Bài giảng Môn Hóa học polyme Hệ CĐ Võ Thị Mỹ Nga Trường CĐ Công nghiệp Tuy Hòa Bài giảng Môn Hóa học polyme Hệ CĐ Võ Thị Mỹ Nga Trường CĐ Công nghiệp Tuy Hòa Bài giảng Môn Hóa học polyme Hệ CĐ Võ Thị Mỹ Nga Trường CĐ Công nghiệp Tuy Hòa Bài giảng Môn Hóa học polyme Hệ CĐ Võ Thị Mỹ Nga Trường CĐ Công nghiệp Tuy Hòa Bài giảng Môn Hóa học polyme Hệ CĐ Võ Thị Mỹ Nga Trường CĐ Công nghiệp Tuy Hòa Bài giảng Môn Hóa học polyme Hệ CĐ Võ Thị Mỹ Nga Trường CĐ Công nghiệp Tuy Hòa Bài giảng Môn Hóa học polyme Hệ CĐ Võ Thị Mỹ Nga Trường CĐ Công nghiệp Tuy Hòa
Trang 1KHOA CÔNG NGHỆ HÓA
Trang 2CHƯƠNG 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ HỢP CHẤT POLYME
1.1 Khái niệm cơ bản về hợp chất polyme (cao phân tử):
Từ thời xưa người ta đã biết sử dụng các vật liệu polyme tự nhiên như bông, sợi gai, tơ tằm, len làm quần áo, da động vật để làm giày, áo quần… Người Ai cập còn biết dùng da để làm giấy viết thư báo cho tới khi họ tìm ra phương pháp điều chế hợp chất cao phân tử mới là giấy Công trình này đã mở đầu cho các quá trình gia công, chế tạo các hợp chất polyme thiên nhiên và đi vào nghiên cứu các polyme nhân tạo Đến năm 1833, Gay Lussac tổng hợp được polyeste và polylactic khi đun nóng với axit lactic, Braconnot điều chế được trinitroxenlulozơ bằng phương pháp chuyển hóa đồng dạng và J.Berzilius là người đưa ra khái niệm về polyme Từ đó polyme đã chuyển sang thời kỳ tổng hợp bằng phương pháp hóa học thuần túy, đi sâu vào nghiên cứu cấu trúc của polyme, nhất là những polyme tự nhiên
Những công việc này phát triển mạnh vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 Trải qua
130 năm, đến năm 1925, Staudinger đã đưa ra kết luận về cấu trúc phân tử polyme, và cho rằng polyme có dạng sợi và lần đầu tiên dùng cụm danh từ “cao phân tử” Giả thuyết này mặc dù còn có một số nhược điểm nhưng đã được nhiều tác giả thừa nhận nên được dùng làm cơ sở cho đến ngày nay
Sau khi thiết lập được các nguyên tắc hình thành polyme, hóa học polyme phát triển rất nhanh, chuyển từ biến tính polyme sang tổng hợp polyme từ những sản phẩm chế biến dầu mỏ than đá và khí thiên nhiên Điển hình của giai đoạn phát triển hiện đại này là sự nghiên cứu tổng hợp của polyme điều hào lập thể bắt đầu từ Ziegler (1954)
và Natta (1955) có cấu trúc gần với cấu trúc điều hòa lập thể của polyme tự nhiên Đồng thời với sự tìm ra những polyme mới, các phương pháp tổng hợp mới cũng được cải tiến rất nhiều như phương pháp ngưng tụ cân bằng, cao su lưu hóa, trùng hợp quang hóa, trùng hợp gốc, trung hợp anion, trùng hợp ghép, trùng ngưng giữa các pha, đồng trùng hợp kép…
Thành công của polyme là trùng hợp polyme ở trạng thái rắn có tính bền nhiệt cao, có tính dẫn điện, là cơ sở để hình thành nền công nghiệp sản xuất polyme bền nhiệt cao, cách điện và tổng hợp ra các vật liệu polyme sinh học (có hoạt tính sinh học
Trang 3có tác dụng giải thích các quá trình sống, quá trình lên men, quá trình trao đổi chất trong tế bào cơ thể sống)
