Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN Học viên: Ngô Viết Hậu Khóa 2008-2010 DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Bảng phân loại khủng hoảng doanh nghiệp Bảng 1.2: Các đối tượng chính v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 2Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG PR TRONG QUẢN TRỊ KHỦNG HOẢNG DOANH NGHIỆP………
1.1 Lý thuyết về các công việc PR………
1.1.1 Khái niệm PR………
1.1.2 Các công việc của PR………
1.2 Cơ sở lý thuyết về khủng hoảng doanh nghiệp và quản trị khủng hoảng doanh nghiệp………
1.2.1 Lý thuyết về khủng hoảng doanh nghiệp………
1.2.2 Đặc điểm của khủng hoảng doanh nghiệp………
1.2.3 Nguyên nhân khủng hoảng doanh nghiệp………
1.2.4 Phân loại khủng hoảng doanh nghiệp………
1.2.5 Khái quát về quản trị khủng hoảng doanh nghiệp………
1.3 Cơ sở lý thuyết đào tạo nhân lực hoạt động PR trong quản trị khủng hoảng ở doanh nghiệp………
1.3.1 Thành lập ban quản trị khủng hoảng………
1.3.2 Lập kế hoạch quản trị khủng hoảng………
1.3.3 Tìm hiểu và phân tích vấn đề………
1.4 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu quy trình hoạt động PR trong xử lý khủng hoảng dư luận của doanh nghiệp……….………
1.4.1 Vai trò của truyền thông và báo chí hoạt động doanh nghiệp… 1.4.2 Quy trình hoạt động PR trong xử lý khủng hoảng dư luận của doanh nghiệp………
1.5 Tóm lược chương 1 và nhiệm vụ chương 2………
1
5
5
6
9
9 11 12 13 15
19 21 22 23
23 24
27 33
Trang 3Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG PR
TRONG QUẢN TRỊ KHỦNG HOẢNG CỦA DOANH NGHIỆP Ở
VIỆT NAM………
2.1 Khái quát cơ sở dữ liệu nghiên cứu………
2.2 Phân tích và đánh giá chất lượng nhân lực hoạt động trong lĩnh
vực PR của các doanh nghiệp ở Việt Nam………
2.3 Phân tích và đánh giá quy trình hoạt động PR trong giai đoạn
khủng hoảng của các doanh nghiệp ở Việt Nam………
2.4 Thực tiễn vận dụng hoạt động PR trong quản trị khủng hoảng
tại một số doanh nghiệp ở Việt Nam………
2.4.1 Hà Nội Milk với sự việc sữa nhiễm melamine
(Hanoimilk)………
2.4.2 Vinamilk với sự việc có bột chống ẩm và mạt sắt trong sữa bột
Dielac………
2.5 Đánh giá ưu nhược điểm của việc sử dụng hoạt động PR trong
quản trị khủng hoảng của các doanh nghiệp tại Việt Nam …………
2.6 Tóm tắt cơ sở lý luận chương 2 và nhiệm vụ chương 3……
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG PR TRONG
QUẢN TRỊ KHỦNG HOẢNG DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM…
3.1 Định hướng hoạt động PR trong quản trị khủng hoảng doanh
nghiệp ở Việt Nam đến 2015………
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR trong quản trị
khủng hoảng doanh nghiệp ở Việt Nam ………
3.2.1 Giải pháp 1: Đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp trong hoạt
động PR và công tác quản trị khủng hoảng dư luận………
3.2.2 Giải pháp 2: Quy trình áp dụng hoạt động PR trong quản trị
khủng hoảng dư luận cho các doanh nghiệp ở Việt Nam………
34 34
Trang 4Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
3.3 Đánh giá các giải pháp nâng cao hoạt động PR trong quản trị
khủng hoảng tại các doanh nghiệp………
KẾT LUẬNVÀ KHUYẾN NGHỊ………
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………
PHỤ LỤC ………
86 88 91 94
Trang 5Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Bảng phân loại khủng hoảng doanh nghiệp
Bảng 1.2: Các đối tượng chính và cách thức xử lý khủng hoảng đối với các
doanh nghiệp Bảng 2.1: Chi phí tiếp thị chung doanh nghiệp
Bảng 2.2: Doanh thu các quý 2-4 của Hanoimilk năm 2008 với sự việc có
bột chống ẩm và mạt sắt trong sữa Dielac Bảng 2.3: Kết quả kinh doanh của dòng sản phẩm Dielac năm 2007
Bảng 2.4: Một số vấn đề tồn tại và thách thức trong công tác quản trị khủng
hoảng ở các doanh nghiệp tại Việt Nam Bảng 3.1: Định hướng hoạt động PR trong quản trị khủng hoảng của các
doanh nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 Bảng 3.2: Công việc và chức năng, nhiệm vụ trưởng phòng PR
Bảng 3.3: Công việc và nguyên tắc hoạt động truyền thông của phòng PR
nội bộ Bảng 3.4: Bảng dự kiến kế hoạch triển khai giải pháp 1
Bảng 3.5: Các hạng mục chi phí cho giải pháp 1
Bảng 3.6: Các hạng mục chi phí dự trù xử lý khủng hoảng
Bảng 3.7: Các vấn đề tồn tại và giải pháp của đề tài trong hoạt động quản
trị khủng hoảng của doanh nghiệp
Trang 6Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ
Biểu đồ 2.1: Ngân sách Marketing của doanh nghiệp
Biểu đồ 2.2: Trình độ học vấn tại các doanh nghiệp
Sơ đồ 1.1: Vai trò hoạt động PR đối với doanh nghiệp
Sơ đồ 1.2: Tầm quan trọng của hoạt động PR trong doanh nghiệp
Sơ đồ 1.3: Các công việc chính của hoạt động PR
Sơ đồ 1.4: Mô hình quản trị khủng hoảng doanh nghiệp
Sơ đồ1.5: Vấn đề nhân lực trong quản trị khủng hoảng doanh nghiệp
Sơ đồ 1.6: Mô hình hoạch định PR trong doanh nghiệp
Sơ đồ 1.7: Vai trò của truyền thông và báo chí đối với doanh nghiệp
Sơ đồ 1.8: Tháp nhu cầu của Maslow
Sơ đồ 2.1: Những vấn đề khi thuê công ty truyền thông của doanh nghiệp
Sơ đồ 2.2: Diễn biến sự việc công ty cổ phần sữa Hà Nội với việc sữa nhiễm
melamine
Sơ đồ 2.4: Mô hình các giai đoạn xử lý của Vinamilk
Sơ đồ 3.1: Mô hình hỗ trợ doanh nghiệp trong cách nhìn nhận về PR
Sơ đồ 3.2: Quy trình áp dụng hoạt động PR trong quản trị khủng hoảng dư
luận cho các doanh nghiệp ở Việt Nam
Sơ đồ 3.3: Các đối tượng cần hướng tới khi xảy ra khủng hoảng
Sơ đồ 3.4: Dự kiến kế hoạch triển khai giải pháp 2
Trang 7Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
1
MỞ ĐẦU
1 Tính thời sự và lý do lựa chọn đề tài
Trước đây, người ta luôn nghĩ rằng khủng hoảng là căn bệnh riêng của
chủ nghĩa tư bản và nó sẽ không xảy ra với các nước theo đường lối phi tư
bản Tuy nhiên, sự thực không phải như thế Trong nền kinh tế thị trường
cạnh tranh và hội nhập sâu rộng như hiện nay, luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ và
khủng hoảng có thể xảy ra với bất kì một doanh nghiệp nào, hoạt động trong
bất kì lĩnh vực kinh doanh nào Khủng hoảng có thể xảy ra thường xuyên như
một căn bệnh trong đời thường Khi một doanh nghiệp rơi vào khủng hoảng,
hàng loạt các khó khăn, đe dọa sẽ cùng lúc xảy đến với doanh nghiệp Khách
hàng quay lưng, tẩy chay sản phẩm, các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra,
nhà đầu tư hoang mang lo sợ, nhân viên doanh nghiệp lo lắng, bất an Việc
truyền thông phát triển mạnh mẽ và sâu rộng khiến thông tin được lan truyền
đi với một tốc độ chóng mặt
Hơn nữa, những tác động tiêu cực của một chuỗi các tin đồn, sự phá
hoại của đối thủ cạnh tranh không lành mạnh Doanh nghiệp đứng trước
những khó khăn, thách thức hơn bao giờ hết Thương hiệu mà doanh nghiệp
đã đầu tư tiền bạc và công sức gây dựng trong hàng chục năm hoạt động có
thể bị hủy hoại chỉ trong một thời gian ngắn Việc xử lý khủng hoảng, đặc
biệt từ khía cạnh xử lý khủng hoảng với công chúng đóng một vai trò quan
trọng trong việc duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
PR - Public Relations là một lĩnh vực không quá mới mẻ với các doanh
nghiệp Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, nhìn chung có rất nhiều doanh nghiệp
còn có suy nghĩ lệch lạc và chưa hiểu một cách toàn diện các khía cạnh của
PR Nhiều doanh nghiệp nghĩ rằng PR chỉ đơn giản l xuất hiện trên báo chí,
PR và quảng cáo là một… Một số doanh nghiệp thì đã vận dụng PR một cách
khá thành công trong hoạt động của mình nhưng ở các khía cạnh như tổ chức
Trang 8Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
2
sự kiện, hoạt động cộng đồng, mà bỏ qua một vai trò hết sức quan trọng của
PR trong quản trị khủng hoảng doanh nghiệp Khi khủng hoảng xảy ra, nhiều
doanh nghiệp xử lý lúng túng hoặc âm thầm xử lý mà không để ý đến công
chúng Do vậy, thiệt hại mà doanh nghiệp phải gánh chịu là rất lớn, thậm chí
có doanh nghiệp đã bị phá sản
Có thể thấy PR đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động quản trị
khủng hoảng doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, nhưng nhận thức của doanh
nghiệp về vấn đề này còn chưa cao Trước thực tế đó, tác giả lựa chọn đề tài
làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn góp thêm tiếng
