1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu vật tư thiết bị ngành điện của công ty cổ phần tập đoàn hanaka

88 282 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 864,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá sức cạnh tranh của công ty so với các doanh nghiệp khác...54 Tóm tắt Chương 2 ...56 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU VẬT TƯ THIẾT BỊ ĐIỆN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC MARKETING CHO CÔNG TY

CỔ PHẦN SỮA HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2011-2012

LUẬN VĂN THẠC SỸCHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TRẦN TRỌNG PHÚC

Hà Nội – Năm 2010

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG Trang

Bảng 1.1 So sánh khách hàng của doanh nghiệp 19

Bảng 2.1 Bảng các sản phẩm được người tiêu dùng sử dụng hiện nay 34

Bảng 2.2 Bảng tổng tài sản của Hanoimilk qua các năm 38

Bảng 2.3 Cơ cấu nhân lực tại các phòng ban chức năng năm 2009 39

Bảng 2.5 Tóm tắt bảng cân đối kế toán của Hanoimilk 41

Bảng 2.6 Tóm tắt báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 42

Bảng 2.7 Thị phần của các công ty sữa Việt Nam 43

Bảng 2.8 Bảng giá các sản phẩm sữa tiệt trùng 48

Bảng 2.9 Bảng giá các sản phẩm sữa chua uống 48

Bảng 2.10 Chính sách giá trong hệ thống kênh phân phối của Hanoimilk 50

Bảng 2.11 Tổng hợp số liệu chi phí cho hoạt động xúc tiến bán 53

Bảng 3.2 Lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Ngân Hàng Nhà Nước 61

Bảng 3.3 Tổng hợp môi trường vĩ mô của Hanoimilk 64

Bảng 3.4 Bảng tóm tắt phân tích đối thủ cạnh tranh của Hanoimilk 65

Bảng 3.5 Bảng tổng hợp môi trường vĩ mô của Hanoimilk 69

Bảng 3.6 Bảng tổng hợp môi trường bên trong Hanoimilk 70

Bảng 3.8 Các mục tiêu kinh doanh chủ yếu của Hanoimilk 77

Bảng 3.9 Chính sách sản phẩm của Hanoimilk năm 2011 83

Bảng 3.11 Tổ chức kênh phân phối năm 2011 của Hanoimilk 88

Bảng 3.12 Kế hoạch hoạt động quảng cáo năm 2011 91

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang Hình 1.1 Sơ đồ quá trình xây dựng và thực hiện chiến lược Marketing 12

Hình 2.2 Thị phần của các công ty sữa Việt Nam năm 2009 44

Hình 2.3 Biểu đồ % thị phần sữa của Hanoimilk 45

Hình 2.4 Sơ đồ cấu trúc kênh phân phối của Hanoimilk 49

Trang 5

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ với đề tài: "Hoạch định chiến lược marketing cho Công ty cổ phần sữa Hà Nội trong giai đoạn 2011-2012" là do

tôi tự mình thu thập các số liệu và tiến hành phân tích Tôi hoàn toàn không sao chép ở bất cứ luận văn hay tài liệu nào sẵn có Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Nguyễn Thị Thu

Trang 6

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3.Phương pháp nghiên cứu 2

4.Giới hạn của đề tài 2

5.Các đóng góp của luận văn 3

6.Nội dung của luận văn 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ ĐẤU THẦU 4

1.1 Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh 4

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh 4

1.1.2 Tác động của quy luật cạnh tranh đến hoạt động của doanh nghiệp 5

1.1.3 Đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 5

1.1.3.1 Đánh giá khả năng cạnh tranh theo quan điểm quản trị chiến lược 6

1.1.3.2 Đánh giá khả năng cạnh tranh theo quan điểm tân cổ điển .7

1.1.3.3 Đánh giá khả năng cạnh tranh theo quan điểm tổng hợp 8

1.1.3.4 Các biện pháp liên quan đến sản phẩm 10

1.1.3.5 Các biện pháp liên quan đến giá 12

1.1.3.6 Các biện pháp liên quan đến dịch vụ 13

1.2 Các khái niệm chung về đấu thầu 15

1.2.1 Khái niệm đấu thầu 15

1.2.2 Một số khái niệm liên quan 17

1.2.3 Nguyên tắc, lĩnh vực và các hình thức đấu thầu .18

1.2.3.1 Các nguyên tắc đấu thầu .18

1.2.3.2 Các lĩnh vực đấu thầu 19

Trang 7

1.2.5 Các phương thức đấu thầu .25

Tóm tắt Chương 1 29

CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU VẬT TƯ THIẾT BỊ TRONG NGÀNH ĐIỆN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN HANAKA 30

2.1Tổng quan về đấu thầu vật tư thiết bị điện ở Việt Nam 30

2.1.1Tình hình cung ứng vật tư thiết bị ngành điện của Việt Nam hiện nay 30

2.1.2Thực trạng hoạt động đấu thầu vật tư thiết bị điện hiện nay 31

2.2 Giới thiệu về Công ty cổ phần tập đoàn HANAKA 32

2.2.1Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần tập đoàn HANAKA .32

2.2.2 Định hướng phát triển của Công ty cổ phần tập đoàn HANAKA trong nền kinh tế thị trường 36

2.2.2.1 Phương châm phát triển 36

2.2.2.2 Chiến lược phát triển tập đoàn 36

2.3 Thực trạng hoạt động đấu thầu cung cấp vật tư thiết bị điện của Công ty cổ phần tập đoàn HANAKA 37

2.3.1 Tình hình thực hiện đấu thầu và kết quả đạt được trong 3 năm gần đây 37

2.3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trong đấu thầu VTTB ngành điện của Công ty cổ phần tập đoàn HANAKA 39

2.3.2.1 Giá dự thầu 39

2.3.2.2 Năng lực tài chính 40

2.3.2.3 Năng lực kĩ thuật 43

2.3.2.4 Các đối thủ cạnh tranh 43

2.3.2.5 Phân tích SWOT 48

Trang 8

Công ty cổ phần tập đoàn HANAKA trong thời gian qua 52

2.4.1 Kết quả đạt được 52

2.4.2 Những tồn tại trong công tác đấu thầu 53

2.4.3 Đánh giá sức cạnh tranh của công ty so với các doanh nghiệp khác 54

Tóm tắt Chương 2 56

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU VẬT TƯ THIẾT BỊ ĐIỆN CỦA CÔNG TY CP TẬP ĐOÀN HANAKA 57

3.1 Cơ sở khoa học đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 57

3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu vật tư thiết bị điện 57

3.2.1 Giải pháp 1: Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ nhân lực trong công ty 57

3.2.2 Giải pháp 2: Đưa ra giá dự thầu hợp lý, linh hoạt 61

3.2.3 Giải pháp 3: Tăng cường công tác huy động vốn và thu hồi vốn nhằm nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp 63

3.2.4 Giải pháp 4: Tăng cường đầu tư công nghệ mới, mua sắm máy móc thiết bị phù hợp 66

3.2.5 Giải pháp 5: Mở rộng liên doanh, liên kết trong đấu thầu 68

3.2.6 Giải pháp 6: Tổ chức bộ phận Marketing trong công ty 69

3.3 Một số kiến nghị với các cơ quan Quản lý Nhà Nước về đấu thầu 74

Tóm tắt Chương 3 75

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 9

CHDCND : Cộng hòa dân chủ nhân dân

DNNN : Doanh nghiệp nhà nước

NSNN : Nộp ngân sách nhà nước

NVCSH : Nguồn vốn chủ sở hữu

LNTT : Lợi nhuận trước thuế

LNST : Lợi nhuận sau thuế

Trang 10

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

-

ĐƠN XIN BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ Kính gửi: - Viện Đào tạo Sau đại học Trường ĐHBK Hà Nội

- Khoa Kinh tế và Quản lý

Tên tôi là: NGUYỄN ĐỨC QUÂN SHHV: 005024C810

Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh Lớp: K810QTKT1

Sinh ngày: 08 tháng 01 năm 1980 tại: Yên Phong – Bắc Ninh

Cơ quan công tác: Công ty Điện lực Hoàng Mai

Sau một thời gian học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành chương trình học tập theo quy định cho học viên Cao học cùng đề tài luận văn

“Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu vật tư thiết bị ngành điện của Công ty cổ phần tập đoàn HANAKA”

Vì vậy, tôi làm đơn này đề nghị Viện Đào tạo Sau đại học Trường ĐHBK Hà Nội cho phép tôi được bảo vệ luận văn trước Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà nội, ngày 25 tháng 10 năm 2010

Ý kiến của giáo viên hướng dẫn Người làm đơn

Nguyễn Đức Quân

Ý kiến của lãnh đạo khoa

Trang 11

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I Sơ lược lý lịch:

Họ và tên: Nguyễn Đức Quân Giới tính: Nam

Sinh ngày 08 tháng 01 năm 1980

Nơi sinh: Thị Trấn Chờ - Huyện Yên Phong – Tỉnh Bắc Ninh

Quê quán: Thị Trấn Chờ - Huyện Yên Phong – Tỉnh Bắc Ninh

Đơn vị công tác: Công ty Điện lực Hoàng Mai

Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: P115 C3 Kim Liên – Đống Đa – Hà Nội

Điện thoại nhà riêng 0438520838 Điện thoại di động: 0983401368

E-mail : anhquand13@gmail.com

II Quá trình đào tạo:

1 Đại học:

- Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian đào tạo: từ 09/1999 đến 09/2004

- Trường đào tạo: Đại Học Bách Khoa Hà Nội

- Ngành học: Kinh tế Năng lượng Bằng tốt nghiệp đạt loại: TBK

2 Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh, trình độ C

III Quá trình công tác chuyên môn kể từ khi tốt nghiệp đại học:

2004-nay Công ty Điện lực Hoàng Mai Nhân viên

Tôi cam đoan những nội dung viết trên đây là đúng sự thật

Ngày 25 tháng 10 năm 2010

NGƯỜI KHAI KÝ TÊN

ảnh 4x6

Trang 12

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đấu thầu là một công việc không thể thiếu cần được chú trọng trong đầu tư xây dựng nói chung và trong ngành điện nói riêng Nó có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến hiệu quả đầu tư của dự án Với tỷ trọng vốn rất lớn dành cho mua sắm vật tư thiết bị trong tổng mức đầu tư của dự án phát triển nguồn, lưới điện, thì việc nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu mua sắm vật tư thiết bị chính là nhằm tăng tính cạnh tranh từ đó nâng cao chất lượng của dự án và nâng cao hiệu quả đầu tư của ngành điện

Việc nâng cao hiệu quả của công tác đấu thầu là việc tốn không quá nhiều công sức và tiền của nhưng hiệu quả mang lại thì rõ rệt Hiện nay công việc này chưa được quan tâm đúng mức và chưa phát huy hết được vai trò của nó Tuy nhiên theo xu hướng phát triển chung của kinh tế thị trường nước ta hiện nay thì trong tương lai gần đấu thầu

sẽ dần khẳng định được vai trò quan trọng của mình và dần được quan tâm phát triển một cách đúng mức

Trong nền kinh tế thị trường, các cuộc đấu thầu được tổ chức ngày càng nhiều với quy mô rộng khắp Trong nền kinh tế nói chung và trong ngành điện nói riêng, đấu thầu đang tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể tham gia đấu thầu, đó là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong và ngoài nước, đồng thời các cuộc đấu thầu đã

mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp trong nước Đó là đấu thầu quốc

tế Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tham gia đấu thầu các dự án quốc tế, với những yêu cầu vô cùng khắt khe về năng lực: Kinh nghiệm, tài chính, con người, công nghệ…

Cạnh tranh không chỉ giới hạn trong các buổi mở thầu, mà cạnh tranh là thuộc tính bẩm sinh cần phải có của mỗi doanh nghiệp ngay từ khi thành lập Nó giống như bản năng sinh tồn trong mỗi cơ thể vậy Nó là sức khỏe của doanh nghiệp, là khả năng tồn tại của doanh nghiệp Trong bất kỳ cuộc đấu thầu nào cũng vậy, các doanh nghiệp nào khỏe thì thắng, tồn tại và phát trỉển, ngược lại yếu thì thua và suy tàn

Trong xu hướng đó việc tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, từ đó nâng cao hiệu quả của công tác đấu thầu là rất quan trọng Và thực tế hiện nay các tổ chức, các nhà nghiên cứu, các chuyên gia đang rất tích cực quan tâm tìm tòi và cũng đã đề xuất những giải pháp mới để cải thiện năng

Trang 13

2

lực cạnh tranh trong đấu thầu hiện tại của các doanh nghiệp Hiện nay, dưới áp lực của kinh tế thị trường sau khi nước ta gia nhập WTO và các tổ chức kinh tế thế giới, Chính Phủ và các Bộ ngành cũng đang tích cực tham khảo các ý kiến đóng góp và xây dựng một hệ thống hành lang pháp lý tương đối đầy đủ về đấu thầu

Thị trường vật tư thiết bị điện được ví như như một con gà quay rất ngon trên bàn tiệc của ngành điện Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các vị khách ăn được nhiều nhất, chọn được những miếng ngon nhất, đồng thời ngành điện bỏ ra ít tiền nhất là vấn

đề cần giải quyết không phải dễ dàng

Luận văn được viết trên cơ sở phân tích đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu, các tồn tại của doanh nghiệp trong quá trình đấu thầu và sau đó đưa ra các giải pháp khắc phục, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Làm nổi bật các vấn đề tồn tại của thực trạng đấu thầu mua sắm vật tư thiết bị thuộc ngành điện

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến đấu thầu từ đó đưa ra các biện pháp tác động tích cực vào các yếu tố đó

Hệ thống các phương pháp và tìm ra được một số đề xuất mới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả đấu thầu nói chung, cho công tác đấu thầu vật tư thiết bị điện nói riêng

3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết kết hợp với phân tích và tổng kết thực tế trên

cơ sở các tài liệu chủ yếu sau: Luật đấu thầu và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật,

hệ thống quản lý dự án, các báo cáo tổng kết của các hội thảo chuyên ngành, báo cáo tài chính của doanh nghiệp…

4 Giới hạn của đề tài

Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu và hiệu quả cho công tác đấu thầu áp dụng riêng cho một loại đối tượng

cụ thể là đấu thầu mua sắm vật tư thiết bị cho các công trình phát triển nguồn và lưới điện

Trang 14

3

5 Các đóng góp của luận văn

Đánh giá một cách tổng quan các mặt mạnh và mặt yếu còn tồn tại của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vật tư thiết bị điện tham gia đấu thầu các dự án điện, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu

Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong đấu thầu nói chung và áp dụng trong đấu thầu vật tư thiết bị điện cho các công trình phát triển nguồn và lưới điện nói riêng

6 Nội dung của luận văn

Đầu tiên là phần mở đầu của luận văn, sau đó phần nội dung chính gồm 3 chương và cuối cùng là phần kết luận, kiến nghị Phần nội dung chính như sau:

trong ngành điện

tư thiết bị điện

KẾT LUẬN

Trang 15

4

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU THẦU 1.1 Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

Thuật ngữ “Cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng La Tinh với nghĩa chủ yếu là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi thế, mục tiêu xác định Trong hình thái cạnh tranh thị trường, quan hệ ganh đua xảy ra giữa hai chủ thể cùng (nhóm người bán), cũng như chủ thể cầu (nhóm người mua), cả hai nhóm này tiến tới cạnh tranh với nhau và được liên kết với nhau bằng giá cả thị trường

Theo Samuelson: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng

Theo Kac-Marx: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch

Theo kinh tế Amô thì một thị trường cạnh tranh hoàn hảo có rất nhiều người mua, người bán để cho không có một người mua hoặc một người bán duy nhất nào có ảnh hưởng, có ý nghĩa đối với giá cả

Theo cuốn “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là năng lực phát triển của kinh tế thị trường Cạnh tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp, đó là sự ganh đua giữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao lợi thế của mình trên thị trường để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần

Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn lực của xã hội vào sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ còn thiếu Qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn xã hội Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp yếu kém bị đào thải, doanh nghiệp mới xuất hiện Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, nhờ đó nguồn lực xã hội được sử dụng hợp lý, là cơ sở, tiền đề cho sự thành công trong việc tăng trưởng nền kinh tế ở mỗi quốc gia

Trang 16

5

1.1.2 Tác động của quy luật cạnh tranh đến hoạt động của doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội để đạt lợi nhuận và đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất Một doanh nghiệp tiến hành kinh doanh có hiệu quả là doanh nghiệp thoả mãn được tối đa nhu cầu thị trường và xã hội về hàng hoá và dịch vụ trong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện

có và thu được lợi nhuận nhiều nhất, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất

Trong hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không ngừng cải tiến để giành được những ưu thế tương đối so với đối thủ Nếu như lợi nhuận là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tiến hành các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải cố gắng sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất nhằm thu lợi nhuận tối đa đồng thời gia tăng thế lực và độ an toàn trong kinh doanh

Trong cuộc cạnh tranh có những doanh nghiệp thì vươn lên đứng vị trí dẫn đầu thị trường, có lợi nhuận cao Nhưng cũng có những doanh nghiệp tồn tại một cách khó khăn, bị phá sản hoặc bị thôn tính Vấn đề đặt ra là tại sao lại có sự phân hoá như vậy trong khi mọi doanh nghiệp tham gia kinh doanh đều tìm mọi cách để phát triển Nguyên nhân là sự khác biệt về khả năng cạnh tranh của từng doanh nghiệp trên thị trường

