1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi môn lịch sử lớp 9(vận dụng ở trường phổ thông DTNT THCS huyện cầu ngang, tỉnh trà vinh)

138 848 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhiệm vụ đó được xây dựng dựa trên các mục tiêu dạy học rõ ràng, định hướng đến các năng lực của học sinh như : năng lực tái hiện và tái tạo lại các biểu tượng lịch sử; năng lực phân

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Mạnh Hưởng Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn

là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Ngọc Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành của mình, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm cùng toàn thể các thầy, cô giáo khoa Lịch sử; các thầy, cô trong tổ bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy, tạo điều kiện, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Mạnh Hưởng, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, đóng góp ý kiến quý báu cho em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành thành luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo Trường Đại học Sư phạm Trà Vinh, Thư viện tỉnh Trà Vinh, Thư viện Huyện Cầu Ngang

Lời cuối cùng, em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn này Trà Vinh, ngày 25 tháng 6 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Ngọc Trang

Trang 5

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 6

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 16

8 Ý nghĩa của đề tài

9 Cấu trúc của đề tài

NỘI DUNG

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HƯỚNG

DẪN HỌC SINH ÔN LUYỆN VÀ LÀM BÀI THI HỌC SINH GIỎI

MÔN LỊCH SỬ LỚP 9 TRUNG HỌC CƠ SỞ

17

18

19

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài 19 1.1.2 Đặc điểm của kiến thức lịch sử và việc học tập lịch sử của học sinh

1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài

thi học sinh giỏi môn Lịch sử 9 Trung học cơ sở

31

1.2.1 Đặc điểm học sinh phổ thông DTNT THCS huyện Cầu Ngang, 33

Trang 7

tỉnh Trà Vinh

1.2.2 Thực tiễn việc hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học sinh

giỏi môn Lịch sử lớp 9 Trung học cơ sở tỉnh Trà Vinh

35

Chương 2.CÁC BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH ÔN

LUYỆN VÀ LÀM BÀI THI HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ LỚP

9 (VẬN DỤNG Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DTNT THCS HUYỆN

CẦU NGANG, TRÀ VINH )

42

2.1.1 Yêu cầu về năng lực và quá trình chuẩn bị của giáo viên 42 2.1.2 Yêu cầu về xác định nội dung kiến thức khi hướng dẫn học sinh 44 2.1.3 Yêu cầu về phương pháp, kĩ thuật khi hướng dẫn học sinh 46

2.2 Nội dung kiến thức cần hướng dẫn học sinh ôn luyện trong kì thi

chọn học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9 của tỉnh Trà Vinh

46

2.3 Các biện pháp hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học

sinh giỏi môn Lịch sử 9 Trường THCS tỉnh Trà Vinh

49

2.3.1 Hướng dẫn học sinh phương pháp học tập, ôn luyện trước kì thi

chọn học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9

động trực tiếp đến lịch sử Việt Nam ở cùng thời kì

2.3.2 Hướng dẫn học sinh phương pháp làm bài trong kì thi chọn học

sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9

68

79

Trang 8

2.3.2.1 Xác định cấu trúc, yêu cầu của đề thi chọn học sinh giỏi môn

Lịch sử lớp 9

2.3.2.2 Phương pháp trả lời các dạng câu hỏi thường gặp trong đề thi

2.4 Kiểm chứng sư phạm về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn

Lịch sử lớp 9 ở trường phổ thông DTNT THCS huyện Cầu Ngang,

tỉnh Trà Vinh

79

81

89

2.4.2 Đối tượng, địa bàn và giáo viên thực nghiệm 89

2.4.4 Kết quả kì thi chọn học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước luôn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục hướng tới: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, có sức khỏe và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [38;8]

Ở trường phổ thông, mỗi môn học đều góp phần thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục mà Đảng đề ra Trong đó môn Lịch sử với tư cách là một môn độc lập, có chức năng, vị trí, ý nghĩa quan trọng với đặc trưng có ưu thế và

sở trường trong giáo dục thế hệ trẻ Lịch sử không chỉ là quá khứ mà còn là kết tinh giá trị các thế hệ trước để lại và thế hệ sau cần tiếp nối và phát huy Bộ môn Lịch sử cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức cơ bản về lịch sử dân tộc và lịch

sử thế giới với các sự kiện cụ thể nhằm dựng lại cho học sinh bức tranh quá khứ

xã hội loài người đã xảy ra Môn Lịch sử có tác dụng lớn trong việc phát triển tư duy của học sinh, đặc biệt là tư duy độc lập, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức Bản thân kiến thức lịch sử tự thân đã mang trong mình tính giáo dục cao cho học sinh về phẩm chất đạo đức, tư tưởng, tình cảm Do vậy, bộ môn Lịch sử

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục truyền thống dân tộc, tinh thần nhân văn– những giá trị dễ bị xói mòn trong cuộc sống hiện đại

Chất lượng bộ môn Lịch sử được đánh giá không phải bằng việc ghi nhớ nhiều sự kiện mà cần hiểu đúng lịch sử Như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng viết: “Lịch sử đâu phải là một chuổi sự kiện để người viết sử ghi lại, rồi người giảng sử đọc lại, người học sử học thuộc lòng” Điều quan trọng là qua học tập, “chúng ta thấyđược cái gì qua các thời đại lịch sử, và từ đó chúng ta rút

Trang 10

ra được kết luận gì, bài học gì C.Mác - một nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin đã vũ trang cho chúng ta một phương pháp luận đúng đắn để nghiên cứu lịch sử, để rút ra những kết luận có ý nghĩa quan trọng thiết thực” Đây chính là

cơ sở để những người quan tâm đến sử học và những thầy cô giáo giảng dạy môn lịch sử cần nhận thức đúng, sâu sắc, ý nghĩa, vị trí của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông và tìm ra những phương pháp để nâng cao chất lượng bộ môn, thu hút được nhiều học sinh tham thích học lịch sử và học giỏi lịch sử [33;5-6 ] Môn Lịch sử có tầm quan trọng như vậy nhưng thực tiễn việc dạy và học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước và đào tạo thế hệ trẻ Đa phần học sinh không thích học lịch sử, chất lượng bộ môn thấp, điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như : quan niệm chưa đúng về bộ môn (coi LS là môn phụ), những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, chương trình và sách giáo khoa còn nặng, … trong đó nguyên nhân quan trọng là do chậm đổi mới cách dạy và cách học của giáo viên – học sinh, nặng về truyền thụ kiến thức, chưa hướng vào hình thành và phát

triển năng lực cho học sinh

Từ thực tiễn trên, để nâng cao chất lượng dạy – học lịch sử đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ (về chương trình, nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, thi cử), trong đó đổi mới phương pháp dạy – học phải được coi trọng hàng đầu, vì mọi sự đổi mới đều thông qua hai đối tượng giáo viên – người dạy và học sinh – người học trong quá trình dạy – học

Bên cạnh thực tiễn học sinh không thích học lịch sử như đã nêu ở trên thì vẫn có nhiều học sinh các trường phổ thông yêu thích học tập lịch sử, hàng năm

có nhiều em tham gia thi học sinh giỏi đạt kết quả cao Trong những năm qua, học sinh trường phổ thông DTNT THCS huyện cầu ngang, tỉnh Trà vinh có nhiều học sinh yêu thích học tập lịch sử, nhiều em đạt kết quả cao, tham gia đội tuyển học sinh giỏi Tuy nhiên, chất lượng thi học sinh giỏi thực sự chưa cao do giáo viên dạy nặng về truyền thụ kiến thức, chưa hướng dẫn học sinh phương

Trang 11

pháp học tập, cách thức tự ôn luyện làm chủ kiến thức, phát triển năng lực học tập Do đó để nâng cao hiệu quả thì cần đổi mới phương pháp hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi là hết sức cần thiết

Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn

đề tài: Hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi môn Lịch

sử lớp 9(Vận dụng ở trường phổ thông DTNT THCS huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh), làm đề tài luận văn Thạc sĩ, chuyên nghành lí luận và phương

pháp dạy học môn Lịch sử ( theo chương trình ứng dụng), mã số 60.14.01.11

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Việc hướng dẫn học sinh phương pháp ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi nói chung, môn Lịch sử lớp 9 nói riêng là một vấn đề lớn Vì thế, để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng tôi tiếp cận lịch sử nghiên cứu vấn đề gồm các nhóm sau:

