Bài viết này của em xin được trình bày về vấn đề bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình lao động và tham gia lao động.. Mục tiêu của bình đẳng giới theo Luật bình đẳng giới là
Trang 1Mục lục
MỞ BÀII - TT Tn TT T1 S111 11 1111 11111111115111111E 1111111111111 1115111111511 Ee xe 2 BÀI LÀM - Sa Tn TT S11 1151 111 111111111151111E 1111111181111 1151111111111 xe 3
1, Khái niệm bình đắng giới -2- 5+ +s+Ex+ExeEE2EEEEEEEErkerkrkerrerrerkerree 3
II, Nội dung bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình trong lao động
và tham gia thị trường lao động - - HH 4
2, Xuất phát từ thực tiễn -s-sc St r nen 2 HE rrerrerrrree 5
3, Nội dung bình đăng giới giữa các thành viên trong gia đình trong lao động và tham gia vào thị trường lao động - - - neo 7
II, Thực trạng bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình trong lao động và tham gia thị trường lao động - Ăn ren 10
1, Thực trạng bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình lao động và thamg ai vào thị trường lao động - si ng nưy 10
2, Một số giải pháp cải thiện bình đăng giới giữa các thành viên trong gia đình trong trong lao động và tham gia vào thị trường lao động 12
.4x009/5 000388 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO:: 2-55 22t triệu 14
Trang 2Vẫn đề bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình trong lao
động và tham gia vào thị trường lao động
MỞ BÀI
Mục tiêu bình đẳng giới nói chung vừa là van dé quyén con người vừa là một yêu cầu cơ bản cho sự phát triển công bằng và hiệu quả Vì vậy việc nghiên cứu
về tỉnh trạng bất bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc hướng tới sự bình đăng trong xã hội mà còn góp phần tìm kiếm các biện pháp để nâng cao hiệu quả và hiệu lực của tăng trưởng kinh tế xã hội
Bài viết này của em xin được trình bày về vấn đề bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình lao động và tham gia lao động Hi vọng bài viết này của em
có thể làm rõ vẫn đề nảy, từ đó nâng cao được hiểu biết của bản thân em và mọi người xung quanh về vấn đề bình đẳng giới, đặc biệt là bình đẳng giới giữa các thành viên tong gia dinh
Trang 3BAI LAM
L Khái niệm bình đẳng giới
Đề tìm hiểu về vấn đề bình đăng giới, trước hết ta phải tim hiểu một số khái
niệm có liên quan
Trước hết, cần phải hiểu khái niệm giới Theo hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam,
có thê hiểu giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa
nam giới và phụ nữ Khải niệm này cũng tương đồng với khái niệm và giới được
quy định trong Luật bình đẳng giới, khoản 1 Điều 5 Luật bình đẳng giới quy
định: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội"
Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ vả nam giới các đặc điểm giới khác nhau trong các quan hệ xã hội Bởi vậy, các đặc điểm gidi rat
đa dạng và có thê thay đôi được
Tiếp theo là khái niệm về bình đẳng giới Theo quy định tại khoản 3 Điều Luật
bình đăng giới, “Bình đăng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau,
3
Trang 4được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đông, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”
Mục tiêu của bình đẳng giới theo Luật bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối
xử về giới, tạo cơ hội nhự nhau cho nam và nữ trong phat triển kinh tế - xã hội
và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội và gia đình
I, Nội dung bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình trong lao động và tham gia thị trường lao động
1, Cơ sở pháp lí
Công ước CEDAW là Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 18/12/1979 va chính thức có hiệu lực từ ngày 3/9/1981, sau khi nước thứ 20 thông qua với tư cách một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về quyền con người của phụ nữ Đến
nay, theo Uỷ ban CEDAW, đã có 186 quốc gia trên thế giới phê chuẩn hoặc ký kết công ước, chiếm hơn 90% thành viên Liên hợp quốc Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký tham gia công ước vào 29/7/1980 phê
chuẩn vào 27/11/1981 Vấn đề đảm bảo bình đẳng giới trong lao động đã được
công ước CEDAW ghi nhận tại Điều 11 Công ước, theo đó: “Các mước tham gia Công ưóc phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xóa bỏ phân biệt đối xử với phy nit trong lĩnh vực việc làm nhằm đảm bảo những quyền như nhau trên cơ sở bình đẳng nam nữ .”
