1.1.Định nghĩa về kế toán và chuẩn mực kế toán

Kế toán là một hoạt động mang tính chuyên môn cao có chức năng cung cấpcác thông tin trung thực, hợp lý về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp, giúp cho người sử dụng có thể đưa ra các quyết định Kế toán phải làmcho người sử dụng hiểu được, tin cậy và phải giúp so sánh được các thông tin tàichính Muốn vậy, cần phải có các quy định làm khuôn mẫu giúp đánh giá, ghi nhận vàtrình bày thông tin tài chính, đó chính là những chuẩn mực kế toán 9 Vậy chuẩn mực

kế toán là những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, nội dung, phương pháp và thủtục kế toán cơ bản, chung nhất, làm cơ sở ghi chép kế toán và lập Báo cáo tài chínhnhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý, khách quan về thực trạng tài chính vàkết quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.Chuẩn mực kế toán quốc tế

Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống chuẩn mực đề cập đến nhữngvấn đề mang tính nền tảng, khuôn mẫu, những nguyên tắc, phương pháp có tính chất

cơ bản được chấp thuận rộng rãi trên toàn thế giới Cơ quan đầu tiên xây dựng và banhành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế chính là Ủy Ban chuẩn mực kế toán quốc tế(“IASC”) Đây là một tổ chức độc lập thành lập vào năm 1973, bao gồm đại diện của

13 nước thành viên trực thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế (“IFAC”), đại diện của 03 tậpđoàn kinh tế lớn và một số quan sát viên độc lập đến từ Ủy Ban Châu Âu, Trung Quốc,

Ủy Ban chứng khoán quốc tế (IOSCO), Ủy Ban chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ.Đến năm 12/1999, IASC đã chỉ định ủy ban lựa chọn và thành lập Hội đồng thành viên(“Trustees”) gồm 22 thành viên đến từ các khu vực địa lý, lĩnh vực và chuyên mônkhác nhau Để thực hiện chức năng của mình, vào tháng 02/2001, Hội đồng thành viênTrustees đã thiết lập nên Ủy Ban sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế gồm ba tổ chứcchính là Ủy Ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội đồng cố vấn chuẩn mực(SAC) và Ủy Ban hướng dẫn các chuẩn mực báo cáo tài chính (IFRIC) Hệ thốngchuẩn mực kế toán quốc tế được ban hành và quản lý bởi Ủy Ban sáng lập chuẩn mực

Trang 4

mực kế toán quốc tế do IASC ban hành trước đây và Ủy Ban sáng lập chuẩn mực kếtoán quốc tế tiếp tục xây dựng, ban hành và phát triển các chuẩn mực kế toán mới vớitên gọi là chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRSs 10 Cho đến 01/01/2009, IASC

và IASB đã ban hành được 30 chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và 08 chuẩn mực báocáo tài chính quốc tế (IFRS) Hiện nay, đang có sự dịch chuyển dần từ IAS sang IFRSbằng việc ban hành thêm IFRS Trong đó, IAS đứng trên khía cạnh nào đó mangnguyên tắc giá gốc nhiều hơn cùng với sự chuyển đổi qua IFRS nguyên tắc giá trị hợp

lý được đề cập nhiều hơn IFRS đề cập nhiều hơn đến việc trình bày thông tin tài chínhnhư thế nào để đảm bảo lợi ích cao hơn cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chínhđược lập ra từ kết quả của công việc kế toán, Mai Hương (2008)

1.3.Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Với mục tiêu đáp ứng cho nhu cầu hội nhập, từ năm 1996 Việt Nam đã nghiêncứu toàn bộ hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Hệ thống chuẩn mực kế toánViệt Nam được nghiên cứu và xây dựng dựa trên cơ sở các IAS và IFRS được cập nhậtmới nhất, nên thuận lợi là chuẩn mực kế toán Việt Nam đã được vận dụng sát với hệthống chuẩn mực kế toán quốc tế Tại Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan có thẩmquyền ban hành các chuẩn mực kế toán Các chuẩn mực kế toán này được nghiên cứu

và soạn thảo bởi Ban chỉ đạo nghiên cứu, soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam gồm