2.1 Tài liệu về tâm lí học và giáo dục học nói chung

+ Tác giả I.A Ilinna trong cuốn “Giáo dục học”, tập 2 (Nxb Giáo dục Hà

Nội, năm 1973) lại nhấn mạnh vai trò của việc lĩnh hội toàn diện kiến thức và đề

ra một số phương pháp giúp HS nắm vững kiến thức như sử dụng phương pháp

Trang 12

làm việc với SGK, luyện tập, ôn tập…Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh phương pháp phát huy tính tích cực là một yếu tố quan trọng giúp HS hứng thú

và lĩnh hội kiến thức hiệu quả

+ I.F Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?” (Nxb Giáo dục, năm 1979) đã nhấn mạnh đến tính toàn diện của

nội dung dạy học ở nhà trường phổ thông Bên cạnh đó, ông còn cho rằng vận dụng dạy học nêu vấn đề có tác dụng lớn đến phát triển tư duy và quá trình lĩnh hội kiến thức của HS Tác giả khẳng định, để tổ chức dạy học hiệu quả, nhiệm

vụ trọng tâm là GV phải tạo điều kiện và làm cho người học chủ động, tích cực tham gia vào quá trình lĩnh hội kiến thức

+ Ở một khía cạnh khác trong “Lý luận dạy học hiện đại” do trường ĐHSP

Hà Nội và ĐH Potsdam (Cộng hòa Liên bang Đức) phối hợp xuất bản năm 2009

của Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường đã đưa ra một số vấn đề về đổi mới

phương pháp dạy học, đề cập đến các thuyết học tập như thuyết hành vi, thuyết

nhận thức và thuyết kiến tạo dựa trên cơ sở tâm lý học Tác giả nhấn mạnh “học tập là quá trình xử lý thông tin, trung tâm của quá trình nhận thức là các hoạt động trí tuệ như: xác định, phân tích và hệ thống hóa các sự kiện và các hiện tượng, nhớ lại những kiến thức đã học, giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới” [13; 39] Vậy để có thể xử lý các thông tin thu nhận

được HS cần phải có các kỹ năng tương ứng; ở thuyết nhận thức, các tác giả nhấn mạnh đến kỹ năng nhận thức của học sinh một cách tích cực

+ Thomas Armstrong với tác phẩm “Đa trí tuệ trong lớp học” gồm 16

chương, trong đó ông đã giành hẳn chương 12 để nói về đa trí tuệ và các kỹ năng nhận thức như: ghi nhớ, kỹ năng giải quyết vấn đề, và đặc biệt nhấn mạnh đến

thang mức độ nhận thức phức tạp của Bloom đó là: biết, hiểu, ứng dụng, phân

tích, tổng hợp và đánh giá

+ Robert J.Marzano, Debra J.Pickering và Jane E.Pollock với “Các phương pháp dạy học hiệu quả” trên cơ sở tổng hợp các công trình nghiên cứu thực tế

Trang 13

giảng dạy và tổng hợp lý thuyết đã giúp giáo viên có thể rèn các kỹ năng cần thiết cho HS như: kỹ năng nhận ra sự giống và khác nhau, kỹ năng tóm tắt - ghi

ý chính, kỹ năng làm bài tập về nhà, kỹ năng thực hành, kỹ năng làm việc nhóm Đồng thời, GV cũng cần ghi nhận và khích lệ các em trong quá trình học tập Như vậy, đây cũng là một trong những biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

+ Trong cuốn “Giáo dục học”, tập1(Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 1983),

N.V.SaVin đề cập đến nội dung dạy học và các hình thức tổ chức dạy học Theo

tác giả, “Nội dung giáo dục phải thực sự là toàn diện Mỗi một chương phải là mức độ trọn vẹn trong hệ thống các tri thức về môn học” [46; 45] Khi đề cập tới

các hình thức tổ chức dạy học, tác giả cho rằng việc tổ chức các hoạt động học tập ở trên lớp dưới sự điều khiển, hướng dẫn, tổng kết, đánh giá của GV có tác dụng phát huy tính tích cực, sự sáng tạo của HS trong việc lĩnh hội toàn diện tri thức

Mặc dù có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau nhưng các tác giả đều cho rằng để nâng cao chất lượng dạy học ngoài đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp còn phải chú ý đến HS nhất là quan tâm đến việc HS suy

nghĩ như thế nào? Tức HS phải có những kỹ năng cơ bản, trong đó nhận thức

tích cực là một trong những kỹ năng quan trọng

- Trong nước

+ Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học” đã nhấn mạnh những

phẩm chất quan trọng của hoạt động nhận thức tự giác, tính tích cực, tính độc lập

và tác dụng của chúng đối với kết quả học tập của HS Các tác giả còn chỉ ra rằng

“kiểm tra và đánh giá tri thức, rèn luyện kỹ năng và kỹ xảo của học sinh là một khâu quan trọng của quá trình dạy học ” [41; 258]

+ Thái Duy Tuyên trong các tác phẩm của mình như: “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại”, “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” (2008),

đã tập trung nghiên cứu các phương pháp dạy học hiện đại được sử dụng rộng rãi

Trang 14

trên thế giới như dạy học nêu vấn đề, dạy học tương tác, dạy học theo thuyết kiến tạo qua đó rèn cho HS kỹ năng nhận thức tích cực để giải quyết các vấn

đề mà nhu cầu nhận thức đặt ra

- Tài liệu viết về phương pháp hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi

nói chung

* Tài liệu nước ngoài

+ Cuốn phát triển kĩ năng học tập ( Improving your study skills ) của tác giả Conrad Lashley, (Cassell 1995 ) dạy cho học sinh cách sử dụng thời gian và nổ lực học tập hiệu quả nhất, bằng cách phát triển các kĩ thuật cơ bản, đơn giản để

tổ chức thời gian học, đọc, ghi chép, thu thập thông tin, viết báo cáo thuyết trình bài luận và chuẩn bị cho kì thi.[14]

+ M.B.Kôrôkoova, Stuđennhikin (1999 ) trong cuốn phương pháp dạy học lịch sử qua sơ đồ, bảng biểu và hình vẽ cho rằng : việc tổ chức các hoạt động tự học, tự nghiên cứu đòi hỏi giáo viên cần phân tích ( sau đó là phân hóa ) năng lực của học sinh, cấu trúc nội dung và xây dựng nhiệm vụ phân hóa bằng cách “ giao nhiệm vụ có cùng nội dung như nhau nhưng có độ phức tạp khác nhau cho học sinh” Các nhiệm vụ đó được xây dựng dựa trên các mục tiêu dạy học rõ ràng, định hướng đến các năng lực của học sinh như : năng lực tái hiện và tái tạo lại các biểu tượng lịch sử; năng lực phân tích; năng lực tư duy logic, tư duy niên đại với các nguồn tư liệu lịch sử; năng lực sơ đồ hóa; năng lực đánh giá sự kiện, hiện tượng lịch sử…[40]

+ Geoff Petty (2004) trong cuốn dạy học ngày nay đề xuất một quy trình dạy học sinh cách nhớ những kiến thức đã học như : đọc lại bài đã học hoặc sơ

đồ hóa nội dung kiến thức; mở lại sách vở và kiểm tra lại những gì đã học Tác giả cũng cho rằng các kiểu sơ đồ ( sơ đồ mạng- Spider map, sơ đồ khái niệm- Concept map, sơ đồ tư duy của Tony Buzan- Tony Buzan‟s mind map ) rất hữu ích trong việc trình bày thông tin dưới dạng hình ảnh và dễ dàng cho việc ghi nhớ kiến thức [17]

Trang 15

+ Robert J.Marzano - Debra J.Pickering- Jane E Pollock, trong cuốn các phương pháp dạy học hiệu quả [47], trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm giảng dạy

và nghiên cứu lí thuyết đã giới thiệu các phương pháp dạy học đem lại hiệu quả như : nhận ra sự giống và khác nhau, tóm tắt ghi ý chính, phương pháp khích lệ học tập và ghi nhận những cố gắng, bài tập về nhà và thực hành…

* Tài liệu trong nước

Một trong những phương pháp ôn luyện và làm bài thi hiệu quả đó chính là phương pháp tự học Vấn đề tự học và phát triển kĩ năng tự học cho học sinh cũng được nhiều nhà giáo dục quan tâm

+ Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Trong học tập phải “ lấy tự học làm cốt‟‟; phải xác định rõ mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn, học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời; phải có kế hoạch sắp xếp thời gian học tập; phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi trở ngại; phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh; mọi phương tiện, mọi hình thức

để tự học; học đến đâu, ra sức luyện tập, thực hành đến đó; tự học phải phát huy tính năng động, độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng [2; 10]

+ Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, “ tự học là tự mình động não, suy nghĩ,

sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp… ) và cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan ( như trung thực, khách quan, có chí cầu tiến, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì , nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến một lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”[50;621]

Ngoài ra, chúng tôi tham khảo thông tin từ một số địa chỉ tìm kiếm trên internet như: http://truongvietanh.com; http://thanhnien.vn; http://nhatvietedu.vn

; http://thayquocvuong.com

2.2 Tài liệu về lí luận và phương pháp dạy học môn Lịch sử

- Trên thế giới

Trang 16

+ Trong Cuốn“Chuẩn bị bài học lịch sử như thế nào?” của Đai-ri, đã nhấn

mạnh: để phát huy tư duy độc lập và nhận thức tích cực của HS cần xây dựng và

sử dụng hệ thống câu hỏi trong quá trình dạy học Qua việc giải đáp câu hỏi cũng chính là rèn cho các em những kỹ năng cơ bản của nhận thức Những lập luận của Đairi giúp GV lịch sử hiểu rõ cách sử dụng câu hỏi phù hợp với nhận thức học sinh Ông chú ý đến dạy học “nêu vấn đề” là cách rèn cho học sinh kỹ năng nhận thức tích cực một cách tốt nhất

+ I.F.Kharlamop trong“Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào”(1979), Nxb Giáo dục, Hà Nội Ngay trong phần lời nói đầu:“Một trong những vấn đề căn bản mà nhà trường Xô viết hiện đang lo lắng và giải quyết là việc phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học” [27; 5] Bên cạnh đó, tác giả đã khẳng định: dạy học là quá trình lĩnh

hội một cách vững chắc kiến thức của HS, song việc nhận thức của học sinh

không phải do GV hình thành mà là quá trình tự lĩnh hội của các em“Quá trình nắm kiến thức mới không thể hình thành bằng cách thuộc lòng các quy tắc, các kết luận, khái quát hóa nó phải được xác định trên cơ sở của việc cải tiến công tắc tự lập của HS, của việc phân tích tính logic sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nền tảng cho việc hình thành các khái niệm khoa học” “Học sinh chỉ thực sự nắm vững cái mà bản thân giành được bằng lao động của chính mình [27;17] Từ đó ông đề ra những yêu cầu về quá trình lĩnh hội kiến thức của HS: “Học tập là một quá trình nhận thức tích cực của học sinh, học sinh muốn nắm kiến thức một cách sâu sắc thì phải thực hiện đầy đủ một chu trình trí tuệ, bao gồm: những hành động tri giác tài liệu nghiên cứu (trực tiếp và gián tiếp), thông hiểu (hiểu), ghi nhớ (ghi nhận ban đầu, ghi nhớ, củng cố thường xuyên và ôn tập tập tiếp theo); luyện tập kỹ năng, kỹ xảo bằng những bài tập luyện tập và cuối cùng là những hoạt động khái quát hóa và hệ thống hóa kiến thức nhằm xác lập mối quan hệ trong từng đề tài, giữa các đề tài và các môn học” [27;29] Như vậy,

thông qua việc thường xuyên luyện tập, HS sẽ được rèn luyện các kỹ năng nói

Trang 17

trên

+ Tác giả I.a.Lecne với “Phát triển tư duy của học sinh trong dạy học lịch sử”

đã đưa ra yêu cầu đối với giáo viên trong dạy học lịch sử phải tạo ra “tình huống có vấn đề nhằm nâng cao kỹ năng nhận thức tích cực để giải quyết tốt các vấn đề” trong quá trình dạy học Theo tác giả, thông qua các biện pháp này sẽ kích thích năng lực sáng tạo, nhận thức tích cực của học sinh Do đó, sẽ nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử nói riêng và quá trình dạy học nói chung

+ Cuốn“Các phương pháp dạy học hiệu quả”của các tác giả Robert J

Marzanx, Debru J Pickering, Jane E Pollock gồm 13 chương đưa ra mục đích phát huy cao độ khả năng học tập của học sinh, nâng cao chất lƣợng giảng dạy của giáo viên đứng lớp Tác giả nêu ra 9 phương pháp dạy học có hiệu quả lớn đối với kết quả học tập của học sinh Trên cơ sở đó, mỗi phương pháp dạy học chỉ cho GV những cách làm cụ thể để thực hiện công tác giảng dạy hiệu quả nhất

Cuốn “Dạy học nêu vấn đề” của I.Ia.Lecne, Phan Tất Đắc dịch, NXB Giáo

dục, năm 1977 có đề cập tới vai trò của bộ môn Lịch sử và việc hình thành kiến thức cho HS thông qua các bài học lịch sử trên lớp Lecne đề cập cả đến việc học lịch sử không chỉ cần biết, hiểu mà phải vận dụng kiến thức đã học để phục vụ được trong học tập và hơn nữa là trong cuộc sống Tác giả còn chỉ ra tác dụng, phạm vi áp dụng và phương pháp thực hiện của dạy học nêu vấn đề Theo đó, dạy học nêu vấn đề đòi hỏi phải lĩnh hội được những nét, những đặc trưng của kinh nghiệm hoạt động sáng tạo các cơ sở tri thức khoa học hiện đại, các phương pháp nhận thức khoa học hiện đại Nắm được phong cách tư duy khoa học hiện đại là một hệ quả cực kì quan trọng của dạy học nêu vấn đề, mà bất cứ bài dạy nào cũng cần đến nó dù bạn áp dụng phương pháp hay kĩ thuật gì đi chăng nữa Bởi muốn dạy được ta phải đặt người học vào một tâm thế muốn biết, muốn học

và buộc phải suy nghĩ

Trang 18

+ Những tài liệu nước ngoài trên đây đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung của dạy học và chú ý nghiên cứu, phát triển các phương pháp dạy học nói chung, có tính định hướng và tham khảo cho đề tài

các tác giả Phan Ngọc Liên (cb), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi – 2002;

“Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử” của các tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường – 2002; “Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của Phan Ngọc Liên (cb) – 2008; “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử” của Nguyễn Thị Côi (cb) – 1995; “Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS” của Trịnh Đình Tùng (cb) – 2005; “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của Nguyễn Thị Côi – 2006… + Ở giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” do Phan Ngọc Liên, Trần

Văn Trị (chủ biên), (Nxb Giáo dục, Hà Nội, năm 1992, được tái bản, có sửa chữa, bổ sung vào các năm 1998, 1999, 2000, 2001…), các tác giả chỉ ra con đường hình thành kiến thức lịch sử cho HS phải đi từ cung cấp sự kiện, tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút ra bài học lịch sử

+ Giáo trình “Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học

cơ sở” (Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2005), do Trịnh Đình Tùng (cb), các tác

giả đã phân loại và trình bày hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử theo ba nhóm, trong đó nhấn mạnh ở mỗi phương pháp cần có sự thống nhất, tác động qua lại giữa hoạt động tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của GV với hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

+ Tác phẩm “Áp dụng dạy và học tích cực trong môn lịch sử” – dự án Việt

Trang 19

– Bỉ do Trần Bá Hoành, Vũ Ngọc Anh, Phan Ngọc Liên (biên soạn) đã đề cập về

lý luận cơ bản dạy và học tích cực trong dạy học nói chung và với bộ môn Lịch

sử nói riêng Đặc biệt, tác phẩm đã đưa ra 4 phương pháp dạy học tích cực là: phương pháp dạy – học đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy – học trực quan, phương pháp dạy – học vấn đáp, phương pháp dạy – học vĩ mô Chính qua các phương pháp trên năng lực nhận thức và kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực

hành của HS được tăng lên rõ rệt: “học sinh được đặt vào tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kỹ năng mới, vừa nắm được phương pháp “làm ra” kiến thức, kỹ năng đó và phát huy tiềm năng sáng tạo” [18;15]

+ Cuốn“ Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả bài học lịch sử ở trường phổ thông ” của Nguyễn Thị Côi khẳng định: điều quan trọng trong giờ học là GV phải hướng dẫn cho HS nhận thức được bản chất các sự kiện, nhân vật lịch sử, có thái độ, tình cảm đúng đắn với con người trong quá khứ, định hướng cho HS kĩ năng đánh giá đúng đắn về sự kiện cũng như nhân vật lịch sử [11; 23]