1.1.3 Đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Như đã nói trên, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp buộc phải chấp nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh là yếu tố vốn có, vừa mang đến những tác động tích cực, vừa mang đến những tác động tiêu cực Chính vì lẽ đó việc đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là rất quan trọng

Để đánh giá khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp các nhà nghiên cứu đã

đề ra nhiều phương pháp Mỗi phương pháp được xây dựng trên một nền tảng tư duy khác nhau, sử dụng các công cụ phân tích khác nhau và do đó đưa ra những kết quả cũng khác nhau Sau đây chúng ta sẽ điểm qua các phương pháp cơ bản, nổi tiếng và đi đến lựa chọn một phương pháp thích hợp để ứng dụng vào phân tích thực tế khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần tập đoàn HANAKA ở phần sau Các phương pháp đánh giá bao gồm:

- Phương pháp phân tích theo quan điểm quản trị chiến lược

- Phương pháp phân tích theo quan điểm tân cổ điển

Trang 17

6

- Phương pháp phân tích theo quan điểm tổng hợp

1.1.3.1 Đánh giá khả năng cạnh tranh theo quan điểm quản trị chiến lược 1.1.3.1.1 Phân tích theo cấu trúc

Về thực chất phương pháp này được ứng dụng hiệu quả trong phân tích khả năng cạnh tranh của một ngành hơn là cho một doanh nghiệp Tuy nhiên chúng ta vẫn có thể ứng dụng phương pháp này trong phân tích đối với một doanh nghiệp

Quan điểm quản trị chiến lược được thể hiện khá hoàn chỉnh trong những năm 1980 qua các công trình của Porter (1980 và 1990) Chính vì vậy, điều này cũng dễ hiểu là việc phân tích theo cấu trúc của cách tiếp cận này chính là nền cho "khối kim cương" các yếu tố xác định lợi thế cạnh tranh quốc gia Phân tích theo cấu trúc cũng được đánh giá là rất có ưu thế trong nghiên cứu tình huống (case-study) và trong nhận thức động thái ngành

Theo phương pháp phân tích này, đối với mỗi ngành, dù là trong hay người nước, bản chất cạnh tranh nằm trong 5 nhân tố cạnh tranh

- Sự thâm nhập ngành của các công ty mới

- Các sản phẩm hay dịch vụ thay thế

- Vị thế giao kèo của các nhà cung ứng

- Vị thế giao kèo của người mua

- Sự tranh đua của các công ty hiện đang cạnh tranh

Sơ đồ 1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh

Những người gia nhập tiềm

Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

Người mua

Sức mạnh của người mua

Mối đe doạ gia nhập

Các sản phẩm thay thế Mối đe doạ thay thế

Trang 18

1.1.3.1.2 Phân tích theo lợi thế cạnh tranh trên các nguồn lực riêng biệt

Nguồn lực phải thực giá trị, nghĩa là nó có đóng góp tích cực cho việc khai thác

vị thế của công ty trên thị trường

Nguồn lực phải hiếm hoi các đối thủ cạnh tranh không thể có được một cách rộng rãi

Nguồn lực phải có tính khó bắt trước hay mô phỏng

Nguồn lực không dễ bị thay thế bởi nguồn lực khác

Nói ngắn gọn, lợi thế cạnh tranh - mục tiêu của quản trị chiến lược - đòi hỏi các nguồn lực của công ty phải khác biệt, rất khó lưu chuyển và bắt trước Và như vậy, ngay đối với một ngành, việc phân tích theo cấu trúc với năm nhân tố cạnh tranh cũng phải tính đến, "những đặc thù nguồn lực" của một số công ty để tránh cái gọi là một chính sách phù phù hợp với mọi kiểu loại công ty

1.1.3.2 Đánh giá khả năng cạnh tranh theo quan điểm tân cổ điển

Quan điểm tân cổ điển dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống xem xét lợi thế cạnh tranh hay tính cạnh tranh đối với một sản phẩm (đồng nhất) qua lợi thế so sánh

về chi phí sản xuất và năng suất Cách xem xé theo quan điểm tân cổ điển có phần phiến diện; nó thường còn bị phê phán là yếu về phân tích động thái và hơn thế nữa, việc đo lường chi phí và nhất là năng suất (như năng suất tổng hợ các nhân tố TFP) phải dựa trên những giả thiết không thật phù hợp với thực tế

Trang 19

8

Tuy nhiên, các phân tích định lượng phản ánh tính cạnh tranh ngành/ công ty theo quan điểm này vẫn được sử dụng rất rộng rãi Trước hết, chi phí các nhân tố sản xuất vẫn còn là một điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh, nhất là đối với các nước đang phát triển và lại trong quá trình hội nhập thương mại quốc tế Hơn nữa, các chỉ số chi phí còn cho phép xác định được những ngành công ty có đóng góp tích cực cho nền kinh tế xét về phúc lợi xã hội và do vậy, những can thiệp chính sách của chính phủ là phù hợp hay không Dưới góc độ công ty, các chỉ số đó sẽ cho biết liệu công ty có khả năng cạnh tranh và tồn tại hay không trong môi trường giá cả thị trường đã định và cả trong các bối cảnh có sự thay đổi chính sách (như chính sách thương mại chẳng hạn)

1.1.3.3 Đánh giá khả năng cạnh tranh theo quan điểm tổng hợp

Theo quan điểm tổng hợp, tính cạnh tranh của một ngành/công ty là "năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước" (Van Duren, Matin, và Westgren 1991) Định nghĩa này được xem là nhất quán với mục tiêu kinh doanh, nhưng lại cũng phù hợp với các mục tiêu của chính sách kinh tế và thương mại của chính phủ

Qua điểm tổng hợp kết hợp các quan điểm quản trị chiến lược, tân cổ điển và kinh tế học về tổ chức công nghiệp, cố gắng đo lường tính cạnh tranh, đồng thời chỉ ra những nhân tố khuyến khích hay ngáng trở tính cạnh tranh Hình 4 là tập hợp các chỉ số

và nhân tố làm cơ sở cho việc đánh giá tính cạnh tranh theo quan điểm tổng hợp

BẢNG 1: KHUNG KHỔ ĐÁNH GIÁ TÍNH CẠNH TRANH

Các chỉ số do tính cạnh tranh

Lợi nhuận

Các chỉ số (lượng và chất) hàm chứa tính cạnh tranh:

- Cấp độ

- Thay đổi

- Sản phẩm

- Chất lượng

- Sự khác biệt

Đầu vào

& chi phí

- Giá cả đầu vào chủ yếu

- Hệ số chi phí các nguồn lực

Các điều kiện về cầu

Độ liên kết

- Vị thế người cung ứng

- Vị thế người mua Thị phần

Trang 20

9

Tính cạnh tranh chịu tác động của những nhân tố

Kiểm soát bởi công

- Môi trường thương mại quốc tế

Không thể kiểm soát được

- Môi trường tự nhiên

(Nguồn: Theo Van Duren, Martin, và Westgren) Xét tổng thể, cách phân tích theo quan Trong khung khổ đánh giá này, các chỉ số (lượng và chất) hàm chứa tính cạnh tranh là những chỉ số quan trọng nhất Việc đánh giá thành công hay thất bại phụ thuộc rất nhiều vào khả năng phân tích những này chỉ

số Do đó, chúng ta cần hiểu rõ hơn về các chỉ số này:

điểm tổng hợp cho phép trả lời ba câu hỏi cơ bản khi nghiên cứu tính cạnh tranh của một ngành/công ty:

¾ Ngành/công ty đó có tính cạnh tranh như thế nào?

¾ Những nhân tố nào thúc đẩy hay có đóng góp tích cực, còn những nhân tố nào hạn chế hay có tác động tiêu cực đối với tính cạnh tranh của ngành/công ty?

¾ Những tiêu chí gì cần đặt ra cho chính sách để nâng cao tính cạnh tranh của ngành/công ty? Những chính sách, chương trình và công cụ nào của chính phủ đáp ứng được các tiêu chí đó?

Có thể nói khung khổ đánh giá tính cạnh tranh ngành/công ty theo quan điểm tổng hợp thể hiện đầy đủ cả những phân tích định tính và định lượng và cả những quan sát lĩnh và động

Bằng việc phân tích nội dung và ưu, nhược điểm của các phương pháp đánh giá khả năng cạnh tranh, chúng ta đã thống nhất sử dụng phương pháp đánh giá tổng hợp ở phần sau Nền tảng cơ bản của phương pháp đánh giá cạnh tranh tổng hợp là tư tưởng

"kinh doanh là một quá trình liên tục"

Trang 21

10

Sơ đồ 2: Quá trình kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp

Toàn bộ những yếu tố, hoạt động của quá trình kinh doanh từ giai đoạn mua đầu vào đến tiêu thụ đều tham gia tạo nên khả năng cạnh tranh Vì vậy, rõ ràng những yếu

tố nào là thế mạnh cạnh tranh của công ty, đồng thời những yếu tố nào là hạn chế

Để phù hợp với phương pháp đánh giá tổng hợp, những biện pháp tăng cường khả năng cạnh tranh mà chúng ta xây dựng dưới đây phải tác động đến toàn bộ các yếu

tố của quá trình kinh doanh Những yếu tố là thế mạnh sẽ được tiếp tục khai thác phát huy, còn những yếu tố hạn chế phải được khắc phục

Tuy nhiên, xây dựng đồng đồng bộ các biện pháp là khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, có thể vượt quá khuôn khổ hạn chế của một Luận văn tốt nghiệp Tác giả xin chỉ tập trung vào các biện pháp tăng cường khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp

Theo đó, chúng ta có 3 nhóm biện pháp lớn:

¾ Các biện pháp liên quan đến sản phẩm

¾ Các biện pháp liên quan đến giá cả

¾ Các biện pháp liên quan đến dịch vụ

Các biện pháp sau đây sẽ được xé riêng lẻ Nhưng trong thực tế, các công ty thường áp dụng tổng hợp các biện pháp này Tuỳ vào từng thời kỳ nhưng vẫn phải sử dụng các công cụ khác mang tính hỗ trợ

1.1.3.4 Các biện pháp liên quan đến sản phẩm

Muốn xây dựng các biện pháp liên quan đến sản phẩm thành công, điểm đầu tiên là phải hiểu và mô tả đúng sản phẩm của doanh nghiệp đưa ra bán trên tị trường Nếu chỉ hiểu sản phẩm theo quan niệm truyền thống - từ góc độ sản xuất thông qua hình thức biểu hiện bằng vật chất, chúng ta không thể xây dựng được các biện pháp một cách sáng tạo, linh hoạt Cách thức tiếp cận thích hợp hơn phải xuất phát từ góc gộ người tiêu dùng Theo cách thức này, sản phẩm là sự thoả mãn một nhu cầu nào đó của khách hàng

Trang 22

¾ Nhu cầu của thị trường rất đa dạng phong phú và phức tạp, đa dạng hoá sản phẩm nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường và như vậy doanh nghiệp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn

¾ Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng trở nên quyết liệt thì đa dạng hoá sản phẩm là một biện pháp nhằm phân tán rủi ro trong kinh doanh

¾ Đa dạng hoá sản phẩm cho phép tận dụng đầy đủ hơn những nguồn lực sản xuất dư thừa của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.3.4.2 Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm

Nhu cầu tiêu dùng ngày càng phát triển thì thị trường càng đòi hỏi phải có loại sản phẩm có chất lượng cao, đảm bảo sự thoả mãn cao nhất cho người tiêu dùng Nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, thể hiện ở các khía canh:

¾ Chất lượng sản phẩm tăng lên nhờ đó thu hút khách hàng, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, tăng được uy tín của sản phẩm, mở rộng được thị trường

¾ Nâng cao chất lượng sản phẩm có nghĩa là nâng cao được hiệu quả sản xuất Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khi thiết kế sản phẩm cho đến khi sản xuất xong sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm Có nhiều yếu tố động đến chất lượng sản phẩm: thiết kế sản phẩm, lập kế hoạch sản xuất, chất lượng nguyên vật liệu, khả năng máy móc thiết bị và tình trạng công nghệ chế tạo, đặc biệt là chất lượng lao động Việc nâng cao chất lượng sản phẩm không phải là trách nhiệm của một số bộ phận, cá nhân mà là trách nhiệm của toàn bộ bộ phận, thành viên của công ty Vì vậy để nâng cao chất lượng sản phẩm công ty có thể áp dụng nhiều cách thức nhứ:

¾ Nâng cao hoạt động thiết kế sản phẩm

¾ Nâng cao khả năng máy móc thiết bị, trình độ công nghệ

Trang 23

12

¾ Nâng cao tay nghề và ý thức của người lao động

¾ Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng hiện đại như hệ thống quản lý chất lượng toàn diện TQM hay bộ tiêu chuẩn ISO

Nói chung các biện pháp nâng cao khả năng cạnh tranh liên quan đến sản phẩm luôn được coi là vũ khí ưu tiên nhất Nó cho phép tạo ra lợi thế cạnh tranh rõ rệt

1.1.3.5 Các biện pháp liên quan đến giá

Trong kinh doanh, giá là một nhân tố có thể kiểm soát mà doanh nghiệp có thể sử dụng để thực hiện các mục tiêu chiến lược, kế hoạch kinh doanh Nhưng giá cũng là một công cụ rất khó sử dụng để làm vũ khí cạnh tranh Một điều thường dễ nhầm lẫn là muốn sử dụng giá là công cụ cạnh tranh thì doanh nghiệp phải xác định giá thấp Tất nhiên nếu doanh nghiệp luôn có thể xây dựng được một mức giá thấp hơn đối thủ thì rất tốt Nhưng đây là điều không thể Trong thực tế, doanh nghiệp có thể sử dụng giá là công cụ cạnh tranh nếu xây dựng một chính sách giá thành công Sau đây chúng ta sẽ xem xét các biện pháp cạnh tranh bằng công cụ giá và quan trọng hơn là xem xét cơ sở

để thực hiện các biện pháp này

1.1.3.5.1 Xây dựng mức giá thấp

Mục tiêu của việc xác định mức giá là đưa ra một giá "tốt nhất" dưới con mắt của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Trong trường hợp sản phẩm có tiêu chuẩn chất lượng đồng nhất hoặc khá rõ ràng, một mức giá luôn hạ hơn so với đối thủ cạnh tranh có khả năng tạo ra hình ảnh tốt về doanh nghiệp để hấp dẫn họ Điều này đặc biệt quan trọng đối với các khách hàng nhạy cảm về giá và nhu cầu về sản phẩm co giãn Giá có tính cạnh tranh cho phép thúc đẩy tăng trưởng "cầu hướng vào doanh nghiệp" để duy trì và tăng trưởng doanh số bán

Điều kiện để áp dụng biện pháp cạnh tranh này là doanh nghiệp phải sản xuất sản phẩm với giá thành thấp và giảm được các phí tổn thương mại

Giá thành sản phẩm được cấu thành bởi chi phí nguyên nhiên vật liệu, động lực, chi phí nhân công trực tiếp sản xuất và khấu hao TSCĐ hay còn gọi là chi phí TSCĐ và một số chi phí khác phục vụ trực tiếp cho sản xuất

Để hạ giá thành sản phẩm, doanh nghiệp có thể áp dụng các biện pháp cơ bản như:

¾ Giảm chi phí nguyên vật liệu

Tổ chức tốt công tác thu mua nguyên vật liệu

Trang 24

13

Tối thiểu hoá chi phí bảo quản dự trữ nguyên vật liệu

Xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu

¾ Áp dụng máy móc và công nghệ mới để nâng cao năng suất lao động

¾ Giảm chi phí nhân công trong chi phí sản xuất sản phẩm

¾ Giảm chi phí cố định, chi phí điện nước

1.1.3.5.2 Áp dụng chính sách giá hiệu quả

Bên cạnh việc sử dụng mức giá thấp, các doanh nghiệp có thể sử dụng một số chính sách giá hiệu quả để nâng cao khả năng cạnh tranh Các cính sách giá đúng cho phép doanh nghiệp có thể định giá và quản lý giá có hiệu quả trong kinh doanh Chính sách định giá thể hiện sự lựa chọn đúng đắn các tình huống cần giải quyết khi đặt mức giá giúp cho việc chấp nhận giá và ra quyết định mua sắm của khách hàng được dễ dàng hơn Nếu thực hiện được điều này, công ty đã có thể nâng cao khả năng cạnh tranh

1.1.3.6 Các biện pháp liên quan đến dịch vụ

Không bị hạn chế trong một số hình thức cụ thể như các biện pháp cạnh tranh trên, các biện pháp liên quan đến dịch vụ được thực hiện rất đa dạng Đây là công cụ cạnh tranh rất lợi hại Vì thế các doanh nghiệp rất ưa dùng biện pháp này Thực hiện dịch vụ, doanh nghiệp không chỉ nhằm mục tiêu bán hàng tức thời mà nhằm mục tiêu lớn hơn là xây dựng một hình ảnh tốt về doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng doanh nghiệp có thể tiến hành các hoạt động dịch vụ sau:

1.1.3.6.1 Dịch vụ trước bán hàng:

Để thuyết phục khách hàng mua hàng, dn cần phải tiến hành các hoạt động dịch

vụ ngay cả trước kih có sự tiếp xúc giữa người bán hàng và người mua Những hoạt động này bao gồm các dịch vụ về thông tin, giới thiệu, quảng cáo, chào hàng, về các loại hàng hoá và các dịch vụ kèm theo., các dịch vụ về chuẩn bị hàng hoá, đóng gói sẵn theo yêu cầu của khách hàng, triển lãm hàng hoá tại các hội chợ, giới thiệu sản phẩm và bày mẫu hàng… Những dịch vụ này có tác dụng làm khách hàng biết về sản phẩm của công ty, tin tưởng vào nó và gia tăng nhu cầu tiêu dùng

1.1.3.6.2 Dịch vụ trong bán hàng

Tại thời điểm bán hàng, người bán có cơ hội giao tiếp với người mua Vì thế đây

là một cơ hội rất tốt để thực hiện dịch vụ đối với người mua Hoạt động dịch vụ có thể được thực hiện rất đa dạng như bao gói hàng hoá, vận chuyển theo ý người mua, hướng

Trang 25

Chúng ta có thể kể đến rất nhiều các trường hợp thành công khi sử dụng công cụ cạnh tranh Ví dụ như: Công ty cổ phần điện thiết bị điện Đông Anh đang chiếm một thị phần rất lớn trên thị trường thiết bị điện của Việt Nam Sản phẩm của công ty ngoài chất lượng tốt, giá hợp lý mà còn dễ dàng được sửa chữa nhờ một đội ngũ nhân viên bảo hành bảo trì lành nghề trên khắp cả nước

Rõ ràng sử dụng công cụ cạnh tranh này, công ty không cần phải huy động nguồn lực lớn như các biện pháp khác Nhưng nó lại đòi hỏi các công ty phải có một chính sách dịch vụ rõ ràng nhất quán được ủng hộ bởi toàn thể các thành viên trong công ty

và các hệ thống có liên quan Chính sách đó phải được thực hiện một cách nghiêm túc

do những người được huấn luyện kỹ càng Tất cả điều này đều dựa trên hệ thống quản trị hiện đại, chính quy Nhưng rõ ràng đây là một điểm yếu của các công ty Việt Nam Chính vì vậy mặc dù các công ty đều nhận thức rõ điều này nhưng không phải mọi công

ty đều có khả năng sử dụng nó

1.2 Các khái niệm chung về đấu thầu

1.2.1 Khái niệm đấu thầu

“Đấu thầu là quá trình chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của hồ sơ mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu.”

Trong nền kinh tế thị trường, người mua tổ chức đấu thầu để người bán (các nhà thầu) cạnh tranh nhau Mục tiêu của người mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hóa dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể Tham gia đấu thầu có nhiều chủ

Trang 26

Tổ chức đấu thầu thực chất là tổ chức sự cạnh tranh Trong đấu thầu có các loại cạnh tranh chủ yếu sau:

- Cạnh tranh giữa chủ đầu tư với các nhà thầu

- Cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau

Cũng như các quan hệ cạnh tranh khác trên thị trường, cạnh tranh trong đấu thầu cũng có những mặt tích cực và tiêu cực nhất định Nhờ thực hiện đấu thầu chủ đầu tư có thể thực hiện được một cách tối ưu việc mua sắm hàng hóa Về phía các nhà cung cấp,

để thắng thầu họ phải cải tiến, nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới toàn diện các hoạt động, tăng cường thực lực của mình và giữ uy tín với chủ đầu tư Tuy vậy trong cạnh tranh cũng có thể xảy ra những hiện tượng tiêu cực, vi phạm những quy định thông thường của công tác đấu thầu

Đặc điểm của hoạt động đấu thầu:

- Trên thị trường chỉ một người mua và nhiều người bán

- Đấu thầu tiến hành theo những điều kiện quy định trước

- Tính đặc biệt của đấu thầu còn thể hiện trong việc xác định thời gian và địa điểm mở thầu và những vấn đề khác có liên quan

- Trong đấu thầu ngoài Bên mời thầu, nhà thầu, còn có sự hiện diện của

người thứ ba, đó là người tư vấn

Vai trò của đấu thầu mua sắm vật tư thiết bị trong ngành điện:

So với phương thức tự thực hiện và phương thức chỉ định thầu, phương thức đấu thầu có những ưu điểm nổi trội, mang lại lợi ích to lớn với cả chủ đầu tư và nhà thầu Việc vận dụng rộng rãi phương thức đấu thầu trong mua sắm vật tư thiết bị không những ở nước ta mà còn ở nhiều nước trên thế giới là vai trò to lớn của nó Vai trò đó được đánh giá cụ thể dưới ba góc độ sau :

Trang 27

16

- Đối với chủ đầu tư: Thông qua đấu thầu chủ đầu tư sẽ lựa chọn được nhà thầu

có khả năng đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu về kinh tế kĩ thuật, công nghệ và tiến độ giao hàng hóa Trên cơ sở đó giúp cho chủ đầu tư vừa sử dụng hiệu quả, tiết kiệm vốn đầu tư; đồng thời vẫn đảm bảo được chất lượng cũng như tiến độ công trình

Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư cũng sẽ nắm bắt được quyền chủ động quản lý

có hiệu quả và giảm thiểu được các rủi ro phát sinh trong qua trình thực hiện dự án đầu

tư do toàn bộ quá trình tổ chức đấu thầu và thực hiện kết quả đấu thầu được tuân thủ chặt chẽ theo quy định của pháp luật và sau khi chủ đầu tư đã có sự chuẩn bị kỹ lưỡng đầy đủ về mọi mặt

Để đánh giá đúng các hồ sơ dự thầu đòi hỏi đội ngũ cán bộ thực hiện công tác đấu thầu của chủ đầu tư phải tự nâng cao trình độ của mình về các mặt nên việc áp dụng phương thức đấu thầu còn giúp cho chủ đầu tư nâng cao trình độ và năng lực của cán bộ công nhân viên

- Đối với các Nhà thầu: Hoạt động đấu thầu được tổ chức theo nguyên tắc công

khai và bình đẳng, nhờ đó các nhà thầu (các đơn vị cung cấp, các nhà sản xuất) sẽ có điều kiện để phát huy đến mức cao nhất cơ hội tìm kiếm các gói thầu và khả năng của mình để trúng thầu, tạo công ăn việc làm cho người lao động phát triển sản xuất kinh doanh

Việc tham gia đấu thầu, trúng thầu và thực hiện dự án đầu tư theo hợp đồng làm cho nhà thầu phải tập trung vốn của mình và lựa chọn trọng điểm để đầu tư để nâng cao

cơ sở vật chất kĩ thuật, công nghệ nhân lực theo yêu cầu của công trình Qua đó, giúp cho các nhà thầu nâng cao năng lực về mọi mặt của mình

Công việc thực tế sẽ giúp cho các nhà thầu hoàn thiện về tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất, nâng cao trình độ và năng lực của cán bộ công nhân viên của mình

- Đối với Nhà nước: Đấu thầu góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý

Nhà nước về đầu tư và xây dựng, quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu quả, hạn chế

và loại trừ được các tình trạng như : thất thoát lãng phí vốn đầu tư, đặc biệt là vốn ngân sách, các hiện tượng tiêu cực khác phát sinh trong mua sắm vật tư thiết bị trong ngành điện

Đấu thầu tạo nên sức cạnh tranh mới và lành mạnh trong lĩnh vực cung cấp vật

tư thiết bị điện, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá trong ngành điện cũng như trong nền kinh tế quốc dân nói chung

Trang 28

17

Vì những lợi ích trên nên việc thực hiện công tác đấu thầu là một đòi hỏi tất yếu

1.2.2 Một số khái niệm liên quan

- Bên mời thầu: là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh nghiệm được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp luật về đấu thầu

- Nhà thầu: là tổ chức kinh tế, cá nhân có điều kiện và tư cách pháp nhân để tham gia đấu thầu

- Gói thầu: là một phần của dự án, trong một số trường hợp đặc biệt gói thầu là toàn bộ dự án; gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc là khối lượng mua sắm một lần đối với mua sắm thường xuyên

- Hồ sơ dự thầu là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong hồ sơ mời thầu

- Giá gói thầu: là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán, dự toán được duyệt và các quy định hiện hành

- Giá dự thầu là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ dự thầu Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá thì giá dự thầu là giá sau khi giảm

1.2.3 Nguyên tắc, lĩnh vực và các hình thức đấu thầu

1.2.3.1 Các nguyên tắc đấu thầu

Đấu thầu thực chất là một phương thức cạnh tranh mà bên mời thầu đứng ra tổ chức để qua đó lựa chọn được một nhà thầu có thể đáp ứng tốt nhất yêu cầu đối với gói thầu

Để đảm bảo tính cạnh tranh thì các bên liên quan đến quá trình đấu thầu phải tuân thủ nguyên tắc:

• Nhà thầu tham gia đấu thầu và nhà thầu tư vấn lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu; nhà thầu thực hiện hợp đồng và nhà thầu tư vấn giám sát thực hiện hợp đồng được coi là độc lập với nhau về tổ chức, không cùng phụ thuộc vào một cơ quan quản lý và độc lập với nhau về tài chính theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật sửa đổi khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Nhà thầu là doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp hoặc không cùng thuộc một cơ quan, đơn vị trực tiếp ra quyết định thành lập

Trang 29

18

b) Không có cổ phần hoặc vốn góp trên 30% của nhau

• Chủ đầu tư và nhà thầu tham gia đấu thầu gói thầu thuộc cùng một dự án được coi là độc lập với nhau về tổ chức, không cùng phụ thuộc vào một cơ quan quản lý

và độc lập với nhau về tài chính quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật sửa đổi theo quy định sau đây:

a) Đối với nhà thầu hoạt động theo Luật Doanh nghiệp: không có cổ phần hoặc vốn góp trên 50% của nhau

b) Đối với nhà thầu là đơn vị sự nghiệp: không cùng thuộc một cơ quan, đơn vị trực tiếp ra quyết định thành lập và phải là đơn vị tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính khi tham gia cung cấp dịch vụ, hàng hóa

c) Đối với nhà thầu là doanh nghiệp nhà nước thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 thuộc diện phải chuyển đổi theo Luật Doanh nghiệp: không có cổ phần hoặc vốn góp trên 50% của nhau kể từ thời gian phải hoàn thành việc chuyển đổi theo quyết định của cấp có thẩm quyền

- Đối với nhà thầu là doanh nghiệp nhà nước thuộc lĩnh vực đặc thù, chuyên ngành đặc biệt mà Nhà nước cần nắm giữ phần vốn chi phối thì thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

Ngoài ra, quá trình đấu thầu phải đảm bảo các nguên tắc công khai, công bằng, minh bạch

- Công khai: Thông tin về đấu thầu phải được công bố trên ít nhất một trong các phương tiện đại chúng do chủ đầu tư lựa chọn

- Công bằng: Mọi nhà thầu phải được đối xử công bằng với nhau trước pháp luật

- Minh bạch: Tất cả các thông tin liên quan đến gói thầu đều phải rõ ràng

và các bên liên quan đều có quyền được biết

1.2.3.2 Các lĩnh vực đấu thầu

Theo quy định hiện hành thì đấu thầu xây dựng bao gồm 3 lĩnh vực đấu thầu cụ thể sau: Đấu thầu tư vấn, đấu thầu xây lắp và đấu thầu mua sắm hàng hóa

“Tư vấn” là hoạt động đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn do Bên mời thầu trong việc xem xét, quyết định, kiểm tra quá trình chuẩn bị và

Trang 30

- Thực hiện đầu tư: nhà tư vấn phải lập Hồ sơ mời thầu cho các phần công việc của dự án; giám sát thi công công trình, giám sát cung cấp hàng hoá; có thể thực hiện những công việc như kiểm tra chất lượng công trình, kiểm tra chất lượng hàng hoá; luôn luôn phải đi kèm việc xây lắp công trình với việc đánh giá tác động tới môi trường; quản lý, điều hành các hoạt động của dự án; tư vấn về tài chính, thu xếp các khoản vay

- Vận hành kết quả đầu tư: các công việc mà tư vấn phải làm là đào tạo nhân sự; kiểm tra chất lượng sản phẩm, đánh giá sự tiêu thụ sản phẩm trên thị trường (nghiên cứu thị trường); xử lý ảnh hưởng tới môi trường; báo cáo kết quả của việc thực hiện dự

án đầu tư, chuẩn bị những giấy tờ, thông tin cần thiết cho việc thanh lý dự án

1.2.3.4 Đấu thầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ

- Hàng hoá bao gồm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, nguyên vật liệu

là những thứ có thể cân, đong, đo, đếm Bên cạnh đó còn có những thứ không thể cân, đong, đo, đếm được như nhãn mác hàng hoá, quyền sở hữu công nghiệp, quyền sở hữu công nghệ

- Dịch vụ như: bảo hiểm, sửa chữa và bảo dưỡng hàng hóa sau bán hàng

1.2.3.4.1 Trình tự tổ chức đấu thầu mua sắm vật tư thiết bị

- Sơ tuyển nhà thầu (nếu có)

- Lập Hồ sơ mời thầu

- Gửi thư mời thầu hoặc thông báo mời thầu

- Nhận và quản lý Hồ sơ dự thầu

- Mở thầu

- Đánh giá và xếp hạng nhà thầu

- Trình duyệt kết quả đấu thầu

- Công bố kết quả trúng thầu, thương thảo hoàn thiện hợp đồng

- Trình duyệt nội dung hợp đồng và ký hợp đồng

Trang 31

20

Sơ đồ 3: Trình tự tổ chức đấu thầu mua sắm vật tư thiết bị 1.2.3.4.2 Nội dung hồ sơ dự thầu

* Các nội dung về hành chính, pháp lý:

- Đơn dự thầu hợp lệ (phải có chữ ký của người có thẩm quyền)

- Bản sao giấy đăng ký kinh doanh

- Tài liệu giới thiệu năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu kể cả nhà thầu phụ (nếu có)

- Văn bản thoả thuận liên danh (trường hợp liên danh dự thầu)

1 Thành lập tổ chuyên gia đấu thầu

2 Sơ tuyển nhà thầu

3 Lập hồ sơ mời thầu

4 Thông báo mời thầu

5 Tiếp nhận và bảo quản Hồ sơ dự thầu

6 Mở thầu

7 Đánh giá xếp hạng hồ sơ dự thầu

8 Trình duyệt kết quả đấu thầu

9 Thông báo trúng thầu, thương thảo hoàn thiện hợp đồng

10 Trình duyệt nội dung và ký hợp đồng

Bên

mời

thầu

Người hoặc cấp có thẩm quyền

Phê duyệt kế quả sơ tuyển

Phê duyệt hồ sơ Mời thầu

Phê duyệt kết quả đấu thầu

Phê duyệt Nội dung hợp đồng

Trang 32

* Các nội dung về thương mại, tài chính:

- Giá dự thầu kèm theo thuyết minh và biểu giá chi tiết

- Điều kiện tài chính (nếu có)

- Điều kiện thanh toán

1.2.3.4.3 Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua sắm vật tư thiết bị

Theo điều 24, luật đấu thầu 2005 tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua sắm vật tư thiết bị gồm tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu, tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật và nội dung xác định giá đánh giá, cụ thể như sau:

∗ Tiêu chuẩn đánh giá về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu áp dụng đối với gói thầu không tiến hành sơ tuyển, bao gồm:

- Kinh nghiệm thực hiện các gói thầu tương tự tại Việt Nam và ở nước ngoài; kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính có liên quan tới gói thầu

- Năng lực sản xuất và kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ cán bộ chuyên môn có liên quan tới gói thầu

- Năng lực tài chính: tổng tài sản, tổng nợ phải trả, tài sản ngắn hạn, nợ ngắn hạn, doanh thu, lợi nhuận, giá trị hợp đồng đang thực hiện dở dang và các chỉ tiêu khác

Việc xác định mức độ yêu cầu cụ thể đối với từng tiêu chuẩn năng lực, kinh nghiệm cần căn cứ theo yêu cầu của từng gói thầu

Các tiêu chuẩn đánh giá quy định tại khoản này được sử dụng tiêu chí “đạt”,

“không đạt” Nhà thầu “đạt” cả 3 nội dung nêu trên thì được đánh giá là đáp ứng yêu cầu về năng lực và kinh nghiệm

∗ Tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật

Trang 33

22

Tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật được xây dựng theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 và bao gồm các nội dung về khả năng đáp ứng các yêu cầu về số lượng, chất lượng đối với hàng hóa nêu trong hồ sơ mời thầu, cụ thể:

- Đặc tính, thông số kỹ thuật của hàng hóa, tiêu chuẩn sản xuất và các nội dung khác

- Tính hợp lý và hiệu quả kinh tế của các giải pháp kỹ thuật, biện pháp tổ chức cung cấp, lắp đặt hàng hóa

- Mức độ đáp ứng các yêu cầu về bảo hành

- Khả năng thích ứng về mặt địa lý

- Tác động đối với môi trường và biện pháp giải quyết

- Khả năng cung cấp tài chính (nếu có yêu cầu)

- Các yếu tố khác về điều kiện thương mại, tài chính, thời gian thực hiện, đào tạo chuyển giao công nghệ (nếu có)

∗ Nội dung xác định giá đánh giá

Giá đánh giá là giá được xác định trên cùng một mặt bằng các yếu tố về kỹ thuật, tài chính, thương mại và các yếu tố khác dùng để so sánh, xếp hạng các hồ sơ dự thầu Phương pháp xác định giá đánh giá phải được nêu trong tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu Việc xác định giá đánh giá thực hiện theo trình tự sau đây:

- Xác định giá dự thầu (Trường hợp có thư giảm giá thì thực hiện theo quy định tại khoản 13 Điều 70 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009)

- Sửa lỗi

- Hiệu chỉnh các sai lệch;

- Chuyển đổi giá dự thầu (sau sửa lỗi và hiệu chỉnh sai lệch) sang một đồng tiền chung (nếu có)

- Đưa các chi phí về một mặt bằng để xác định giá đánh giá, bao gồm:

+ Các điều kiện về mặt kỹ thuật như: tiến độ thực hiện; công suất, hiệu suất của máy móc thiết bị; mức tiêu hao điện năng, nguyên, nhiên vật liệu; chi phí vận hành, duy

tu, bảo dưỡng; tuổi thọ và các yếu tố kỹ thuật khác tùy theo từng gói thầu cụ thể

+ Điều kiện tài chính, thương mại

+ Ưu đãi trong đấu thầu quốc tế (nếu có)

Trang 34

23

+ Các yếu tố khác

Tùy theo tính chất của từng gói thầu mà quy định các yếu tố để xác định giá đánh giá cho phù hợp Xếp hạng thứ tự hồ sơ dự thầu theo giá đánh giá, hồ sơ dự thầu

có giá đánh giá thấp nhất được xếp thứ nhất

1.2.3.4.4 Đấu thầu xây lắp

Là công việc có liên quan đến xây dựng công trình, hạng mục công trình; lắp đặt

hệ thống điện, nước của các công trình hoặc hạng mục công trình Nhà thầu xây lắp là những người quyết định chính đối với dự án

1.2.4 Các hình thức lựa chọn nhà thầu

Đấu thầu rộng rãi: Khi thực hiện đấu thầu rộng rãi, không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự đấu thầu Trường hợp tại thời điểm đóng thầu có ít hơn 3 (ba) nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu thì thủ trưởng cơ quan, đơn vị, bộ phận được giao nhiệm vụ mua sắm tài sản báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản xem xét, quyết định cho phép kéo dài thời điểm đóng thầu nhằm tăng thêm hồ sơ dự thầu hoặc cho phép mở thầu để tiến hành đánh giá hồ sơ dự thầu đã nộp

Đấu thầu hạn chế: Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong trường hợp: Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù, gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu

Khi thực hiện đấu thầu hạn chế, phải mời tối thiểu 5 (năm) nhà thầu được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu; trường hợp thực tế có ít hơn năm nhà thầu, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản xem xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác

Chỉ định thầu: Khi thực hiện chỉ định thầu, phải lựa chọn một nhà thầu được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu và phải tuân thủ quy trình thực hiện chỉ định thầu

Mua sắm trực tiếp: Mua sắm trực tiếp được áp dụng khi hợp đồng đối với gói thầu có nội dung tương tự được ký trước đó không quá sáu tháng

Khi mua sắm trực tiếp, được mời nhà thầu trước đó đã được lựa chọn thông qua đấu thầu để thực hiện gói thầu có nội dung tương tự

Trang 35

24

Được áp dụng mua sắm trực tiếp để thực hiện gói thầu tương tự thuộc cùng một

đề tài, dự án hoặc thuộc đề tài, dự án khác

Đơn giá đối với các nội dung thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp không được vượt quá đơn giá của các nội dung tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã ký hợp đồng trước đó Trường hợp tại thời điểm mua sắm mà giá cả hàng hoá có biến động, không phù hợp với việc mua sắm trực tiếp thì phải tổ chức đấu thầu như một gói thầu mới

Chào hàng cạnh tranh trong mua sắm tài sản: Khi thực hiện chào hàng cạnh tranh, phải gửi yêu cầu chào hàng cho các nhà thầu Nhà thầu gửi báo giá đến bên mời thầu một cách trực tiếp, bằng fax hoặc qua đường bưu điện Đối với mỗi gói thầu phải

có tối thiểu ba báo giá từ ba nhà thầu khác nhau

1.2.5 Các phương thức đấu thầu

Các phương thức đấu thầu chủ yếu bao gồm:

- Đấu thầu 01 túi hồ sơ: Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC Nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất

về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc mở thầu được tiến hành một lần

Đấu thầu 02 túi hồ sơ: Phương thức đấu thầu hai túi hồ sơ được áp dụng đối với đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế trong đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn Nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc mở thầu được tiến hành hai lần; trong đó, đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước để đánh giá, đề xuất về tài chính của tất cả các nhà thầu có đề xuất kỹ thuật được đánh giá là đáp ứng yêu cầu được mở sau để đánh giá tổng hợp Trường hợp gói thầu có yêu cầu kỹ thuật cao thì đề xuất về tài chính của nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật cao nhất

sẽ được mở để xem xét, thương thảo

Phương thức đấu thầu hai giai đoạn: được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, đa dạng và được thực hiện theo trình tự sau đây:

a) Trong giai đoạn một, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn một, các nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có giá dự thầu; trên cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai;

Trang 36

25

b) Trong giai đoạn hai, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, các nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai bao gồm: đề xuất về kỹ thuật; đề xuất về tài chính, trong đó có giá dự thầu; biện pháp bảo đảm dự thầu

Công tác đấu thầu đóng góp những thành tựu to lớn cho sự phát triển kinh tế, thể hiện vai trò quan trọng trong các hoạt động của kinh tế thị trường, cụ thể vai trò của hoạt động đấu thầu thể hiện cơ bản qua các mặt sau:

- Là một công cụ quan trọng của kinh tế thị trường, giúp người mua (BMT)

và người bán (nhà thầu) gặp nhau thông qua cạnh tranh

- Phát triển các ngành sản xuất theo hướng chuyên môn hoá sâu và hợp tác hoá rộng đồng thời phát triển thị trường đấu thầu Thông qua đấu thầu đã phát triển được thị trường người bán, nhiều doanh nghiệp nhà thầu lớn mạnh, nhiều doanh nghiệp được thành lập mới hoặc đặt chân vào thị trường đấu thầu, kích thích thị trường trong nước phát triển chống được sự độc quyền tự nhiên Các CĐT, BMT cũng được tăng cường về năng lực, họ có thêm kiến thức, thông tin và trở thành những người mua ngày một thông thái hơn Bên cạnh đó, hoạt động đấu thầu góp phần tạo động lực cho

sự phát triển nhờ tăng cường sự công khai, minh bach, công bằng, hiệu quả và thúc đẩy cạnh tranh các hoạt động mua sắm bằng nguồn vốn của Nhà nước cho các công trình công cộng

- Là một công cụ quan trọng giúp các chính phủ quản lý chi tiêu, sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước sao cho có hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí Đó là những khoản tiền được chi dùng cho đầu tư phát triển mà có sự tham gia của các tổ chức nhà nước, DNNN ở một mức độ nào đó, cũng như cho mục tiêu duy trì các hoạt động của bộ máy Nhà nước

- Cùng với pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, pháp luật về tham phòng- chống tham nhũng tạo thành công cụ hữu hiệu để chống lại các hành vi gian lận, tham nhũng và lãng phí trong việc chi tiêu các nguồn tiền của Nhà nước, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội nhờ thực hiện các hoạt động mua sắm công theo đúng luật pháp của Nhà nước

Trang 37

26

- Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giữa các quốc gia, các tổ chức phát triển với các quốc gia đang phát triển Hoạt động đấu thầu không chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp mà được diễn ra trên toàn thế giới Các nhà thầu danh tiếng trên thế giới- họ là những người sẵn sàng và có khả năng tham gia vào tất cả các hoạt động của các quốc gia, thông qua đó họ sẵn sàng chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm

- Việc chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước thông qua đấu thầu sẽ giúp các

cơ quan quan lý có điều kiện xem xét, quản lý và đánh giá một cách minh bạch các khoản chi tiêu do quá trình đấu thầu phải tuân thủ các quy trình chặt chẽ với sự tham gia của nhiều bên

- Tạo điều kiện để thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp, cơ chế “xin”, “cho” sang cơ chế cạnh tranh

- Thực hiện dân chủ hóa nền kinh tế, khắc phục những nhược điểm của những thủ tục hành chính nặng nề cản trở sự năng động, sáng tạo

2 Tầm quan trọng của đấu thầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế kinh tế quốc tế

Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu- rộng vào nền kinh tế Thế giới Điều đó càng khẳng định vai trò và tầm quan trọng của đấu thầu theo quy định của pháp luật Trước đây, chúng ta đã bắt đầu xây dựng chính sách đấu thầu từ các Quyết định và chỉ hạn định trong lĩnh vực xây lắp hoặc mua sắm hàng hoá mà chưa có một hệ thống hoàn chỉnh, đến nay chúng ta đã xây dựng và ban hành được Luật Đấu thầu quy định thống nhất cho cả 3 lĩnh vực đấu thầu dịch vụ tư vấn, mua sắm hàng hoá và xây lắp Những quy định đó được xây dựng trên cơ sở tiếp thu, chắt lọc các kiến thức, kinh nghiệm các quy định về đấu thầu của các tổ chức quốc tế, các quốc gia nhằm đảm bảo cho quy định của pháp luật về đấu thầu của Việt Nam phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện phát triển kinh tế- xã hội và dân trí của Việt Nam Tuy vậy trong quá trình phát triển, những quy định đó sẽ ngày càng được điều chỉnh cho phù hợp với thông lệ quốc tế song thích hợp với điều kiện trong nước Trong bối cảnh đó, hoạt động đấu thầu có tầm quan trọng nhất định trong quá trình toàn cầu hoá Cụ thể như sau:

Trang 38

27

Thứ nhất, bên cạnh việc chúng ta là thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế

khu vực Châu á Thái Bình Dương (APEC) và cũng đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nên Luật Đấu thầu của Việt Nam ra đời thay thế cho QCĐT trước đây cho phép công tác tổ chức đấu thầu của Việt Nam dễ dàng hơn khi họ tổ chức đấu thầu quốc tế Và do đó các nhà thầu Việt Nam cũng đỡ tốn công sức khi tham dự các gói thầu quốc tế do các nước thành viên của APEC, WTO tổ chức, vì những quy định đó ngày càng phù hợp hơn với các quy định đấu thầu của các nước thành viên APEC, WTO Ngược lại, các nhà thầu quốc tế là thành viên của các tổ chức APEC, WTO cũng thuận lợi hơn khi họ tham dự đấu thầu quốc tế các gói thầu do Việt Nam mời thầu

Thứ hai, với các tổ chức quốc tế lớn như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân

hàng Phát triển Châu á (ADB), Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), việc thông qua Luật Đấu thầu của Việt Nam đảm bảo việc mua sắm công của nước ta tiến sát hơn với những quy định của các tổ chức này Việc đấu thầu đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu của các tổ chức này càng làm tăng uy tín và tạo niềm tin của các tổ chức đó đối với Việt Nam Quá trình đấu thầu càng ngày càng được minh bạch hơn, công bằng hơn, hiệu quả hơn là cơ sở để thu hút ngày càng nhiều các khoản tín dụng ưu đãi và cả các nguồn tài trợ không hoàn lại cho công cuộc phát triển đất nước của các tổ chức trên

Thực tế, trong nhiều năm qua, WB, ADB và JBIC đã không ngừng tăng cường

hỗ trợ quá trình cải cách và đổi mới của Việt Nam bằng cả vật chất và tư vấn luật pháp làm cho công tác đấu thầu của Việt Nam ngày càng hiệu quả hơn, minh bạch hơn và do

đó tăng được lòng tin của Thế giới vào tiến trình đổi mới và cải cách của Việt Nam Điều này dòi hỏi việc xây dựng, hoàn thiện Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như việc phổ biến truyền, nghiên cứu, học tập để quán triệt và thi hành tốt

Luật Đấu thầu là một đòi hỏi cấp thiết

Trang 39

28

TÓM TẮT NỘI DUNG CHƯƠNG 1

Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, đấu thầu là phương thức trao đổi mua bán đem lại hiệu quả cao nhất cho các bên tham gia Đấu thầu là một hoạt động của nền kinh

tế thị trường, nó tuân theo các quy luật khách quan của thị trường như quy luật cung- cầu, quy luật giá trị Thông qua hoạt động đấu thầu, bên mời thầu có nhiều cơ hội để lựa chọn những người bán phù hợp với mình, mang lại hiệu quả cao nhất- xứng với giá trị của đồng tiền mà người mua sẵn sàng bỏ ra Đồng thời những người bán (nhà thầu) có nhiều cơ hội

để cạnh tranh nhằm đạt được các hợp đồng, có thể cung cấp các hàng hóa sản xuất ra, cung cấp các kiến thức mà mình có hoặc các dịch vụ mà mình có khả năng đáp ứng nhằm tối đa hóa lợi nhuận

Thông qua đấu thầu, các hoạt động kinh tế đều được kích thích phát triển như các ngành sản xuất trực tiếp, các ngành công nghiệp phụ trợ, chế biến Với việc nhiều nhà thầu đứng vai trò tổng thầu để kết hợp được các nhà chế tạo, nhà sản xuất, các chuyên gia tư vấn nhằm thực hiện các gói thầu quy mô lớn, tổng hợp nhiều lĩnh vực đã làm cho hoạt động kinh tế được diễn ra theo hướng chuyên môn hóa sâu và đa phương hóa rộng

Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống lại tương đối hoàn chỉnh các cơ sở lý luận

về cạnh tranh và đấu thầu, là tiền đề cho việc phân tích ở Chương 2

Trang 40

29

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CẠNH TRANH VÀ HOẠT ĐỘNG ĐẤU

THẦU VẬT TƯ THIẾT BỊ ĐIỆN 2.1 Tổng quan về đấu thầu vật tư thiết bị điện ở Việt Nam

2.1.1 Tình hình cung ứng vật tư thiết bị ngành điện của Việt Nam hiện nay

Theo cụ thống kê thì Năm 2010 thị trường sản xuất vật tư thiết bị ngành điện chiếm 0.63% trong tổng giá trị toàn ngành công nghiệp 100%, thị trường sản xuất tháng

08 năm 2010 so với cùng kỳ năm trước tăng 21.6%

Thị trường tiêu thụ tháng 08 năm 2010 so với cùng kỳ năm trước tăng 0.61% Qua tình hình sản xuất và tiêu thụ thiết bị vật tư ngành điện của Việt Nam hiện nay, dự

án nhà máy thủy điện ngày càng được đầu tư và thay đổi nhiều Thị trường cung ứng vật tư của các công ty sản xuất trong nước ngày càng được đẩy mạnh sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hiện nay

Đến nay ngành điện Việt Nam đã có nhiều công ty sản xuất chế tạo vật tư thiết bị điện nhằm phục vụ nhu cầu phát triển mạng lưới điện rộng khắp cả nước từ Thành phố đến nông thôn và các khu vực miền núi, góp phần công ngiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Điện là một yếu tố không thể thiếu trong sự phát triển của tất cả các ngành công nghiệp cũng như dân sinh xã hội Một đất nước có phát triển hay không một phần có thể dựa vào tính hình cung ứng vá tiêu thụ diện năng phục vụ cho sản xuất Các nhà máy phát điện thủy điện, nhiệt điện lần lượt được xây dựng và tương lai là điện hạt nhân, gió, thủy triều, địa nhiệt sẽ thống lĩnh về năng lượng

Ngày càng có nhiều dự án lắp đặt điện được Nhà nước quy hoạch và đưa vào sử dụng, với tình hình cung ứng vật tư thiết bị ngành điện của Việt Nam hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp sản xuất cung cấp trong nước và xuất khẩu sang nước ngoài, với mạng lưới phân phối rộng rải khắp đất nước, với nhiều mặt hàng mẫu mã đa dạng, trong đó có mặt hàng máy biến áp (MBA)

Theo kết quả khảo sát của Công ty tư vấn đa quốc gia KPMG, ngành điện Việt Nam là một trong những ngành hấp dẫn đầu tư nhất khu vực do tốc độ tăng trưởng kinh

tế và nhu cầu điện năng của Việt Nam đang tăng cao

Chính vì nhu cầu tiêu thụ thiệt bị và vật tư ngành điện ngày càng tăng Hiện nay nhiều công ty có công xuất sản xuất với số lượng cung cấp trong nước mà có thể đáp

Ngày đăng: 13/07/2017, 22:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh - Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu vật tư thiết bị ngành điện của công ty cổ phần tập đoàn hanaka
Sơ đồ 1 Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh (Trang 17)
Sơ đồ 2: Quá trình kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp - Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu vật tư thiết bị ngành điện của công ty cổ phần tập đoàn hanaka
Sơ đồ 2 Quá trình kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp (Trang 21)
Sơ đồ 3: Trình tự tổ chức đấu thầu mua sắm vật tư thiết bị  1.2.3.4.2. Nội dung hồ sơ dự thầu - Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu vật tư thiết bị ngành điện của công ty cổ phần tập đoàn hanaka
Sơ đồ 3 Trình tự tổ chức đấu thầu mua sắm vật tư thiết bị 1.2.3.4.2. Nội dung hồ sơ dự thầu (Trang 31)
Bảng 3 : Tình hình thực hiện đấu thầu và kết quả đạt được qua 3 năm 2007- - Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu vật tư thiết bị ngành điện của công ty cổ phần tập đoàn hanaka
Bảng 3 Tình hình thực hiện đấu thầu và kết quả đạt được qua 3 năm 2007- (Trang 47)
Bảng 4 : Một số chỉ tiêu về tài chính của công ty - Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu vật tư thiết bị ngành điện của công ty cổ phần tập đoàn hanaka
Bảng 4 Một số chỉ tiêu về tài chính của công ty (Trang 51)
Bảng 5 : Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình hoạt động của công ty - Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu vật tư thiết bị ngành điện của công ty cổ phần tập đoàn hanaka
Bảng 5 Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình hoạt động của công ty (Trang 52)
Sơ đồ 4: Phòng marketing trong tương lai - Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu vật tư thiết bị ngành điện của công ty cổ phần tập đoàn hanaka
Sơ đồ 4 Phòng marketing trong tương lai (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w