Trong công nghiệp sản xuất vật liệu polyme cũng có những bước tiến lớn trong việc cải tiến các phương pháp gia công như phương pháp đúc, gia công cơ học, tráng-phủ… làm cho thời gian đưa vào sản xuất những công trình nghiên cứu ngày một nhanh hơn
Với khả năng ứng dụng trong hầu hết các ngành phục vụ đời sống như: công nghệ cao su, chất dẻo, tơ sợi, thực phẩm, xây dựng, cơ khí, điện-điện tử, hàng không, dược liệu, màu sắc và lĩnh vực quốc phòng như: tên lửa, tàu du hành vũ trụ, máy bay siêu âm …
1.2 Danh pháp cơ bản:
1.2.1 Mạch đại phân tử:
Polyme là những hợp chất hóa học có trọng lượng phân tử rất lớn (> 5000 đvc), kích thước phân tử lớn rất nhiều lần so với hợp chất phân tử thấp (monome) tạo ra nó Các phân tử tương tự nhưng có khối lượng thấp hơn được gọi là các oligome Được hình thành trong tự nhiên ngay từ những ngày đầu hình thành trái đất Chẳng hạn như xenlulozơ – thành phần chủ yếu của tế bào thực vật và protit – thành phần chủ yếu của
tế bào sống đều là những hợp chất cao phân tử quan trọng trong đời sống loài người Các hợp chất polyme có nguồn gốc từ thiên nhiên được gọi là polyme tự nhiên
Ví dụ như: polysaccarit có trong gạo, ngô Ngoài ra, còn có các polyme nhân tạo được chế biến từ các hợp chất polyme có sẵn trong tự nhiên hay được tổng hợp bằng phương pháp hóa học từ các hợp chất đơn phân tử
Thành phần polyme hữu cơ: C, H, O, N
Tùy hình dạng của phân tử, người ta chia làm 3 dạng mạch khác nhau:
- Mạch thẳng: Nhóm nguyên tử kết hợp tạo dải dài gấp khúc cuộn nổi
- Mạch nhánh: phân tử chứa 1 mạch chính mà ở 1 số vị trí của mạch thì xuất hiện các tập hợp nguyên tử tạo nhánh ngang
- Mạch lưới không gian: phân tử bao gồm các mạch chính, nối với nhau bằng các nhóm nguyên tử tạo nên 1 liên kết ngang, có nghĩa là 1 khối lưới không gian 3 chiều
Trang 4Như vậy là về bản chất, thành phần hóa học của một polyme có thể không thay đổi nhưng nó có thể tồn tại ở một trong 3 dạng cấu trúc phân tử nói trên Do đó, tính chất vật lý hay tính chất hóa học là hoàn toàn khác
Hay nói cách khác, hệ số n trong công thức của polyme xác định số lượng đơn vị
mắt xích trong mỗi phân tử polyme gọi là hệ số polyme hóa hay độ polyme hóa Độ
polyme hóa càng lớn, polyme có khối lượng phân tử càng cao
Trang 6b)Polyme dị mạch:
Là loại polime mà phân tử có mạch chính được cấu tạo bởi hai hay nhiều loại phân tử khác nhau, chẳng hạn cacbon và oxi, cacbon và nitơ, cacbon và lưu huỳnh, cacbon và oxi, nitơ,
Tên của polime dị mạch thường được gọi theo tên thông dụng hay lấy tên của các loại hợp chất mắt xích cơ sở, cộng thêm tiếp đầu ngữ poli-
Ví dụ: poliamit, poliuretan, poliure, polieste (nhựa ankit), polifenolfomandehit, nhựa epoxy
- Poliamit dị mạch có nhóm chức amit [– CO – NH –] trong mạch phân tử
- Poliuretan là polyme có nhóm [- NHCOO -] trong mạch phân tử
- Policacbamit (poliure) có nhóm [-NH – CO – NH-]
- Poliphenolfomandehit: nhựa novolac, nhựa rezol, rezit…
1.2.5 Polyme có cực và không có cực:
Polyme có cực: trong thành phần có chứa nhóm phân cực
Polyme không có cực: trong thành phần không có mặt các nhóm phân cực Ví dụ:
PE, PP…
1.3 Một số đặc trưng của vật liệu polyme:
1.3.1 Khối lượng phân tử mạch:
- Khác với hợp chất phân tử thấp, khối lượng phân tử mạch polyme chỉ là giá trị trung bình
(Len, lông cừu)
Trang 7Vì số lượng các monome trong phân tử polyme thay đổi nên mỗi mẫu polyme
thường bao gồm hỗn hợp các phân tử đồng đẳng của polyme có khối lượng phân tử
khác nhau Do đó, khối lượng phân tử của một hợp chất polyme không phải là một
hằng số xác định mà chỉ là một đại lượng thống kê trung bình
Trong đó, là khối lượng phân tử trung bình của polyme,
n là độ polyme hóa (độ trùng hợp),
m là khối lượng của mắt xích cơ sở
Để xác định có nhiều phương pháp, một trong những phương pháp quan
trọng là dựa trên sự nghiên cứu các dung dịch polyme loãng bằng cách đo áp suất
thẩm thấu trên cơ sở áp dụng định luật Van Hop (J.H Van’t Hoff):
RT
P C M
=Trong đó, P là áp suất thẩm thấu; R là hằng số khí; T là nhiệt độ tuyệt đối;
là khối lượng phân tử trung bình của polyme hòa tan; C là nồng độ của polyme
hòa tan (tính bằng g/cm3)
Phương pháp quan trọng khác xác định của polyme là dùng phép đo độ nhớt,
vì độ nhớt của dung dịch polyme phụ thuộc vào khối lượng phân tử của polyme hòa
tan
- Một vật liệu polyme có thể có cùng giá trị khối lượng phân tử trung bình ( )
như vật liệu khác, nhưng sự dao động về độ trùng hợp (n) và khối lượng của mắt xích
cơ sở (m) là rất khác nhau
Vì vậy ngoài giá trị trung bình
thì cần quan tâm đến độ phân
Trang 8- Phản ứng hóa học xảy ra chỉ ở nhóm định chức hoặc 1 nguyên tử nào đó
- Khái niệm về “mol” của hợp chất polyme là khác so với hợp chất phân tử thấp: mol là số mắt xích (chứa nhóm định chức hoặc nguyên tử tham gia phản ứng)
- Khái niệm về mức độ chuyển hóa: kết quả quá trình phản ứng hóa học, mức độ chuyển hóa không phụ thuộc vào khối lượng phân tử Vậy mức độ chuyển hóa được
đo bằng hàm lượng nhóm định chức hoặc nguyên tử tham gia phản ứng Trong thực tế mạch phân tử polyme không thể tham gia phản ứng với mức độ chuyển hóa 100% Mặt khác, tính chất của polyme có thể thay đổi rõ rệt với mức độ chuyển hóa không cần lớn
- Khả năng phản ứng hóa học của polyme không chỉ phụ thuộc vào đặc tính hóa học của nhóm định chức (nguyên tử) mà còn phụ thuộc vào đặc điểm tập hợp mạch phân tử, nó thể hiện là khả năng tiếp cận và khả năng biến đổi hóa học
Trang 9CHƯƠNG 2: TỔNG HỢP POLYME BẰNG PHƯƠNG PHÁP
TRÙNG HỢP
2.1 Định nghĩa:
Trùng hợp là quá trình tạo polyme từ đơn hợp mà không phát sinh ra các sản
phẩm phụ Trong phản ứng trùng hợp, toàn bộ các phân tử monome nằm hẳn trong
phân tử polyme, không có sự biến đổi nào về thành phần nguyên tố của chất tham gia
phản ứng
Hay nói cách khác, trùng hợp là phản ứng kết hợp các monome để tạo thành
polyme, trong đó thành phần hóa học của mắt xích cơ sở không khác thành phần
monome ban đầu
Dạng tổng quát của phản ứng trùng hợp có thể biểu diễn bằng phương trình:
nA (A)n
Ví dụ: Poly-etylen (PE); Poly-propilen (PP); Poly-butadien; Poly-isobutylen;
Polistiren (PS); Poli(vinyl clorua); Poly-tetraflotilen; Poly (vinyl axetat); Poly (metyl
metacrylat); Poly-isopren; Poly-acrilonitrin
Những chất có khả năng trùng hợp là các hợp chất có liên kết bội: các polien
