Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành đối với ngành thuế có ý nghĩa rất quan trọng đánh dấu bước chuyển đổi căn bản phương thức quản lý thuế, nó tác động mạnh mẽ sâu sắc tới công tác qu
Trang 1-
NGUYỄN THANH PHƯỢNG
CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THANH TRA KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÀ RỊA -VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS Trần Văn Bình
Hà Nội – Năm 2010
Trang 2Lời cảm ơn
Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các cán bộ Phòng Đào tạo sau Đại học và các Thầy cô giáo khoa Kinh tế và Quản lý - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giảng dạy và giúp đỡ trong quá trình tác giả học tập tại trường và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS.Trần Văn Bình , người
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt quá trình tác giả học tập, nghiên cứu, thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ và Ban lãnh đạo Cục thuế Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về sự giúp đỡ, những sự hỗ trợ và tư vấn đặc biệt trong việc cung cấp các tài liệu, số liệu có liên quan phục vụ cho những nghiên cứu trong luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Thanh Phượng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận
văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thanh Phượng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các bảng
Danh mục hình vẽ, biểu đồ
Danh mục các chữ viết tắt
Giải thích một số thuật ngữ chuyên ngành
LỜI MỞ ĐẦU 1
1/ Tính cấp thiết của đề tài 1
2/ Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3
4/ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu: 3
5/ Phương pháp nghiên cứu 4
6/ Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ TRONG QUY TRÌNH QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan về Thanh tra, kiểm tra thuế : 5
1.1.1 Khái niệm về Kiểm tra, Thanh tra thuế: 5
1.1.2 Mục tiêu của Kiểm tra, Thanh tra thuế: 7
1.1.3 Nguyên tắc của Kiểm tra, Thanh tra thuế: 7
1.1.4 Vai trò của Kiểm tra, Thanh tra thuế 8
1.1.5 Yêu cầu của Kiểm tra, Thanh tra thuế: 9
1.1.6 Một số đặc điểm cơ bản của hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế: 10
1.2 Các hình thức và nội dung Thanh tra, kiểm tra thuế : 11
1.2.1 Các hình thức kiểm tra, Thanh tra thuế: 11
1.2.2 Nội dung kiểm tra, Thanh tra thuế: 11
1.2.3 Quy trình kiểm tra, Thanh tra thuế : 13
1.2.4 Tổ chức Kiểm tra, Thanh tra thuế: 15
Trang 51.2.4.1 Thanh tra Tổng cục thuế: 15
1.2.4.2 Phòng thanh tra thuế thuộc Cục thuế: 16
1.2.4.3 Phòng kiểm tra thuế thuộc Cục thuế: 16
1.2.4.4 Đội kiểm tra thuế thuộc Chi cục thuế: 17
1.2.4.5 Đội thanh tra thuế thuộc Chi cục Thuế: 17
1.2.5 Kiểm tra, Thanh tra thuế trong hệ thống tự khai tự nộp : 17
1.2.6 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm tra, Thanh tra thuế: 20
1.3 Quản lý thuế và mô hình quản lý thuế: 23
1.3.1 Khái niệm về quản lý thuế: 23
1.3.2 Mục tiêu của quản lý thuế: 24
1.3.3 Nguyên tắc quản lý thuế: 24
1.3.4 Nội dung quản lý thuế theo cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế 24
1.3.4.1 Khái niệm về cơ chế tự khai, tự nộp thuế (TKTN): 24
1.3.4.2 Các điều kiện để thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế có hiệu quả: 25
1.3.4.3 Nội dung quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp: 26
1.3.5 Mô hình Quản ký thuế: 27
1.3.5.1 Mô hình tổ chức quản lý theo sắc thuế: 27
1.3.5.2 Mô hình tổ chức bộ máy theo nhóm Người nộp thuế : 28
1.3.5.3 Mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng : 30
1.3.5.4 Mô hình kết hợp giữa các nguyên tắc quản lý thuế: 31
1.4 Kinh nghiệm Kiểm tra, Thanh tra thuế trong quản lý thuế ở một số nước trên thế giới: 31
1.4.1 Chiến lược phát triển ngành thuế Hoa Kỳ (từ năm 2009 đến năm 2013): 32
1.4.2 Về mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của kiểm tra, thanh tra:33 1.4.3 Công tác đào tạo cán bộ thanh tra : 34
1.4.4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong thanh tra, kiểm tra thuế: 35
1.5 Bài học kinh nghiệm về công tác kiểm tra, thanh tra thuế từ các nước trên thế giới 35
Trang 6CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 37
2.1 Khái quát tình hình kinh tế xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: 37
2.2 Tổ chức công tác thanh tra thuế, kiểm tra thuế ở Cục thuế tỉnh BR-VT: 42
2.2.1 Tổ chức bộ máy Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: 42
2.2.1.1 Chức năng nhiệm vụ Phòng Kiểm tra thuế: 44
2.2.1.2 Chức năng nhiệm vụ Phòng Thanh tra thuế: 45
2.2.1.3 Chức năng nhiệm vụ Đội kiểm tra thuế: 45
2.3 Thực trạng công tác Kiểm tra, Thanh tra thuế ở Cục thuế tỉnh BR-VT: 45
2.3.1 Quy trình Kiểm tra, Thanh tra thuế: 45
2.3.2 Công tác xây dựng kế hoạch: 46
2.3.3 Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế : 49
2.3.3.1 Kiểm tra tại cơ quan thuế: 49
2.3.3.2 Kiểm tra, thanh tra tại trụ sở Người nộp thuế: 51
2.3.4 Tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra thuế: 57
2.4 Thực trạng Quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp: 59
2.5 Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra thuế và quản lý thuế tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: 64
2.5.1 Đánh giá thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra thuế: 64
2.5.1.1 Những kết quả đạt được: 64
2.5.1.2 Những hạn chế: 65
2.5.1.2.1 Về thực hiện quy trình thanh tra, kiểm tra: 66
2.5.1.2.2 Về công tác phối hợp với các cơ quan có liên quan: 69
2.5.1.2.3 Về cơ sở dữ liệu và thông tin về Người nộp thuế: 70
2.5.1.2.4 Về ứng dụng Công nghệ thông tin : 71
2.5.1.2.5 Về tổ chức bộ máy công tác thanh tra, kiểm tra và chức năng nhiệm vụ: 72
2.5.1.2.6 Về đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra: 73
2.5.1.3 Những nguyên nhân : 75
2.5.2 Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế: 78
Trang 72.5.2.1 Những kết quả đạt được: 78
2.5.2.2 Những hạn chế: 82
2.5.1.3 Những nguyên nhân 84
2.5.1.3.1 Về chính sách thuế : 85
2.5.1.3.2 Về quản lý thuế: 86
2.5.1.3.3 Người nộp thuế : 87
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM TRA,THANH TRA THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 89
3.1 Mục tiêu định hướng công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý thuế: 89
3.1.1 Định hướng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: 89
3.1.2 Định hướng công tác quản lý thuế : 89
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả : 90
3.2.1 Giải pháp đối với Nhà nước: 90
3.2.1.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý thuế: 90
3.2.1.2 Nghiên cứu, bổ sung chức năng điều tra hành chính cho cơ quan thuế: 93
3.2.2 Giải pháp đối với Ngành thuế : 93
3.2.2.1.Công tác thanh tra, kiểm tra: 93
3.2.2.2 Quản lý thuế: 94
3.2.3 Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra.: 98
3.2.4 Giải pháp đối với Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: 102
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 : Kết quả kiểm tra thuế tại cơ quan thuế 50
Bảng 2 : Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra 53
Bảng 3 : Kết quả thanh tra tại trụ sở người nộp thuế 54
Bảng 4 : Kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở NNT 56
Bảng 5: Cơ cấu lực lượng kiểm tra, thanh tra thuế 58
Bảng 6: Tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách 60
Bảng 7: Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế 62
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Quy trình thanh tra, kiểm tra thuế 14
Hình 2: Mô hình hoá chức năng thanh tra, kiểm tra thuế 15