13 thành viên, bao gồm các thành viên đến từ các cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính vàcác thành viên đến từ các trường đại học và Hội kế toán Việt Nam Vụ chế độ kế toán

là đơn vị thường trực của các Ban chỉ đạo và các Tổ soạn thảo chuẩn mực, có nhiệm

vụ tổ chức triển khai việc soạn thảo, tiếp thu ý kiến và hoàn chỉnh trình Bộ ký banhành Việt Nam đã ban hành được 26 chuẩn mực kế toán sau 5 đợt ban hành Cácchuẩn mực kế toán của Việt Nam cũng đã dịch ra tiếng Anh nhằm đáp ứng nhu cầu củanhà đầu tư nước ngoài trong việc tìm hiểu hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam Cácchuẩn mực kế toán Việt Nam so với chuẩn mực kế toán quốc tế đã 11 có sự tương đốiphù hợp về nội dung, về cơ sở đánh giá, ghi nhận và trình bày trên BCTC mà còn cả

về hình thức trình bày

1.4.Sự ra đời của kế toán môi trường và hệ thống KTMT

− Kế toán môi trường (KTMT) là một vấn đề khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng nó đã xuấthiện ở các nước phát triển từ thập niên 90 của thế kỷ trước Kế toán môi trường xuấthiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1972 Tuy nhiên, phải đến năm 1990, kế toán môi trường

Trang 5

mới bắt đầu được nghiên cứu tại các doanh nghiệp Và đến năm 1992, Ủy ban Bảo vệmôi trường (BVMT) Hoa Kỳ mới tiến hành dự án về kế toán môi trường nhằm khuyếnkích và thúc đẩy các doanh nghiệp nhận thức đầy đủ các yếu tố về chi phí môi trường

và sự ảnh hưởng của chi phí môi trường đến quyết định kinh doanh

− Kế toán môi trường ra đời từ áp lực của công chúng và các phong trào bảo vệ môitrường Nhờ có áp lực này mà các doanh nghiệp phải quan tâm hơn đến vấn đề môitrường trong quá trình kinh doanh của mình Nếu gây ra sự cố về môi trường thì doanhnghiệp sẽ phải bồi thường trước chính phủ nhưng điều này lại làm tăng chi phí, ảnhhưởng đến các khoản nợ tiềm tàng, từ đó ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và lợi ích của cổđông

1.5.Các chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS)

Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) là điều kiện để đảm bảo cácdoanh nghiệp và tổ chức trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán một cáchthống nhất trong công tác lập báo cáo tài chính Việc áp dụng IFRS nhằm cải thiệnchất lượng thông tin kế toán và do HĐ chuẩn mực kế toán quốc tế thuận tiện cho cácnghiệp vụ tài chính trên thế giới

Giữa những năm 1973 và năm 2000, chuẩn mực quốc tế phát hành Trong thời

kỳ này các nguyên tắc kế toán được biểu hiện là chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Từnăm 2001, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế mô tả các nguyên tắc kế toán với têngọi mới là Chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc tế, mặc dù các chuẩn mực kế toánquốc tế vẫn tiếp tục được thừa nhận

Năm 2005, đánh dấu sự bắt đầu của kỷ nguyên mới về cách quản lý kinh doanhtoàn cầu và hoàn thành sự nỗ lực trong 30 năm bằng việc ban hành các nguyên tắc lậpbáo cáo tài chính cho thị trường vốn trên thế giới

Hầu hết các nguyên tắc kế toán được chấp nhận phổ biến (GAAP) của các quốc

Trang 6

IFRS do Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) và Hội đồng giải thíchlập báo cáo tài chính quốc tế (IFRIC) biên soạn theo định hướng thị trường vốn và hệthống lập báo cáo tài chính Phương thức lập báo cáo tài chính được mô tả là tập trungvào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà đầu tư và tập trung vào luồng thông tinđến thị trường vốn Cơ quan nhà nước vẫn sử dụng báo cáo tài chính như là hoạt độngkinh tế, tuy nhiên báo cáo tài chính này được lập cho mục đích của nhà đầu tư.