+ Ngoài ra, vấn đề kỹ năng, nhận thức tích cực còn được bàn đến nhiều trong

các bài viết ở các báo và tạp chí chuyên ngành như: “Hình thành kỹ năng cho học sinh trong dạy học lịch sử cấp II ” của tác giả Nguyễn Cao Lũy đăng trên

Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 10/1986; Phạm Văn Đồng trong bài: “ Một phương pháp cực kỳ quý báu” đăng trên báo Nhân dân ngày 18/11/1994 viết: PPDH mà các đồng chí nêu ra, nói gọn lại là lấy người học làm trung tâm Người

ta phải đặt ra những câu hỏi, đưa ra câu chuyện có tính hấp dẫn, khêu gợi, đòi hỏi người nghe, người học, dẫu là người suy nghĩ kém cỏi cũng phải chịu khó suy nghĩ, tìm tòi PPDH tích cực này có khả năng phát triển được những năng lực đang ngủ yên ở mỗi con người

+ Tác giả Trần Quốc Tuấn với “Bài tập lịch sử trong việc tích cực hóa hoạt

Trang 20

động nhận thức của học sinh” – Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 2/1998; tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng với bài viết “Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử ở trường phổ thông hiện nay” đăng trên Tạp chí Dạy và học ngày nay – số 5/2012; bài “Đặc trưng của việc rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” đăng trên tạp chí Giáo dục số

304 (2/2012) Đây chính là những gợi mở quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài này

- Tài liệu viết về phương pháp hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi môn Lịch sử

+ Tháng 2 năm 1999 Vụ Trung học phổ thông ban hành tài liệu tập huấn giảng dạy môn lịch sử dành cho cán bộ chỉ đạo và giáo viên chuẩn bị cho học sinh tham gia kì thi quốc gia Tác giả Phan Ngọc Liên có bài viết về „„Một số vấn đề phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử ở trường THPT” đề cập đến hai điểm : cần nhận thức đúng về học tập lịch sử; xác định phương pháp học tập giỏi môn Lịch sử, với các biện pháp, con đường, phương tiện có hiệu quả cao

+ Năm 1999, Hội giáo dục lịch sử (thuộc hội khoa học lịch sử Việt Nam- Khoa Lịch sử trường Đại học sư phạm Hà Nội) đã cho ra mắt bạn đọc tác phẩm (tập thể tác giả: Nguyễn Thị Côi, Trần Bá Đệ, Nguyễn Tiến Hỷ, Đặng Thanh Toán,Tịnh Tùng) „„ Hướng dẫn ôn luyện và làm bài thi môn lịch sử ” Cuốn sách giúp học sinh học tập, ôn thi môn lịch sử đạt kết quả tốt nhất nhờ tính chủ động, sáng tạo và những phương pháp học tập thích hợp

+ Năm 2003, Hội giáo dục Lịch sử, khoa Lịch sử trường Đại học sư phạm

Hà Nội tiếp tục cho tái bản lần thứ 3,quyển sách: „„Hướng dẫn thi đại học- cao đẳng môn Lịch sử”(Trần Bá Đệ chủ biên) Trong lời nói đầu, các tác giả đã

khẳng định „„xuất phát từ nhận thức đúng về bộ môn, từ yêu cầu xác định những kiến thức cơ bản của các khảo trình Lịch sử Việt Nam và Lịch sử thế giới, lựa chọn phương pháp học tập, ôn và làm bài có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu học

Trang 21

tập và ôn thi ( tốt nghiệp, thi học sinh giỏi quốc gia, tuyển sinh các trường Đại học, cao đẳng) Chúng tôi không đặt cho mình nhiệm vụ hướng dẫn học sinh nắm chắc các đề thi cụ thể, mà trang bị cho các em những kiến thức và phương pháp cơ bản để ứng phó với mọi tình huống có vấn đề trong các kì thi ” [15; 3]

+ Trong bài “Tạo hứng thú tự học bộ môn Lịch sử cho học sinh” [1;36-37],

trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc tạo hứng thú tự học, tác giả Nguyễn Thị Thế Bình đưa ra một số hình thức tự học, nhằm nâng cao khả năng lĩnh hội kiến thức cho HS

+ Phương pháp ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi cũng được đề cập một cách cơ bản trong các quyển sách như: Bồi dưỡng HSG môn lịch sử THCS và thi vào lớp 10 chuyên sử THPT của các tác giả: Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Hương - Trần Huy Đoàn- Trần Thùy Chi - Nguyễn Thị Thấm [52]; bồi dưỡng HSG môn lịch sử THPT của các tác giả Trịnh Đình Tùng (chủ biên), Trần Huy Đoàn, Nguyễn Thị Hương [53]; hướng dẫn ôn luyện thi trung học phổ thông quốc gia năm 2016 của các tác giả Trịnh Đình Tùng (chủ biên), Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Văn Ninh, Lê Thị Thu [54]; các loại bài thi học sinh giỏi môn lịch sử do Phan Ngọc Liên chủ biên [33]; bồi dưỡng năng lực thi trung học phổ thông quốc gia qua đề tham khảo môn Lịch sử của tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng

- Nguyễn Văn Ninh[14]; bài viết Hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi THPT quốc gia môn lịch sử của tác giả Nguyễn Mạnh Hưởng- bài viết này được đăng trên tập chí giáo dục, tháng 5/ 2016- Bài viết này giúp cho giáo viên, học sinh xác định đúng mạch nội dung kiến thức (bám sát chương trình quy định) để

ôn tập cũng như phương pháp, kĩ năng ôn luyện và làm bài thi để đạt kết quả cao

Chúng tôi cũng tham khảo thêm một số sáng kiến kinh nghiệm của GV đã ôn luyện đạt hiệu quả như: Huỳnh Tấn Châu “Giải pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử ” GV Trường THPT Lý Tự Trọng ; Trịnh Minh Chánh “Kinh nghiệm chọn và Bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT”- Hiệu

Trang 22

trưởng trường THPT chuyên Nguyễn Chí Thanh; Nghiêm Thị Huyền “Bốn kỹ năng không thể thiếu để học sinh giỏi lịch sử ”- giáo viên trường THPT chuyên Lam Sơn(Thanh Hóa); tạp chí Giáo dục, số 386; tạp chí Giáo dục tháng 5/2016, Tạp chí Giáo dục, số 388…

Ngoài ra, đề tài cũng tham khảo thông tin từ một số địa chỉ tìm kiếm trên internet như: tusach.thuvienkhoahoc.com,123doc.org,… Đây là nguồn tham khảo thêm của đề tài

2.3 Những tiếp thu của tác giả luận văn từ các tài liệu đã công bố và nội dung giải quyết tiếp theo của đề tài

- Những tiếp thu của tác giả luận văn

+ Các tác giả và công trình nghiên cứu đi trước hầu hết đã đề cập đến những vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học nói chung, đổi mới phương pháp dạy học lịch sử nói riêng Với những đề tài nghiên cứu tuy không giống nhau nhưng mục đích của các công trình nghiên cứu đều nhằm nâng cao hiệu quả dạy học nói chung, bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông nói riêng theo hướng phát triển năng lực người học

+ Thông qua những thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi

đã tiếp thu, học hỏi về mặt tư tưởng, định hướng lí luận chung khi áp dụng vào chuyên ngành phương pháp dạy học lịch sử Đặc biệt là những công trình nghiên cứu vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, những công trình đề cập đến việc hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi.Việc nghiên cứu, vận dụng các phương pháp ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi sẽ giúp học sinh có hứng thú hơn với môn học, nâng cao hiệu quả Tuy nhiên, hướng đi sâu vào đề tài chúng tôi nghiên cứu thì chưa có công trình nào Vì vậy, những công trình nghiên cứu, bài viết,… của các tác giả nói trên là những cơ sở quan trọng, nguồn tài liệu quý báu để chúng tôi đi sâu thực hiện đề tài này

- Nội dung giải quyết tiếp theo:

Trang 23

+ Làm sáng tỏ vai trò, ý nghĩa của việc hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi môn Lịch sử 9 ở trường Trung học cơ sở

+ Tìm ra được các biện pháp hiệu quả khi hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9