Hình 3: Chuyển từ thanh tra theo diện rộng sang thanh tra 18
theo tiêu chí phân loại 18
Hình 4: Chuyển từ thanh tra chủ yếu tại cơ sở sang kiểm tra tại cơ quan thuế 18
Hình 5: Chuyển từ thanh tra toàn diện sang thanh tra, kiểm tra theo chuyên đề và nội dung vi phạm 19
Hình 6: Mô hình tổ chức bộ máy Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 43
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Tăng trưởng GDP của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 39
Biểu đồ 2: Thu Ngân sách nội địa trên địa bàn tỉnh qua các năm như sau 41
Biểu đồ 3: Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 51 Biểu đồ 4: Biểu đồ cơ cấu thu thuế qua các năm của cục thuế tỉnh BR-VT 61
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
NSNN Ngân sách nhà nước
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNNQD Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
ĐTNT Đối tượng nộp thuế
NNT Người nộp thuế
GTGT Giá trị gia tăng
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
EBIT Tỷ suất lợi nhuận thuần và chi phí lãi vay
(TTR) Phần mềm Thanh tra, kiểm tra
(BCTC) Phần mềm Báo cáo tài chính
(HTKK) Phần mềm Hỗ trợ kê khai thuế
(QLN) Phần mềm Quản lý thu nợ
Trang 11GIẢI THÍCH MỘT SỐ THUẬT NGỮ CHUYÊN NGÀNH
1 Thuế là một bộ phận của cải xã hội được tập trung vào quỹ NSNN, theo đó các thể nhân, pháp nhân phải chuyển giao bắt buộc một phần của cải của mình cho Nhà nước mà không gắn với bất kỳ sự ràng buộc nào về sự hoàn trả lợi ích tương quan với số thuế đã nộp nhằm trang trãi các chi phí duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và chi phí công cộng đem lại lợi ích chung cho cộng đồng
2.Chính sách thuế là tổng hợp các phương hướng của Nhà nước trong lĩnh vực thu nộp thuế và các biện pháp, thủ pháp để đạt được mục tiêu đã định Chính sách thuế thể hiện đường lối và phương hướng động viên thu nhập duới hình thức thuế trong nền KTQD
3 Người nộp thuế: bao gồm
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế, các khoản thu thuộc NSNN theo quy định của pháp luật (các văn bản hiện hành gọi là đối tượng nộp thuế);
- Tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí, lệ phí thuộc Ngân sách Nhà nước;
- Tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay Người nộp thuế
4 Rủi ro về thuế được hiểu một cách chung nhất là những sự kiện không tuân thủ cơ chế, chính sách và pháp luật về thuế xảy ra ( trong môi trường, hoàn cảnh nhất định nào đó) như không kê khai thuế, không nộp thuế, mua bán hoá đơn chứng từ, hoặc cán bộ thuế không làm đúng quy trình cấp mã số thuế, quy trình quản lý nợ thuế
5 Kỹ thuật quản lý rủi ro trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế: là những cách thức, phương pháp, công nghệ và quy trình quản lý rủi ro được
áp dụng trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU 1/ Tính cấp thiết của đề tài
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà
nước Đối với mọi quốc gia, thuế luôn là nguồn thu quan trọng, chủ yếu của Ngân sách Nhà nước Thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm
2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 201/2004/QĐ.TTg ngày 06/12/2004, ngoài việc ngành thuế phải xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ có cơ cấu hợp lý phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa thì công tác quản lý thuế phải được cải cách
và hiện đại hoá phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm đảm bảo chính sách động viên thu nhập quốc dân, đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước; tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước, góp phần thực hiện bình đẵng, công bằng xã hội và chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế
Đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế, đặc biệt là công tác quản lý thuế Ngày 29/11/2006, Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 được Quốc hội khoá XI nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007 Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành đối với ngành thuế có ý nghĩa rất quan trọng đánh dấu bước chuyển đổi căn bản phương thức quản lý thuế, nó tác động mạnh mẽ sâu sắc tới công tác quản lý thuế, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả từ phía Người nộp thuế và
cơ quan quản lý thuế, tạo hành lang pháp lý cho việc đổi mới phương thức quản
lý từ cơ chế chuyên quản, Người nộp thuế thụ động sang cơ chế tự khai tự nộp,
đề cao trách nhiệm của Người nộp thuế Theo đó, cơ quan thuế không làm thay công việc của Người nộp thuế mà chuyển sang làm tốt chức năng tuyên truyền,
hổ trợ để nâng cao sự hiểu biết tuân thủ tự giác của Người nộp thuế đồng thời nâng cao năng lực giám sát, kiểm tra, thanh tra thuế bảo đảm cho các Luật thuế thi hành nghiêm chỉnh
Với chính sách mở cửa, hội nhập với kinh tế quốc tế, đa dạng hóa các
Trang 13thành phần kinh tế, Việt Nam đã thu hút một lượng vốn đầu tư rất lớn cả trong nước lẫn nước ngoài Thực tế đã cho thấy số lượng Người nộp thuế ngày càng tăng, quy mô kinh doanh ngày càng lớn, ngành nghề kinh doanh ngày càng đa dạng Một số ngành nghề mới được hình thành: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nhà; các sàn giao dịch bất động sản, các công ty chứng khoán, công ty niêm yết cổ phiếu là một trong những nhân tố quan trọng, tích cực tạo nên sự tăng trưởng thần kỳ của nước ta trong thập niên qua Các doanh nghiệp mới này
đã góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế, xã hội của đất nước như tạo ra nhiều sản phẩm, đóng góp rất nhiều vào Ngân sách nhà nước thông qua việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng xác định đúng trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện chính sách pháp luật
về thuế mà vẫn còn tồn tại không ít doanh nghiệp lợi dụng sự thông thoáng của Luật thuế để chiếm đoạt tiền hoàn thuế Giá trị gia tăng, gian lận thuế như chuyển giá, chuyển thu nhập để hưởng ưu đãi gây thất thu cho Ngân sách Nhà nước Điều này phần nào cũng đồng nghĩa với tình trạng vi phạm về thuế đang ngày càng gia tăng đa dạng và phức tạp cả về số lượng và mức độ
Thực tế công tác thanh tra, kiểm tra thuế, đã cho thấy còn nhiều điều bất cập, chưa mang lại hiệu quả cao, cần phải hoàn thiện để theo kịp với yêu cầu phát triển của đất nước Chính vì thế, mà việc tăng cường nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết nhằm chấn chỉnh uốn nắn kịp thời các trường hợp sai sót; đấu tranh chống các hành vi gian lận thương mại, kinh doanh trốn lậu thuế góp phần tăng thu cho Ngân sách Nhà nước đồng thời cũng giúp cho Người nộp thuế hiểu thêm nhiều hơn về chính sách pháp luật thuế, để nâng cao tính tự giác của Người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ kê khai và nộp thuế theo qui định; tạo môi trường kinh doanh lành mạnh giữa các Doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nhưng không làm cản trở đến quá trình hội nhập quốc tế
Xuất phát từ những lý do trên, việc chọn đề tài làm luận văn thạc sỹ kinh
tế “Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ” có ý nghĩa rất thiết thực
Trang 14cả về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần làm cho chính sách thuế thực sự đi vào cuộc sống cũng như công tác quản lý thuế đạt kết quả cao, góp phần hoàn thiện
hệ thống thuế theo hướng hiện đại, phù hợp với các cam kết về thuế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới
2/ Mục đích nghiên cứu của đề tài
Góp phần làm rõ lý luận chung về thanh tra, kiểm tra trong quản lý thuế