chứa trong phân tử hai hay nhiều hơn liên kết đôi butadien, divynyl, axetylen và dẫn
xuất của nó (vinyl), hợp chất chứa đồng thời liên kết đôi và ba, một số hợp chất vòng
2.2 Trùng hợp chuỗi:
2.2.1 Khái quát về quá trình trùng hợp chuỗi:
a) Khái niệm:
Phản ứng trùng hợp còn được gọi là trùng hợp chuỗi, là phương pháp phổ biến
nhất để tổng hợp các polyme mạch cacbon Trên thương mại, đây là phương pháp tổng
hợp quan trọng nhất Quá trình trùng hợp chuỗi xảy ra nhanh và có ba giai đoạn chính:
khơi mào, phát triển và ngắt mạch
b) Đặc điểm:
- Phản ứng trùng hợp chuỗi cần thiết sự hình thành các trung tâm hoạt động từ
monome nhờ năng lượng bên ngoài hoặc thêm chất khơi mào vào môi trường phản
ứng
- Phản ứng trùng hợp làm giảm độ không no của hỗn hợp phản ứng Giảm số
phân tử chung trong hệ và tăng trọng lượng phân tử trung bình
Trang 10- Qúa trình trùng hợp không có sản phẩm phụ và sản phẩm trung gian không bền Phản ứng trùng hợp là phản ứng cộng
- Các phân tử polyme được hình thành rất sớm với vận tốc lớn (phản ứng chuỗi), ngay khi độ chuyển hóa còn thấp, cuối cùng hỗn hợp chứa các phân tử lớn và cả monome chưa phản ứng
c) Cơ chế:
Quá trình này trải qua 3 giai đoạn:
- Kích động (khơi mào): biến đổi đơn hợp tạo thành hợp chất hoạt động (trung tâm hoạt động)
- Đứt mạch: tạo ra phân tử hoàn chỉnh, trung hòa (không mang điện)
Trung tâm hoạt động bị dập tắt:
R – A* R – A Thông thường để khống chế khối lượng phân tử trung bình của Polyme, người ta ngắt mạch chủ động bằng cách thêm vào phản ứng chuyền mạch Lúc đó trung tâm hoạt động của hệ phản ứng chưa phản ứng hết, tuy nhiên nó sẽ chuyền mạch sang một hợp chất bền, ít hoạt động hơn
2.2.2 Phân loại:
Có 2 loại trùng hợp tạo chuỗi sau:
Trang 11Trùng hợp gốc nói chung là phản ứng tạo polyme từ monome chứa các liên kết etylen:
CH CH
* Kích động:
Có một số biện pháp thường được sử dụng:
- Chiếu tia năng lượng (dùng các thiết bị hiện đại): tia UV, tia β (tia electron), tia α (tia He2+), tia X, tia γ
Khi hấp thụ năng lượng, electron chuyển từ orbitan ổn định sang orbitan kích thích; nếu năng lượng đủ mạnh sẽ làm gãy liên kết phân tử và tạo thành gốc tự do:
- Dùng môi trường (chất lỏng hay khí) dễ tạo gốc tự do khơi mào đơn hợp
- Dùng chất khơi mào làm cho hợp chất kém bền nên dễ dàng tạo gốc tự do Đây
là phương pháp ưu việt thường được sử dụng Các chất khơi mào thường dùng là các peroxit hữu cơ, hidro peroxit, ozonit, một số hợp chất azo và điazo…
Trang 12Bảng 2 Một số chất khơi mào thường gặp
C O O C
Ngoài ra, đôi khi quá trình trùng hợp còn dùng chất khơi mào oxy hóa – khử Hệ thống oxy hóa khử được dùng chủ yếu là muối sắt II tác dụng với một peroxyt Ưu điểm của hệ này là có thể hạ thấp nhiệt độ phản ứng
Trang 13Giai đoạn khởi đầu đòi hỏi cung cấp năng lượng ban đầu bên ngoài, tuy nhiên không lớn lắm
* Phát triển mạch: Là quá trình kết hợp nhanh và liên tục đơn hợp vào gốc, tạo nên 1 gốc lớn
Do phản ứng phát triển mạch, liên kết (π) biến đổi thành liên kết (δ ) Phản ứng luôn kèm theo sự phát nhiệt do hiệu số năng lượng của liên kết (π)và(δ )