+ Vận dụng vào dạy đội tuyển HSG môn LS lớp 9 ở Trường phổ thông DTNT THCS huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh để kiểm chứng kết quả khi thực hiện đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình dạy – học lịch sử ở trường Phổ thông, thông qua hướng dẫn HS ôn luyện và làm bài thi HSG môn Lịch sử lớp

9 ở Trường phổ thông DTNT THCS huyện Cầu Ngang

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định rõ về mặt thời gian, nội dung lịch sử, không gian và phương pháp thực hiện:

+ Về thời gian và nội dung lịch sử: LSVN (lớp 8 và lớp 9) từ năm 1858 đến năm 2000 và LSTG từ năm 1945 đến năm 2000 (lớp 9)

+ Về không gian, địa bàn nghiên cứu: Học sinh lớp 9, trường phổ thông DTNT THCS huyện Cầu ngang, tỉnh Trà vinh

- Đề xuất các biện pháp hướng dẫn HS ôn luyện và làm bài thi HSG môn Lịch sử lớp 9 hiệu quả (Vận dụng vào dạy đội tuyển HSG môn LS lớp 9 ở trường phổ thông DTNT THCS huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh)

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

4.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ những lí luận và thực tiễn của việc hướng dẫn học sinh

phương pháp ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi môn Lịch sử, đề tài sẽ xác định những nội dung kiến thức cơ bản, cần thiết cho việc ôn luyện Đồng thời, tác giả cũng đề xuất các biện pháp hướng dẫn học sinh cách thức hiệu quả khi ôn luyện và bài thi học sinh giỏi môn Lịch sử 9, vận dụng trực tiếp vào dạy học ở trường phổ thông DTNT THCS huyện cầu ngang, tỉnh Trà vinh

Trang 24

- Xác định những nội dung kiến thức lịch sử cơ bản, cần thiết của lớp 8 (đối với phần Lịch sử Việt Nam) và lớp 9 để phục vụ cho việc hướng dẫn học sinh

ôn luyện, làm bài;

- Đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả việc hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi môn Lịch sử 9

- Kiểm chứng sư phạm qua việc bồi dưỡng học sinh môn Lịch sử 9 ở trường phổ thông DTNT THCS huyện cầu ngang, tỉnh Trà vinh trong năm học 2016 – 2017 và rút ra nhận xét

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận của đề tài dựa trên quan điểm, nhận thức của Chủ

nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, Nhà nước ta

về công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ nói chung, qua môn Lịch sử nói riêng

5.2 Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng 5 nhóm phương pháp nghiên cứu

chủ yếu sau:

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết : Nghiên cứu các văn bản, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và các tài liệu sách, báo, tạp chí… có

liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra, khảo sát qua bảng hỏi, phỏng vấn, trao đổi, dự giờ…

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia : Phỏng vấn, xin ý kiến các chuyên gia về lĩnh vực bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung, môn Lịch sử nói riêng

Trang 25

- Kiểm chứng sư phạm: Tổ chức dạy bồi dưỡng học sinh giỏi cho học sinh lớp

9 ở trường phổ thông DTNT THCS huyện Cầu ngang, tỉnh Trà vinh trong năm học 2016 – 2017

- Nhóm phương pháp toán học, thống kê: Xử lí, phân tích các số liệu liên quan đến điều tra, khảo sát và thực nghiệm sư phạm để phân tích, rút ra kết luận

6 Giả thuyết khoa học

Nếu việc hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi môn Lịch sử lớp 9 áp

dụng theo các biện pháp và yêu cầu của luận văn đề xuất thì sẽ góp phần vào

nâng cao chất lượng dạy – học cũng như kết quả thi học sinh giỏi cho học sinh lớp 9

7 Điểm mới và đóng góp của luận văn

- Đây là luận văn Thạc sỹ đầu tiên đi sâu vào đề xuất các biện pháp hướng dẫn

HS ôn luyện và làm bài thi HSG môn Lịch sử lớp 9

- Đề xuất được các biện pháp hiệu quả trong quá trình hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9 (qua kiểm chứng từ kết quả thu được của đội tuyển HSG môn Lịch sử lớp 9 ở Trường phổ thông DTNT THCS huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh do chính tác giả trực tiếp bồi dưỡng )

8 Ý nghĩa của đề tài

8.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài góp phần làm phong phú thêm lí luận và phương pháp dạy học bộ môn, nhất là biện pháp hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi HSG môn Lịch sử lớp 9 Đề tài này cũng giúp tác giả nâng cao trình độ nhận thức về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung, đặc biệt với đối tượng học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9

8.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Thực hiện đề tài này giúp tác giả từng bước vận dụng những kết quả nghiên cứu vào công tác giảng dạy lịch sử ở trường THCS, đặc biệt là việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9

Trang 26

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho nhiều giáo viên bộ môn đang công tác ở các trường phổ thông Sinh viên và học viên cao học cũng sẽ được tiếp cận nội dung giải quyết của đề tài này

9 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu; kết luận; tài liệu tham khảo và phụ lục; luận văn gồm 2 chương :

- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc hướng dẫn học sinh ôn luyện

và làm bài thi học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9 Trung học cơ sở

- Chương 2: Các biện pháp hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9(vận dụng ở trường phổ thông DTNT THCS huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh )

CHƯƠNG 1

Trang 27

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HƯỚNG DẪN HỌC SINH ÔN LUYỆN VÀ LÀM BÀI THI HỌC SINH GIỎI MÔN LỊCH SỬ

LỚP 9 TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Cơ cở lý luận và xuất phát của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài

Trong đề tài có các khái niệm quan trọng cần phải làm rõ gồm hướng dẫn, ôn luyện, hướng dẫn học sinh ôn luyện, học sinh giỏi và thi học sinh giỏi (môn Lịch sử)

* Hướng dẫn, ôn luyện, hướng dẫn học sinh ôn luyện

Theo Từ điển Tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1994,“ Hướng dẫn” là : chỉ bảo, dắt dẫn cho biết phương hướng, cách thức tiến hành một hoạt động nào đó [44; 458] Còn“ ôn luyện” là ôn lại, tập lại nhiều lần để nắm chắc, để thành thạo [44;730]

Như vậy qua cắt nghĩa trên ta có thể hiểu“hướng dẫn học sinh ôn luyện”

là “một khâu quan trọng trong quá trình dạy học Nó được thực hiện bởi hai đối tượng là giáo viên và học sinh Giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức quá trình

ôn luyện nhằm mục đích giúp học sinh củng cố lại kiến thức, kĩ năng cơ bản Còn học sinh cần chủ động ôn luyện kiến thức, kĩ năng để nâng cao nhận thức tri thức khoa học ”[ 52;7 ]

* Học sinh giỏi và thi học sinh giỏi (môn Lịch sử)

Học sinh giỏi lịch sử là những HS có năng lực nổi trội, có biểu hiện về khả năng hoàn thành xuất sắc các hoạt động về các lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, đặc biệt là có khả năng chuyên biệt trong học tập và nghiên cứu lịch sử Như vậy học sinh giỏi môn Lịch sử có kiến thức lịch sử cơ bản, vững vàng, sâu sắc và hệ thống, có năng lực tư duy khái quát và sáng tạo

Thi học sinh giỏi, theo Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử THPT do Trịnh Đình Tùng chủ biên, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam thì “ thi học sinh giỏi” là :

Trang 28

một dạng thi nhằm lựa chọn được những học sinh có năng lực và thành tích tốt trong học tập Nó thường được tổ chức bằng nhiều kỳ thi tuyển chọn từ cấp cơ

sở đến cấp cao hơn, với phạm vi càng đến vòng cao thì số lượng người tham gia

càng được tinh tuyển ít hơn [ 53;5]

1.1.2 Đặc điểm của kiến thức lịch sử và việc học tập lịch sử của học sinh lớp

9

- Những đặc điểm của kiến thức lịch sử

Mỗi môn học đều có đặc trưng riêng với những chức năng, nhiệm vụ cụ thể để góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của hệ thống giáo dục quốc dân Bộ môn LS