và thực tiễn công tác thanh tra, kiểm tra về thuế trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu làm cơ sở khát quát hoá, tổng hợp hoá Trên cơ sở đó đưa ra các quan điểm nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế , góp phần phát huy tác dụng tích cực của chính sách thuế và sự thành công của công cuộc cải cách thuế trong giai đoạn tiếp theo, nhằm thực hiện một cách tốt nhất những mục tiêu, định hướng phát triển của ngành thuế theo tinh thần Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực
tiễn của việc công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp đặt trong tổng thể vấn đề cải cách hành chính và hiện đại hoá ngành thuế ở Việt Nam, theo hướng phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế theo hướng hội nhập ngày càng sâu, rộng hơn với nền kinh tế thế giới và thực hiện các cam kết quốc tế liên quan đến thuế và quản lý thuế
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực
tiễn công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
4/ Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Thông qua việc nghiên cứu đề tài, trên cơ sở những nội dung được phản ánh Đề tài tập trung đi sâu, tìm hiểu, đánh giá, với mong muốn đóng góp những điểm mới trên 2 phương diện:
- Về lý luận: Đề tài đã khái quát, củng cố lý luận cơ bản về bản chất công tác
thanh tra, kiểm tra góp phần nhận thức đầy đủ hơn các nội dung khoa học và lý luận công tác thanh tra, kiểm tra Từ đó hình thành các tiêu chí để đánh giá có hiệu quả
Trang 15công tác thanh tra, kiểm tra thuộc lĩnh vực thuế
- Về thực tiễn: Nghiên cứu một cách có hệ thống về thực trạng công tác
thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Từ đó thấy được những kết quả đạt được, những tồn tại cần khắc phục và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế cho phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường để đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách thuế trong trong giai đoạn tiếp theo
5/ Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu xem xét, phân tích, đánh giá từ
cơ sở lý luận đến thực tiễn Bên cạnh đó, cũng đã vận dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau làm sáng tỏ quan điểm của mình về vấn đề nghiên cứu như: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp phân tích tổng hợp…
6/ Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về công tác thanh tra, kiểm tra thuế trong
quy trình quản lý thuế đối với doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra
thuế đối với doanh nghiệp trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Trang 16CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ TRONG QUY TRÌNH QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về Thanh tra, kiểm tra thuế :
1.1.1 Khái niệm về Kiểm tra, Thanh tra thuế:
Quản lý là tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình của xã hội và các
hành vi của con người trong xã hội để nó phát triển phù hợp với quy luật khách quan nhằm đạt được mục đích nhất định đúng ý chí của chủ thể quản lý Để quản
lý, Nhà nước ban hành các quyết định và triển khai thực hiện các quyết định đó Trong quá trình thực hiện, các đối tượng được quản lý có thể không chấp hành hoặc lợi dụng những sơ hở của chính sách để phục vụ mục đích riêng làm thiệt hại đến lợi ích chung của xã hội; Do vậy, công tác quản lý Nhà nước cần có một công cụ để kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các quyết định của mình Công cụ đó chính là thanh tra, kiểm tra
Công tác thanh tra, kiểm tra là một khâu quan trọng trong hoạt động quản
lý Nhà nước Nó là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước Các
cơ quan quản lý Nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện hoạt động thanh tra nhằm kiểm soát hữu hiệu việc thực thi quyền lực Nhà nước Trong bất
kỳ hoạt động nào, để đảm bảo cho mục tiêu đề ra đạt hiệu quả tốt, nhất thiết phải tiến hành công tác kiểm tra, thanh tra Đây là khâu không thể thiếu trong quá trình hoạt động quản lý Nhà nước
Đối với lĩnh vực quản lý thuế, thanh tra kiểm tra Người nộp thuế chính là một công đoạn và là một yếu tố cấu thành của hoạt động Lãnh đạo quản lý Nhà nước của cơ quan thuế Hoạt động quản lý của cơ quan thuế bao gồm từ vịêc xây dựng các mục tiêu kế hoạch trong một giai đoạn nhất định đến việc tổ chức để thực hiện các mục tiêu kế hoạch đó và sau cùng là tiến hành thanh, kiểm tra việc thực hiện mục tiêu đã đề ra để từ đó tác động ngược trở lại khâu xác định chủ trương kế hoạch có hợp lý hay không nhằm đảm bảo cho hoạt động của cơ quan thuế đạt được hiệu quả cao
Kiểm tra thuế, thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với
Trang 17các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của Người nộp thuế, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế -
xã hội
Theo mô hình quản lý theo chức năng, thanh tra kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế, là biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm pháp luật thuế; bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế; đồng thời làm cho người nộp thuế luôn ý thức rằng có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại, từ đó thúc đẩy họ tự giác tuân thủ pháp luật thuế
Thanh tra thuế, kiểm tra thuế có những điểm giống và khác nhau như sau:
+ Những điểm giống nhau:
Về mục đích: Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật
thuế;
Về cách thức tiến hành: Xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phân
tích, đánh giá, phát hiện và xử lý theo quy định pháp luật về thuế
Về nội dung: đều xem xét doanh thu, chi phí, lợi nhuận;
Về phương pháp: đều phải phân tích xác định rủi ro, truy lần lại việc xử lý
dữ liệu, tính toán lại và xác minh
+ Những điểm khác nhau :
Về đối tượng: Thanh tra thuế áp dụng cho các đối tượng có ngành nghề
kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng, cơ cấu tổ chức phức tạp, hoặc khi
có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế, hoặc để giải quyết khiếu nại tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ Trưởng Bộ Tài chính;
Về phạm vi nội dung: Thanh tra thuế thường là nội dung rộng, phức tạp,
có thể liên quan đến nhiều đối tượng, lĩnh vực khác nhau;
Về biện pháp áp dụng: Thanh tra được áp dụng các biện pháp mạnh hơn (
tạm giữ tang vật, tài liệu; khám nơi cất dấu tang vật, tài liệu – theo quy định của Luật quản lý thuế );
Trang 18Về hình thức tổ chức: Thành lập các đoàn thanh tra, Đoàn thanh tra có thể
tổ chức thành các Tổ để đi sâu vào từng nội dung thanh tra;
Về thời gian: Thanh tra thuế thường là không quá 30 ngày, kiểm tra thuế
thường không quá 5 ngày
Thanh tra và kiểm tra tuy có sự phân biệt nhưng chỉ là tương đối; khi tiến hành cuộc thanh tra thường phải tiến hành nhiều thao tác nghiệp vụ; thao tác nghiệp vụ đó thực chất là kiểm tra Ngược lại, đôi khi tiến hành kiểm tra để làm
rõ vụ việc lại chọn lựa được nội dung thanh tra Do có mối liên hệ, gắn bó với nhau nên khi nói đến một khái niệm người ta thường nhắc đến cả cặp tên là kiểm tra, thanh tra hay thanh tra, kiểm tra
1.1.2 Mục tiêu của Kiểm tra, Thanh tra thuế:
Hoạt động của kiểm tra thuế, thanh tra thuế của cơ quan thuế nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản sau:
- Thứ nhất :Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn
và xử lý kịp thời các hiện tượng trốn thuế, gian lận thuế, xâm tiêu tiền thuế, dây dưa nợ đọng thuế đối với Người nộp thuế và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