Pháp luật nước ta và đặc biệt là Hiến pháp 1992 cũng đã ghi nhận nhựng quy định nhằm đảm bảo bình đẳng giữa lam và nữ trong lao động và việc làm Cụ thể, Điều 63 Hiến pháp 1992 có nội dung quy định: “Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm công ăn lương có quyên
4
Trang 5nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ cấp theo quy định của pháp luật
Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội; chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, khoa nhỉ, nhà trẻ và các cơ sở phúc lợi xã hội khác để giảm nhẹ gánh nặng gia đình, tạo điều kiện cho phụ nữ sản xuất, công tác, học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi và làm tròn bồn phận của người mẹ.”
Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động và việc làm cũng đã được ghi nhận ngay trong Bộ luật lao động nước ta Khoản Í Điều 5 Bộ luật lao động quy định:
“Mọi người đều có quyển làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo”
Đặc biệt, ngày 29 tháng 11 năm 2006, Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội
khoá XI thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007 Luật Bình đẳng giới tiếp tục thể chế hoá quan điểm, đường lỗi của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động và bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nam và nữ; đồng thời tiếp tục khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Việt Nam trong việc cụ thê hoá
và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người và bình đăng giới mà Việt Nam là thành viên
2, Xuất phát từ thực tiễn
Bắt bình đẳng giới trong giai đoạn hiện nay có tác động xấu đối với sự phát triển của xã hội, một mặt nó vừa là một trong những căn nguyên gây ra tỉnh
trạng nghèo đói; mặt khác nó là yếu tố cản trở lớn đối với quá trình phát triển
Những xã hội có sự bat bình đẳng giới lớn và kéo dài thường tạo ra những hệ luy không nhỏ đó là: nghèo đói, bệnh tật và những nỗi cực khô khác và đặc biệt gay ra su không hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực trong xã hội
Trang 6Trên thực tế tinh trạng bất bình đăng giới trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội (đặc biệt lĩnh vực lao động — việc làm) xảy ra ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Nguyên nhân của tình trạng này không chỉ phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng từ những tư tưởng định kiến giới trọng nam khinh nữ trong xã hội, quan điểm văn hóa truyền thống rnà còn phụ thuộc vào nỗ lực của nhà nước trong việc cải thiện sự bất bình đẳng giới Điều đó dẫn đến sự hạn chế trong các cơ hội dé phụ nữ tiếp cận nền giáo dục va đảo tạo, việc lựa chọn ngành nghề, cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn Sự phần bổ nam nữ lao động trong các ngành nghề khác nhau và sự sắp xếp lao động và vị trí công việc trong cùng rnột ngành nghề lĩnh vực cũng có những khác biệt rõ rệt Ngoài ra, phụ nữ cũng
co ít cơ hội tiếp cận hơn đối với các dịch vụ cũng như nguồn lực cơ bản khác như nước sạch, giao thông và thị trường, nguồn vốn , điều này cũng có ảnh hưởng nhất định đến việc cải thiện tình trạng và vị thế kinh tế của họ
Tinh trang bat bình đăng giới trong lao động - việc làm của Việt nam hiện nay, đặc biệt là giữa các thành viên trong gia đình cũng không năm ngoài tình trạng chung của thé giới Tuy nhiên, sự bất bình đẳng giới trong lao động - việc làm ở nước ta khá đặc thù, chủ yếu xuất phát từ các quan niệm và định kiến tổn tại trong xã hội và các quan điểm truyền thống Đó là những quan niệm và định kiến xã hội phong kiến tồn tại từ hàng ngàn năm trước về địa vị, giá trị của giới