ở trường phổ thông với tư cách là một khoa học cũng mang những đặc trưng riêng của nó Khác với tri thức của nhiều bộ môn khoa học khác, tri thức LS có những đặc điểm rất riêng, đó là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính

thống nhất giữa“sử”và“luận” và tính tương đối

Thứ nhất, kiến thức lịch sử mang tính quá khứ Tất cả các sự kiện, hiện

tượng lịch sử nói chung, nội dung văn hoá nói riêng mà con người đang tìm hiểu

là chuyện đã xảy ra Bởi vậy, chúng ta không thể trực tiếp quan sát mà nhận thức thông qua nhiều nguồn tài liệu: tài liệu thành văn, hiện vật, di tích lịch sử, hay là những ghi chép, nhận thức của người đương thời Tuy vậy, chúng lại có độ xác thực khác nhau Điều này đòi hỏi GV phải xác minh tính chính xác của tài liệu trước khi tổ chức HS nghiên cứu, học tập Tuy vậy, dưới một góc độ khác, tính quá khứ của kiến thức lịch sử lại giúp GV bồi dưỡng, phát triển trí tưởng tượng của HS thông qua việc tri giác tài liệu và đồ dùng trực quan

Thứ hai, tính không lặp lại Lịch sử là một chuỗi hệ thống các sự kiện, hiện

tượng Song, nhìn chung chúng mang tính không lặp lại cả về không gian và thời gian Mỗi sự kiện chỉ xảy ra ở một không gian và thời gian nhất định Không có

sự kiện, hiện tượng lịch sử nào hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau

Đó chỉ là sự lặp lại trên cơ sở không lặp lại Vì vậy, khi tổ chức HS ôn luyện,

GV phải xem xét tính cụ thể về thời gian và địa điểm làm nảy sinh nó

Trang 29

Thứ ba, tính cụ thể Trong quá trình phát triển, lịch sử của mỗi quốc gia, dân

tộc đều có diện mạo khác nhau, do điều kiện riêng về tự nhiên, kinh tế, chính trị,

xã hội, con người, trình độ quy định Mặt khác, dù chịu tác động của quy luật chung nhưng họ có sự tiếp thu, thích ứng riêng và tạo ra tiến trình phát triển không hoàn toàn giống nhau Đặc điểm này đòi hỏi GV trong quá trình hướng dẫn HS ôn luyện phải cụ thể, sinh động Phải cụ thể, sinh động bao nhiêu lại càng hấp dẫn người học bấy nhiêu

Thứ tư, tính hệ thống Nội dung kiến thức lịch sử rất phong phú, đề cập đến tất

cả các lĩnh vực của đời sống Song, chúng không tồn tại riêng lẻ mà luôn liên quan chặt chẽ, chi phối, ảnh hưởng và quy định lẫn nhau Điều này đòi hỏi GV khi tổ chức HS lĩnh hội kiến thức văn hoá phải chú ý tới mối quan hệ giữa nội dung này với các lĩnh vực khác, để cung cấp cho người học tri thức lịch sử khoa học, mang tính thệ thống, hoàn chỉnh, tạo điều kiện cho các em nắm tính logic và bản chất của vấn đề

Thứ năm, tính thống nhất giữa “sử” và “luận” Lịch sử là một ngành của khoa

học xã hội Ghi chép của các nhà sử học đã để lại nguồn tư liệu phong phú, nhưng đôi khi chúng bị chi phối bởi quan điểm cá nhân, giai cấp Do vậy, khi trình bày một thành tựu văn hoá, GV phải đảm bảo sự thống nhất giữa trình bày

sự kiện với giải thích, bình luận Mọi giải thích, bình luận đều phải xuất phát từ

sự kiện lịch sử cụ thể, chính xác, đáng tin cậy; giải thích để làm sáng tỏ bản chất

sự kiện, hiện tượng đó

Thứ sáu, tính tương đối Bên cạnh sự chính xác, kiến thức lịch sử còn thể

hiện tính tương đối nếu xét dưới góc độ nào đó Điều này được biểu hiện ở một

số khía cạnh như: những số liệu lịch sử được trình bày trong SGK chỉ mang tính chất tương đói, gần đúng với thực tế; nhiều mốc thời gian cũng chỉ xác định là thuộc khoảng nào đó Vì vậy, GV không nên bắt HS nhớ quá chính xác ngày tháng hay số liệu

Trang 30

Xác định đúng và am hiểu những đặc điểm của kiến thức lịch sử sẽ giúp GV tìm ra các phương pháp ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi đạt hiệu quả

- Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 9

Lứa tuổi này được gọi là tuổi thiếu niên Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển tự nhiên rất quan trọng trong đời người Không qua giai đoạn này, con người không thể thoát ra khỏi tuổi trẻ để bước vào giai đoạn trưởng thành Lứa tuổi này được coi là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn

Để dạy giáo lý cho lứa tuổi này đạt hiệu qủa, chúng ta cần nắm bắt tâm lý của lứa tuổi này, hầu đưa ra những phương pháp giảng dạy thích ứng Đặc tính tâm lý chung của lứa tuổi này là duy ngã (quy hướng về mình), tình cảm và mơ mộng

- Việc học tập lịch sử của học sinh lớp 9

Đa số học sinh chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi mà giáo viên đặt ra, các em đã chuẩn bị bài mới ở nhà, trả lời các câu hỏi cuối mục trong bài cho nên khi học các em tiếp thu bài nhanh và nắm vững nội dung bài học

Đa số học sinh đều tích cực thảo luận nhóm và đã đưa lại hiệu quả cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức

Học sinh yếu kém đã nhiều cố gắng trong học và tích cực tham gia các hoạt động như thảo luận nhóm, đọc sách giáo khoa… các em đã mạnh dạn khi trả lời các câu hỏi hay ghi nhớ các sự kiện, nhân vật, một quá trình cách mạng trong việc chiếm lĩnh kiến thức của mình

Bên cạnh những ưu điểm thì cũng có nhiều mặt hạn chế như :

Học sinh thường trả lời câu hỏi giáo viên đặt ra thông qua việc nhìn sách giáo khoa và nhắc lại, chưa có sự độc lập tư duy Một số học sinh còn đọc nguyên văn sách giáo khoa để trả lời câu hỏi

Học sinh còn lười học và chưa có sự say mê môn học, một số ít học sinh không chuẩn bị bài mới ở nhà, không làm bài tập đầy đủ, trên lớp các em

Trang 31

thiếu tập trung suy nghĩ Cho nên việc ghi nhớ các sự kiện, hiện tượng, nhân vật Lịch sử còn yếu

Học sinh chỉ trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản (như trình bày), còn một số câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích, so sánh thì học sinh còn rất lúng túng khi trả lời hoặc trả lời mang tính chất chung chung

Một thực trạng nữa đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng dạy – học LS

là các em chưa biết cách học Phần lớn HS chỉ học thuộc lại những gì thầy cho ghi trên lớp, hoặc chi tiết hơn thì học trong SGK Với lượng kiến thức ngày càng tăng, các em phải mất rất nhiều thời gian để “nạp” vào đầu tất cả các sự kiện LS, nhân vật, các con số, của một bài học Điều đó dẫn đến tình trạng “học vẹt”, học mà không hiểu bản chất của vấn đề

1.1.3 Tiêu chí đánh giá chọn học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9 ở trường Trung học cơ sở nói chung, tỉnh Trà vinh nói riêng

Để trở thành HS giỏi môn LS, HS phải đáp ứng đủ các yếu tố: kiến thức;

kĩ năng - kĩ xảo và thái độ Qua đó hình thành, phát triển những năng lực chung và năng lực đặc thù của môn Lịch sử [ 22]

Cụ thể :

- Về kiến thức (Kiến thức là những hiểu biết mà HS thu nhận được từ sách

vở, từ học hỏi và từ kinh nghiệm của cuộc sống [22] ): Yêu cầu học sinh phải nhớ, nắm vững và hiểu rõ các kiến thức cơ bản của chương trình, sách giáo khoa Đó là nền tảng cơ bản vững vàng để tiếp cận các kiến thức sâu sắc hơn [52;9] Mức độ cần đạt được về kiến thức được xác định theo 4 mức độ : nhận biết, thông hiểu, vận dụng ở mức thấp, vận dụng ở mức cao[52;10]

- Về kĩ năng – kĩ xảo ( Kĩ năng là việc HS vận dụng bước đầu những kiến

thức đã thu lượm vào thực tế để tiến hành một hoạt động nào đó Kĩ xảo là

những kĩ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục, cho phép con người không phải tập trung nhiều ý thức vào công việc mình đang làm [ 22] )

Trang 32

Để trở thành HSG, HS cần có các kĩ năng cơ bản sau: [2 ;70- 76]