- Thứ hai:Thông qua công tác kiểm tra, thanh tra thuế nhằm phát hiện những bất hợp lý, nhũng kẽ hở trong các văn bản qui phạm pháp luật thuế để kịp thời đề xuất với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung và xác lập các căn cứ hoàn thiện chính sách thuế cũng như cơ chế quản lý thuế
- Thứ ba: xác minh để làm sáng tỏ những khiếu nại về thuế, làm căn cứ cho việc xử lý kịp thời những khiếu nại về thuế
1.1.3 Nguyên tắc của Kiểm tra, Thanh tra thuế:
Để đạt được các mục tiêu trên khi thực hiện kiểm tra, thanh thuế cơ quan thuế phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
- Việc kiểm tra, thanh tra thuế phải thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của Người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế;
Trang 19- Không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân
là NNT;
- Tuân thủ quy định của Luật Quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có liên quan Kiểm tra thuế, thanh tra thuế phải dựa vào các quy định của pháp luật và tuân thủ theo pháp luật; coi pháp luật là cơ sở pháp lý và chuẩn mực
để kết luận vấn đề kiểm tra, thanh tra; tránh mọi biểu hiện chủ quan, tuỳ tiện trong quá trình tiến hành và kết luận kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế thực hiện thống nhất trong toàn ngành thuế để tránh chồng chéo, trùng lắp theo qui định hiện hành và không quá một lần thanh tra, kiểm tra về cùng một nội dung trong một niên độ tài chính đối với một doanh nghiệp
1.1.4 Vai trò của Kiểm tra, Thanh tra thuế
Thanh tra, kiểm tra có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế
+ Thanh tra, kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa, răn đe các hành vi vi phạm pháp luật thuế và tội phạm nảy sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế
Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu
Trang 20liên quan đến Người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của Người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế Theo đó, vừa phòng ngừa các hành vi phạm pháp luật thuế có thể xảy ra; vừa sử dụng các biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm xử lý và răn đe Người nộp thuế khi có các hành vi vi phạm pháp luật về thuế
Việc kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế là biện pháp hữu hiệu nhất đối với việc phòng ngừa các loại tội phạm có thể phát sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế
+ Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính thuế
Triển khai thực hiện pháp luật thuế, cũng đồng thời với việc triển khai thực hiện các thủ tục hành chính thuế Qua hoạt động thanh tra, kiểm tra phát hiện những người nộp thuế thực hiện không đúng và không đủ các thủ tục hành chính thuế để kịp thời chấn chỉnh Đồng thời phát hiện những khiếm khuyết, những thủ tục không phù hợp với thực tế để kiến nghị bổ sung hoàn thiện, nâng cao hiệu lực pháp luật thuế
1.1.5 Yêu cầu của Kiểm tra, Thanh tra thuế:
- Mọi hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật
+ Khi tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế tại cơ sở kinh doanh phải có quyết định thanh tra, kiểm tra do người có thẩm quyền ban hành
+ Trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế các cán bộ thanh tra, kiểm tra cần tôn trọng tính độc lập, nghiêm túc khi thực hiện các quyền trong phạm vi pháp luật cho phép
- Đảm bảo chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời
+ Tính chính xác, khách quan để đảm bảo đánh giá đúng thực trạng, tình hình của cơ sở kinh doanh được thanh tra, kiểm tra, phản ánh đúng sự thật không thiên vị bóp méo sự việc, giúp cho việc xử lý các sai phạm đúng người, đúng việc, đúng pháp luật
Trang 21+ Tính công khai thể hiện ở việc phải thông báo đầy đủ nội dung thanh tra, kiểm tra; tiếp xúc công khai với đối tượng thanh tra, kiểm tra và mọi người
có liên quan ở nơi thanh tra và tuỳ theo tính chất vụ việc mà có thể công khai kết luận thanh tra
+ Tính dân chủ, kịp thời nhằm tránh biểu hiện chủ quan, áp đặt, bất chấp ý kiến người khác; đồng thời giúp cơ quan thuế các cấp xử lý kịp thời những phát hiện vi phạm pháp luật thuế qua thanh tra, kiểm tra thuế
- Thanh tra, kiểm tra thuế phải thực hiện đúng quy trình, quy phạm đã được ngành thuế quy định
1.1.6 Một số đặc điểm cơ bản của hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế:
- Thanh tra, kiểm tra thuế là một tổ chức thanh tra chuyên ngành thuộc
Bộ Tài chính nên mang đặc điểm của Thanh tra tài chính Tuy nhiên cũng có những đặc điểm riêng khác với thanh ra chuyên ngành khác như:Thanh tra Hải quan, thanh tra giá, thanh tra Kho bạc ở chỗ: Thanh tra, kiểm tra thuế rất rộng về đối tượng, phạm vi và lĩnh vực ngành nghề Tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ của các tổ chức và cá nhân trên mọi lĩnh vực, ngành nghề đều chịu sự điều chỉnh của pháp luật thuế Đặc điểm này chi phối trình độ chuyên sâu, chuyên nghiệp của cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế; và chi phối phương pháp, kỹ năng, kỹ thuật thanh tra, kiểm tra thuế
- Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với Người nộp thuế Đặc điểm này chi phối đạo đức nghề nghiệp, văn hoá ứng xử, tác phong mẫu mực của cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế
- Mặt khác hoạt động thanh tra, kiểm tra Người nộp thuế trong cơ chế thị trường vừa phải đối mặt với những cám dỗ, cạm bẫy dễ sa ngã; đồng thời phải đối đầu với sức ép, áp lực khác nhau, thậm chí ảnh hưởng đến danh dự và tính mạng của người làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế Đây là một đặc điểm ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng, tình cảm, hành vi công vụ của cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế; đến hiệu lực hiệu quả của công tác thanh tra kiểm tra NNT; đến uy tín và danh dự của ngành thuế
Trang 221.2 Các hình thức và nội dung Thanh tra, kiểm tra thuế :
1.2.1 Các hình thức kiểm tra, Thanh tra thuế:
* Căn cứ vào tính chất thanh tra, kiểm tra :
- Thanh tra, kiểm tra thuế theo chương trình, kế hoạch đã được duyệt hàng năm
- Thanh tra, kiểm tra thuế đột xuất khi phát hiện Người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, theo yêu cầu giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền
* Căn cứ vào đối tượng thanh tra, kiểm tra:
- Thanh tra, kiểm tra thuế đối với Người nộp thuế;
- Thanh tra, kiểm tra thuế đối với hoạt động của cơ quan thuế
* Căn cứ vào nội dung và phạm vi:
- Thanh tra toàn diện: là loại hình thanh tra tổng hợp, toàn diện tình hình tuân thủ pháp luật thuế của doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó có nghĩa vụ thực hiện và ngành thuế có trách nhiệm quản lý Là loại hình thanh tra sâu và rộng liên quan nhiều sắc thuế, nhiều kỳ tính thuế, thời gian dài, khối lượng công việc lớn, chi phí cao
- Thanh tra hạn chế:là thanh tra, kiểm tra trong phạm vi hẹp gồm: Thanh tra, kiểm tra một sắc thuế; một hoặc một số kỳ tính thuế; Thanh tra, kiểm tra một hoặc một số bộ hồ sơ hoàn thuế; Thanh tra, kiểm tra một hoặc một số yếu tố liên quan đến một hoặc một số kỳ tính thuế: thanh tra, kiểm tra doanh thu tính thuế, giá vốn hàng bán, khấu hao, tiền lương, tài sản ròng
* Căn cứ vào địa điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra:
- Kiểm tra, thanh tra hồ sơ Người nộp thuế tại cơ quan thuế
- Kiểm tra, thanh tra tại trụ sở Người nộp thuế
1.2.2 Nội dung kiểm tra, Thanh tra thuế:
Căn cứ hướng dẫn của Tổng cục Thuế và cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp
đã tập hợp, Bộ phận thanh tra, kiểm tra thuộc cơ quan thuế địa phương tiến hành phân tích đánh giá rủi ro về số thu và mức độ tuân thủ pháp luật thuế của Người nộp thuế, kết hợp với các thông tin nắm được qua công tác quản lý thuế trên địa