nữ trong gia đình cũng như xã hội mà không dễ dàng thay đổi Theo đó, nam giới, người đàn ông trong gia đình có quyền tham gia công việc ngoài xã hội, thực hiện chức năng sản xuất, gánh vác trách nhiệm và quản lý xã hội, còn phụ
nữ trông nom việc nhà, con cái Nam giới có toàn quyền chỉ huy định đoạt mọi việc lớn trong gia đình, nữ giới thừa hành, phục vụ chồng con Người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới, không có bất kỳ quyền định đoạt gì kế cả đối với bản thân Điều đó thể hiện sự đề cao tuyệt đối giá trị của nam giới đồng thời phủ nhận hoàn toàn giả trị nữ giới
Trang 73, Nội dung bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình trong lao động và tham gia vào thị trường lao động
Ta có thê tìm hiểu nội dung bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình trong lao động và tham gia vào thị trường lao động dựa vào các quy định tại
Luật bình đẳng giới
Về vấn đề bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình, Điều 18 Luật bình đẳng giới quy định:
“1 Vợ, chẳng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình
2 Vợ, chẳng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chông và quyết định các nguồn lực trong gia đình
3 Vợ, chẳng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật
4 Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo duc va tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phái triển
5 Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.”
Từ quy định này có thé thấy, giữa các thành viên trong gia đình, giữa vợ chồng, giữa con trai và con gái phải đảm bảo vấn đề bình đẳng giới trong các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực lao động
- Vợ chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ lao đồng và tham gia vào thị trường lao động, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tải sản chung và
sử dụng tài sản đó phục vụ quá trình lao động và tham gia vào thị trường lao động
Trang 8- Giữa con trai và con gái trong gia đình phải được đảm bảo điều kiện như nhau trong lao động và tham gia vào thị trường lao động, được tạo điều kiện như nhau
dé hoe tap, trau dồi kiến thức và các kĩ năng để có thể tham gia vào thị trường lao động
- Ngoài ra, làm các công việc trong gia đình cũng là lao động, các thành viên nam, nữ trong gia đình có nghĩa vụ chia sẻ, giúp đỡ nhau làm công việc của gia đình
Để đảm bảo bình đẳng giữa các thành viên trong gia đỉnh trong lao động và
tham gia thị trường lao động Trước tiên cần phải đảm bảo được bình đẳng giữa
nam và nữ trong lao động và tham gia thị trường lao động
Về vấn đề bình đăng giới trong lao động và tham gia thị trường lao động Điều
13 Luật bình đẳng giới quy định:
“1 Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình dang tai nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điểu kiện lao động và các điều kiện làm việc khác
2 Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghệ có tiêu chuẩn chức danh
3 Các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động bao gôm: 4) Quy định tỷ lệ nam, „ữ được tuyển dụng lao động;
b) Đào tạo, béi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;
c) Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho lao động nữ làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại.”