+ Kĩ năng tự học với SGK lịch sử

+ Kĩ năng tự học với tài liệu tham khảo

+ Kĩ năng kết hợp nghe giảng với tự ghi chép

+ Kĩ năng tư duy lịch sử

+ Kĩ năng trả lời câu hỏi và tự đặt câu hỏi

+ Kĩ năng ghi nhớ kiến thức lịch sử

+ Kĩ năng trình bày một vấn đề lịch sử

+ Kĩ năng tự ôn tập, củng cố kiến thức lịch sử

+ Kĩ năng khái quát quá kiến thức qua sơ đồ, đồ thị, biểu đồ, kĩ năng sử dụng các phương tiện trực quan hiện đại ( máy tính, mạng internet)

+ Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử

+ Kĩ năng làm bài thi : có kiến thức lịch sử mà không có kĩ năng làm bài thi lịch sử thì cũng không thể làm người khác hiểu được khả năng học tập của HS.Trình bày một bài thi LS đòi hỏi HS có kĩ năng lập dàn ý khái quát, kĩ năng chọn lọc kiến thức cơ bản; kĩ năng diễn đạt nội dung LS bằng cách hiểu

và ngôn ngữ riêng của mình với văn phong khoa học, ngắn gọn, logic, dễ, chữ viết đẹp, không vấy bẩn hay tẩy xoá

- Về thái độ [ 2;7]

+ Có tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lòng tự

hào dân tộc, có thái độ trân trọng đối với các di sản lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc;

+ Trân trọng nền văn hóa của các dân tộc trên thế giới,có tinh thần quốc tế chân chính, vì hòa bình tiến bộ xã hội;

+ Có niềm tin về sự phát triển từ thấp đễn cao, từ lạc hậu đến văn minh của lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc

Trang 33

+ Có những phẩm chất cần thiết nhất của người công dân: Thái độ tích cực trong việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đất nước – cộng đồng; yêu lao động; sống nhân ái, có kĩ luật, tôn trọng và làm theo pháp luật, đoàn kết

dân tộc và quốc tế…

Từ cơ sở về kiến thức, kĩ năng – kĩ xảo, thái độ nêu trên thì học sinh cần hình thành, phát triển 6 năng lực đặc thù của môn Lịch sử [22] :

1 NL thu thập và xử lí thông tin về các sự kiện, hiện tượng LS;

2 NL tái hiện quá khứ LS;

3 NL xác định mối liên hệ logic của các sự kiện, hiện tượng LS;

4 NL đánh giá, giải thích các sự kiện, hiện tượng theo quan điểm LS;

5 NL vận dụng kiến thức để hiểu biết, giải quyết các vấn đề đang diễn ra;

6 NL trình bày các sự kiện, hiện tượng LS

Để hiểu rõ hơn những NL này , chúng tôi đưa ra những biểu hiện của từng

NL thông qua bảng sau:

Stt Năng lực đặc thù Biểu hiện

- Biết chọn lọc thông tin, tư liệu LS chân thực, có giá trị

- Phân biệt được đâu là tư liệu thật, tư liệu giả; biết những thông tin không chân thực về các sự kiện, hiện tượng

LS

Trang 34

2 Tái hiện quá khứ LS - Có trí tưởng tượng phong phú, khôi

phục lại các sự kiện, hiện tượng LS với đầy đủ tính cụ thể tính hình ảnh, tính muôn hình muôn vẻ của nó

- Khôi phục được bức tranh LS với các yếu tố chính về thời gian, địa điểm, nhân vật, diễn biến kết quả

- Phân biệt được bối cảnh LS, diễn biến chính, kết quả của các sự kiện hiện, tượng LS

- Hiểu được LS là hệ thống hoàn chỉnh, liên tục, không thể chia cắt: Một sự kiện, hiện tượng LS này mất đi sẽ là nguyên nhân nảy sinh sự kiện, hiện tượng khác; Một sự kiện LS mới xuất hiện là kết quả của những sự kiện trước

đó

4 Đánh giá, giải thích

các sự kiện, hiện tượng theo quan điểm LS

- Giải thích các sự kiện hiện, tượng LS phải đặt trong bối cảnh điều kiện LS nó nảy sinh và phát triển

- Xem xét những tác động của những điều kiện đối với các sự kiện, hiện tượng LS

Trang 35

- Đánh giá được các sự kiện, hiện tượng LS vừa phải bảo đảm tính khách quan trung thực của LS, vừa phải đảm bảo tính tư tưởng, giá trị dân tộc, giá trị nhân văn

5 Vận dụng kiến thức

để hiểu biết, giải quyết các vấn đề đang diễn ra

- Hiểu được ý nghĩa, tác động của sự kiện, hiện tượng hay quá trình LS

- Rút ra được những bài học, quy luật

từ các sự kiện, hiện tượng LS (cả bài học thành công và thất bại)

- So sánh được các sự kiện, hiện tượng của LS với các vấn đề đang xảy ra hiện nay; Rút ra những điểm tương đồng, khác biệt để hành động trong thực tiễn

- Biết cập nhật, nhạy bén với những vấn đề mang tính thời sự

6 Trình bày các sự

kiện, hiện tượng LS

- Hiểu rõ, phân biệt được các thuật ngữ, khái niệm trong LS

- Sắp xếp các vấn đề của LS một cách logic chặt chẽ từ nguyên nhân, diễn biến đến kết quả, ý nghĩa

Khi HS có được 6 NL này qua học tập bộ môn, đương nhiên các em sẽ có NL

tự học, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo, NL hợp tác, có thêm điều kiện để hình thành NL thẩm mĩ…

- Về phương pháp: có phương pháp học tập đúng đắn, sáng tạo, đặc biệt là

phương pháp tư duy lịch sử, biết kết hợp giữa bài giảng của GV với việc tự nghiên cứu SGK, tài liệu học tập để nắm vững kiến thức từng bài học, tự trả lời các câu hỏi theo SGK, các bài tập do GV đưa ra

Trang 36

- Việc vận dụng kết quả học tập trong thi cử và cuộc sống

1.1.4 Các mức độ yêu cầu đối với một đề thi học sinh giỏi môn Lịch sử lớp 9 [6;33-34]

- Mức độ nhận biết : Ở mức độ này đòi hỏi học sinh ghi nhớ được các sự

kiện lịch sử, kể tên nhân vật lịch sử cụ thể, nêu diễn biến các cuộc kháng chiến, chiến dịch… mà các em đã được học Đây là mức độ đầu tiên của nhận thức lịch sử, đòi hỏi học sinh phải khôi phục lại được bức tranh của quá khứ đúng như nó tồn tại, đương nhiên là với những nét chung nhất, điển hình nhất Mức độ này đòi hỏi các em phải trả lời được các câu hỏi: sự kiện hiện tượng lịch sử nào, diễn ra khi nào, ở đâu , do ai thực hiện, diễn ra như thế nào, kết quả ra sao

Ví dụ: Trình bày được chiến tranh thế giới thứ nhất, thứ hai Khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, sự ra đòi chủ nghĩa phát xít; cách mạng tháng Mười Nga; chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô; cách mạng khoa học kĩ thuật ở Mĩ; khủng hoảng dầu mỏ năm 1973; Liên Xô sụp đổ; chiến tranh lạnh…

…thành lập Đảng; cách mạng tháng Tám năm 1945, những sự kiện lịch sử ở mốc năm 1954, 1975, 1986, những thành tựu cơ bản về kinh tế, chính trị…

- Mức độ thông hiểu: Ở mức độ này đòi hỏi học sinh phải hiểu bản chất

của sự kiện, hiện tượng lịch sử ( phần kiến thức trọng tâm cơ bản đã đề cập ở trên), trên cơ sở đó biết khái quát, xâu chuỗi các sự kiện lịch sử, lý giải được mối quan hệ giữa sự này với sự kiện khác (học lịch sử không chỉ một sự kiện đơn lẻ mà là chuỗi các sự kiện có mối quan hệ, ảnh hưởng, tác động với nhau)

Ví dụ: Làm sáng tỏ nguyên nhân bùng nổ, thành công hay thất bại của các cuộc đấu tranh, các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng ; chỉ ra mối quan hệ của các sự kiện với hoàn cảnh lịch sử, với tình hình chính trị, kinh tế,

xã hội trong và ngoài nước; những tác động tích cực hoặc tiêu cực của tình hình thế giới đối với lịch sử Việt Nam, khái quát những nội dung của một giai đoạn, một thời kỳ lịch sử