Thời gian phát triển mạch thường dao động trong khoảng vài giây, lúc đầu phản ứng không đổi, khi độ nhớt tăng thì vận tốc phản ứng sẽ giảm
Khi kết hợp với nhau có 3 khả năng xảy ra:
đầu – đuôi; đầu – đầu;đuôi - đuôi
Thông thường cách kết hợp đầu – đuôi là phổ biến, thuận lợi về năng lượng và hiệu ứng không gian
* Đứt mạch: chuyển hóa gốc lớn, tạo thành mạch đại phân tử polyme
Hiện tượng đứt mạch xảy ra do nhiều nguyên nhân mà ta có thể đưa về 2 nguyên nhân chính sau:
- Phản ứng ngắt mạch nhị phân tử: Sự đứt mạch phản ứng gắn liền với sự bão hòa electron không cặp đôi, tức bão hòa hóa trị tự do của các gốc phát triển không sinh ra gốc mới có khả năng hoạt động, nên thường đứt mạch là kết quả của sự tương tác giữa hai gốc
+ Có thể là 2 gốc tự do lớn kết hợp với nhau hay gốc tự do lớn kết hợp với gốc tự
do sinh ra từ chất khơi mào tạo thành 1 phân tử
CH2 CH
X
Trang 14CH X
CH2R
CH2R
CH
Phản ứng này được gọi là phản ứng tái hợp gốc, do không đổi cấu trúc mạch cacbon nên không cần năng lượng, không phụ thuộc vào nhiệt độ Làm tăng trọng lượng phân tử trung bình gần như gấp đôi
+ Có thể là hai gốc tự do lớn chuyển H cho nhau, tạo thành polyme no và không no Quá trình này được coi là quá trình phân ly tạo thành 2 phân tử
Do phản ứng này tạo nên một nối đôi, phản ứng cần năng lượng và phụ thuộc nhiệt độ: khi nhiệt độ tăng thì phản ứng phân ly tăng Và phản ứng này cho khối lượng phân tử trung bình của polyme thấp hơn trong trường hợp tái hợp gốc
- Ngoài ra còn có thể do sự chuyển mạch giữa gốc lớn với monome hay với chất khơi mào, chất điều chỉnh, chất lạ hay với môi trường (dung môi)
Phản ứng trùng hợp thường kèm theo phản ứng chuyển mạch Đây là phản ứng làm ngừng phát triển mạch cao phân tử nhưng không làm giảm trung tâm hoạt động trong hệ thống (gốc tự do chiếm lấy một nguyên tử, đưa đến nhóm nguyên tử bão hòa):
R AH RH + APhản ứng chuyển mạch bao giờ cũng làm giảm trọng lượng phân tử của polyme Đặc biệt khi chuyển mạch sang polyme (không ở cuối mạch) sẽ tạo nên phân tử có mạch nhánh
Thường khi có mặt oxy thì quá trình chuyển mạch càng thuận lợi, do đó nên tiến hành trùng hợp trong môi trường khí trơ N2, CO2…
Trang 15Lợi dụng khả năng khóa mạch phát triển của phản ứng chuyển mạch, người ta có thể điều chỉnh trọng lượng phân tử trung bình của polyme, thu được polyme có độ đa phân tán và độ phân nhánh thấp, bằng cách đưa vào hệ phản ứng các chất dễ dàng tiếp nhận sự chuyển mạch Ví dụ: chất ức chế, chất làm chậm phản ứng
b) Trùng hợp theo cơ chế ion:
Có một số đơn hợp khi có mặt của xúc tác thì sẽ chuyển thành 1 ion, có thể ion dương hay ion âm, được gọi là trùng hợp xúc tác Tùy thuộc vào bản chất monome và chất xúc tác mà ta có thể thu được các ion lớn là các cation hay là các anion
- Vận tốc phản ứng trùng hợp ion lớn hơn rất nhiều so với vận tốc trùng hợp gốc (khoảng 1/40 đến 1% giây)
- Trùng hợp ion thường được tiến hành trong trạng thái dung dịch, tuy nhiên phụ thuộc rất nhiều vào dung môi (phản ứng xảy ra 3 giai đoạn và cần thiết xúc tác để hình thành các ion) Phản ứng ngắt mạch khác với trùng hợp gốc và không có phản ứng tái hợp gốc (ion cùng dấu), thường ngắt mạch do chuyền mạch sang monome, dung môi hay hoàn nguyên xúc tác