Trang 23bàn và nguồn nhân lực cân đối cho công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp thực hiện lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra hằng năm
Căn cứ vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra các nhóm phân tích tổ chức tập hợp, rà soát và phân tích thông tin chuyên sâu về các doanh nghiệp trong kế hoạch được giao, từ đó xác định nội dung cần kiểm tra, thanh tra tại cơ quan thuế hoặc tại trụ sở Người nộp thuế Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế thường thực hiện các công việc:
- Trên cơ sở kết quả phân tích thông tin về đối tượng thanh tra, kiểm tra, nhóm phân tích xác định cụ thể những nội dung nghi ngờ yêu cầu Người nộp thuế cung cấp bổ sung thông tin hoặc những nội dung nghi ngờ cần tiếp xúc với Người nộp thuế để làm rõ (thông tin chung về doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức hạch toán, liên doanh liên kết, đối tác kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng, tăng giảm tài sản, biên bản xác nhận công nợ nội bộ, công nợ người bán, người mua )
- Kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng hợp:
Việc kiểm tra, đối chiếu tổng hợp được thực hiện tuỳ theo phạm vi, qui
mô, nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra theo quyết định thanh tra, kiểm tra ban hành có gắn với yêu cầu của từng cuộc thanh tra, kiểm tra đó Các nội dung kiểm tra đối chiếu số liệu tổng hợp gồm:
+ Kiểm tra hồ sơ pháp lý của Người nộp thuế như đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, mã số thuế, tình hình đăng ký sử dụng hoá đơn
+ Kiểm tra đối chiếu tài liệu, hồ sơ gửi cơ quan thuế với thực tế xuất trình của Doanh nghiệp: báo cáo quyết toán tài chính quí, năm; tờ khai thuế Giá trị gia tăng, bản xác định số thuế Thu nhập doanh nghiệp tạm nộp theo quí, tờ khai thuế Thu nhập doanh nghiệp tự quyết toán năm và các tờ khai quyết toán thuế khác liên quan đến nội dung ghi tại quyết định thanh tra, kiểm tra
+ Kiểm tra việc mở sổ sách và tính hợp pháp: sổ cái, các sổ theo dõi chi tiết theo các chuẩn mực kế toán nhà nước qui định, đối chiếu số liệu tổng hợp giữa sổ chi tiết với bảng cân đối số phát sinh và bảng tổng kết tài sản
+ Ngoài ra, tuỳ theo từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra xem xét các tài
Trang 24liệu, hồ sơ liên quan khác: số thuế đầu kỳ trước chuyển sang, xác nhận của cơ quan thuế, cơ quan kho bạc nhà nước về số nộp ngân sách trong kỳ, các tài liệu liên quan đến hoàn thuế, miễn giảm thuế
- Kiểm tra chi tiết, lập hồ sơ chứng lý tại trụ sở Người nộp thuế :
+ Từng thành viên đoàn thanh tra, kiểm tra thực hiện kiểm tra sổ sách, chứng từ và các hồ sơ liên quan đến nội dung thanh tra, kiểm tra theo đúng nội dung đã ghi tại quyết định thanh tra, kiểm tra
+ Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: đối chiếu số liệu hạch toán, số liệu tính, kê khai, thu nộp thuế và hạch toán thực tế của doanh nghiệp với các chuẩn mực nhà nước qui định (qui định luật, pháp lệnh thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành; các cơ chế tài chính và chuẩn mực kế toán Nhà nước ban hành )
+ Thực hiện lập hồ sơ chứng lý thanh tra, kiểm tra, hồ sơ chứng lý được coi là tài liệu gốc để lập biên bản thanh tra, kiểm tra, gồm: Các biên bản ghi nhận kết quả đối chiếu; các bản sao chụp các tài liệu có liên quan kể cả các bức ảnh, đoạn băng ghi lại những việc làm sai của doanh nghiệp (phân tán kho quỹ, cất giấu chứng từ, tài liệu ); biên bản kiểm kê kho quỹ và ghi nhận kết quả làm việc của thành viên đoàn thanh tra, kiểm tra với các đối tượng có liên quan của doanh nghiệp; các tài liệu, báo cáo của doanh nghiệp lập theo yêu cầu của đoàn thanh tra, kiểm tra hoặc các bảng kê tài liệu, số liệu mà đoàn thanh tra, kiểm tra cùng lập với đơn vị được thanh tra, kiểm tra
+ Trường hợp cần thiết phải giám định tài liệu, cần lập biên bản thu giữ tài liệu ghi rõ tình trạng của tài liệu đó (kể cả hiện vật nếu có) để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giám định Đoàn thanh tra, kiểm tra phải thực hiện đúng qui định về giám định
- Lập biên bản thanh tra, kiểm tra
- Chuyển hồ sơ Doanh nghiệp hoặc thông báo cho cơ quan quản lý cấp trên hoặc cơ quan điều tra nếu có dấu hiệu phạm tội
1.2.3 Quy trình kiểm tra, Thanh tra thuế :
Quy trình kiểm tra, thanh tra thuế là các trình tự và các bước công việc cụ
Trang 25thể bắt buộc phải tuân theo khi thực hiện một quyết định kiểm tra hoặc thanh tra thuế
Mục đích quy trình là tăng cường hiệu quả công tác quản lý của ngành thuế, tôn trọng và phát huy tính tự giác chấp hành và tự chịu trách nhiệm của NNT, không cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là Người nộp thuế; đáp ứng yêu cầu công tác hiện đại hoá công tác thanh tra, kiểm tra góp phần tăng cường công tác quản lý cán bộ trong nội bộ ngành thuế Quy trình được tóm tắt như sau:
Hình 1: Quy trình thanh tra, kiểm tra thuế
Chuẩn bị Thanh tra, kiểm tra (Nội dung - Thời kỳ )
Thanh tra, kiểm tra tại Doanh nghiệp
Tổ chức phân tích sâu các DN trong kế hoạch
Lưu trữ hồ sơ Báo cáo đánh giá kết quả cuộc thanh tra
Theo dõi thực hiện Quyết định xử lý Lập duyệt, điều chỉnh kế hoạch (Thu thập, phân tích,phân loại đối tượng)
Trang 261.2.4 Tổ chức Kiểm tra, Thanh tra thuế:
Tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra thuế được tổ chức theo hệ thống dọc, gắn với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuế các cấp Tổ chức bộ máy thanh tra, kiểm tra thuế gồm: Thanh tra Tổng cục thuế; Phòng thanh tra thuế
và Phòng kiểm tra thuế thuộc Cục thuế, Đội kiểm tra thuế thuộc Chi cục thuế
Hình 2: Mô hình hoá chức năng thanh tra, kiểm tra thuế
1.2.4.1 Thanh tra Tổng cục thuế:
- Thanh tra Tổng cục Thuế là đơn vị thuộc Tổng cục Thuế, thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành trong phạm vi quản lý nhà nước của Tổng cục Thuế
Nhiệm vụ chủ yếu là: thực hiện chức năng thanh tra thuế, kiểm tra thuế
đối với Người nộp thuế; thanh tra giải quyết tố cáo về hành vi trốn thuế, gian lận thuế của người nộp thuế trong phạm vi quản lý nhà nước của Tổng cục Thuế
- Thanh tra Tổng cục Thuế có Chánh Thanh tra và một số Phó Chánh thanh tra; làm việc theo tổ chức phòng kết hợp với chế độ chuyên viên Thanh tra
Tổng cục Thuế Thanh tra Tổng cục Thuế (Thanh tra - Kiểm tra)
Phòng
Kiểm tra
Cục Thuế
Phòng Thanh tra
Chi Cục Thuế Đội
Trang 27viên thuộc Thanh tra Thuế là công chức nhà nước, được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục Thuế
1.2.4.2 Phòng thanh tra thuế thuộc Cục thuế:
- Phòng Thanh tra thuế thuộc hệ thống tổ chức Thanh tra thuế, kiểm tra thuế, là đơn vị thuộc Cục Thuế, thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuế trong phạm vi quản lý nhà nước địa phương của Cục Thuế
Phòng Thanh tra thuế chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Cục trưởng Cục Thuế và sự chỉ đạo về công tác nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Tổng cục thuế
- Phòng Thanh tra thuế có nhiệm vụ: giúp Cục trưởng Cục thuế triển khai
thực hiện công tác thanh tra NNT trong việc chấp hành pháp luật thuế; giải quyết tố cáo về hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan đến NNT thuộc phạm
1.2.4.3 Phòng kiểm tra thuế thuộc Cục thuế:
- Phòng kiểm tra thuế thuộc hệ thống tổ chức thanh tra thuế, kiểm tra thuế
là đơn vị thuộc Cục Thuế, thực hiện chức năng kiểm tra chuyên ngành thuế trong phạm vi quản lý nhà nước địa phương của Cục Thuế
Phòng Kiểm tra thuế chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Cục trưởng Cục Thuế và sự chỉ đạo về công tác nghiệp vụ kiểm tra của Ban thanh tra Tổng cục thuế
- Phòng Kiểm tra thuế có nhiệm vụ: giúp Cục trưởng Cục thuế kiểm tra,
giám sát kê khai thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với Người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của Cục Thuế
Trang 28- Phòng kiểm tra thuế thuộc Cục thuế có Trưởng Phòng kiểm tra và các Phó Phòng kiểm tra, cùng với chuyên viên chính hoặc/và kiểm soát viên chính, chuyên viên hoặc/và kiểm soát viên thuộc biên chế của Phòng kiểm tra thuế
1.2.4.4 Đội kiểm tra thuế thuộc Chi cục thuế:
- Đội kiểm tra thuế thuộc hệ thống tổ chức kiểm tra, Thanh tra thuế là đơn
vị thuộc Chi cục Thuế, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế; giải quyết tố cáo liên quan đến người nộp thuế; chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế
- Đội kiểm tra thuế chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Chi cục trưởng Chi cục Thuế và sự chỉ đạo về nghiệp vụ kiểm tra của Phòng kiểm tra Cục thuế
- Đội kiểm tra có Đội trưởng, các Phó Đội trưởng và cán bộ kiểm tra thuế thuộc biên chế của Chi cục thuế
1.2.4.5 Đội thanh tra thuế thuộc Chi cục Thuế:
Đối với Chi cục Thuế thực hiện thu thuế hàng năm từ 300 tỷ đồng trở lên trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất, hoặc quản lý thuế trên 1.000 doanh nghiệp,
cơ cấu bộ máy sẽ có Đội thanh tra thuế
- Đội thanh tra thuế thuộc hệ thống tổ chức Kiểm tra, Thanh tra thuế, là đơn vị thuộc Chi cục Thuế, thực hiện công tác thanh tra người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật thuế; giải quyết tố cáo về hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế liên quan đến Người nộp thuế thuộc phạm vi Chi cục Thuế quản lý
- Đội thanh tra thuế chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Chi cục trưởng Chi cục Thuế và sự chỉ đạo về nghiệp vụ kiểm tra của Phòng kiểm tra Cục thuế
- Đội thanh tra có Đội trưởng, các Phó Đội trưởng và cán bộ thanh tra thuế thuộc biên chế của Chi cục thuế
1.2.5 Kiểm tra, Thanh tra thuế trong hệ thống tự khai tự nộp :
- Trong cơ chế tự khai, tự nộp công tác thanh tra được thực hiện theo kỹ thuật quản lý rủi ro: Chuyển hẳn từ cơ chế thanh tra nhằm vào tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện hành sang cơ chế thanh tra theo mức độ các vi phạm về thuế, có dấu hiệu vi phạm về thuế mới tiến hành thanh tra, không có dấu hiệu vi phạm về thuế thì không thanh tra nhằm không gây phiền hà, cản trở công việc
Trang 29kinh doanh của NNT cũng như không làm tốn kém về nguồn lực, các chi phí không cần thiết cho cơ quan thuế Theo các mô hình sau:
+ Chuyển đổi từ việc thanh tra, kiểm tra theo diện rộng sang thanh tra, kiểm tra theo hệ thống tiêu thức lựa chọn, đi vào chiều sâu theo mức độ vi phạm
Theo mô hình 1
Hình 3: Chuyển từ thanh tra theo diện rộng sang thanh tra
theo tiêu chí phân loại
+ Chuyển hoạt động thanh tra, kiểm tra chủ yếu tiến hành tại cơ sơ kinh doanh sang thanh tra kiểm tra chủ yếu tiến hành ở cơ quan thuế
Kiểm tra tại
cơ quan thuế
Kiểm tra tại
cơ sở kinh doanh
Trang 30chức tín dụng du lịch ), lĩnh vực và sắc thuế (Chuyển giá, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản).
Màu đậm là nội dung thanh tra, kiểm tra thuế
Hình 5: Chuyển từ thanh tra toàn diện sang thanh tra, kiểm
tra theo chuyên đề và nội dung vi phạm
Trong cơ chế này, kiểm tra thuế có hai hình thức: kiểm tra hồ sơ khai thuế
tại trụ sở cơ quan quản lý thuế hoặc kiểm tra tại trụ sở NNT Đây là biện pháp
nghiệp vụ thường xuyên của cơ quan thuế để đánh giá chất lượng kê khai thuế của NNT và giám sát việc tuân thủ của NNT Trong các trường hợp có dấu hiệu
vi phạm pháp luật về thuế, thủ trưởng cơ quan thuế có quyền ban hành quyết định tranh tra thuế và công chức thanh tra thuế là thanh tra viên sẽ tiến hành công việc thanh tra tạo trụ sở NNT Khi thanh tra thuế các trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân thì cơ quan thuế được quyền áp dụng một số biện pháp mạnh như tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm; khám nơi cất dấu tang vật, phương tiện vi phạm
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế chuyển sang cơ chế mới đã được cải tiến đáng kể, hạn chế được những tồn tại của công tác thanh tra, kiểm tra theo cơ chế quản lý thuế trước đây Từ đó tạo điều kiện để Người nộp thuế tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, giảm bớt phiền nhiễu Công tác thanh tra, kiểm tra đảm bảo được thực hiện tốt hơn và khách quan hơn
Áp dụng phương pháp thanh tra, kiểm tra theo mô hình này không dàn trải
mà tập trung vào những đối tượng có vi phạm nhiều, lặp đi lặp lại Trên cơ sở đi sâu vào phân tích thông tin, đánh giá rủi ro theo từng nhóm thông tin đã chọn để
Trang 31quyết định nội dung thanh tra với từng trường hợp cụ thể, tránh được tình trạng kiểm tra chồng chéo, giảm những chi phí không cần thiết
Với cơ chế này, công tác thanh tra, kiểm tra thuế thực sự là nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan thuế trong cơ chế tự khai, tự nộp thuế Chỉ khi Người nộp thuế nhận thức rằng cơ quan thuế đang thực hiện các chương trình thanh tra thuế hiệu quả và nếu gian lận về thuế, họ sẽ bị cơ quan thuế phát hiện và bị xử phạt nghiêm khắc thì Người nộp thuế mới tự giác thực hiện đúng nghĩa vụ thuế Trong
cơ chế tự khai, tự nộp thuế thì công tác thanh tra, kiểm tra thuế không chỉ nhằm tăng số thu thuế, mà mục tiêu chính là nhằm ngăn ngừa, răn đe Người nộp thuế vi phạm pháp luật thuế, thực hiện chưa tốt chế độ quản lý hoá đơn, chứng từ và chế
độ kế toán, báo cáo tài chính
1.2.6 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm tra, Thanh tra thuế:
- Hiệu quả quản lý thuế:
+ Đánh giá về chất lượng quản lý thuế được so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu đựơc, đồng thời nó còn giúp đánh giá chi phí bỏ ra của Người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế
+ Đánh giá tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân và trình độ quản lý của
cơ quan thuế thì có thể sử dụng cách tính chi phí thời gian của Người nộp thuế phải bỏ ra so với kết quả thoả mãn nhu cầu của Người nộp thuế Nếu chi phí thời gian Người nộp thuế càng thấp thì càng tốt
- Hiệu quả của công tác kiểm tra, thanh tra thuế là thước đo đánh giá kết quả thực hiện các chính sách thuế, phát huy tác dụng vốn có của mỗi sắc thuế đối với sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội, phục vụ công tác quản lý người nộp thuế trong quá trình chấp hành pháp luật về thuế trên cơ sở quản lý thuế đạt được hiệu quả là tối đa với chi phí quản lý ở mức tối thiểu
Hiệu quả hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế phải được xem xét trên các góc
độ hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trị
- Hiệu quả Kinh tế: Khai thác đầy đủ kịp thời các khoản thu Luật định về thuế vào Ngân sách nhà nước
- Hiệu quả Xã hội: Công tác thanh tra, kiểm tra góp phần thực hiện bình
Trang 32đẳng, công bằng xã hội
- Hiệu quả Chính trị : Là hiệu quả thực hiện các chủ trương, chính sách kinh
tế xã hội của Đảng và Nhà nước
Hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế hình thành mảng chương trình làm việc chính của Cơ quan thuế, thể hiện ở mối quan hệ trực tiếp nhằm đạt được kết quả
về nâng cao tính tuân thủ luật thuế, đạt được mục tiêu thu Ngân sách và sử dụng nguồn nhân lực đáng kể Do đó, hoạt động thanh tra, kiểm tra cần được cũng cố bằng các phương pháp quản lý hiệu quả như xây dựng và áp dụng một loạt các chỉ tiêu, chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (tập trung cả vào kết quả chung và các kết quả trọng tâm đã định sẵn) với sự kiểm soát chặt chẽ kết quả thu được cũng như chất lượng hoạt độngthanh tra đã triển khai trên thực tế
Để đánh giá hiệu quả dựa vào các tiêu chuẩn đánh giá như sau:
+ Tỷ lệ hoàn thành về số thời gian so với kế hoạch năm;
+ Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số vụ việc khiếu tố giải quyết được so với
- Đánh giá hiệu quả trực tiếp của kiểm tra, thanh tra dựa vào các chỉ tiêu như:
+ Tổng số thuế thu được sau cuộc thanh tra so với thời gian tiêu hao hoặc số cán bộ tham gia
Trang 33+ Số chi phí bằng tiền cho số cán bộ kiểm tra, thanh tra tham gia so với số thuế truy thu đã nộp NSNN;
+ Tỷ lệ giữ nguyên, sửa đổi hoặc huỷ bỏ quyết định truy thu thuế theo biên bản thanh tra, kiểm tra thuế khi giải quyết khiếu nại của đối tượng kiểm tra, thanh tra;
+ Tỷ lệ trường hợp đối tượng kiểm tra, thanh tra chấp nhận hoàn toàn kết luận kiểm tra, thanh tra;
+ Tỷ lệ số thuế truy thu được nộp vào NSNN/tổng số thuế truy thu
Ngoài ra để đánh giá để đánh giá chính xác hơn tính hiệu quả, cần phải so sánh với các năm liền kề trước đó để đánh giá xu hướng biến động của các chỉ tiêu, có như thế mới thấy rõ sự phát triển của từng khâu công tác
Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm tra, thanh tra được đánh giá theo kỳ (quý, năm) và được chia theo nhiều sắc thuế; theo hình thức thanh
Trang 34tra; theo loại đối tượng nộp thuế và từng nội dung thanh tra, kiểm tra tương ứng
Nếu có nhiều hoạt động thanh tra nhưng không hiệu quả thì có thể tác động xấu tới tính tuân thủ nghĩa vụ thuế của NNT Một điểm cực kỳ quan trọng là các cuộc thanh tra được thực thi phải đạt đến một tiêu chuẩn chất lượng cao.Vì vậy,trong tất cả các nhóm chỉ số đánh giá hiệu quả cần phải bổ sung thêm một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng họat động thanh tra Công việc này đòi hỏi phải bố trí các cán bộ thanh tra có kinh nghiệm trong cơ quan thuế để thực hiện kiểm tra chất lượng thanh tra trên cơ sở chọn mẫu các cuộc thanh tra đã hoàn tất theo các tiêu thức đã định trước Việc này có thể bao hàm cả việc kiểm tra quy trình thanh tra
và các kết luận thanh tra, thông qua sử dụng một hệ thống thang điểm chất lượng Công việc này có thể được thực hiện bởi trưởng nhóm thanh tra, một số cơ quan đánh giá chất lượng độc lập, thông qua những thông tin phản hồi thu được từ các
hệ thống khiếu nại, hoặc kết hợp các phương pháp này
Một cuộc thanh tra có chất lượng tốt là tập trung vào các rủi ro có mục tiêu; Đúng về mặt nghiệp vụ; Đúng về quy trình thủ tục; và được tham khảo ý kiến đúng đắn
1.3 Quản lý thuế và mô hình quản lý thuế:
1.3.1 Khái niệm về quản lý thuế:
Quản lý thuế là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo Người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật
Quản lý thuế có vai trò bảo đảm cho chính sách thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong thực tiễn đời sống Kinh tế Xã hội Chính sách thuế thường được thiết kế nhằm thực hiện những chức năng của thuế như điều tiết kinh tế vĩ mô phục vụ mục tiêu tăng trưởng của đất nước hay phân phối thu nhập nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Tuy nhiên, các mục tiêu này chỉ trở thành hiện thực nếu quản lý thuế thực hiện điều hành, giám sát tốt để ai là Người nộp thuế thì phải nộp thuế và Người nộp thuế phải nộp đúng, nộp đủ và nộp đúng hạn số thuế phải nộp vào Ngân sách Nhà nước Vì vậy, có thể khẳng định Quản lý thuế có vai trò quyết định cho sự thành công của từng chính sách thuế
Trang 351.3.2 Mục tiêu của quản lý thuế:
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế; tạo điều kiện thuận lợi cho Người nộp thuế nộp đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước
và cơ quan quản lý thuế kiểm tra thu đúng, thu đủ tiền thuế
- Quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của Người nộp thuế, cơ quan quản lý thuế và của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc quản lý thuế
- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch, dễ thực hiện, tăng cường vai trò kiểm tra giám sát của Nhà nước, cộng đồng xã hội trong việc thực hiện quản lý thuế
1.3.3 Nguyên tắc quản lý thuế:
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân Tất cả các
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội đều có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Người nộp thuế
1.3.4 Nội dung quản lý thuế theo cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế
1.3.4.1 Khái niệm về cơ chế tự khai, tự nộp thuế (TKTN):
Tự khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó NNT tự giác tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế: Người nộp thuế phải căn cứ vào các quy định tại các Luật thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ khai thuế và nộp thuế đúng hạn Với việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thì Cơ quan Thuế sẽ không phải can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ của NNT nếu NNT tự giác tuân thủ nghĩa vụ mà chỉ tập trung nguồn lực cho công tác tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để Người nộp thuế có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ Ngân sách Nhà nước Đồng thời cũng tăng cường các biện pháp theo dõi giám sát, kiểm tra
để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các hành vi phạm pháp luật thuế, tránh gây thất thu Ngân sách Nhà nước
Cơ chế tự khai, tự nộp là cơ chế quản lý thuế tiên tiến, hiện đại, dựa trên
Trang 36ý thức tuân thủ tự giác của Người nộp thuế Việc chuyển sang thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp là phù hợp với xu thế cải cách quản lý hành chính của nhà nước theo hướng dân chủ, tôn trọng và phát huy tính tự giác, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của người dân Người nộp thuế được giảm bớt các thủ tục hành chính, được chủ động trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của mình đối với Nhà nước Còn về phía Cơ quan thuế, cơ chế mới sẽ tạo điều kiện để sắp xếp lại bộ máy quản lý chuyên sâu theo chức năng, chuyên môn hóa tới từng cán bộ Khi áp dụng cơ chế này, Cơ quan Thuế có thể đáp ứng yêu cầu quản lý khi số lượng Người nộp thuế tăng lên nhanh chóng, các giao dịch kinh tế diễn ra ngày một phức tạp và đảm bảo yêu cầu của Hội nhập kinh tế quốc tế Hơn nữa, nền kinh tế ngày càng phát triển, luật doanh nghiệp mới có một số quyết định thông thoáng hơn nên số lượng các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh ngày càng tăng lên nhiều Trong khi đó số cán bộ thuế còn thiếu nhiều về cả số lượng và chất lượng
Do vậy, cơ quan Thuế phải đổi mới phương thức quản lý thuế thì mới có thể theo kịp được yêu cầu sản xuất kinh doanh
Như vậy thực hiện quản lý thuế theo cơ chế Người nộp thuế tự khai, tự nộp thuế là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế thời đại, nhất là trong điều kiện hiện nay Nhà nước ta đang đẩy mạnh cải cách hành chính để đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Hơn nữa, trên thế giới có rất nhiều nước đã áp dụng cơ chế này và đã thu được kết quả rất cao trong việc thu thuế cho Ngân sách Nhà nước
1.3.4.2 Các điều kiện để thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế có hiệu quả:
Để thực hiện được tốt cơ chế tự khai, tự nộp thuế đòi hỏi phải có đầy đủ
và đồng bộ nhiều yếu tố như: trình độ và sự nhận thức của người dân về nghĩa vụ thuế, chính sách thuế, tổ chức quản lý thuế, nghiệp vụ quản lý thuế, trình độ của cán bộ và các thẩm quyền cần thiết của cơ quan thuế trong quản lý thuế:
+ Người dân phải có được hiểu biết cơ bản về nghĩa vụ thuế, Người nộp thuế có ý thức tuân thủ nghĩa vụ thuế, cộng đồng xã hội lên án những hành vi gian lận trốn thuế
+ Các cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp cho
Trang 37cơ quan thuế những thông tin về NNT có liên quan đến việc xác định nghĩa vụ nộp thuế
+ Chính sách thuế phải rõ ràng, dễ hiểu và dễ thực hiện như: thuế giá trị gia tăng (GTGT) chỉ có 1 mức thuế suất, ít miễn giảm trong thuế TNDN , các qui định về kê khai, nộp thuế thuận lợi, phù hợp với điều kiện kinh doanh của Người nộp thuế
+ Hệ thống xử phạt nghiêm khắc cơ quan Thuế có đủ thẩm quyền về điều tra, khởi tố, cưỡng chế thuế để xử phạt nghiêm, kịp thời những trường hợp gian lận, trốn thuế, chây ỳ, nợ thuế, thu hồi đủ tiền thuế cho Ngân sách Nhà nước và đảm bảo sự công bằng trong quản lý thuế
+ Bộ máy quản lý thuế ở cơ quan thuế các cấp phải tổ chức tập trung theo các chức năng: tuyên truyền, hướng dẫn Người nộp thuế; theo dõi, xử lý việc kê khai thuế; đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thuế; kiểm tra, thanh tra thuế để nhằm chuyên môn hoá, nâng cao năng lực quản lý thuế ở từng chức năng
+ Hệ thống giải quyết khiếu nại hoạt động hiệu quả
+ Người nộp thuế cần phải tin rằng các chương trình kiểm tra, thanh tra
thuế hiệu quả đang tồn tại
+ Quản lý thuế phải dựa trên kỹ thuật quản lý hiện đại - kỹ thuật quản lý rủi ro, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả quản lý thông qua việc tập trung phân bổ nguồn lực quản lý, kiểm soát những Người nộp thuế không tuân thủ nghĩa vụ thuế gây rủi ro cao, có ảnh hưởng lớn đến nguồn thu NSNN
+ Quy trình quản lý của cơ quan thuế tốt và được hỗ trợ tin học hoá
+ Cán bộ được đào tạo có đủ kiến thức, năng lực để thực hiện quản lý thuế chuyên sâu, chuyên nghiệp theo từng chức năng quản lý
1.3.4.3 Nội dung quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp:
Luật Quản lý thuế chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2007 đã tạo ra hành lành pháp lý để ngành thuế cả nước thực hiện đổi mới theo phương pháp quản lý thuế hiện đại, chuyên nghiệp và hiệu quả Các quy định của Luật quản lý thuế phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước, cụ thể là chính thức áp dụng cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế đối
Trang 38với hầu hết các sắc thuế và đại bộ phận NNT chỉ còn một số trường hợp NNT thực hiện nộp thuế theo thông báo của cơ quan thuế như: Hộ gia đình, cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán; Các trường hợp nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền sử dụng đất; Hộ gia đình, cá nhân nộp thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp theo thông báo của cơ quan thuế
Quản lý theo cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế gồm 8 nội dung sau và được phân thành 3 nhóm như sau:
Nhóm 1: - Các thủ tục hành chính thuế, bảo đảm các điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế đầy đủ, đúng hạn, bao gồm các nội dung: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt
Nhóm 2- Giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế của cơ quan quản lý thuế đối với người nộp thuế, đảm bảo hiệu quả bao gồm các nội dung: Quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế
Nhóm 3:- Các chế tài bảo đảm các chính sách thuế được thực thi có hiệu lực, hiệu quả, bao gồm các nội dung: cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
1.3.5 Mô hình Quản ký thuế:
Mô hình tổ chức quản lý thuế là bộ máy quản lý thuế được khái quát theo một nguyên tắc cơ bản nhất, bao trùm và chi phối việc xác định số lượng các bộ phận, chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế của từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức Các nhà nghiên cứu chính sách và quản lý thuế đã tổng kết các mô hình và đánh giá ưu nhược điểm các mô hình tổ chức quản lý thuế đã được các nước trên thế giới áp dụng và đánh giá các mô hình như sau:
1.3.5.1 Mô hình tổ chức quản lý theo sắc thuế:
- Khái niệm:
Là mô hình lấy việc quản lý theo sắc thuế là nguyên tắc bao trùm Theo
đó, cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận (gọi chung là phòng) quản lý một hoặc một số loại thuế cụ thể (Ví dụ: phòng thuế Thu nhập cá nhân; phòng Thuế thuế thu nhập doanh nghiệp, phòng thuế Giá trị gia tăng, phòng thuế Tiêu thụ đặc
Trang 39biệt…)
- Đặc trưng cơ bản:
Mỗi phòng thực hiện tất cả các chức năng để quản lý loại thuế mà phòng
đó được phân công quản lý thu đối với tất cả các đối tượng nộp thuế
Ưu điểm:
- Tạo điều kiện để chuyên sâu quản lý từng sắc thuế, hiểu rõ phương pháp quản lý sắc thuế một cách hiệu quả nhất, cho phép từng phòng tự phát triển các chương trình chuyên sâu phù hợp nhất theo yêu cầu quản lý của từng sắc thuế
- Phản ứng kịp thời với những thay đổi của luật thuế hay những biện pháp quản lý đối với từng sắc thuế, đặc biệt khi có sắc thuế mới phát sinh
- Mô hình này thuận lợi và phù hợp với các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, có môi trường tài chính không ổn định và có các quy định khác nhau
về thủ tục quản lý đối với từng loại thuế
Nhược điểm :
- Chi phí quản lý cao, hiệu suất quản lý thấp vì chức năng quản lý bị chồng chéo giữa các bộ phận Mỗi bộ phận đều phải thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý trong khi có những chức năng có thể chỉ do một bộ phận quản lý hoặc mỗi bộ phận phải có một hệ thống chương trình phầm mềm riêng phục vụ quản lý…
- Gây khó khăn trong việc tuân thủ luật thuế của Người nộp thuế vì để hiểu và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế (nghĩa vụ nộp nhiều loại thuế khác nhau),
họ phải cần đến sự hỗ trợ của nhiều bộ phận trong cùng một cơ quan thuế dẫn đến chi phí tuân thủ pháp luật của NNT và của cơ quan thuế cao
- Bộ máy quản lý cồng kềnh
- Dễ xảy ra sự thông đồng giữa NNT và cán bộ quản lý thuế do mỗi phòng hoạt động độc lập với các phòng khác, làm cho sự kiểm tra, kiểm soát giữa các
bộ phận trong cơ quan thuế hoặc không có hoặc kém hiệu quả
1.3.5.2 Mô hình tổ chức bộ máy theo nhóm Người nộp thuế :
- Khái niệm :
Là mô hình tổ chức lấy quản lý theo nhóm NNT làm nguyên tắc bao trùm
Trang 40Theo đó, cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận (phòng) quản lý theo từng nhóm NNT Một số nước phân loại nhóm NNT theo qui mô, một số nước khác phân loại theo ngành nghề kinh doanh hoặc theo hình thức sở hữu Từ đó, hình thành các phòng quản lý thu thuế theo đối tượng (qui mô) kết hợp với theo ngành nghề kinh doanh của đối tượng đó (Ví dụ: Phòng quản lý thuế các doanh nghiệp lớn, phòng quản lý thuế các doanh nghiệp vừa, nhỏ; phòng quản lý thuế doanh nghiệp ngành công nghiệp, phòng quản lý thuế ngành Hàng không, Điện lực… hoặc phòng quản lý thuế khu vực kinh tế quốc doanh, phòng quản lý thuế khu vực kinh tế dân doanh…)
- Đặc trưng cơ bản:
Mỗi phòng thực hiện tất cả các chức năng quản lý thu tất cả các sắc thuế
mà NNT được phân công quản lý phải có nghĩa vụ với Nhà nước
- Là cơ sở giao nhiệm vụ rõ ràng và giám sát thực hiện, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ thu Ngân sách đối với một hoặc một số nhóm NNT
Nhược điểm
- Không đáp ứng được yêu cầu quản lý thuế khi số lượng và qui mô của NNT thường xuyên tăng lên, loại hình sản xuất kinh doanh ngày càng đa dạng, phức tạp, phạm vi hoạt động kinh doanh ngày càng rộng, đa dạng, đa lĩnh vực, thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau
- Dễ xảy ra sự không thống nhất trong việc chỉ đạo thực hiện các luật thuế,