nói nhằm nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về sử dụng PR để quản trị
khủng hoảng và đề xuất mô hình phát triển năng lực quản trị khủng hoảng cho
các doanh nghiệp:
“Giải pháp nâng cao hoạt động PR trong quản trị khủng hoảng
của doanh nghiệp ở Việt Nam”
Đây là một đề tài còn rất mới, nguồn tài liệu và thông tin chưa có
nhiều, do đó có những vấn đề luận văn chưa thể giải quyết được Tác giả hi
vọng sẽ nhận được những đóng góp của thầy cô và các bạn để đề tài được
hoàn thiện và mang giá trị thực tiễn cao hơn
Cuối cùng, tác giả mong muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS
Nguyễn Văn Thanh, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện cho tác giả hoàn thành luận văn này Tác giả cũng cảm ơn gia đình, bạn
bè và một số chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông đã hỗ trợ nhiệt tình trong
thời gian nghiên cứu đề tài
2 Giới hạn phạm vi đề tài cần giải quyết
Luận văn không đi vào phân tích các biện pháp kĩ thuật - nghiệp vụ để
xử lý khủng hoảng mà chỉ đi sâu vào phân tích xử lý khủng hoảng nhìn từ góc
độ quan hệ công chung, tức là xử lý khủng hoảng dư luận Đối tượng và phạm
Trang 9Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
3
vi nghiên cứu của đề tài là vai trò của PR trong quản trị khủng hoảng doanh
nghiệp ở Việt Nam Từ việc nghiên cứu vấn đề này, tác giả cũng đề xuất một
số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao việc sử dụng PR để quản trị khủng
hoảng ở các doanh nghiệp ở Việt Nam
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài cần giải quyết
Nghiên cứu của đề tài trước tiên cần đánh giá được thực trạng hoạt
động PR chung của các doanh nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt là quy trình hoạt
động PR trong công tác quản trị khủng hoảng của doanh nghiệp
Căn cứ trên thực trạng, áp dụng những lý thuyết đã được học đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động PR cho doanh nghiệp ở Việt Nam
4 Phương pháp lựa chọn và sử dụng trong đề tài
Đề tài sẽ áp dụng phương pháp phân tích định tính và định lượng thông
qua việc phân tích kinh tế, điều tra, khảo sát, phỏng vấn, tọa đàm cụ thể như:
- Sử dụng phương pháp phân tích kinh tế để phân tích các chỉ tiêu về tài
chính, nguồn lao động của doanh nghiệp…
- Phương pháp thống kê, điều tra xử lý phiếu khảo sát doanh nghiệp để
phân tích, đánh giá trình độ các hoạt động phát triển PR cho các doanh nghiệp
ở Việt Nam
- Sử dụng phương pháp chuyên gia dưới hình thức phỏng vấn và tọa
đàm để bổ sung thêm phần phân tích, đánh giá cũng như những giải pháp mà
đề tài đã đặt ra
5 Những vấn đề mới và giải pháp của đề tài
Lợi ích của các giải pháp trong đề tài mang lại nhằm giúp các doanh
nghiệp nhận thức đứng đắn về tầm quan trọng của công tác PR Các doanh
nghiệp chủ động trong công tác đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp nói chung
Trang 10Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
4
và cho công tác PR nói riêng Khi gặp khủng hoảng xảy ra, các doanh nghiệp
sẽ có những biện pháp ứng xử với các đối tượng và người tiêu dùng kịp thời
và hiệu quả
Bên cạnh đó, dưới sự hỗ trợ của các công cụ từ giới truyền thông, báo
chí sẽ giúp doanh nghiệp đối phó với các tác động bất lợi bên trong và ngoài
doanh nghiệp Những sự việc có thể ảnh hưởng tới doanh nghiệp ở mức độ
nào đó Từ đó doanh nghiệp chủ động trong các hoạt động và phát triển
thương hiệu của mình
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văn được chia làm ba phần
chính:
Chương I: Cơ sở lý thuyết về hoạt động PR trong quản trị khủng hoảng
của doanh nghiệp
Chương II: Phân tích và đánh giá hoạt động PR trong quản trị khủng
hoảng doanh nghiệp ở Việt Nam
Chương III: Giải pháp nâng cao hoạt động PR trong quản trị khủng
hoảng doanh nghiệp ở Việt Nam
Giải pháp 1: Đào tạo nhân lực cho doanh nghiệp trong hoạt động PR
và công tác quản trị khủng dư luận Giải pháp 2: Quy trình áp dụng hoạt động PR trong quản trị khủng
hoảng dư luận cho các doanh nghiệp ở Việt Nam
Trang 11Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG PR TRONG
QUẢN TRỊ KHỦNG HOẢNG DOANH NGHIỆP
1.1 Lý thuyết về các công việc PR
1.1.1 Khái niệm PR
PR – Public Relations được dịch ra tiếng Việt với nhiều cách khác nhau
như quan hệ công chúng, giao tế cộng đồng… Trong phạm vi bài viết, tác giả
lựa chọn cách gọi là quan hệ công chúng và viết tắt là PR Hiện nay trên thế
giới có đến hơn 500 định nghĩa về PR
Theo định nghĩa của Bách Khoa toàn thư thế giới năm 2008, PR là một
hoạt động nhằm tăng cường khả năng giao tiếp, truyền thông và sự hiểu biết
lẫn nhau giữa tổ chức hoặc cá nhân với một hoặc nhiều nhóm người được
mệnh danh là công chúng
Theo định nghĩa của Viện quan hệ công chúng Hoàng gia Anh
(Institute of PR England), PR là một nỗ lực được lên kế hoạch và kéo dài liên
tục để thiết lập, duy trì sự tín nhiệm và hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức và
công chúng
Theo Frank Jefkins, tác giả cuốn Public Relations, giáo trình về PR của
học viện Thames do Financial Times xuất bản năm 1998, PR bao gồm tất cả
các hình thức giao tiếp được lên kế hoạch, bên trong và ngoài tổ chức, giữa
một tổ chức và công chúng nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể liên quan
đến sự hiểu biết lẫn nhau
Trong một cuộc họp giữa các viện sĩ thông tấn PR đến từ nhiều nước
diễn ra tại thành phố Mexico tháng 8/1978, PR là một nghệ thuật và môn khoa
học xã hội, phân tích những xu hướng, dự đoán kết quả, tư vấn cho các nhà
lãnh đạo của tổ chức và thực hiện các chương trình hành động đó được lập kế
hoạch để phục vụ quyền lợi của tổ chức và công chúng
Trang 12Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
6
Dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm PR, nhưng tựu
chung lại tất cả các quan điểm đều thống nhất rằng PR là cầu nối giữa doanh
nghiệp với công chúng của doanh nghiệp Công chúng của doanh nghiệp là
báo chí, khách hàng, các nhà đầu tư, chính quyền,… Ta có thể đưa ra một
định nghĩa chung về PR để thống nhất trong quá trình nghiên cứu luận văn
như sau:
PR là một quá trình quản lý về truyền thông nhằm nhận biết, thiết lập
và duy trì những quan hệ hữu ích giữa một tổ chức, cá nhân với những cộng
đồng liên quan có quyết định trực tiếp hay gián tiếp tới sự thành bại của tổ
chức, cá nhân đó.[11;2]
Có một số quan điểm cho rằng PR là quan hệ với công chúng bên ngoài
doanh nghiệp chứ không bao gồm quan hệ với nhân viên bên trong doanh
nghiệp Theo quan điểm của tác giả, nhân viên của doanh nghiệp cũng là đối
tượng liên quan đến doanh nghiệp và có vai trò to lớn trong hoạt động của
doanh nghiệp Chính vì vậy, PR được hiểu trong nghiên cứu này bao gồm cả
quan hệ với nhân viên của doanh nghiệp
1.1.2 Các công việc của PR
Vai trò của hoạt động PR rất quan trọng trong việc kết nối doanh
nghiệp với các đối tượng liên quan
[Nguồn: 11,4]
Sơ đồ 1.1: Vai trò hoạt động PR đối với doanh nghiệp
Trang 13Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
7
Hoat động PR là một công cụ hữu hiệu và đắc lực trong việc xây dựng
và quảng bá thương hiệu cho doanh nghiệp PR giúp người tiêu dùng biết đến
và tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp nhiều hơn, xây dựng hình ảnh và
niềm tin của người tiêu dùng với doanh nghiệp, thu hút sự đầu tư từ các nhà
đầu tư trong và ngoài doanh nghiệp, thu hút người tài đến làm việc cho doanh
nghiệp của mình…
[Nguồn: 11,16]
Sơ đồ 1.2: Tầm quan trọng của hoạt động PR trong doanh nghiệp
Để tạo dựng và duy trì mối quan hệ nói trên, không gì tốt hơn là doanh
nghiệp phải thực hiện các hoạt động PR một cách có bài bản PR có tầm quan
trọng đặc biệt với các doanh nghiệp khi:
• Môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt
• Xã hội ngày càng rộng lớn
• Phương tiện truyền thông đa dạng
• Công chúng chịu sự chi phối mạnh của phương tiện truyền thông
• Công chúng đòi hỏi nhiều thông tin hơn, và các thông tin phải có
“chất lượng” hơn
Để thực hiện được điều đó, người làm PR phải thực hiện rất nhiều công
việc, trong đó có sáu mảng công việc chính như sau:
Trang 14Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
8
[Nguồn: 11,17]
Sơ đồ 1.3: Các công việc chính của hoạt động PR
Thứ nhất là mảng quan hệ báo chí, bao gồm thông cáo báo chí, họp
báo, phỏng vấn báo chí và tác động vào báo chí Báo chí là một công cụ
không thể thiếu của PR Nhân viên PR cần phải xây dựng những mối quan hệ
tốt với báo chí để quảng bá doanh nghiệp đến với đông đảo người tiêu dùng
Thứ hai là tổ chức các sự kiện liên quan đến doanh nghiệp như tổ chức
lễ khai trương, lễ ra mắt sản phẩm, hội nghị khách hàng… Hoạt động này
nhằm tăng cường sự hiện diện của doanh nghiệp và sản phẩm của doanh
nghiệp đến với người tiêu dùng
Thứ ba là quan hệ với chính phủ và cơ quan chức năng Việc quan hệ
với chính phủ có một ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp
Bộ phận PR của doanh nghiệp có thể cử một người hoặc một nhóm người
đảm nhiệm mảng đối ngoại với chính phủ để phục vụ cho hoạt động của
Tổ chức các sự kiện liên quan đến doanh nghiệp Quan hệ với chính quyền và cơ quan chức năngQuan hệ với nhà đầu tư và nội bộ doanh nghiệp
Trang 15Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
9
doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp nhận được sự hậu thuẫn của chính phủ, đó là
lợi thế lớn cho doanh nghiệp
Thứ tư là quan hệ với nhà đầu tư và nội bộ doanh nghiệp Nhà đầu tư là
người có vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Bộ phận PR đóng vai trò thắt chặt và củng cố mối quan hệ tốt đẹp giữa doanh
nghiệp và nhà đầu tư
Thứ năm là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Ngày càng có nhiều
doanh nghiệp quan tâm và thực hiện trách nhiệm xã hội Đó là các hoạt động
của doanh nghiệp hướng tới cộng đồng, vì cộng đồng như ủng hộ vì người
nghèo, tổ chức thăm hỏi, trao quà cho các em bộ chất độc màu da cam…
Thứ sáu là quản trị khủng hoảng Một trong những công việc khó nhất
và cũng nhiều thú vị nhất của PR chính là quản trị khủng hoảng Chúng ta sẽ
đi vào tìm hiểu sâu hơn công việc này ở các mục tiếp theo
Chúng ta đã hiểu sơ bộ công việc của bộ phận PR Có rất nhiều mảng
công việc bộ phận PR phải thực hiện nhưng trong bài nghiên cứu này, tác giả
chỉ xem xét đến công việc quản trị khủng hoảng doanh nghiệp, trong đó PR
đóng một vai trò quan trọng
1.2 Cơ sở lý thuyết về khủng hoảng doanh nghiệp và quản trị khủng
hoảng của doanh nghiệp
1.2.1 Lý thuyết về khủng hoảng doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm khủng hoảng doanh nghiệp
Trong thời gian gần đây, với việc khủng hoảng kinh tế - tài chính thế
giới lan rộng, thuật ngữ “Khủng hoảng” được nhắc đến rất nhiều, nhưng
không phải ai cũng hiểu được khái niệm này một cách trọn vẹn Trong một
nền kinh tế thị trường với việc kinh doanh đầy biến động, mọi sự việc đều có
thể xảy ra gây nên khủng hoảng và ảnh hưởng đến hoạt động của doanh
nghiệp Những doanh nghiệp nào không quan tâm đến khủng hoảng và quản
Trang 16Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
10
trị khủng hoảng sẽ dẫn đến những sai lầm và gây nên hậu quả to lớn cho
doanh nghiệp
Theo Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Í chủ biên, Nhà xuất bản
Văn hóa thông tin (1998), khủng hoảng là tình trạng rối loạn, mất sự cân bằng
bình ổn, do nhiều mâu thuẫn chưa được giải quyết, là tình trạng thiếu hụt gây
mất cân bằng nghiêm trọng
Theo từ điển Oxford, khủng hoảng nghĩa là thời gian rất khó khăn hoặc
nguy hiểm, thời điểm quyết định trong ốm đau, bệnh tật, cuộc đời, lịch sử
Theo I.Mitroff, Christine M.Pearson, L.Katharine Harrington, các tác
giả của cuốn “The essential guide to managing corporate crises” thì khủng
hoảng là sự kiện gây ảnh hưởng xấu, thậm chí có thể phá hủy toàn bộ tổ chức
Theo tạp chí kinh doanh Harvard, khủng hoảng là một tình thế đã đạt
tới giai đoạn nguy hiểm, gay cấn, cần có sự can thiệp đặc biệt và bất thường
để tránh hay hạn chế những thiệt hại lớn
Qua các quan điểm nêu trên về khủng hoảng, ta rút ra một định nghĩa
dễ hiểu nhất về khủng hoảng như sau:
Khủng hoảng là tình trạng khẩn cấp, rối loạn, mất cân bằng nghiêm
trọng, có khả năng gây tác động bất lợi về nhiều mặt cho cá nhân, tổ chức,
một quốc gia, đòi hỏi phải hao tốn nhiều thời gian và tiền bạc để giải quyết
[8,21]
Khủng hoảng có thể xảy ra với bất kỳ cá nhân, tổ chức, quốc gia và cả
thế giới Khái niệm trên đề cập đến phạm trù khủng hoảng nói chung Trong
bài nghiên cứu này, tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu khủng hoảng tại
doanh nghiệp
Khủng hoảng doanh nghiệp là tình trạng khẩn cấp, rối loạn, mất cân
bằng nghiêm trọng, có khả năng gây tác động bất lợi về nhiều mặt cho doanh
nghiệp, đòi hỏi phải hao tốn nhiều thời gian và tiền bạc để giải quyết [8,23]
Khủng hoảng doanh nghiệp nếu không được giải quyết sẽ tác động tiêu
Trang 17Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
11
cực đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tình trạng khẩn cấp, rối
loạn ở mức độ nào thì được đánh giá là khủng hoảng tùy thuộc vào đặc điểm,
tình hình của mỗi doanh nghiệp Doanh nghiệp sẽ tự đánh giá xem tình trạng
đó với doanh nghiệp là khủng hoảng hay chưa, hay chỉ là một tình trạng khẩn
cấp nhỏ và đơn giản
Do vậy, khủng hoảng là một phạm trù mang tính tương đối, cần được
xem xét trong một điều kiện không gian, thời gian xác định Việc doanh
nghiệp đánh giá một vấn đề là khủng hoảng hay chưa có ý nghĩa hết sức quan
trọng trong việc đưa ra các giải pháp xử lý phù hợp Một sự đánh giá sai lầm,
chủ quan cũng có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng
1.2.2 Đặc điểm của khủng hoảng doanh nghiệp
Có rất nhiều loại khủng hoảng doanh nghiệp nhưng về cơ bản, khủng
hoảng doanh nghiệp có những đặc điểm chung sau đây:
1.2.2.1 Gây ra thiệt hại
Tất cả các cuộc khủng hoảng đều gây ra thiệt hại nhất định ở dạng này
hay dạng khác Đó có thể là thiệt hại về vật chất lượng hóa được như chi phí
để thu hồi sản phẩm, chi phí bồi thường thiệt hại,… hay thiệt hại về tinh thần
như mất uy tín, mất niềm tin của người tiêu dùng hay công chúng đối với
chính doanh nghiệp Có những cuộc khủng hoảng gây đến một dạng thiệt hại,
nhưng có cuộc khủng hoảng gây đến tất cả các thiệt hại nêu trên [8]
1.2.2.2 Các sự kiện có tính chất leo thang, lan rộng
Khi khủng hoảng xảy ra nếu không được ngăn chặn, khắc phục kịp thời
thì hậu họa sẽ không lường trước được, bởi chúng có tính chất leo thang lan
rộng Từ một cuộc khủng hoảng nhỏ có thể dẫn đến nhiều vấn đề phát sinh
Như khi xảy ra khủng hoảng liên quan đến chất lượng sản phẩm, nếu doanh
nghiệp không có các biện pháp xử lý kịp thời sẽ dẫn đến làm cho uy tín của
Trang 18Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
12
doanh nghiệp suy giảm, người tiêu dùng tẩy chay hàng hóa doanh nghiệp
Ngoài ra cũng có sự vào cuộc của các cơ quan chức năng, kiểm tra xem xét
sản phẩm và tiến hành các hoạt động pháp lý nếu cần thiết… Các sự kiện bất
lợi cứ thế xảy đến, tiếp diễn với sự tham gia của nhiều bên liên quan
Hơn nữa, với sự phát triển ồ ạt của các phương tiện thông tin đại chúng
như hiện nay, khi khủng hoảng vừa xảy ra, các phóng viên sẽ nhập cuộc và
đưa tin nhiều về khủng hoảng của doanh nghiệp Chính vì có sự tham gia của
các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng nên các sự kiện ngày càng
được lan rộng và đến tai công chúng nhiều hơn Ngoài ra, phải kể đến ảnh
hưởng của các tin đồn Những tin đồn xấu không được ngăn chặn kịp thời có
thể lan truyền sâu rộng và tác động cực kỳ to lớn đến doanh nghiệp Tất cả
những điều trên đều có thể dẫn đến sự đổ vỡ của một doanh nghiệp [8]
1.2.2.3 Đòi hỏi doanh nghiệp phải hành động nhanh chóng, kịp thời
Như đó nói ở trên, khi khủng hoảng xảy ra, các sự kiện sẽ dẫn tiến, lan
truyền rất nhanh, vì vậy phải xử lý khủng hoảng nhanh chúng và hiệu quả
Một sự chần chừ hoặc coi thường khủng hoảng sẽ làm cho hậu quả khủng
hoảng nặng nề lên gấp nhiều lần
Những đặc điểm trên là đặc điểm của khủng hoảng nói chung, khi xét
trong phạm trù khủng hoảng doanh nghiệp, những đặc điểm này cụ thể hơn
[8]
1.2.3 Nguyên nhân khủng hoảng doanh nghiệp
Khủng hoảng doanh nghiệp xảy ra do hai yếu tố tác động, đó chính là
yếu tố bên trong (bản thân nội tại doanh nghiệp) và yếu tố bên ngoài (bên
ngoài tác động vào) Khủng hoảng xảy ra do yếu tố bên ngoài như do thiên tai
(ví dụ điển hình là khủng hoảng của các doanh nghiệp trong ngành du lịch ở
các quốc gia Đông Á chịu thảm họa sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004), do
khủng bố, do chính sách của chính phủ ảnh hưởng bất lợi đến doanh nghiệp,
Trang 19Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
13
do nền kinh tế nói chung rơi vào khủng hoảng… Khủng hoảng xảy ra do yếu
tố bên trong doanh nghiệp có thể do đình công của công nhân, yếu tố kĩ thuật
công nghệ sản xuất, kiện tụng, sai lầm trong văn hóa tổ chức, sai lầm trong
vấn đề tài chính, sai lầm trong vấn đề quản lý doanh nghiệp… [8];
1.2.4 Phân loại khủng hoảng doanh nghiệp
Có rất nhiều loại khủng hoảng và không ai có thể khẳng định chắc chắn
có tất cả bao nhiêu loại khủng hoảng Hơn nữa ngày càng phát sinh những
loại khủng hoảng mới làm cho danh sách các loại khủng hoảng ngày càng dài
thêm Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả chỉ liệt kê một số loại khủng
hoảng chủ yếu
Bảng 1.1: Bảng phân loại khủng hoảng doanh nghiệp
Phân loại khủng hoảng doanh nghiệp Nguyên nhân
Nội bộ
doanh nghiệp
Yếu tố bên ngoài
Tổ chức quản lý
Tài chính
Chất lượng sản phẩm
Lĩnh vực khác [Nguồn: Tác giả tổng hợp]
1.2.4.1 Căn cứ theo nguyên nhân khủng hoảng
* Khủng hoảng xuất phát từ nội bộ doanh nghiệp
Khủng hoảng này xuất phát từ nội bộ doanh nghiệp, do một sự kiện nào
đó xảy ra trong bản thân doanh nghiệp Ví dụ như: Vấn đề an toàn lao động
không được doanh nghiệp quan tâm, nhiều công nhân chết vì tai nạn lao động,
công nhân đình công, kiện tụng Hoặc khủng hoảng do chất lượng sản phẩm
của doanh nghiệp không tốt, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, người
tiêu dùng tẩy chay sản phẩm… Bất kỳ một sự việc dù nhỏ xảy ra trong doanh
Trang 20Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
14
nghiệp nhưng không được quan tâm và xử lý triệt để đều có thể bùng lên, gây
nên khủng hoảng cho doanh nghiệp
* Khủng hoảng xuất phát từ yếu tố bên ngoài
Doanh nghiệp là một thực thể vận động trong xã hội Do vậy, hoạt
động của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng và tác động của nhiều yếu tố bên
ngoài Có rất nhiều trường hợp khủng hoảng của doanh nghiệp xảy đến không
phải xuất phát từ doanh nghiệp, mà đó là do yếu tố bên ngoài Đó có thể là sự
phá hoại, tung tin đồn xấu của đối thủ cạnh tranh Có thể là do thiên tai,
khủng bố, do khủng hoảng kinh tế của đất nước và của thế giới, hay sự thay
đổi về mặt chính sách của nhà nước theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp
Những khủng hoảng loại này cần có sự xử lý linh hoạt, khéo léo, vì nó xuất
phát từ yếu tố bên ngoài nên khó lường trước được và doanh nghiệp không
nắm thế chủ động hoàn toàn
1.2.4.2 Căn cứ vào vấn đề khủng hoảng
* Khủng hoảng tài chính
Doanh nghiệp gặp khó khăn về mặt tài chính và quản lý tài chính dẫn
đến khủng hoảng Doanh nghiệp có thể sụp đổ Nguyên nhân khủng hoảng tài
chính có thể là do thiên tai, do sản xuất kinh doanh không tốt, do nền kinh tế
rơi vào khủng hoảng suy thoái…
* Khủng hoảng chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm không được đảm bảo và ảnh hưởng đến người
tiêu dùng, người tiêu dùng tẩy chay không dùng sản phẩm Khủng hoảng chất
lượng thường xảy ra trong ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm Khủng
hoảng này xảy ra tác động tới doanh nghiệp ở hai khía cạnh: doanh số giảm
và niềm tin người tiêu dùng giảm Nếu doanh nghiệp chủ quan và không xử lý
kịp thời thì khủng hoảng sẽ ngày càng trầm trọng Nhất là trong thời đại hiện
nay, đời sống người dân ngày càng cao Người tiêu dùng ngày càng quan tâm
Trang 21Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
15
đến chất lượng sản phẩm và quan tâm đến sức khỏe của bản thân mình Nếu
sản phẩm không đảm bảo, họ sẽ mất niềm tin vào sản phẩm và sẽ không tiêu
dùng sản phẩm đó nữa Khủng hoảng này cũng có thể đến từ những tin đồn
thất thiệt của đối thủ cạnh tranh Nếu tin đồn không được ngăn chặn kịp thời
cũng sẽ gây ra thiệt hại không nhỏ
* Khủng hoảng tổ chức quản lý
Khủng hoảng này thường xảy ra trong nội bộ doanh nghiệp, các vấn đề
liên quan đến cách điều hành quản lý, quản lý con người, các vấn đề về nhân
sự, đình công, kiện tụng như việc lãnh đạo doanh nghiệp tử vong, lãnh đạo
doanh nghiệp biển thủ tài sản doanh nghiệp và bỏ trốn…
Phải khẳng định lại rằng khủng hoảng rất đa dạng, ngày càng xuất hiện
nhiều loại khủng hoảng Sự phân loại ở trên chỉ mang tính tương đối, trên cơ
sở thống kê những khủng hoảng thường xảy ra từ trước đến nay [8]
1.2.2 Khái quát về quản trị khủng hoảng doanh nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm quản trị khủng hoảng doanh nghiệp
Quản trị khủng hoảng doanh nghiệp là cách tiếp cận có hệ thống và
tổng hợp để kiểm soát, ngăn chặn và giảm thiểu những ảnh hưởng của tình
trạng khủng hoảng, tình trạng có khả năng gây tác động bất lợi cho doanh
nghiệp và có thể hủy hoại uy tín của doanh nghiệp [8,28]
1.2.2.2 Mục đích của quản trị khủng hoảng doanh nghiệp
Khủng hoảng xảy ra sẽ tác động mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp, do vậy cần tiến hành quản trị khủng hoảng doanh nghiệp
Quản trị khủng hoảng doanh nghiệp nhằm các mục đích chính:
• Kiểm soát được khủng hoảng
• Giảm thiểu hoặc ngăn chặn tác động tiêu cực do khủng hoảng gây ra
• Bảo vệ uy tín, hình ảnh và thương hiệu của doanh nghiệp
Trang 22Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
16
• Khai thác những tác động tích cực đi kèm theo khủng hoảng và tạo
dùng hình ảnh vững mạnh cho doanh nghiệp
1.2.2.3 Nội dung của quản trị khủng hoảng doanh nghiệp
Quản trị khủng hoảng thường tuân theo quy trình 2P2R: Prevention
(phòng ngừa), Preparation (Chuẩn bị), Response (Phản ứng), Recovery (Hồi
phục) Doanh nghiệp tiến hành các biện pháp để phòng ngừa khủng hoảng
[Nguồn: Tác giả tổng hợp]
Sơ đồ 1.4: Mô hình quản trị khủng hoảng doanh nghiệp
Mặt khác, nhận thức được rằng dự phòng ngừa tốt đến đâu, khủng
hoảng cũng có thể xảy đến nên doanh nghiệp cũng phải thực hiện các công
tác chuẩn bị và lên kế hoạch đối phó với khủng hoảng Khi khủng hoảng xảy
ra, doanh nghiệp phải phản ứng với khủng hoảng và xử lý nó; sau đó là giai
đoạn phục hồi sau khủng hoảng Muốn thực hiện quá trình trên, dù đang ở
giai đoạn nào, doanh nghiệp cũng phải xác định các vấn đề chủ chốt sau:
* Xác định vấn đề khủng hoảng
Theo các nhà quản trị khủng hoảng giàu kinh nghiệm ở Mỹ và Châu
Âu, muốn quản trị khủng hoảng hiệu quả cần phân tích một cách có hệ thống,
Quản trị khủng hoảng doanh nghiệp
Xác định nguyên nhân khủng hoảng
Xác định đối tượng ảnh hưởng
và bị ảnh hưởng khủng hoảng
Trang 23Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
17
khoa học và có cái nhìn toàn diện về khủng hoảng Có bốn câu hỏi WH cần
trả lời Câu hỏi đầu tiên cần giải quyết là câu hỏi WHAT: Xác định vấn đề
khủng hoảng, khủng hoảng ở đâu Câu hỏi này giúp ta nhận diện được loại
khủng hoảng xảy ra, từ đó tìm ra cách chống đỡ thích hợp và có hiệu quả
Khủng hoảng thường lan rộng, có tính chất leo thang và thường không xảy ra
đơn lẻ Sự việc này xảy ra kéo theo sự việc khác Nó luôn là mắt xích trong
chuỗi phản ứng dây chuyền từ những khủng hoảng trước đó và có thể gây ra
những cuộc khủng hoảng tiếp theo Chính vì vậy, việc xác định khủng hoảng
nào đang diễn ra, vấn đề cốt lõi cần giải quyết là rất quan trọng Như thế mới
có thể giải quyết được triệt để và tận gốc vấn đề
* Xác định giai đoạn khủng hoảng
Câu hỏi thứ hai là câu hỏi WHEN: Câu hỏi này giúp xác định được thời
điểm xảy ra khủng hoảng và quản trị khủng hoảng đang ở giai đoạn nào Trả
lời câu hỏi này giúp doanh nghiệp quản trị khủng hoảng kịp thời, đồng thời
giúp doanh nghiệp trả lời các câu hỏi của giới báo chí và công luận sau này
như: Công ty bạn đã biết đến vụ việc khi nào? Công ty đã làm như thế nào?
Công tác quản trị khủng hoảng thường diễn ra theo 4 giai đoạn:
• Giai đoạn nhận biết (Phát hiện dấu hiệu khủng hoảng)
• Giai đoạn chuẩn bị/ phòng ngừa
• Giai đoạn ngăn chặn/ hạn chế tổn thất
• Giai đoạn phục hồi và rút kinh nghiệm
* Xác định nguyên nhân khủng hoảng
Câu hỏi tiếp theo là câu hỏi WHY: Xác định nguyên nhân khủng
hoảng Muốn quản trị khủng hoảng tốt thì ta cần xác định đúng nguyên nhân
của nó Một cuộc khủng hoảng thường là kết quả của một vấn đề bị bỏ qua
Thông thường chính là dư luận xung quanh một cuộc khủng hoảng, hơn là
bản thân cuộc khủng hoảng đó làm ảnh hưởng xấu hoặc sụp đổ một công ty
Trang 24Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
18
Sức công phá của một cuộc khủng hoảng không phải chỉ do những điều đó
thực sự xảy ra, mà là do những điều người ta nghĩ là đã xảy ra
Điều này có thể hiểu đơn giản qua một ví dụ như sau: Một tập đoàn
nước giải khát lớn trên thế giới gặp vấn đề khi khách hàng đưa tin và kiện
rằng sản phẩm có vật lạ trong chai Vấn đề vật lạ trong chai bản thân nó
không gây ra khủng hoảng cho tập đoàn Tập đoàn có hàng nghìn sản phẩm,
và đó chỉ là một sản phẩm không may bị lọt vật lạ Nhưng điều làm tập đoàn
rơi vào khủng hoảng chính là dư luận xung quanh vấn đề vật lạ Người tiêu
dùng cảm thấy hoang mang và mất niềm tin vào chất lượng sản phẩm của
hãng nước giải khát đó
Nếu doanh nghiệp không có hướng xử lý kịp thời thì dư luận nổi lên
mạnh mẽ và người tiêu dùng có thể tẩy chay sản phẩm Chính điều này mới
làm doanh nghiệp khủng hoảng Khi một sự việc xảy ra sẽ kéo theo nhiều
biến cố khác Doanh nghiệp cần xác định thật rõ đâu là nguyên nhân thật sự
của khủng hoảng và giải quyết nó triệt để Do tính chất phức tạp của vấn đề
nên điều này không dễ dàng Khi doanh nghiệp xác định được nguyên nhân
khủng hoảng và công bố với công chúng, công chúng sẽ tin tưởng rằng doanh
nghiệp biết sai lầm ở đâu và doanh nghiệp sẽ sớm có cách khắc phục
* Xác định đối tượng ảnh hưởng đến khủng hoảng và đối tượng bị ảnh
hưởng bởi khủng hoảng
Câu hỏi tiếp theo là câu hỏi WHO/WHOM - Câu hỏi này giúp xác định
ai là người ảnh hưởng đến khủng hoảng và khủng hoảng ảnh hưởng đến ai,
các đối tượng này ở trong nội bộ tổ chức hay ở bên ngoài? Khủng hoảng xảy
ra ảnh hưởng đến nhiều người và chính những người này cũng góp phần làm
khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn hoặc không Doanh nghiệp phải xác định
được các đối tượng này trong mối quan hệ chặt chẽ với khủng hoảng để xác
định cần hành động thế nào và mức độ ưu tiên xử lý với từng đối tượng
Trang 25Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
19
* Xử lý khủng hoảng
Các câu hỏi trên được đưa ra và giải quyết nhằm phục vụ cho công tác
xử lý khủng hoảng hiệu quả Có nhiều phương pháp xử lý khủng hoảng Với
mỗi loại khủng hoảng khác nhau có những phương pháp đặc thù xử lý khác
nhau Khi xử lý khủng hoảng, thông thường doanh nghiệp xử lý ở hai khía
cạnh: xử lý bản thân nội tại vấn đề bị khủng hoảng và xử lý khủng hoảng do
dư luận gây ra
Để hình dung rõ, chúng ta xem xét ví dụ khủng hoảng tài chính của một
doanh nghiệp Khi doanh nghiệp có vấn đề về tài chính và bị khủng hoảng,
doanh nghiệp một mặt phải tìm ra cách thức giải quyết vấn đề tài chính đó,
như phải tái cơ cấu bộ máy tổ chức, tái cơ cấu đầu tư, huy động thêm vốn…
(đây là những biện pháp để xử lý với nội tại vấn đề khủng hoảng tài chính),
mặt khác phải xử lý với dư luận như tổ chức họp báo, thông tin với công
chúng rằng doanh nghiệp đang có những biện pháp hiệu quả và sẽ vượt qua
tình trạng tài chính bất ổn này… Những hành động này nhằm duy trì niềm tin
của công chúng đối với doanh nghiệp, làm giá cổ phiếu không sụt giảm
nghiêm trọng
Trong bài nghiên cứu này, tác giả không đưa ra cách thức xử lý khủng
hoảng ở khía cạnh nội tại cuộc khủng hoảng mà chỉ xem xét xử lý khủng
hoảng với công chúng Khi khủng hoảng xảy ra, ứng xử và hành động như thế
nào với dư luận bên ngoài, với công chúng của doanh nghiệp Phần này sẽ
được tác giả đề cập cụ thể ở mục dưới đây
1.3 Cơ sở lý thuyết về nhân lực hoạt động PR trong quản trị khủng
hoảng ở doanh nghiệp
Có nhiều cách để quản trị khủng hoảng như cơ cấu, sắp xếp và quản trị
lại các vấn đề như vấn đề tài chính, vấn đề nhân sự, vấn đề sản xuất… Nhưng
để giải quyết khủng hoảng một cách hiệu quả và triệt để thì tất cả những biện
Trang 26Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
20
pháp đó phải kết hợp với xử lý khủng hoảng dư luận Ngay cả khi doanh
nghiệp xử lý thành công với bản thân nội tại vấn đề khủng hoảng nhưng
không có cách thức giải quyết với dư luận hợp lý, thì có thể doanh nghiệp lại
tiếp tục rơi vào một cuộc khủng hoảng mới Do vậy, phải khẳng định rằng PR
đóng vai trò quan trọng trong việc quản trị khủng hoảng tại doanh nghiệp
Khi khủng hoảng xảy ra, các doanh nghiệp mới cuống cuồng tìm người
và lập ra bộ phận để xử lý thì sẽ không giải quyết được khủng hoảng một cách
kịp thời và hiệu quả Do đó, công việc đào tạo và tổ chức nhân lực hoạt động
PR và quản trị khủng hoảng cho doanh nghiệp ngay từ ban đầu là rất cần
thiết Điều đó được thể hiện quy trình sau:
- Bộ phận lãnh đạo phân tích môi trường trong
và ngoài doanh nghiệp, xây dựng và quyết định kế hoạch quản trị khủng hoảng
- Đội kiểm soát khủng hoảng thực hiện việc kiểm soát khủng hoảng bằng những biện pháp
- Đưa ra thang đánh giá mức độ trầm trọng của
sự việc
- Phân tích các khía cạnh của khủng hoảng khi xảy ra
- Đưa ra cách thức xử lý khủng hoảng phù hợp với doanh nghiệp
Trang 27Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
21
1.3.1 Thành lập ban quản trị khủng hoảng
Môt điều cần thiết là doanh nghiệp phải có một bộ phận quản trị khủng
hoảng, bao gồm những người ra quyết định và các chuyên viên để quản trị
khủng hoảng Ban quản trị khủng hoảng có vai trò quan trọng trong việc xây
dùng kế hoạch quản trị khủng hoảng, nghiên cứu và tìm biện pháp thích hợp
để ngăn chặn các loại khủng hoảng có thể xảy đến, tập trung ra quyết định xử
lý khủng hoảng, truyền thông tin trong và ngoài doanh nghiệp nhằm kiểm soát
khủng hoảng và giải quyết các vấn đề phát sinh; dùng những biện pháp thích
hợp để duy trì niềm tin của công chúng vào doanh nghiệp, giảm thiểu những
tác động tiêu cực của khủng hoảng tới các bên liên quan
Cơ cấu tổ chức của ban quản trị khủng hoảng gồm ba bộ phận: trung
tâm lãnh đạo, đội kiểm soát khủng hoảng và bộ phận thông tin liên lạc
Bộ phận trung tâm lãnh đạo gồm lãnh đạo của doanh nghiệp, lãnh đạo
các bộ phận chính của doanh nghiệp và các chuyên gia quản trị khủng hoảng
Bộ phận lãnh đạo có nhiệm vụ phân tích môi trường trong và ngoài doanh
nghiệp, xây dựng và quyết định kế hoạch quản trị khủng hoảng, thường xuyên
rút kinh nghiệm và điều chỉnh lại kế hoạch hợp lý Khi khủng hoảng xảy ra,
bộ phận lãnh đạo phải quyết định biện pháp xử lý khủng hoảng và chỉ định
các bộ phận liên quan thực hiện Số lượng thành viên của bộ phận lãnh đạo
nhiều hay ít tùy thuộc vào quy mô hoạt động của doanh nghiệp và tính phức
tạp của từng loại khủng hoảng Nhìn chung, bộ phận lãnh đạo càng gọn càng
tốt để dễ thống nhất đưa ra quyết định Kinh nghiệm của một số công ty Âu –
Mỹ cho thấy số thành viên hợp lý của bộ phận lãnh đạo là 6 đến 8 người
Đội kiểm soát khủng hoảng là đội hành động theo chỉ đạo của bộ phận
lãnh đạo, thực hiện việc kiểm soát khủng hoảng bằng những biện pháp kỹ
thuật nghiệp vụ Đội kiểm soát đó được trang bị kiến thức và kĩ năng cần thiết
để xử lý khủng hoảng Thành viên của đội kiểm soát được lấy từ các phòng
ban chuyên môn
Trang 28Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
22
Bộ phận thông tin liên lạc đóng vai trò xử lý và lưu chuyển thông tin
trong và ngoài doanh nghiệp Bộ phận này chuyển thông tin chỉ đạo từ trên
xuống, chuyển thông tin phản hồi từ dưới lên, chuyển thông tin cần thiết trong
ra ngoài doanh nghiệp và ngược lại, giúp thông tin đến đúng lúc, đúng nơi,
hiệu quả và liên tục Hệ thống truyền thông bao gồm truyền thông nội bộ và
truyền thông bên ngoài
1.3.2 Lập kế hoạch quản trị khủng hoảng
Việc lập kế hoạch quản trị khủng hoảng là rất cần thiết và quan trọng
Việc làm này giúp nhận diện những rủi ro tiềm ẩn có thể gây nên khủng
hoảng và từ đó có cách phòng ngừa hiệu quả, đồng thời cung cấp cách thức
xử lý khủng hoảng hợp lý, giảm thiểu được những thiệt hại khi khủng hoảng
xảy ra Có nhiều loại khủng hoảng và doanh nghiệp không thể lường trước
cũng như lập kế hoạch cho tất cả các loại khủng hoảng Tuy nhiên doanh
nghiệp cần xác định những loại khủng hoảng có nguy cơ xảy ra nhất và lập kế
hoạch để xử lý nó
Bản kế hoạch quản trị khủng hoảng phải giải quyết được bốn câu hỏi
WH (WHAT, WHEN, WHY, WHO/WHOM) đã nêu ở phần nội dung quản trị
khủng hoảng doanh nghiệp và đưa ra thang đánh giá mức độ trầm trọng của
sự việc Sự việc nào chỉ là sự cố ở mức độ thấp, trung bình; sự cố nào cần đặc
biệt quan tâm, có khả năng gây nên một cuộc khủng hoảng Nếu là khủng
hoảng thì đó là khủng hoảng ở cấp độ bao nhiêu Ở mỗi cấp độ khủng hoảng,
cần sự tham gia của ai, vai trò gì, cách thức hành động thế nào
Việc đưa ra những đánh giá này tùy thuộc vào đặc điểm, loại hình kinh
doanh, lĩnh vực kinh doanh, môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp
Như vậy, vai trò của PR trong giai đoạn trước khủng hoảng chủ yếu chỉ
dừng lại ở việc những người làm PR tham gia vào ban quản trị khủng hoảng
và lập ra kế hoạch quản trị khủng hoảng phù hợp
Trang 29Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
23
1.3.3 Tìm hiểu và phân tích vấn đề
Khi khủng hoảng xảy ra, ban quản trị khủng hoảng phân tích các khía
cạnh của khủng hoảng, xem xét khủng hoảng đó có nằm trong loại khủng
hoảng đó được lập kế hoạch quản trị hay không, có thể áp dụng những cách
thức xử lý đó được đề ra trong kế hoạch quản trị khủng hoảng hay không…
Nếu loại khủng hoảng này không thể áp dụng theo những phương pháp có sẵn
trong kế hoạch quản trị khủng hoảng thì ban quản trị khủng hoảng tiếp tục
khai thác các khía cạnh của khủng hoảng, đi từ các khía cạnh 4 WH, so sánh
với thang mức độ trầm trọng của sự việc để đưa ra cách thức xử lý Đồng
thời, cần tiến hành thu thập các dữ kiện, trao đổi, lắng nghe mọi ý kiến và các
vấn đề khác đang phát sinh
Một điều quan trọng là phải thông báo cho tất cả thành viên của Ban
quản trị khủng hoảng và tập hợp lực lượng ngay khi xuất hiện những dấu hiệu
đầu tiên của khủng hoảng Vấn đề đảm bảo thông tin thông suốt đối với các
bên liên quan là rất quan trọng
Sau khi đã phân tích vấn đề khủng hoảng, ban quản trị khủng hoảng
đưa ra cách xử lý khủng hoảng Sẽ có hai bộ phận phụ trách xử lý khủng
hoảng về mặt nội tại vấn đề khủng hoảng và xử lý khủng hoảng dư luận
1.4 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu quy trình hoạt động PR trong xử lý khủng
hoảng dư luận của doanh nghiệp
Xử lý khủng hoảng dư luận tức là xử lý khủng hoảng với các mối quan
hệ Đó là quan hệ với các đối tượng chính, bao gồm
1 Báo chí
2 Khách hàng
3 Các nhà đầu tư và nội bộ doanh nghiệp
4 Chính quyền và cơ quan chức năng
Trang 30Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
24
Sơ đồ 1.6: Mô hình hoạch định PR trong doanh nghiệp
1.4.1 Vai trò của truyền thông và báo chí hoạt động doanh nghiệp
Khi khủng hoảng xảy ra, dư luận rất quan tâm và đòi hỏi thông tin từ
phía doanh nghiệp Vai trò của truyền thông khủng hoảng là rất quan trọng
Truyền thông và PR là hai lĩnh vực gắn bó vô cùng chặt chẽ với nhau
và đóng một vai trò hết sức quang trọng trong cuộc sống của chúng ta cũng
như đối với doanh nghiệp Trong truyền thông, hành động hay lời nói đều có
thể đem lại những tác dụng tương tự nhau Nếu được sử dụng thích hợp,
truyền thông có thể thực hiện nhiệm vụ thông báo, giáo dục, trấn an, tạo mối
cảm thông, gợi sự quan tâm, yêu thích hoặc tạo ra khả năng chấp nhận một
tình huống nào đó khi xảy ra
Bạn cũng cần phải nhớ rằng truyền thông là một quy trình mang tính
hai chiều : cả thông điệp nhận được lẫn thông tin gửi đi điều quan trọng như
nhau Nguyên tắc này cũng được áp dụng cho lĩnh vực PR
[Nguồn: 33]
Sơ đồ 1.7: Vai trò của truyền thông và báo chí đối với doanh nghiệp
Vai trò của truyền thông và báo chí đối với hoạt động doanh nghiệp
Lựa chọn phương tiện truyền thông
Hoạch định ngân sách
Đánh giá kết quả
Thực hiện
kế hoạch
Trang 31Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
25
A.H.Maslow
Một là, truyền hình và báo chí có vai trò báo cáo với người xem về sự
ra đời hoặc sự có mặt của một mặt hàng Trong thời đại sinh sản hàng loạt, nó
thôi thúc sự tiêu thụ của khách hàng vốn chuộng những sản phẩm mới Nó
khai thác những nhu cầu tiềm ẩn của người tiêu thụ, lập lại thế quân bình giữa
cung và cầu cũng như góp phần vào việc phân phối lợi tức trong xã hội Sản
phẩm ra càng nhiều thì giá thành càng rẻ và người mua có cơ hội mua rẻ và
nâng cao chất lượng mức sinh hoạt của mình
Hai là, truyền hình và báo chí với xã hội vai trò của doanh nghiệp,
đường lối hoạt động của nó Nó cũng đốc thúc doanh nghiệp góp phần vào
việc phục vụ khách hàng và xây dựng xã hội Nó khuyến khích doanh nghiệp
không ngừng cải tiến hoạt động của mình Nó tạo danh tiếng cho nhãn hiệu và
nâng cao tinh thần của nhân viên
Điểm yếu của quảng cáo trong phạm vi này là nó gây ra khoảng cách
giữa các doanh nghiệp, làm chi phí quảng cáo tăng vọt, làm cho các mặt hàng
đoản mệnh, vừa mới ra đã thành lỗi thời vì có mặt hàng mới ra ngay sau đó
Ba là, truyền hình và báo chí có vai trò giáo
dục người tiêu thụ Quảng cáo truyền hình mở
rộng tri thức, nâng cao mức độ suy nghĩ, phán
đoán của người tiêu thụ, dạy người ta về cách
dùng các mặt hàng và giúp người ta quyết định
mua mặt hàng nào Nó là tư liệu của nội dung
truyền thông đại chúng, vừa là lý do để người tiêu
thụ bắt đầu biết quan tâm tới món hàng mình tiêu
dùng Nó khiến cho người ta đòi hỏi những mặt
hàng ra đời phải đúng theo qui trình và yêu cầu
của xã hội Nó giúp người ta tiết kiệm thời gian tìm hiểu khi biết ưu điểm mặt
hàng đó
Bốn là, truyền hình và báo chí đề nghị một nếp sống mới Qua nó,
Trang 32Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
26
chúng ta bắt mạch được hướng đi của xã hội Nó là đề tài nói chuyện bất tận
của quần chúng và nhờ nó, những hoạt động văn hóa, xã hội có phương tiện
vật chất để thực hiện Nó khai thác những đòi hỏi cao cả của con người
Theo nhà kinh tế học A.H Maslow, con người ta sau khi đã no cơm ấm
áo, có an ninh, sức khỏe, còn cần cả tình yêu, lòng tự hào về những thành đạt
trong đời và có nhu cầu cống hiến cho xã hội Dĩ nhiên, Maslow đề cập đến
nhu cầu nhân bản chứ không phải nói riêng về nhu cầu tiêu thụ Thế nhưng,
được hướng dẫn bởi những nhu cầu đó, con người có thể tìm đến những sản
phẩm hay dịch vụ để thỏa mãn mục đích mình đòi hỏi
[Nguồn: 33]
Sơ đồ 1.8: Tháp nhu cầu của Maslow
8 Nhu cầu về tự tôn bản ngã (Self-transcendence)
7 Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (Self-actualization)
6 Nhu cầu về thẩm mỹ (Aesthetic)
Trang 33Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
27
5 Nhu cầu về nhận thức, hiểu biết (Cognitive)
4 Nhu cầu được quý trọng, kính mến (Esteem)
3 Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc (Belongingness
and love)
2 Nhu cầu về an toàn (Safety)
1 Nhu cầu về Thể lý (Physiological
1.4.2 Quy trình hoạt động PR trong xử lý khủng hoảng dư luận của
doanh nghiệp
Nguyên tắc trong truyền thông khủng hoảng là công bố thông tin chính
xác, đầy đủ và kịp thời Dư luận luôn tồn tại rất nhiều nguồn tin, những thông
tin không chính thức, những phỏng đoán cá nhân, những tin đồn và cả những
thông tin xuyên tạc của đối thủ nhằm phá hoại doanh nghiệp Do vậy doanh
nghiệp phải đảm bảo cung cấp thông tin chính thức, chính xác, đầy đủ, nhất
quán và kịp thời Phải nhanh chóng và kịp thời bởi nếu không, một khi tin đồn
đó lan rộng ra thì tốn nhiều chi phí về con người, thời gian, tiền bạc mới dẹp
bỏ được tin đồn và tạo niềm tin của người dân với thông tin doanh nghiệp đưa
ra Thông tin nhanh chúng nhưng phải đảm bảo chính xác, chính thức và nhất
quán Thông tin công bố cho công chúng không được bất ổn định, hôm nay
công bố thế này, mai công bố thế khác Điều này sẽ làm giảm sự tin tưởng của
công chúng với thông tin doanh nghiệp cung cấp
Thời gian 24 giờ đầu tiên của một cuộc khủng hoảng là rất quan trọng
Đó là khoảng thời gian ban quản trị khủng hoảng suy nghĩ và đưa thông tin
truyền tải cho công chúng Cần xác định đối tượng nào cần những thông tin gì
và cung cấp thông tin phù hợp, đúng đối tượng, đúng lúc Thông điệp gửi tới
công chúng cần được chuẩn bị kĩ, sẵn sàng và đáng tin cậy
Thông thường, hai giờ đầu tiên khi khủng hoảng xảy ra, doanh nghiệp
cần tiến hành liên hệ với các đối tượng liên quan trực tiếp đến khủng hoảng,
Trang 34Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
28
đưa ra thông cáo báo chí đầu tiên, hướng tới được tất cả các đối tượng liên
quan một cách chung nhất, cung cấp thông tin trực tuyến Mười hai giờ đầu
tiên, doanh nghiệp tổ chức họp báo, lập đường dây điện thoại nóng, tổ chức
hội thảo, quay video chứng minh sự việc (nếu cần thiết) Sau 24 giờ, doanh
nghiệp sắp xếp lịch phỏng vấn, sắp xếp cho bên thứ ba (có uy tín) phát biểu,
thông báo cho nhân viên và các nhà đầu tư Trong một vài ngày đầu, doanh
nghiệp cần tiếp tục quan hệ với các bên có liên quan cung cấp thông tin sát
sao Nếu có sự vào cuộc của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp cần tỏ thái
độ hợp tác để giải quyết vấn đề
Ban quản trị khủng hoảng cần có một người phát ngôn cho các vấn đề
của doanh nghiệp Người phát ngôn này có khả năng giao tiếp tốt, biết cách
diễn đạt và thuyết phục người nghe Người phát ngôn cần hiểu được vấn đề,
xác định được thông điệp mà doanh nghiệp muốn gửi đến công chúng và có
cách thức phát ngôn phù hợp, hiệu quả
Khi gặp các phản hồi của công chúng với các vấn đề của doanh nghiệp,
người phát ngôn cần bình tĩnh trả lời, trả lời rõ ràng, mạch lạc, không diễn đạt
quanh co và tìm cách bào chữa cho doanh nghiệp bằng cách đổ lỗi cho người
khác Người phát ngôn cũng không nên từ chối trả lời hoặc bỏ lơ câu hỏi của
công chúng Khi gặp một câu hỏi nào đó nằm ngoài khả năng quyết định của
người phát ngôn, cần có ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo cấp trên, người phát ngôn
cũng không nên từ chối trả lời, mà nên trả lời một cách bình tĩnh, tự tin, dứt
khoát rằng vấn đề đó ban lãnh đạo doanh nghiệp đang xem xét và xử lý, hiện
chưa có thông tin chính xác từ các cơ quan chức năng và các bên liên quan, sẽ
thông tin ngay khi có kết luận chính thức cuối cùng Sự im lặng khi khủng
hoảng xảy ra sẽ làm cho người tiêu dùng nghi ngờ và suy luận rằng doanh
nghiệp có lỗi nên không dám đưa tin
Trang 35Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
29
Trong quản trị nói chung, doanh nghiệp có thể thành lập tạm thời một
trung tâm hành động khẩn cấp để cung cấp thông tin và thực hiện các hành
động đối với từng loại đối tượng của doanh nghiệp
Bảng 1.2: Các đối tượng chính và cách thức xử lý khủng hoảng
đối với doanh nghiệp
và quan hệ với các đối tượng khác
- Áp dụng nhiều hình thức như mời báo chí làm việc với doanh nghiệp, viết bài, tổ chức họp báo…
- Doanh nghiệp nhận được sự ủng hộ từ phía cơ quan chức năng, đó là một lợi thế quan trọng của doanh nghiệp
3 Khách
hàng
- Với khách hàng bên ngoài, có thể tiếp cận xử lý thông tin thông qua xử lý quan hệ với báo chí Thông tin đến được đối tượng khách hàng bên ngoài
- Với đối tượng khách hàng bị tác động trực tiếp, doanh nghiệp cần có sự quan tâm đặc biệt Xác định rõ những đối
Trang 36Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
30
tượng, các đặc điểm, các thông tin liên quan và thể hiện thiện chí và chân thành của doanh nghiệp vơi đối tượng trong sự việc đó
6 Các đối
tượng khác
- Doanh nghiệp có thể tiến hành các biện pháp khác để giải quyết khủng hoảng thu hồi sản phẩm, đến thăm hỏi các gia đình nạn nhân, thay đổi nội dung đăng tải trên website, tập trung thông tin cụ thể về vụ việc…
[Nguồn: Tác giả tổng hợp]
Sau khi xử lý khủng hoảng, ban quản trị khủng hoảng có những biện
pháp để khắc phục thiệt hại và khôi phục lại doanh nghiệp, đưa doanh nghiệp
trở lại hoạt động bình thường Bên cạnh đó, ban quản trị khủng hoảng tiến
hành đánh giá ưu, nhược điểm của công tác quản trị khủng hoảng diễn ra
trong thời gian vừa rồi Những công tác nào đó thực hiện tốt, những công tác
Trang 37Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
31
nào cũng hạn chế, có vấn đề phát sinh… Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm Đề
ra giải pháp hoàn thiện công tác quản trị khủng hoảng
Sau khi tiến hành công việc trên, một việc hết sức cần thiết là ban quản
trị khủng hoảng cần đề ra giải pháp hoàn thiện công tác quản trị khủng hoảng
Mỗi lần xử lý khủng hoảng, ban quản trị khủng hoảng rút ra những bài học
kinh nghiệm và đề ra hoặc bổ sung những giải pháp quản trị khủng hoảng mới
vào kế hoạch quản trị khủng hoảng Đưa ra một số giải pháp để hạn chế
khủng hoảng xảy ra, bổ sung vào kế hoạch quản trị khủng hoảng những thông
tin, kiến thức và kĩ năng mới…
Ta có thể học hỏi được nhiều điều từ tình huống xử lý khủng hoảng
thành công của hãng hàng không quốc gia Singapore Airlines Năm 2000,
thời tiết tại phi trường rất xấu nhưng theo luật quốc tế, các chuyến bay vẫn
được phép cất cánh Sau khi xin ý kiến của đội kiểm soát sân bay, máy bay
của Singapore được chấp nhận cất cánh Tuy nhiên, khi máy bay tăng tốc, một
vụ va chạm lớn xảy ra Máy bay đó rẽ nhầm vào một đường bay đang thi công
và đâm vào một thiết bị xây dựng Do thời tiết xấu, các nhân viên kiểm soát
sân bay không nhìn thấy rõ đường băng Thảm họa này đã cướp đi 83 sinh
mạng khách hàng
Vào thời điểm đó, hãng hàng không Singapore Airlines không nhận
được bất cứ thông tin nào liên quan đến sự cố Một nhóm phãng viên Đài
Loan được quyền tự do ra vào khu vực sân bay đã nhanh chóng quay phim và
đưa tin về sự việc Tới khi giới truyền thông thế giới đưa tin, hãng hàng
không Singapore mới biết về tai họa này Ngay lập tức, đội quản trị khủng
hoảng của hãng đó lập tức vào cuộc với đội ngũ PR được phân công làm việc
liên tục theo hai ca, mỗi ca 12 giờ
Công việc của họ là trả lời ngay lập tức những câu hỏi nóng, đưa ra
những thông tin hiện có và thông báo điều chưa rõ vì sự việc vẫn đang được
tiếp tục điều tra Đội ngũ PR này cũng cam kết thông báo đến báo chí bất cứ
Trang 38Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
32
lúc nào họ có thông tin mới Điều này không chỉ là một lời hứa mà cũng
chứng tỏ với báo chí rằng đây là vấn đề rất quan trọng và đang được hãng
quan tâm hàng đầu Không chỉ thế, tất cả các phương tiện truyền thông khác
cùng hoạt động Trang web của hãng được chuyển từ “trang web bình
thường” thành “trang khủng hoảng”
Những thông tin giới thiệu về Singapore Airlines được thay bằng
những thông tin về sự cố máy bay tai nạn, giúp cho những ai vào trang web
này đều có thể đọc được những thông tin cập nhật Hãng cũng chỉ định một
người đại diện được phép giao tiếp để đảm bảo thông tin luôn nhất quán,
tránh những hiểu biết sai lệch Người đại diện nhận được tất cả các báo cáo và
liên tục làm việc với nhân viên điều hành cao cấp để đưa ra những thông tin
mới nhất theo quan điểm của hãng, đồng thời cũng chỉ ra ai đang bị ảnh
hưởng và những hoạch định để giải quyết với vấn đề nóng bỏng ngay lúc đó
Không chỉ quan hệ với báo chí, toàn bộ nhân viên và những nhà đầu tư
cũng được thông báo và cập nhật thông tin qua mạng nội bộ Ngay khi sự cố
xảy ra, chủ tịch hãng đó tuyên bố hãng sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc
này Đây là một quyết định cam đảm, chín chắn và đã được quyết trước khi
mọi người biết rõ nguyên nhân của sự cố Việc này làm cho cộng đồng trên
toàn thế giới thêm kính trọng và tiếp tục tín nhiệm vào hãng hàng không
Singapore Airlines
Trong suốt 100 ngày tang lễ của hành khách và phi hành đoàn, không
có một tin quảng cáo nào được thực hiện Câu slogan nổi tiếng “Chưa bao giờ
bay lại tuyệt vời đến thế” cũng được tạm thời loại bỏ khỏi trang tiêu đề của
hãng Đội quản trị khủng hoảng của hãng hàng không đó xử lý vấn đề rất
thành công, giúp hãng đánh tan sự bối rối và làm yên lòng khách hàng, đồng
thời tăng cường hình ảnh một Singapore Airlines có trách nhiệm, tin cậy và
sức mạnh trong lòng khách hàng
Trang 39Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
33
1.5 Tóm lược chương 1 và nhiệm vụ chương 2
Trong chương đầu tiên, chúng ta đề cập công tác PR và vai trò của hoạt
động PR trong giai đoạn trước, trong và sau khủng hoảng của doanh nghiệp
Điều đó được thể hiện ca hai khía cạnh: thứ nhất là nhân viên PR trong ban
quản trị khủng hoảng rút kinh nghiệm và đề ra giải pháp hoàn thiện công tác
quản trị khủng hoảng; thứ hai là củng cố lại mối quan hệ với các đối tượng
liên quan sau khủng hoảng Đặc biệt, các hoạt động của PR và truyền thông sẽ
là những công cụ đắc lực để doanh nghiệp vượt qua được khủng hoảng một
cách dễ dàng
Từ cơ sở lý luận chung, tác giả nhận thấy các vấn đề liên quan tại các
doanh nghiệp Việt Nam Đó là thực trạng nhân lực hoạt động PR tại các
doanh nghiệp trong vai trò quản trị nói chung và quản trị khủng hoảng nói
riêng, các quy trình quản trị khủng hoảng dư luận của các doanh nghiệp, mối
quan hệ giữa báo chí và doanh nghiệp cũng như các biện pháp hỗ trợ của
truyền thông và báo chí đối với hoạt động quản trị của doanh nghiệp Bên
cạnh đó, tác giả còn tập trung phân tích và đánh giá sự khủng hoảng và cách
thức vận dụng hoạt động PR trong các doanh nghiệp cụ thể
Vì vậy, trong chương hai, tác giả đưa ra những phân tích và đánh giá
các doanh nghiệp ở Việt Nam và đề ra các giải pháp nâng cao hoạt động PR
trong quản trị khủng hoảng dư luận tại các doanh nghiệp Việt Nam trong luận
văn của mình
- Phân tích và đánh giá chất lượng nhân lực hoạt động trong lĩnh vực
PR của các doanh nghiệp ở Việt Nam
- Phân tích và đánh giá quy trình hoạt động PR trong giai đoạn khủng
hoảng của các doanh nghiệp ở Việt Nam
- Thực tiễn vận dụng hoạt động PR trong quản trị khủng hoảng tại một
số doanh nghiệp ở Việt Nam
Trang 40Luận văn cao học QTKD Khoa KTẾ & QLÝ ĐHBK HN
Học viên: Ngô Viết Hậu
Khóa 2008-2010
34
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG PR TRONG
QUẢN TRỊ KHỦNG HOẢNG DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát cơ sở dữ liệu nghiên cứu
Nếu như trước đây, các doanh nghiệp ở Việt Nam chỉ chú trọng vào
hoạt động quảng cáo thì hiện nay, các doanh nghiệp đã và đang ngày càng
quan tâm đến PR nhiều hơn Nhiều doanh nghiệp có bộ phận PR riêng thực
hiện chuyên trách các công việc PR Ngân sách dành cho hoạt động PR cũng
ngày càng được tăng lên đáng kể Hoạt động PR của các doanh nghiệp diễn ra
ngày càng nhiều Thông tin hoạt động của doanh nghiệp đăng tải hàng ngày
trên báo chí Sự ra đời và phát triển của các công ty truyền thông, các công ty
chuyên về PR cũng là một minh chứng cho hoạt động PR sôi động của các
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Biểu đồ 2.1: Ngân sách Marketing của doanh nghiệp
Chi phí tiếp thị doanh nghiệp : 8,5%
chi phí tiếp thị toàn bộ: 11,5%
Chi phí tiếp thị sản phẩm: 80%
[Nguồn: 11,7]
Tuy nhiên, phải đánh giá rằng, mặc dù hoạt động PR của các doanh
nghiệp đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, nhưng hiệu quả và chất
lượng các hoạt động PR của doanh nghiệp hiện nay về cơ bản là chưa cao
Nhìn chung quy mô và hoạt động của bộ phận PR tại các doanh nghiệp hiện