Về vấn đề bình đẳng giới trong lao động và tham gia thị trường lao động, ta có thêm tham khảo thêm quan điểm tại công ước CEDAW, Điều 13 Công ước quy định: “Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xóa bé phan biệt đổi xứ với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm đảm bảo
Trang 9những quyên như nhau trên cơ sở bình dang nam nữ, đặc biệt làa Quyển làm việc là quyền không thể chối bỏ của mọi con người;
b Quyền hưởng các cơ hội có việc làm như nhau, bao gồm cả việc áp dung những tiêu chuẩn như nhau trong tuyển dụng lao động;
c Quyên tự do lựa chọn ngành nghệ và việc làm, quyên được thăng tiễn, bảo hộ lao động, hưởng các phúc lợi và phương tiện làm việc và quyền được theo học những chương trình dạy nghề và bồ túc nghiệp vụ, kế cả các khoá truyền nghệ, đào tạo nghiệp vụ nâng cao và định ky;
d Quyền được hưởng thù lao như nhau, kế cả phúc lợi, được đối xử như nhau với công việc có giá trị ngang nhau cũng như được đỗi xử như nhau trong đánh giả chất lượng công việc;
e Quyên được hưởng bảo hiểm xã hội, đặc biệt trong các trường hợp hưu trí, thất nghiệp, đau Ốm, tàn tật, tuổi già và các tinh trang mat kha nang lao động khác, cũng như quyền được nghỉ phép có hưởng lương;
£ Quyền được bảo vệ sức khoẻ và bảo đảm an toàn lao động, kế cả bảo vệ chức năng sinh sản
2 Với mục đích ngăn chặn sự phân biệt đối xử với phụ nữ vì lý do hôn nhân hay sinh đẻ, bảo đảm cho phụ nữ thực sự có quyên làm việc, các nước tham gia Công ước phải áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm:
a Cẩm và trừng phạt hành vi sa thải phụ nữ vì lý do có thai hoặc nghỉ đẻ hoặc phân biệt đối xử trong sa thải dựa vào tình trạng hôn nhân
b áp dụng chế độ nghỉ đê vẫn hưởng lương hoặc được hưởng các phúc lợi xã hội tương đương mà không bị mất việc làm cũ, mắt thâm niên hay các phụ cấp
xã hội;
c Khuyến khích việc cung cấp những dịch vụ hỗ trợ xã hội cẩn thiết dé tao diéu kiện cho các bậc cha mẹ có thể kết hợp nghĩa vụ gia đình với trách nhiệm công tác và tham gia sinh hoạt xã hội, đặc biệt đây mạnh việc thiết lập và phát triển
hệ thông nhà trẻ, trường mâu giáo;
Trang 10d Cé chế độ bảo vệ đặc biệt dành cho phụ nữ trong thời kỳ mang thai làm những loại công việc độc hại
3 Các biện pháp pháp luật liên quan tới những vấn đề nêu trong điều khoản này phải được đánh giá định kỳ trên cơ sở kiến thức khoa học- kỹ thuật và phải được sửa đổi, huỷ bỏ hoặc mở rộng nếu cân thiết.”
Bộ luật lao động cũng có quy định nhiều nội dung nhằm đảm bảo bình đẳng giới trong lao động và tham gia thị trường lao động Khoản 1 Điều 5 Bộ luật lao động quy định “Mọi người đều có quyên làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghệ nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối
xử về giới tính, dân tộc, thành phân xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo.” Ngoài ra xuất
phát từ đặc điểm giới tính của phụ nữ, Bộ luật lao động cũng đã dành hắn
chương X để quy định những nội dung riêng, đảm bảo quyền lợi cho lao động
nữ
Từ đây, có thé thấy nội dung bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình
trong tham vào thị trường lao động đã được pháp luật nước ta quy định khá đầy
đủ
HI, Thực trạng bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình trong lao động và tham gia thị trường lao động
1, Thực trạng bình đẳng giới giữa các thành viên trong gia đình lao động và thamg ai vào thị trường lao động
Đến nay, nước ta có thuận lợi cơ bản là đã tạo dựng được cơ sở pháp lý về lao động việc làm cho người lao động nói chung và cho lao động nữ nói riêng ngày càng được hoàn thiện, thê hiện qua các văn bản pháp lý đã được ban hành nhự Luật BHXH, Luật Dạy nghề, Công ước của ILO (Công ước 138 về tuôi tối thiểu
được đi làm việc, Công ước 182 về xoá bỏ hình thức lao động trẻ em tôi tệ nhất, Công ươc 144 về tham khảo ý kiến 3 bên), việc sửa đổi, bổ sung các chính sách công tác xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu cũng đã từng bước được hoàn thiện và tách biệt giới; Tiếp tục thực hiện các chính sách khuyến
10