Xúc tác là: kim loại (K, Na…), amit (KNH2), các muối Friden – Craft (AlCl3,
BF3, TiCl4, SnCl4…) hay các axit (H2SO4,HCl…)
Quá trình trùng hợp cation cũng thông qua 3 giai đoạn:
- Kích động:
Trang 16Xúc tác có thể dùng khơi mào tạo cacbanion là các amiđua kim loại kiềm như KNH2, NaNH2…hoặc hợp chất cơ kim như C2H5Na, C4H9Li, C4H9Na, (C6H5)3CK hoặc kim loại kiềm như Li, Na, K, …
Cơ chế trùng hợp ion cũng xảy ra qua 3 giai đoạn
Trang 172.2.3 Mối liên quan giữa cấu tạo phân tử monome và khả năng tạo polyme:
Động học trùng hợp của các monome khác nhau phụ thuộc vào cấu tạo của chúng Tốc đo trùng hợp phụ thuộc chủ yếu vào độ phân cực của phân tử monome Khi tăng độ phân cực của monome sẽ làm tăng khả năng phản ứng của nó và do đó
làm tăng tốc độ khơi mào trùng hợp Ví dụ: etilen, buta – 1,3 – đien đều có monome
lưỡng cực bằng 0 nên khó trùng hợp; thực tế chúng trùng hợp được là do bị phân cực nhờ ảnh hưởng của dung môi, chất khơi mào Ngoài ra, độ phân cực còn chi phối trật
tự sắp xếp của mắt xích, nhóm nguyên tử, từng nguyên tử trong mạch
Dẫn xuất thế của các hidrocacbon chưa no có nhóm hút hay đẩy electron đều làm tăng độ phân cực phân tử nên nói chung đều dễ trùng hợp theo cả cơ chế gốc và cơ chế ion
Dẫn xuất thế càng đối xứng, trùng hợp càng khó và ngược lại dẫn xuất thế càng bất đối xứng càng dễ trùng hợp
Mặt khác, các gốc tự do tạo thành từ monome phân cực do liên hợp lại luôn luôn kém hoạt động Điều này được giải thích là hoạt tính của gốc tự do gây nên do sự có mặt của electron độc thân khi electron không cặp đôi này liên hợp với các liên kết
Trang 18khác, đám mây electron giảm đi và hoạt tính của gốc bị giảm Vì vậy, các gốc tự do hoạt động nhất được tạo thành từ monome không bị hoạt hóa bởi hiệu ứng liên hợp Hiệu ứng liên hợp trong monome càng nhỏ, khả năng phản ứng của gốc tạo thành
Một số dẫn xuất của anken chứa những nguyên tử hoặc nhóm thế có thể tích lớn, ngoài yếu tố nhiệt động còn chủ yếu là yếu tố án ngữ không gian làm giảm khả năng tham gia phản ứng trùng hợp, thậm chí có chất không thể trùng hợp được, như 1,1 – điphenyletilen (C6H5)2C=CH2, tri và tetraphenyletilen, vinyliđen bromua CH2=CBr2, vinyliđen iođua CH2=CI2, ngoại trừ CF2=CF2 tham gia trùng hợp được vì nguyên tử flo có thể tích nhỏ gần giống nguyêb tử hidro
2.2.4 Các biện pháp trùng hợp trong công nghiệp:
a) Trùng hợp khối:
Đó là phương pháp tiến hành trùng hợp polyme ở dạng ngưng tụ, không dùng dung môi Kết quả của phản ứng trùng hợp bằng phương pháp này là một khối polyme rắn, đồng nhất, có hình dạng của bình tiến hành phản ứng Người ta thường tiến hành trùng hợp khối có các chất khơi mào là các peroxit hữu cơ và có thể tiến hành trùng hợp nhiệt hoặc quang
Phản ứng chỉ có mặt monome hoặc có thêm chất khơi mào (xúc tác) Sau quá