Trang 37

- Mức độ vận dụng: Vận dụng là mức độ cao của nhận thức, nghĩa là khả

năng vận dụng được các kiến thức vào các tình huống khác, để tiếp thu kiến thức mới và vận dụng vào thực tiễn Có hai mức độ vận dụng :

+ Mức độ vận dụng ở cấp độ thấp: Học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần

và có thể sử dụng các khái niệm của chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tình huống đã gặp trên lớp

Ví dụ: Phân tích những chủ trương, biện pháp của Đảng; âm mưu thủ đoạn của kẻ thù; nguyên nhân thắng lợi, nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử của các phong trào yêu nước, phong trào cách mạng, các chiến dịch, chiến lược chiến tranh So sánh được các vấn đề, nội dung , sự kiện, hiện tượng lịch sử: như chế độ phong kiến phương đối với chế độ phong kiến phương tây, các hình thức của cách mạng tư sản, các phong trào đấu tranh

+ Mức độ vận dụng ở cấp độ cao: Ở mức độ này đòi hỏi trên cơ sở hiểu bản chất sự kiện, hiện tượng lịch sử, yêu cầu HS đánh giá nhận xét, bày tỏ những chính kiến, quan điểm, thái độ về các vấn đề lịch sử, biết liên hệ với thực tiễn và vận dụng những kiến thức lịch sử giải quyết những vấn đề trong cuộc sống thực tiễn, biết rút ra những bài học kinh nghiệm

Ví dụ: HS đánh giá, nhận xét bày tỏ ý kiến về một biến cố lịch sử, một nhận định về sự kiện hay quá trình lịch sử Hay như biết rút ra những bài học kinh nghiệm như bài học của phong trào cách mạng 1930 -1931, 1936-1939, cách mạng tháng Tám, trong cuộc đấu tranh chống thù trong giặc ngoài 1945-

1946, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ, trong công cuộc đổi mới Liên hệ kiến thức với những vấn đề trong cuộc sống hiện nay: ô nhiễm môi trường, xung đột trên thế giới, tranh chấp biên giới, biển đảo, xu thế toàn cầu hóa

Trong dạy học, để thuận lợi cho việc xác định mục tiêu nhận thức của của học sinh trong học tập và trong kiểm tra, đánh giá, các nhà giáo dục đã đưa về các bậc:

Trang 38

Biết (bậc 1): Với các động từ: nêu, liệt kê, trình bày, kể tên v.v

Hiểu (bậc 2 ): Với các động từ: hiểu được, giải thích, phân biệt, tại sao, vì sao, hãy lí giải, vì sao nói, khái quát v.v

Vận dụng (bậc 3): Với các động từ : so sánh, phân tích, bình luận, nhận xét, đánh giá, rút ra bài học lịch sử, liên hệ với thực tiễn, suy nghĩ của em về… vv…

* Phân tích: Là biết tách từ cái tổng thể thành bộ phận và biết rõ sự liên hệ

giữa các thành phần đó theo cấu trúc của chúng Đối với môn lịch sử đó là biết tách các sự kiện, hiện tượng của một giai đoạn, hay quá trình lịch sử để làm rõ mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng đó Đây là năng lực cao của hoạt động nhận thức

* Tổng hợp: Là biết kết hợp các sự kiện hiện tượng lịch sử riêng rẽ thành

một tổng thể mới Nói cách khác là khả năng lựa chọn các sự kiện để tìm ra cái chung của một thời kì, giai đoạn hay vấn đề lịch sử

* Đánh giá: Là biết so sánh, phê phán, chọn lọc các sự kiện hiện tượng

lịch sử trên cơ sở các tiêu chí xác định

Đương nhiên các mức độ nhận thức lịch sử nói trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau Không biết lịch sử diễn ra như thế nào thì cũng không thể hiểu, giải thích, đánh giá được lịch sử Ngược lại muốn giải thích, đánh giá, vận dụng được cũng phải trên cơ sở của biết lịch sử

1.1.5.Vai trò, ý nghĩa của việc hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi môn Lịch sử 9 ở trường Trung học cơ sở

1.1.5.1.Vai trò đối với giáo viên bộ môn

- Việc thường xuyên tổ chức hướng dẫn học sinh ôn luyện và làm bài thi học sinh giỏi sẽ giúp cho GV không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn (vì phải xem bài vở nhiều, đọc nhiều tài liệu, biên soạn đề cương ôn luyện, thu thập và tham khảo các đề thi năm trước… )

Trang 39

+ Góp phần nâng cao kết quả bồi dưỡng HSG cho tổ bộ môn cũng như của nhà trường Qua đó khẳng định năng lực của GV trong bồi dưỡng HSG

+ Việc tổ chức, hướng dẫn HS ôn luyện đem lại hiệu quả, sẽ chia sẽ kinh nghiệm đạt được cho đồng nghiệp, sẽ là những sáng kiến kinh nghiệm cho cá nhân tiếp tục nâng cao trình độ

1.1.5.2 Ý nghĩa đối với học sinh

Việc hướng dẫn HS ôn luyện và làm bài thi HSG có ý nghĩa quan trọng thể hiện ở 3 mặt sau đây:

- Về kiến thức: Bồi dưỡng kiến thức lịch sử cho HS về lịch sử thế giới

cũng như lịch sử dân tộc, giúp HS nhận thức và hiểu rõ hơn những vấn đề lịch

sử, phân biệt được những sự kiện, nhân vật, lí giải được lịch sử, đặc biệt phát triển những năng lực tư duy cho HS (trí tưởng tượng, tư duy phê phán, tư duy logic …) Qua đó , HS sẽ hiểu sâu sắc lịch sử dân tộc cũng như lịch sử thế giới

Ví dụ : Khi ôn về chủ đề Nguyễn Ái Quốc, HS sẽ hiểu rõ được vai trò lớn của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam từ năm 1920 đến 1930 đó

là [24;170 ]:

- Thứ 1: Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho

dân tộc Việt Nam: giữa năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của

V.I Lênin Tháng 12/1920, Người tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp, bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp Từ đây, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cách mạng vô sản cho cách mạng Việt Nam

- Thứ 2: Người chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức tiến tới thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam: tích cực truyền bá lí luận cách mạng giải phóng dân tộc vào Việt Nam bằng nhiều hình thức như viết sách, báo,

Trang 40

tham luận, mở lớp huấn luyện cán bộ, sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên…

- Thứ 3: Người đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam: triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một đảng duy nhất

- Thứ 4: Người đã vạch ra cho cách mạng Việt Nam đường lối chiến lược

và sách lược đúng đắn, sáng tạo: soạn thỏa cương lĩnh vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng…có giá trị lí luận và thực tiễn lâu dài đối với cách mạng Việt Nam

- Về tư tưởng, thái độ

Giáo dục cho HS lòng yêu nước, yêu xã hội chủ nghĩa Phẩm chất này không chỉ được thể hiện trong đấu tranh chống ngoại xâm mà còn thể hiện trong quyết tâm xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời bình; xây dựng niềm tin vững chắc vào lý tưởng cách mạng trên cơ sở nhận thức đúng sự phát triển khách quan, hợp quy luật của xã hội loài người và của dân tộc, từ đó bồi dưỡng cho các em niềm tin vào con đường mà Đảng và Bác đã chọn; Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Bồi dưỡng tinh thần đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại Giáo dục niềm tin, giáo dục lí tưởng xã hội chủ nghĩa “ Ở mọi thời đại, con người đều có niềm tin, có lí tưởng và xác định cho mình một thế giới quan.Thế giới quan của chúng ta là thế giới quan macxit,dựa vào sự nhận thức đúng quy luật của tự nhiên và xã hội Giáo dục con người phải giáo dục thế giới quan, tức là giáo dục lí tưởng, giáo dục lòng tin Khác với tôn giáo, “ tin rồi biết”, chúng ta giáo dục thế hệ trẻ “ biết để tin” Vì vậy tri thức LS cùng với tri thức của nhiều môn học khác xây dựng cho HS cơ sở xây dựng niềm tin và lí tưởng [32; 78-79 ]

- Về kĩ năng: Giúp HS có được các kĩ năng cơ bản như: kĩ năng tự học với SGK lịch sử; kĩ năng khái quát quá kiến thức qua sơ đồ, đồ thị, biểu đồ, kĩ

Ngày đăng: 13/07/2017, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w