IFRS được áp dụng sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư Cụ thể,báo cáo tài chính cung cấp thông tin toàn diện, đúng đắn, kịp thời và do đó nhà đầu tư

có nhiều thông tin về thị trường vốn giảm được rủi ro trong việc đưa ra quyết địnhkinh tế báo cáo tài chính được định dạng theo biểu mẫu thống nhất và loại trừ sự khácbiệt trong chuẩn mực kế toán, các thông tin trên báo cáo tài chính có tính so sánh qua

đó sẽ giúp cho các nhà đầu tư giảm chi phí trong việc xử lý thông tin kế toán, giảm sựkhác biệt khác biệt quốc tế trong chuẩn mực kế toán Ngoài ra, chất lượng thông tincao hơn, tính minh bạch rõ ràng sẽ làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư

Đặc điểm cơ bản của IFRS thông qua các chuẩn mực đó là nguyên tắc giá trịhợp lý được đề cập nhiều hơn Đáng chú ý đó là việc áp dụng giá trị hợp lý trong cácchuẩn mực IAS 16, 36, 38, 39, 40, IFRS 2, IFRS 3 Danh sách các chuẩn mực sử dụnggiá trị hợp lý sẽ nhiều thêm qua thời gian

Theo kế hoạch của IASB, trong thời gian tới IASB sẽ tập trung vào những vấn

đề liên quan đến IFRS Vấn đề lập báo cáo (hiện được đổi tên là trình bày báo cáo tàichính) là công việc ưu tiên phải làm Đầu tiên là giải quyết những gì những gì đượctrình bày trên báo cáo tài chính, dẫn đến việc sửa đổi dự án ghi nhận doanh thu thôngqua việc phân tích tài sản, nợ phải trả thay vì phương pháp hiện nay tập trung vào cácnghiệp vụ đã hoàn thành và doanh thu đã thu được tiền Phương pháp này có ảnhhưởng lớn về thời gian ghi nhận lợi nhuận, do đó dẫn đến việc ghi nhận doanh thu theocác giai đoạn thông qua chu trình nghiệp vụ

Có thể nói rằng việc áp dụng IFRS đã mở ra một thời kỳ mới làm thay đổi cáchthức ghi nhận, đo lường và trình bày các chỉ tiêu và khoản mục trên báo cáo tài chính.IFRS được chấp nhận như chuẩn mực chuẩn mực lập báo cáo tài chính cho các công tytìm kiếm sự thừa nhận trên thị trường chứng khoán thế giới Việc áp dụng IFRS sẽtăng khả năng so sánh của các thông tin tài chính và tăng chất lượng thông tin cungcấp cho các nhà đầu tư, giảm sự bất định trong đầu tư, giảm rủi ro đầu tư, tăng hiệu

Trang 7

quả của thị trường và giảm thiểu chi phí vốn Hơn nữa, thông qua việc áp dụng IFRS

sẽ giảm ngăn cách buôn bán chứng khoán bằng việc đảm bảo báo cáo tài chính minhbạch hơn báo cáo tài chính được lập theo IFRS dễ hiểu và có thể so sánh sẽ cải thiện

và tạo lập mối quan hệ với người sử dụng báo cáo tài chính

Tuy nhiên, việc áp dụng IFRS cũng không hoàn toàn dễ dàng đối với các doanhnghiệp Một trong những thách thức đó là phải có đội ngũ nhân viên kế toán và tàichính có năng lực Điều này không phải là vấn đề đơn giản vì IFRS được coi là rấtphức tạp ngay cả đối với các nước phát triển Theo đó, phương pháp hạch toán cácgiao dịch theo IFRS dựa trên bản chất các giao dịch và dựa trên nhiều xét đoán vàđánh giá phân tích của các nhà quản lý, những người sẽ tư vấn cho kế toán viên lậpbáo cáo tài chính Hơn nữa, để áp dụng IFRS đơn vị phải bỏ ra chi phí ban đầu lớn,xây dựng lại hệ thống thu thập, xử lý và trình bày các thông tin tài chính

Trang 8

Chương 2: Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi trường

ở Việt Nam hiện nay

2.1.Chuẩn mực IAS, VAS với kế toán môi trường

2.1.1.VAS không tách biệt được rõ yếu tố môi trường và cung cấp thông tin về thiệt hại môi trường của DN

Trái với IAS, trong hoàn cảnh ngày nay, kế toán truyền thống ở Việt Nam cónhững hạn chế, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến môi trường Kế toán truyền thốngkhông tách biệt được rõ yếu tố môi trường và cung cấp thông tin về thiệt hại môitrường của DN, các thông tin về chi phí môi trường thường bị tiềm ẩn trong tài khoảnchi phí chung Do đó, nhà quản lý khó có thể nắm bắt được thông tin về chi phí môitrường khi cần thiết Ngoài ra, việc sử dụng tài khoản chi phí chung cho các chi phímôi trường thường dẫn đến khó hiểu khi các khoản chi phí này được phân bổ trở lạivào giá thành sản phẩm tại các công đoạn sản xuất dựa vào khối lượng sản phẩm haygiờ làm việc, sự phân bổ này có thể dẫn đến sai lầm khi không phân bổ chính xácmột số loại chi phí môi trường Khi thực hiện kế toán môi trường, sẽ giúp các DNkhắc phục được những nhược điểm này

2.1.2.VAS chưa đề cập cụ thể về kế toán môi trường:

Việc áp dụng kế toán môi trường sẽ giúp cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ

và toàn diện hơn để đo lường quá trình thực hiện, từ đó cải thiện hình ảnh của DN vớicác bên liên quan, tránh được những chi phí như tiền phạt, chi phí rủi ro khắc phục, Mặt khác, nếu thực hiện tốt kế toán môi trường sẽ hạn chế được yếu tố đầu vào nhưnguyên vật liệu, năng lượng, nhân công bị tiêu hao trong quá trình tạo ra ô nhiễm, làmtăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, tăng lợi thế cạnh tranh do giảm được giá thành sảnxuất Tuy vậy, vẫn chưa được thực hiện Từ việc thực hiện tốt kế toán môi trường giúpnhà quản trị có thể đưa ra những quyết định quan trọng như giảm chi phí sản xuất, tăngnăng suất, đầu tư máy móc thiết bị để sản xuất tốt hơn, sạch hơn, đem lại những sảnphẩm có chất lượng, dẫn đến làm giảm giá thành Điều này sẽ giúp DN có lợi thế cạnhtranh về giá bán và lợi nhuận cao hơn, cải thiện hình ảnh DN và mối quan hệ với cộngđồng, giảm được các vấn đề về mặt pháp lý, nâng cao vị thế của DN trên thị trường

Trang 9

2.1.3.VAS về các tài khoản kế toán môi trường còn có nhiều hạn chế

Thực tế cho đến nay, yếu tố chi phí “môi trường” và thu nhập do “môi trường”mang lại không nằm trong một tài khoản, một khoản mục riêng rẽ, cụ thể nào của kếtoán Rất nhiều chi phí liên quan đến môi trường đang phản ánh chung trong các tàikhoản chi phí quản lý và các nhà quản lý kinh tế không thể phát hiện, không thể thấyđược quy mô và tính chất của chi phí môi trường nói chung và từng khoản chi phí môitrường nói riêng Ngoài ra, hiện nay, trên các tài khoản kế toán chưa ghi nhận các chiphí đáng kể liên quan đến môi trường như chi phí sửa chữa, đền bù, chi phí khắc phục

sự cố và chi phí dọn dẹp, xử lý trong các vụ tai nạn, hủy hoại môi trường sinh thái,môi trường sống Hiện có rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức đang hướng tới một quytrình sản xuất kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ theo tiêu chuẩn “xanh, sạch”, thânthiện với môi trường và phù hợp với chiến lược phát triển bền vững như để thực hiện

kế toán môi trường, mỗi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và cả các dự án mới đềuphải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo Luật bảo vệ môi trường và thựchiện đánh giá tác động môi trường Tuy nhiên, việc áp dụng kế toán môi trường ở ViệtNam gặp phải nhiều khó khăn vì xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó:

− Việt Nam có quá ít chuyên gia cũng như tài liệu nghiên cứu tổng quan về vấn đề này.Nguồn số liệu - cơ sở để thực hiện hạch toán môi trường còn thiếu Số liệu về sử dụngtài nguyên cho các hoạt động kinh tế với chức năng là đầu vào của sản xuất tuy cóđược hạch toán nhưng chưa đầy đủ Việt Nam chưa xây dựng được một ngân hàng dữliệu về môi trường quốc gia (thông tin về tài sản môi trường Ví dụ: tài nguyên nước,khoáng sản, rừng; các công nghệ xử lý chất thải; các bộ tiêu chuẩn môi trường trongtừng ngành, lĩnh vực …) làm cơ sở cho hạch toán

− Chưa cơ quan có trách nhiệm nào công bố mức chi tiêu hàng năm cho các hoạt độngbảo vệ môi trường Sở dĩ như vậy vì chi tiêu cho hoạt động này của nước ta chủ yếu là

từ nguồn ngân sách Nhà nước và được phân bổ cho nhiều bộ, ngành có chức năng thựchiện các hoạt động bảo vệ môi trường như Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Côngnghiệp, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Thủy sản

Trang 10

− Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường như: thuế tài nguyên, phí ô nhiễm chưađược áp dụng phổ biến Các văn bản pháp lý và các tiêu chuẩn về môi trường tronghoạt động của doanh nghiệp còn thiếu và chưa đồng bộ Các doanh nghiệp, tổ chức, cánhân gây ô nhiễm chưa buộc phải chi trả theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trảchi phí.

− Nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, tổ chức đối với cộng đồng còn ởtrình độ thấp Nhân tố môi trường hầu như chưa được tính đến trong các phương ánsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

− Công tác đào tạo các chuyên gia hoặc kế toán viên có kiến thức về kế toán môi trườngcòn rất hạn chế Do đó chưa xây dựng được một đội ngũ kế toán viên chuyên nghiệp

Qua các khái niệm tài sản môi trường nêu trên, tài sản môi trường có các đặctrưng sau:

− Tài sản môi trường được hình thành với mục đích bảo vệ môi trường, là một nguồn lựcđược kiểm soát của doanh nghiệp, phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ và dự kiếnmang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp

− Tài sản môi trường thỏa mãn các tiêu chí để ghi nhận như là một tài sản, được phân bổtrong các thời gian mà chúng tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai

− Nếu chi phí môi trường đáp ứng các tiêu chuẩn để được công nhận như một tài sản, thìchi phí môi trường được vốn hóa thành tài sản

Trang 11

Các loại tài sản môi trường có thể là tài sản dài hạn hoặc tài sản ngắn hạn.

2.1.4.VAS chưa phân loại rõ rang nợ phải trả trong lĩnh vực kế toán môi trường

Nợ phải trả môi trường, được định nghĩa: Là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệpphải thực hiện thanh toán khoản chi phí phát sinh liên quan đến hoạt động môi trường

và đáp ứng các tiêu chí để ghi nhận một trách nhiệm

Một trách nhiệm là một nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các sựkiện trong quá khứ, mà việc thanh toán dự kiến sẽ dẫn đến sự giảm sút về lợi ích kinh

tế của doanh nghiệp

Việc ghi nhận nợ phải trả môi trường khi phát sinh một trách nhiệm pháp lý môitrường (hoặc một điều khoản cho một trách nhiệm pháp lý môi trường) được chi phốibởi các tiêu chí ghi nhận của một trách nhiệm môi trường Trong một số quốc gia, nợphải trả môi trường được phân biệt với các khoản nợ khác, nợ thương mại và khoảntrích trước chi phí phải trả

Một trách nhiệm pháp lý về môi trường được ghi nhận khi có một trách nhiệmcủa doanh nghiệp phải gánh chịu một khoản chi phí môi trường, tham gia một cam kếthoặc phát sinh nghĩa vụ pháp lý về môi trường Trong doanh nghiệp, căn cứ vào chínhsách môi trường xây dựng để xây dựng nghĩa vụ môi trường Một nghĩa vụ môi trường

sẽ phát sinh trách nhiệm pháp lý về môi trường được ghi nhận Khi hình thành mộtnghĩa vụ, doanh nghiệp cần xác định, đo lường và ghi nhận nợ phải trả môi trường vàochi phí sản xuất kinh doanh Nghĩa vụ của doanh nghiệp không chỉ bao gồm các nghĩa

vụ pháp lý mà còn nghĩa vụ doanh nghiệp tự xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn môitrường của đơn vị như:

− Báo cáo môi trường của doanh nghiệp cho khách hàng, chính sách quản lý môi trườngcủa doanh nghiệp được công khai bên ngoài

− Tiêu chuẩn môi trường quy định tại doanh nghiệp

− Kỳ vọng của cộng đồng và chính phủ về tiêu chuẩn môi trường

Khoản nợ phải trả môi trường phát sinh liên quan đến thực hiện các hành độngkhắc phục hậu quả, phục hồi các vùng bị ô nhiễm môi trường, đóng cửa hoặc loại bỏcho đến khi hoạt động xử lý môi trường hoặc hoạt động di dời hoàn thành

2.1.5.Không giống như IAS thì VAS cũng chưa phân loại rõ ràng các loại chi phí môi trường

Trang 12

Chi phí môi trường gồm có hai loại: hiện hữu và không hiện hữu (chi phí ẩn).Chi phí hiện hữu bao gồm các chi phí trực tiếp liên quan đến cải tiến, thay thế côngnghệ và quy trình sản xuất, chi phí làm sạch và chi phí bị loại bỏ, chi phí xả thải, chiphí để có giấy phép hoạt động, các khoản phạt về môi trường, phí và lệ phí môi trườngtheo yêu cầu của pháp luật Chi phí không hiện hữu bao gồm chi phí lên quan đến cácyếu tố nhằm quản lý, giám sát các vấn đề môi trường trong doanh nghiệp Các chi phínày thường nằm trong chi phí hành chính, chi phí tư vấn pháp lý, đào tạo nhân viên vềtrình độ và nhận thức môi trường.

2.1.6.Kinh nghiệm đối với Việt Nam về việc áp dụng kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm môi trường

Theo kinh nghiệm áp dụng, ngay tại các nước có nền kinh tế phát triển, có bềdày phát triển về kế toán chi phí và tính giá thành trên cả hai phương diện lý luận vàthực tiễn thì việc áp dụng những lý thuyết hiện đại còn khá hạn chế Chính vì vậy, mặc

dù được tiếp cận với nhiều lý thuyết hiện đại nhưng việc áp dụng ngay những lý thuyết

đó vào thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam là một vấn đề thực sự khókhăn Việt Nam với điều kiện kinh tế thấp hơn và nền móng về kế toán chi phí và tínhgiá thành vẫn còn hạn chế, những lý thuyết về kế toán chi phí và tính giá thành ở cácnước phát triển vẫn chưa thể áp dụng một cách triệt để trong các doanh nghiệp ViệtNam hiện nay Trước mắt, Việt Nam nên áp dụng một số biện pháp để hoàn thiện hơn

hệ thống kế toán chi phí và tính giá thành:

− Xác định trung tâm chi phí từ đó hoàn thiện việc xác định đối tượng kế toán tập hợpchi phí sản xuất: Để quản lý tốt doanh nghiệp, nên tổ chức các bộ phận quản lý khácnhau những bộ phận này có chức năng, nhiệm vụ riêng biệt, thông thường có các bộphận: các văn phòng, các phân xưởng, các kho hàng Các trung tâm này ngoài việctập hợp chi phí còn phải tập hợp theo sản phẩm nhằm kiểm tra, kiểm soát ghi chú vàlập báo cáo chi phí sản xuất theo bộ phận

− Hoàn thiện việc phân loại chi phí sản xuất cho kế toán quản trị doanh nghiệp: việcphân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sẽ thực hiện theo nhiều tiêu chuẩn khácnhau Để phục vụ cho việc ra quyết định trong sản xuất kinh doanh cần phân loại chiphí theo mức hoạt động thành các biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp

− Hoàn thiện hệ thống chứng từ kế toán: sử dụng là những chứng từ đã được quy địnhcủa Nhà nước trong kế toán tài chính Đồng thời thiết kế một số chứng từ kế toán cầnthiết để phản ánh các nội dung thông tin thích hợp theo yêu cầu và mục đích quản trị

Trang 13

nội bộ ví dụ như các chứng từ trung gian để tổng hợp định mức các chi phí vật liệu,nhân công để tập hợp chi phí theo từng đối tượng.

Theo IAS, Chi phí môi trường bao gồm các chi phí của các bước thực hiện,hoặc yêu cầu phải được thực hiện để quản lý các tác động môi trường của doanhnghiệp một cách có trách nhiệm với môi trường, cũng như các chi phí khác phát sinhcho các mục tiêu và yêu cầu môi trường của các doanh nghiệp

Chi phí môi trường được ghi nhận trong khoảng thời gian hiện tại mà chúngđược xác định Trong một số trường hợp chi phí môi trường có thể liên quan đến thiệthại đã xảy ra trong một khoảng thời gian trước, như thiệt hại về môi trường đối với tàisản trước khi thu hồi, hậu quả của ô nhiễm môi trường trong một khoảng thời giantrước đó mà hiện nay phải yêu cầu xử lý và làm sạch, chi phí xử lý chất thải độc hạiđược tạo ra trong một khoảng thời gian trước đây trong quá trình sản xuất

Nếu chi phí môi trường đáp ứng các tiêu chuẩn để được công nhận như một tàisản thì phải được vốn hóa Tài sản môi trường là chi phí môi trường được vốn hóa khiđáp ứng các tiêu chí để được ghi nhận như một tài sản và được trình bày trên bảng cânđối kế toán

Chi phí môi trường phải được vốn hóa nếu chúng liên quan trực tiếp hoặc giántiếp đến lợi ích kinh tế của doanh nghiệp trong tương lai

Chi phí môi trường không đáp ứng các tiêu chuẩn để được công nhận như một tàisản cần phải được phản ánh ngay vào báo cáo kết quả kinh doanh qua các thời kỳ thíchhợp trong hiện tại và tương lai Chi phí môi trường được phản ánh ngay vào báo cáo kếtquả kinh doanh kỳ hiện tại bao gồm: Chi phí xử lý các chất thải, chi phí làm sạch liênquan đến hoạt động kinh doanh hiện tại, chi phí xử lý ô nhiễm phát sinh trong khoảngthời gian trước đây, doanh nghiệp có trách nhiệm phải làm sạch, chi phí cho hoạt độngquản lý môi trường thường xuyên, chi phí cho kiểm toán môi trường, tiền phạt phátsinh trong kỳ đối với việc không tuân thủ các quy định về môi trường, bồi thường chobên thứ ba thiệt hại môi trường…

2.1.7.Thu nhập môi trường

Theo IAS, Thu nhập môi trường là kết quả thu được từ thực hiện các hoạt độngbảo vệ môi trường trong doanh nghiệp Thu nhập môi trường bắt nguồn từ việc bánphế liệu, phế thải (để tái sử dụng bởi một đơn vị khác), trợ giá tiêu thụ sản phẩm từ

Ngày đăng: 14/07/2017, 08:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng   cân   đối   kế   toán được   lập   phù   hợp   với các quy  định  trong văn bản hướng dẫn thực hiện - Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi trường ở Việt Nam hiện nay
ng cân đối kế toán được lập phù hợp với các quy định trong văn bản hướng dẫn thực hiện (Trang 21)
Bảng 2: So Sánh IFRS (IAS) và VAS về hàng tồn kho - Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi trường ở Việt Nam hiện nay
Bảng 2 So Sánh IFRS (IAS) và VAS về hàng tồn kho (Trang 23)
Bảng 3: SO SÁNH TỔNG HỢP 2 HỆ THỐNG CHUẨN MỰC - Mối quan hệ giữa IAS, IFRS, VAS với kế toán môi trường ở Việt Nam hiện nay
Bảng 3 SO SÁNH TỔNG HỢP 2 HỆ THỐNG CHUẨN MỰC (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w