Trang 19sản phẩm rắn tạo ra càng nhiều, hiện tượng thoát nhiệt càng khó dần, dẫn đến quá nhiệt cục bộ Đồng thời, việc đưa polyme ra khỏi bình phản ứng và chế biến gặp nhiều khó khăn Vì vậy, sử dụng phương pháp này chỉ có lợi trong trường hợp polyme thu được có thể đem ra sử dụng ngay mà không cần chế biến thêm nữa Phương pháp này chỉ được dùng trong trường hợp với một lượng nhỏ polyme, khống chế quá trình phản ứng chậm lại, tuy nhiên như thế sẽ không kinh tế Ví dụ: Tổng hợp trong các khuôn đúc để định hình sản phẩm
Ứng dụng: sản xuất thủy tinh hữu cơ, các sản phẩm đơn giản chỉ cần gia công cơ khí như bánh răng,
Về ưu điểm: Do chỉ có mặt của monome nên độ tinh khiết của sản phẩm cao Cho nên thường được dùng tạo polyme có độ trong suốt lớn, độ cách điện cao và có thể cho phép tạo màu trực tiếp trong quá trình tổng hợp đồng thời tạo polyme để nghiên cứu
b) Trùng hợp nhũ tương:
Trùng hợp nhũ tương là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất trong công nghiệp để sản xuất các loại polyme tổng hợp Trùng hợp nhũ tương xảy ra với tốc độ lớn ở nhiệt độ tương đối thấp, điều đó cho phép thu được polyme có phân tử khối trung bình khá cao
Khi trùng hợp, người ta dùng nước làm môi trường phân tán để tạo nhũ tương chứa khoảng 30 – 60% monome, nhưng khả năng monome thường tạo nhũ tương không bền, cho nên để ổn định chúng người ta cho thêm chất nhũ tương hóa để làm tăng tính nhũ tương hóa của monome trong nước Vai trò của chất nhũ tương hóa làm giảm sức căng bề mặt phân chia giữa hai pha nước – monome, làm tăng khả năng hòa tan của monome trong nước
Monome không tan vào trong nước, chất khơi mào không tan vào monome, chỉ tan vào nước Để phân tán monome thành những giọt nhỏ và ổn định, người ta bổ sung vào thiết bị chất nhũ hóa (xà phòng) Nhờ chất nhũ hóa thì các phân tử monome sẽ tồn tại trong các mixen có thể dưới dạng hạt hoặc dưới dạng tấm Phản ứng tạo ra polyme xảy ra từ phía ngoài dần dần vào bên trong mixen, khi lượng polyme đủ lớn thì mixen
bị phá vỡ, sản phẩm kết tủa lắng xuống, chất nhũ hóa tiếp tục tạo ra mixen mới
- Về ưu điểm:
Trang 20+ Vận tốc phản ứng tương đối lớn (xảy ra trong từng mixen)
+ Không có hiện tượng quá nhiệt cục bộ
+ Làm năng suất tổng hợp cao
CO
- Về ưu điểm:
+ Xảy ra trong lòng “khối nhỏ”, không có hiện tượng quá nhiệt cục bộ
+ Rẻ, khối lượng phân tử lớn, đồng đều, năng suất lớn, hiệu suất tốt hơn biện pháp nhũ tương
- Về nhược điểm: Độ tinh khiết sản phẩm thấp nên ít dùng trong ngành kĩ thuật Tuy nhiên, phương pháp trùng hợp huyền phù cho sản phẩm tinh khiết hơn so với phương pháp trùng hợp nhũ tương vì có thể tách polyme ra khỏi môi trường phân tán bằng áp suất thấp
d) Trùng hợp dung dịch:
Trùng hợp dung dịch có thể được tiến hành theo hai phương pháp Phương pháp thứ nhất gọi là phương pháp “vecni”, trong đó môi trường phản ứng là dung môi hòa tan được cả monome lẫn polyme Dung dịch polyme thu được gọi là “vecni” và cứ thế
mà dùng hoặc có thể tách polyme ra bằng cách làm kết tủa hoặc làm bay hơi dung môi
Trang 21Dung môi được dùng ở phương pháp thứ nhất là các dung môi hữu cơ Ví dụ:
xăng, hydrocacbon thơm, CCl4, axeton và rượu…Phản ứng xảy ra với từng phân tử monome
Theo phương pháp thứ hai, người ta tiến hành trùng hợp trong một chất lỏng chỉ hòa tan monome mà không hòa tan polyme Polyme tạo thành ở dạng rắn sẽ lắng dần xuống và có thể tách ra bằng cách lọc
- Ưu điểm:
+ Vận tốc phản ứng lớn, hiệu suất lớn, năng suất lớn
+ Làm sạch dung môi dễ, độ tinh khiết sản phẩm cao
+ Sản phẩm sử dụng cho ngành kĩ thuật
+ Thu nhận sản phẩm trực tiếp dưới dạng sơn, keo hay hồ
- Nhược điểm:
+ Giá thành cao;
+ Độc hại cho người, cho môi trường;
+ Dễ cháy nổ, không an toàn;
+ Đòi hỏi cấu tạo thiết bị phức tạp: kín, thổi khí trơ để giảm khả năng cháy nổ… Trùng hợp xúc tác chủ yếu được tiến hành trong dung dịch
mà người ta tiến hành trùng hợp các monome khác nhau với tỉ lệ khác nhau
mA + nB –A – B – A…A…B – A – A – B – B – B – A…
m + n
Trang 22Ví dụ: PS chịu được nhiệt độ, giá thành rẻ, tuy nhiên có nhược điểm là dòn, khó nhuộm màu Để cải thiện giảm tính dòn, đồng trùng hợp PS với cao su butadien ta có được cao su SBR:
2.3 Trùng hợp mở vòng:
Đó là một quá trình tạo polyme từ các dị vòng Giống như trùng hợp mạch, có thể nói quá trình chuyển hóa vòng thành polyme mạch thẳng không kèm theo việc tách những hợp chất đơn giản và thành phần nguyên tố của polyme không khác với thành phần nguyên tố của monome (Lưu ý: Có thể bỏ qua các nhóm cuối mạch cuối của polyme khi độ trùng hợp cao.)
Khác với các phương pháp tổng hợp polyme khác ở chỗ nó không làm thay đổi cấu trúc electron của các liên kết hóa học và tổng số liên kết trong hệ Trong quá trình chuyển hóa vòng thành polyme mạch thẳng không xuất hiện những loại liên kết hóa học mới Trùng hợp vòng chỉ làm thay đổi thứ tự sắp xếp liên kết, còn bản chất liên kết trong phân tử mạch thẳng tạo thành vẫn được giữ nguyên như trong các hợp chất vòng ban đầu Phản ứng trùng hợp vòng cũng là phản ứng thuận nghịch
Dị vòng được trùng hợp nhờ các chất hoạt hóa Các chất hoạt hóa thường dùng
để trùng hợp vòng là nước, kiềm, axit, … Chúng có tác dụng chọn lọc lên liên kết cacbon – dị tố
Chỉ những dị vòng “căng” – có năng lượng dạng mạch thẳng lớn hơn năng lượng dạng mạch vòng, mới có khả năng tham gia phản ứng trùng hợp, thông thường chỉ có các vòng 3, 4 cạnh hay 8, 9 cạnh trở lên dễ phản ứng Đối với những vòng 5, 6 cạnh khó hơn (mở vòng khó)
Bên cạnh những phản ứng tạo polyme thì còn xảy ra hiện tượng đóng vòng
Khác với trùng hợp chuỗi có thể điều chỉnh giá trị khối lượng phân tử của sản phẩm polyme ở thời điểm nào đó của quá trình bằng thông số kĩ thuật hay cách thêm một hợp chất đơn chức
Đặc điểm:
Trang 23- Sản phẩm là polyme dị mạch
- Phản ứng tỏa nhiệt, yếu tố nhiệt tạo điều kiện cho hiện tượng đóng vòng hay thủy phân bởi chất hoạt hóa, làm khối lượng phân tử giảm Vì vậy mà cần phải tạo năng lượng để chất hoạt hóa tham gia phản ứng biến đổi vòng thành đơn hợp 2 chức Khi mạch đã phát triển cần tạo điều kiện thoát nhiệt để thu khối lượng phân tử lớn, hiệu suất cao
- Vận tốc phản ứng phụ thuộc nồng độ chất hoạt hóa, monome
CH2 CH2
S
CH2 CH2
n S
CH2 CH2
N H
CH2 CH2
n NH
CH2 CH2
O
N H
2.4 Trùng hợp từng bậc:
Trùng hợp từng bậc là những phản ứng giữa 2 đơn hợp mà chứa nhóm định chức hoạt động, nhờ có sự chuyển dịch nguyên tử từ những hợp chất này tạo thành hợp chất khác
Đặc điểm: