Tác giả Lê Thanh Hiền trong Luận văn Thạc sĩ Vai trò của ngôi chùa Khmer trong đời sống văn hóa cộng đồng trường hợp chùa Ba Si – Trà Vinh đã trình bày vai trò của ngôi chùa Ba Si ở huy
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thu Thủy
HÀ NỘI - 2017
Trang 33
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn “Chùa trong đời sống của người Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh”, tôi gặp rất nhiều khó khăn, cũng là lúc tôi nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của thầy cô, người thân, đồng nghiệp, bạn bè
Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập Tôi rất tâm đắc những kiến thức hữu ích, những kinh nghiệm hay mà thầy cô đã chỉ dạy cho tôi, đó sẽ là hành trang để tôi có thể làm tốt hơn công việc hiện tại và mang lại nhiều kết quả thiết thực
Để có thể hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô trong khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Đặc biệt, tôi xin cảm ơn TS Nguyễn Thị Thu Thủy - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Cảm ơn thầy Trần Văn Tịch - đồng nghiệp dạy môn Ngữ văn cùng trường,cảm ơn anh Nguyễn Trung Tuấn công tác tại Ban tuyên giáo huyện Trà Cú,cảm ơn các sư trụ trì, các vị Achar của các chùa, các cô, các bác người Khmer đã giúp đỡ tôi trong quá trình sưu tập tài liệu và hoàn thiện luận văn
Xin biết ơn quý thầy, cô phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi về thủ tục hành chính trong suốt khóa học Cuối cùng, tôi xin cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè những người
đã trực tiếp ở bên cạnh tôi giúp đỡ và động viên tôi
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Lê Thị Bạch Tuyết
Trang 44
MỤC LỤC
MỤC LỤC 4
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Bố cục luận văn 11
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN TRÀ CÚ VÀ HỆ THỐNG CHÙA Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH 13
1.1 Khái quát về huyện Trà Cú 13
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 13
1.1.2 Lịch sử hình thành 15
1.1.3 Kinh tế - xã hội 18
1.1.4 Dân cư, dân tộc 26
1.1.5 Truyền thống văn hóa 27
1.2 Hệ thống chùa ở huyện Trà Cú 29
1.2.1 Số lượng, phân bố 29
1.2.2 Lịch sử hình thành các ngôi chùa 30
1.2.3 Đặc điểm kiến trúc 33
* Tiểu kết chương 1 39
Chương 2: VAI TRÒ CỦA CHÙA TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH 41
2.1 Trung tâm tín ngưỡng, tôn giáo 41
2.2 Trung tâm văn hóa cộng đồng 43
2.3 Trường học, giáo dục đạo đức 47
2.4 Trung tâm lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa 49
Trang 55
2.5 Nơi hoạt động từ thiện nhân đạo 50
* Tiểu kết chương 2 51
Chương 3: VAI TRÒ CỦA CHÙA TRONG PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG CỦA NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH 52
3.1 Che chở, bảo vệ cho cách mạng 52
3.1.1 Chùa Phnô Om Pung 52
3.1.2 Chùa Trô Pras Bat 55
3.1.3 Chùa Tà Sất 55
3.2 Tham gia phong trào đấu tranh cách mạng 56
3.2.1 Chùa Phnô Om Pung 56
3.2.2 Chùa Trô Pras Bat 63
3.2.3 Chùa Cha 76
* Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 85
Trang 6ở Trà Cú có khá nhiều ngôi chùa Khmer theo phong cách Nam tông Hiện nay, trên địa bàn huyện Trà Cú có tổng cộng 44 ngôi chùa Nam tông Khmer (hiện nay do tách xã nên chỉ còn 37 chùa) trên tổng số 141 ngôi chùa tại tỉnh Trà Vinh
Ngôi chùa của người Khmer nói chung và chùa của người Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh nói riêng là một trong những nét đặc sắc của Phật giáo Nam tông vùng Tây Nam Bộ Nó không chỉ là biểu tượng của Phật giáo Nam tông mà còn là biểu tượng của đời sống tinh thần của người dân Khmer Với người Khmer, chùa là nơi thiêng liêng, nơi thờ Phật, nơi gửi gắm niềm tin qua những việc làm hiện tại, ước mong, hi vọng ở cõi Niết bàn trong tương lai Ngôi chùa gắn bó với mỗi người dân Khmer gần như suốt cuộc đời,
từ lúc sinh ra, trưởng thành cho đến khi lìa xa trần thế, bởi với họ, “sống vào chùa gửi thân, chết vào chùa gửi cốt” Do vậy, tìm hiểu chùa trong đời sống
của người Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc
Về ý nghĩa khoa học, tìm hiểu chùa trong đời sống của Khmer ở huyện
Trà Cú giúp tìm hiểu vị trị và vai trò của chùa trong đời sống của người Khmer ở huyện Trà Cú Đồng thời, góp phần giới thiệu nét văn hóa của người Khmer ở Nam Bộ nói chung và người Khmer ở huyện Trà Cú nói riêng
Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài thực hiện thành công góp phần bổ sung tri
thức về dân tộc Khmer và văn hóa của người Khmer, cũng như Phật giáo ở miền Tây Nam Bộ; là nguồn tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy
Trang 77
lịch sử địa phương huyện Trà Vinh, vùng Tây Nam Bộ
Trong thực tiễn, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về chùa về văn hóa của người Khmer ở các tỉnh có người Khmer sinh sống, như Sóc Trăng, Kiên Giang Riêng ở tỉnh Trà Vinh, số đề tài nghiên cứu còn ít, đặc biệt là ở huyện Trà Cú
Vì những lý do đó, chúng tôi chọn đề tài “Chùa trong đời sống của người Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về chùa của người Khmer và chùa trong đời sống của người Khmer đã được đề cập đến trong một số nội dung của một số công trình
Cuốn sách Người Khmer tỉnh Cửu Long của các tác giả Huỳnh Ngọc
Trảng, Văn Xuân Chí, Hoàng Túc, Đặng Vũ Thị Thảo, Phan Thị Yến Tuyết xuất bản năm 1987 đã trình bày khái quát về người Khmer tỉnh Cửu Long, về tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, lễ hội, văn học, nghệ thuật và truyền thống đoàn kết trong chiến đấu và xây dựng đất nước
Tác giả Lê Thanh Hiền trong Luận văn Thạc sĩ Vai trò của ngôi chùa Khmer trong đời sống văn hóa cộng đồng (trường hợp chùa Ba Si – Trà Vinh)
đã trình bày vai trò của ngôi chùa Ba Si ở huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh trong đời sống văn hóa cộng đồng của người Khmer Tuy không trực tiếp đề cập đến các ngôi chùa ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh nhưng luận văn trên là tài liệu tham khảo để có cái nhìn so sánh giữa vai trò của chùa trong cộng đồng người Khmer ở huyện Trà Cú với các địa phương khác ở Trà Vinh và ở Tây Nam Bộ
Các luận văn Thạc sĩ Văn hóa học Ngôi chùa trong đời sống văn hoá của người Khmer ở tỉnh Sóc Trăng (1997) của Lâm Thanh Sơn; Chùa phật giáo Nam Tông trong đời sống văn hóa người Khmer ở Kiên Giang (2014)
của Lưu Thị Sốc Kha tuy không đề cập trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu
Trang 8Cuốn sách Phong tục thờ cúng tổ tiên nét đẹp văn hóa của các dân tộc
của tác giả Mã A Lềnh và Triệu Thị Phượng do Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản năm 2007 đã trình bày phong tục, nghi lễ thờ cúng tổ tiên của các dân tộc trong đó có phong tục, nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Khmer ở Nam Bộ Khác với các dân tộc khác, người Khmer không thờ cúng tổ tiên tại nhà, việc thờ cúng được thực hiện tại chùa vào dịp các lễ hội lớn trong năm, như: Lễ Sênh đôl ta, Chol chnăm thmay
Tác giả Phan An trong cuốn Dân tộc Khmer Nam Bộ xuất bản năm
2009 đã giới thiệu văn hóa người Khmer Nam Bộ, về Phật giáo Khmer Nam
Bộ và những ngôi chùa trong sóc Khmer Tác giả đã miêu tả các kiến trúc trong khuôn viên chùa, đồng thời khẳng định chùa Khmer là nơi tu hành của các sư sải, nơi thực hiện các nghi lễ tôn giáo và các lễ hội có liên quan đến tôn giáo của bà con người Khmer Nội dung cuốn sách cũng đề cập đến cơ chế quản lí xã hội truyền thống của nông thôn người Khmer Nam Bộ
Tác giả Trần Đình Ba trong cuốn Lễ hội Việt Nam xuất bản năm 2011
khi trình bày về các lễ hội ở Việt Nam đã trình bày lễ hội của người Khmer ở Nam Bộ
Tác phẩm Người Khmer ở Nam Bộ, Việt Nam xuất bản năm 2012 là
cuốn sách song ngữ Việt - Anh Nội dung cuốn sách trình bày về bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo của người Khmer qua phong tục, lễ hội cũng như những sinh hoạt cộng đồng khác Cuốn sách còn trình bày về chùa của người Khmer, một số ngôi chùa và lễ hội tiêu biểu
Cuốn sách Phong trào yêu nước của đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh (1930 – 2010) xuất bản năm 2015 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Trà Vinh
Trang 99
sau khi khái quát đặc điểm địa lí, dân cư, đặc điểm của đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh đã trình bày về phong trào yêu nước của đồng bào Khmer dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1930 đến năm 1975 Trong các phong trào đấu tranh đều có sự tham gia của đồng bào Khmer ở huyện Trà Cú Cuốn sách cũng làm rõ những đóng góp quan trọng, tinh thần đấu tranh cách mạng kiên cường, những hi sinh mất mát của đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược Trong sách
có bức ảnh chư tăng Bà Môn huyện Trà Cú xuống đường ngày 30/4/1975
Kế thừa các thành quả của các công trình nghiên cứu trước, tác giả tiếp tục nghiên cứu sâu về chùa và vai trò của chùa trong đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về hệ thống chùa và vai trò của chùa trong đời sống văn hóa của người Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh Luận văn cũng trình bày những đóng góp của các ngôi chùa trong phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian nghiên cứu trong phạm vi hành chính của huyện Trà Cú,
tỉnh Trà Vinh
Về thời gian nghiên cứu lịch sử hình thành các ngôi chùa ở Trà Cú, Trà
Vinh và vai trò của chùa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là sự đóng góp của các ngôi chùa trong hai cuộc kháng chiến đến nay ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là tìm hiểu về các ngôi chùa ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh và vai trò của chùa trong đời sống của người Khmer ở huyện Trà
Trang 10Một là, tìm hiểu khái quát về huyện Trà Cú và các ngôi chùa trên địa
bàn huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh hiện nay
Hai là, luận văn chỉ ra vị trí, vai trò của chùa trong đời sống của người
Khmer ở huyện Trà Cú, tình Trà Vinh
Ba là, luận văn cũng tìm hiểu đóng góp của chùa trong phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Luận văn sử dụng các nguồn tài liệu chủ yếu sau:
- Tư liệu gốc: văn bia, thần tích, thần sắc, sắc phong ở các ngôi chùa ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
- Tư liệu thành văn, gồm:
+ Các sách tham khảo về chùa, về văn hóa của người Khmer ở Nam
Bộ
+ Các sách tham khảo về hệ thống chùa ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh;
về văn hóa, về đời sống văn hóa tinh thần của người Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
+ Các bài viết trên các báo, tạp chí chuyên ngành có liên quan đến đề tài
- Tư liệu điền dã: Nguồn tư liệu thực địa qua quá trình khảo sát thực tế
ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn sử dụng hai
Trang 1111
phương pháp cơ bản là phương pháp lịch sử và phương pháp logic để phục dựng, trình bày, phân tích và lí giải các vấn đề mà đề tài đặt ra Ngoài ra, vì là một luận văn tìm hiểu về lịch sử địa phương, do đó, phương pháp điền dã, khảo sát thực tiễn cũng được tác giả sử dụng có hiệu quả nhằm tìm hiểu về các ngôi chùa ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh và đi sâu vào thực tiễn để tìm hiểu và xem xét vị trí, vai trò của chùa trong đời sống của người Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh Luận văn cũng sử dụng các phương pháp khác, như: thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu về hệ thống chùa và vai trò của chùa trong đời sống người Khmer ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh Chùa là trung tâm tín ngưỡng tôn giáo của người Khmer, là trung tâm văn hoá của cộng đồng, nơi diễn ra các lễ hội của phum, sóc; chùa Khmer cũng như một trường học, là nơi giáo dục đạo đức, phong cách làm người, trường vừa dạy chữ cho trẻ em, vừa đào tạo kĩ năng lao động cho thanh niên tu học trong chùa; chùa là thư viện, là bảo tàng lưu giữ tất cả những giá trị vật chất cũng như các giá trị
về mặt tinh thần của người Khmer; chùa là nơi hoạt động từ thiện nhân đạo, nuôi dưỡng người già cả, neo đơn hoặc trẻ mồ côi không nơi nương tựa
Đồng thời luận văn cũng chỉ ra những đóng góp của chùa Khmer trong phong trào cách mạng ở huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho giảng dạy và học tập các kiến thức có liên quan đến văn hóa và lich sử đấu tranh của đồng bào Khmer Nam
Bộ, đặc biệt là các tiết dạy lịch sử địa phương huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
Trang 1313
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN TRÀ CÚ VÀ HỆ THỐNG CHÙA
Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
1.1 Khái quát về huyện Trà Cú
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Trà Cú là một huyện duyên hải thuộc tỉnh Trà Vinh, nằm cách Thành phố Trà Vinh 33 km theo đường bộ, trên tuyến quốc lộ 53 và 54 Phía Bắc giáp huyện Tiểu Cần và huyện Châu Thành; phía Nam giáp huyện Duyên Hải; phía Đông giáp huyện Cầu Ngang và huyện Duyên Hải, phía Tây giáp sông Hậu (tỉnh Sóc Trăng) Đây là tuyến vận tải hàng hóa qua cửa biển Định
An Trung tâm của huyện là thị trấn Trà Cú
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 48.951,69 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 84,51% (31.215,7 ha) Trà Cú có đất nông nghiệp thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây công nghiệp, hoa màu và chăn nuôi, có diện tích mặt nước cho phát triển nuôi trồng thủy hải sản, có cửa Định An
thuận lợi cho phát triển giao thông đường thuỷ và dịch vụ nghề cá
Về mặt địa hình,Trà Cú mang đặc điểm địa hình rõ nét của vùng đồng bằng ven biển, địa hình huyện có nhiều giồng cát hình cánh cung song song với bờ biển, có cao trình trên 2 m Cao trình bình quân phổ biến từ 0,4 m đến 0,8 m so với mặt nước biển, cao trình thâp phân bố rãi rác ở các xã Đại An, Đôn Châu, Ngãi Xuyên, Ngọc Biên
Trà Cú có khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển với hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 dương lịch; mùa nắng từ tháng 10 đến tháng 4 dương lịch năm sau Theo đó, vào mùa nắng Trà Cú bị nước mặn xâm nhập Do nằm trong khu vực miền Tây Nam Bộ, nên khí hậu của Trà Cú mang đầy đủ những đặc điểm và tính chất của khí hậu vùng này
Trang 1414
Nhiệt độ trung bình từ 24,9 – 28,50C; tổng lượng mưa bình quân trong năm
đo được khoảng 1.900 mm
Trà Cú có hệ thống sông rạch chằng chịt thuận lợi cho phát triển giao thông đường thủy Sông Hậu qua huyện là 1 trong 2 nhánh chính của đoạn cuối sông Hậu phân cách bởi cù lao Dung, nhánh qua huyện có mặt rộng 1,5 - 2,5 km, sâu trên 10 m Các sông rạch chính: Rạch Trà Cú - Vàm Buôn dài khoảng 18 km, bắt nguồn từ sông Hậu nối thông với Rạch Trà Mềm qua cống Tập Sơn; Rạch Tổng Long dài khoảng 17 km bắt nguồn từ sông Hậu thông với Kênh 3/2 Ngoài ra còn nhiều kênh rạch khác như: Kênh 3/2, kênh An Quảng Hữu, kênh Nguyễn Văn Pho, rạch Vàm Ray, rạch Bắc Trang, rạch Trà Mềm Chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều biển Đông, nên chế độ thuỷ triều trong ngày nước lên xuống hai lần, mỗi tháng có hai lần triều cường sau ngày mồng một và ngày 15 âm lịch (từ 2 - 3 ngày), biên độ triều hàng ngày rất lớn, nhất là khu vực gần cửa sông Vùng đất phía Tây Quốc lộ 53 của huyện bị xâm nhập mặn vào mùa khô, chủ yếu từ sông Hậu như rạch Trà Cú, Tổng Long, Vàm Ray
Diện tích đất nông nghiệp là 31.261,7 ha, chiếm 84,51% diện tích tự nhiên gồm: đất trồng cây hàng năm 23.986,81 ha, chiếm 76,73% diện tích đất nông nghiệp(trong đó đất trồng lúa); đất trồng cây lâu năm 4.919,77 ha, chiếm 15,74% diện tích đất nông nghiệp; đất nuôi trồng thủy sản 2.355,12 ha, chiếm 7,53% diện tích đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp 5.708,85 ha; đất chưa
sử dụng 21,9 ha; sông rạch 3.043,24 ha
Tài nguyên khoáng sản: Theo khảo sát lập bản đồ địa chất khoáng sản đồng bằng Nam Bộ huyện có mỏ đất sét ở xã Phước Hưng với trữ lượng tương đối lớn, dân đã khai thác để làm gạch, nhưng gạch thường bị vênh và trọng lượng viên gạch nặng Nhìn chung, sét có thành phần hóa học đạt so với yêu cầu, nhưng lượng cát ít, trong sét có nhiều Hydro-mica nên gạch dễ bị vênh khi nung
Huyện Trà Cú có nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm khá phong
Trang 1515
phú, trong đó nguồn nước mặt chủ yếu từ sông Hậu, rạch Trà Cú – Vàm Buôn, rạch Tổng Long… phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân
Trong huyện không có danh lam thắng cảnh gì, chỉ có chùa Cò ở Đại
An, một công trình kiến trúc tiêu biểu của Phật giáo Nam tông và còn là nơi trú ngụ của nhiều loại chim, cò, nên trở thành một địa điểm tham quan của khách du lịch trong và ngoài huyện
Hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn huyện có Quốc lộ 53, Quốc
lộ 54, đường tỉnh 914, Hương lộ 25, 27, 28, 36, 12 và hàng trăm các con đường chạy vào các khóm, ấp tạo cho nhân dân đi lại thuận tiện
Minh Mạng vua muốn đổi các địa danh ra chữ Nho nên địa danh Preah Trapeng lấy chữ Trapeng đổi thành Trà Văn sau đó gọi trại ra thành Trà Vinh Còn địa danh Trà Cú chưa có tư liệu nào đề cập tới địa danh này trong quá trình tác giả đi tìm Tuy nhiên, người Khmer tại Trà Cú gọi tên địa danh của mình là Thkau, nghĩa là tên của một loại cây, qua từ Thkau chưa đủ khả năng
để kết luận đây là từ gốc dịch ra từ Trà Cú hay người Khmer đọc trại từ Trà
Cú thành Thkau?
Theo ngẫu nhiên các địa danh có từ Trà đứng trước như Trà Vinh thường là nơi cư trú của người dân tộc Khmer Ví dụ: Trà Kha, Trà Cú, Trà Cuông… như vậy từ Trà trong các địa danh đang ẩn chứa trong nó một “bí
Trang 1616
mật” nào đó có liên quan đến tộc người Khmer, dẫn theo quyển Văn hóa Khmer Nam Bộ: “địa danh có thành tố “Trà…”, mô hình “Trà + X”, cả hai thành tố nay đều không rõ nghĩa”
Cùng với Đồng bằng sông Cửu Long, huyện Trà Cú là một vùng đất mới, với những biến thiên của quy luật kiến tạo địa chất Vào thời kỳ biển lùi, vùng đất Trà Cú rất hoang sơ, rừng bao phủ hầu hết diện tích đất, đầm lầy sông rạch chằng chịt, dưới sông đầy đỉa, trên rừng đầy thú dữ Vào thời đó nơi đây đã có số ít người dân tộc Khmer sinh sống và canh tác trên những vùng đất cao, gọi là các giồng
Vào thế kỷ XVII trong phong trào đưa dân vào khai phá vùng đất hoang, các Chúa Nguyễn đã chiêu mộ các lưu dân và quân đội của mình khai phá vùng đất này Các Chúa Nguyễn tạo điều kiện cho các tộc người Khmer, người Hoa cùng chung sức khai hoang lập ấp Cũng cùng thời gian này cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn (1627 - 1672) vẫn chưa có hồi kết thúc, nên số lượng người bần nông bỏ xứ vào vùng đất này ngày càng đông với mong muốn đi tìm một vùng đất mới, một chân trời mới để có thể sinh sống bình yên
Qua các giai đoạn chịu ảnh hưởng của các Vương triều Khmer, cũng như thời đại phong kiến trong giai đoạn thuộc địa và sau này Trà Cú luôn chịu cảnh chia tách, đổi tên
Trên thực tế, trải qua các thời kỳ lịch sử địa giới hành chính huyện Trà
Cú có sự thay đổi Vào thế kỷ thứ XVII, huyện Trà Cú thuộc đất Trà Vang, tiền thân của tỉnh Trà Vinh nằm trong dinh Vĩnh Trấn Lúc đó toàn Nam Kỳ
có 4 dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn, Vĩnh Trấn, Long Hồ và 1 trấn là Hà Tiên
Sang đầu thế kỷ thứ XIX, dinh Vĩnh Trấn đổi là Hoằng Trấn (1804), rồi trấn Vĩnh Thành (1808), bao gồm cả đất Vĩnh Long và An Giang
Năm 1832, Minh Mạng chia đất Nam Kỳ thành 6 tỉnh, gọi là “Nam Kỳ lục tỉnh”, gồm: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và
Trang 1717
Hà Tiên Trà Vinh là một huyện trong phủ Lạc Hoá của tỉnh Vĩnh Long
Khi thực dân Pháp xâm lược, chúng chia Nam kỳ lục tỉnh thành 20 tỉnh, trong đó có tỉnh Trà Vinh lập năm 1900 Trà Cú là một quận của tỉnh Trà Vinh tồn tại cho đến sau Cách mạng tháng Tám 1945 Riêng đối với 3 tỉnh miền Tây, còn gọi là miệt Hậu Giang, Pháp chia thành 11 tỉnh: Bạc Liêu, Bến Tre, Cần Thơ, Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long
Khi Pháp quay lại xâm lược lần thứ hai, để tiến hành kháng chiến, theo chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, cuối năm 1945 Nam
Bộ được chia thành 3 chiến khu: Khu 7, Khu 8 và Khu 9 Trà Vinh thuộc Khu 8
Tháng 5/1951, do nhu cầu của tình hình, Trung ương lại chia Nam Bộ thành hai phân liên khu: Đông, Tây và Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn Hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long sát nhập thành tỉnh Vĩnh - Trà nằm trong Liên khu miền Tây, gồm 6 tỉnh: Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Châu Hà tồn tại cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp
Sau hiệp định Genève, tháng 10/1954, Chính phủ Trung ương đổi phân Liên khu miền Tây thành Liên khu Tỉnh uỷ miền Tây
Đến cuối 1954, Trà Cú có 11 xã, bao gồm cả Nhị Trường và Long Vĩnh, 132 ấp; sang năm 1955 còn 9 xã, 120 ấp
Cuối năm 1961 đầu năm 1962, Quân khu 3 được thành lập, trong đó có tỉnh Trà Vinh, do đó huyện Trà Cú thuộc Quân khu 3
Trong thời kháng chiến chống Mỹ, Ngô Đình Diệm cắt quận Vũng Liêm của tỉnh Vĩnh Long, quận Cầu Kè và Trà Ôn của tỉnh Cần Thơ sáp nhập vào Trà Vinh, đặt tên là tỉnh Vĩnh Bình, nhưng vẫn giữ nguyên tên quận Trà
Cú Đến trước tháng 4/1975, Trà Cú là một huyện của tỉnh Trà Vinh
Sau ngày 30/4/1975, Trà Cú là một huyện của tỉnh Trà Vinh
Trang 18Huyện Trà Cú nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển,
có hai mùa mưa nắng rõ rệt trong năm rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
Vì thế, hoạt động kinh tế chính của cư dân Khmer ở đây là nông nghiệp, trong đó chủ yếu là nông nghiệp lúa nước Bên cạnh nghề nông, họ cũng làm các ngành nghề khác như chăn nuôi, đánh bắt cá đồng, buôn bán nhỏ Ngoài ra, họ cũng làm các nghề thủ công truyền thống như đan, rèn, dệt, làm gốm…Trong huyện có các làng nghề truyền thống, như: Làng nghề Đan Đát Giồng Đình, làng nghề chiếu Cà Hom
Trong nghề nông truyền thống, người Khmer phân biệt các loại ruộng đất khác nhau và trên mỗi loại, họ canh tác những loại cây trồng khác nhau cũng như có kỹ thuật canh tác thích hợp cho từng loại Nói chung, có hai loại ruộng đất chính là ruộng để canh tác lúa và rẫy để trồng các loại hoa màu Trên mỗi loại ruộng, người Khmer canh tác những giống lúa thích hợp và có thời gian canh tác khác nhau, được phân biệt thành vụ lúa sớm, vụ lúa mùa và vụ lúa muộn Trên loại ruộng vừa canh tác hai vụ,
họ cũng quen gọi vụ hè thu hay vụ đông xuân như nông dân người Việt trong vùng
Nông cụ để làm đất gồm có cày, bừa, trục, cuốc, leng, xẻng… và sức kéo chính là bò hoặc trâu Cũng cần lưu ý là người Khmer thường nuôi bò
Trang 1919
để làm sức kéo, trong khi người Kinh ở lân cận lại thích nuôi trâu hơn Bò cũng dùng để kéo xe và từng là phương tiện vận chuyển khá quan trọng của người Khmer
Trước đây, khi còn canh tác chủ yếu một vụ lúa trong năm thì người Khmer thường canh tác các loại giống lúa mùa, Trong hơn 10 năm gần đây, người Khmer đã canh tác từ 2 – 3 vụ lúa và thường canh tác các giống lúa cao sản Kỹ thuật canh tác vì vậy cũng có những thay đổi nhất định, do tăng vụ và sự phát triển của các dịch vụ trong nông nghiệp, nhất là cơ giới hóa trong khâu làm đất cũng như trong khâu thu hoạch: thuê máy kéo, máy phóng… Trong khâu chăm sóc, họ cũng sử dụng các loại thuốc diệt cỏ để giảm bớt sức lao động
Khi còn làm lúa mùa hay lúa một vụ, người Khmer thường gieo mạ rồi cấy Ở những nơi đất gò, cứng, người thợ cấy phải dùng nọc cấy chọc lỗ rồi tra mạ vào Ở những nơi đất mềm, người đi cấy chỉ cần dùng ngón tay cái đưa rễ mạ vào đất và dùng các ngón tay kéo đất bít rễ mạ để cây lúa đứng vững Nhổ mạ có thể do nam giới (đối với những đám mạ nặng nhổ,
do mạ bám đất), cũng có thể do nữ giới làm, còn việc cấy thường là công việc của phụ nữ mặc dù nam giới cũng biết cấy Hiện nay, người Khmer đã
sử dụng kỹ thuật sạ, nhất là trong vụ hè thu như nông dân người Việt, do
đó không cần gieo mạ, nhổ mạ và cấy như trước nữa Tuy nhiên, vào vụ đông xuân, nhiều gia đình người Khmer cũng như người Việt vẫn phải gieo
mạ, nhổ mạ rồi cấy như trước kia
Công việc thu hoạch gồm cắt lúa, đập hoặc gặt rồi cho bò hay trâu đạp Trước đây, khi làm lúa mùa, thân lúa cao, người Khmer thường dùng vòng hái để gặt lúa Đến khi canh tác lúa cao sản, thân lúa thấp, họ không dùng vòng hái nữa, mà dùng lưỡi liềm để cắt lúa Sau khi gặt lúa xong, người nông dân dùng bồ để đập lúa Rơm được đưa về chất thành “cây rơm”, dùng cho trâu bò ăn hoặc dùng vào các việc khác
Vấn đề sở hữu ruộng đất trong nông nghiệp, người Khmer có nhiều
Trang 2020
hình thức sở hữu, tuy nhiên hình thức sở hữu chính là ruộng đất tư
Người Khmer gọi ruộng đất tư của mình là đất của riêng hay “đất mồ hôi” Cơ sở hình thành loại ruộng đất này là việc nhân dân tự do khai phá dưới các chính sách khai khẩn đất hoang của nhà nước đương thời Ngoài
ra, khi nhà nước thừa nhận việc mua bán, trao đổi ruộng đất trong nhân dân, nhiều người Khmer có điều kiện kinh tế đã mua một phần diện tích ruộng đất của các hộ dân khác trong vùng làm ruộng đất tư của mình Theo
tác giả Phan An, trong Một số vấn đề kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Khmer đồng bằng sông Cửu Long in trong Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long: tỷ lệ ruộng đất tư ở vùng nông thôn Khmer khá cao Ở
huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh nơi có đông người Khmer cư trú tỷ lệ ruộng đất tư chiếm từ 95-97% [2; tr 126]
Bên cạnh việc kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, người dân Khmer còn lấy hoạt động đánh bắt trên sông, rạch làm hoạt động sản xuất hàng ngày Người dân Khmer tuy sống chủ yếu trên các giồng đất cao, nhưng do sống trong một địa bàn cư trú rộng lớn và có một hệ thống sông, rạch chằng chịt Hệ thống sông cung cấp cho những cư dân các dân tộc nói chung và cư dân Khmer nói riêng một nguồn sinh kế hết sức dồi dào
Ngay từ thời Nguyễn đã ghi nhận việc đánh bắt nguồn lợi thủy sản trên các sông lớn, nhiều loài cá được ghi chép lại, các loài cá này còn tồn tại tới tận ngày nay Việc đánh bắt nguồn thủy sản vô cùng dồi dào này cũng được quy định khá chặt chẽ Dưới thời Nguyễn và ở đầu thế kỷ XX, việc đánh bắt mang tính nhỏ lẻ, hộ gia đình thì chính quyền không can dự, mọi người dân có thể tự do khai thác; đối với việc đánh bắt mang tính quy
mô lớn do một địa chủ hay nhà tư sản có tiềm lực kinh tế và hoạt động đánh bắt mang tính thương nghiệp thì nhà nước có quy định rõ ràng Việc đấu thầu đánh bắt cá đã được tiến hành theo phương thức, nhà nước chia các đoạn sông thành nhiều đoạn dài, ngắn khác nhau, những gia đình có tiền, có nhu cầu sẽ đấu thầu để có được quyền khai thác Thậm chí có
Trang 21Hoạt động nông nghiệp đã có những chuyển biến quan trọng với việc tăng vụ (chuyển từ một lên hai vụ và tại nhiều nơi lên ba vụ lúa), thay đổi cây trồng chăn nuôi… Sản xuất nông nghiệp của người Khmer hiện nay không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày trong gia đình, mà
họ đã có ý thức sản xuất nông sản hàng hóa Biểu hiện cho sự thay đổi quan trọng này là việc cải tạo vườn tạp để trồng các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế (như xoài, sầu riêng, cam, bưởi, nhãn… ), chăn nuôi (bò thịt, vịt đàn… ), trồng nấm rơm
Hoạt động chăn nuôi nói chung phát triển đều khắp Nghề trồng nấm rơm trong những năm gần đây được khuyến khích nhằm tận dụng nguồn rơm rạ có sẵn, phần diện tích trong vườn, ruộng nên đã phát triển thành một phong trào tại các địa phương, góp phần tăng thu nhập cho không ít hộ người Khmer
Tại các khu vực cư trú của người Khmer có một số gia đình mở cửa tiệm bán tạp hóa, bán nước giải khát, bánh trái cho trẻ em… Đây cũng là một thay đổi trong đời sống kinh tế của người Khmer vì trước đây hầu như không có người Khmer làm nghề buôn bán
Ngoài ra, người Khmer cũng làm các nghề thủ công truyền thống như đan, rèn, dệt, làm gốm… nhằm đáp ứng nhu cầu trong sinh hoạt hàng ngày, và phần rất nhỏ cho hoạt động buôn bán, trao đổi
Tuy hoạt động kinh tế của người dân Khmer đã có những bước chuyển mạnh mẽ sau khi giải phóng, nhưng về mặt bằng chung, thu nhập, mức sống của người Khmer Tây Nam Bộ còn khá thấp, ở nhiều vùng mức
Trang 2222
sống của người dân còn thấp hơn so với mặt bằng chung của địa phương
Với tinh thần cần cù, sáng tạo và giàu kinh nghiệm trong sản xuất, hiện nay bà con Khmer đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, áp dụng các tiến
độ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất tạo ra được nhiều mô hình trồng trọt, chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao như: mô hình trồng bắp lai, trồng đậu phộng, trồng môn sáp, ớt chỉ thiên Ngoài ra, bà con còn biết sử dụng vốn vay của Nhà nước để phát triển sản xuất có hiệu quả, đúng mục đích góp phần làm nâng cao đời sống trong phum sóc
1.1.3.2 Xã hội
Vốn là cư dân nông nghiệp, khi tới vùng đồng bằng sông Cửu Long, người Khmer đã tập hợp nhau lại thành những tập thể láng giềng nhỏ và tổ chức nó thành những đơn vị xã hội tự quản Mỗi tập thể định cư trên một địa điểm bám sát đất trồng trọt gọi là phum Đơn vị cao hơn phum và bao gồm nhiều phum gọi là srok (theo Việt hóa là sóc) Phum, sóc không phải là đơn vị hành chính nhà nước, mà là những đơn vị xã hội cổ truyền, ràng buộc nhau bởi các phong tục, lễ nghi mà ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt văn hóa Thời các chúa Nguyễn và vua Nguyễn, các phum, sóc được người dân Khmer thành lập trên các giồng đất cao, hoặc những gò đất cao, hoặc nền đất cao hơn mặt bằng chung xung quanh, thậm chí người dân Khmer còn tự tạo lên nền đất cao để cư trú thông qua việc đắp đất, tạo độ cao
Trong đời sống của các dân tộc Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, phum là đơn vị cư trú thường bao gồm từ 5 – 7 gia đình, sống quây quần trong một khoảnh đất nhất định, trên những dải đất cao (được gọi là những “giồng đất, giồng cát”) Các gia đình trong phum hầu hết đều có quan
hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân với nhau Thông thường gồm gia đình của cha mẹ, gia đình của các con gái và con rể Ngoài ra, có thể còn thêm một vài gia đình không có quan hệ huyết thống, kể cả gia đình người Hoa và người Kinh Phum được định hình là một khu vườn có lũy tre xanh bao bọc,
có cổng trước, cổng sau, bên trong là các ngôi nhà và xung quanh các ngôi
Trang 2323
nhà thường có đống rơm, truồng trâu bò, nhà tắm, giếng nước, nhà để công
cụ sản xuất và những mảnh vườn nhỏ để trồng rau hoặc cây ăn quả Các phum thường ở sát nhau, được phân chia bằng những hàng rào tre bao bọc xung quanh, có cổng ra vào
Quản lý và điều hành phum do một người lớn tuổi có uy tín trong đồng bào đảm nhận, bất kể là đàn ông hay đàn bà và thường được gọi là “Mê phum” Mê phum không có một quy chuẩn nào cố định lựa chọn mà thường
do Mê phum trước đó chỉ định Sự thừa kế này có tính đến khả năng và tư cách đạo đức Mê phum không chỉ đứng ra quản lý các công việc chung của phum mình, mà còn đại diện cho phum đứng ra giải quyết các công việc đối ngoại với các phum hoặc công việc bên ngoài liên quan đến phum
Về đối nội, các Mê phum giúp cho các thành viên trong phum giải quyết các công việc như: giúp về tổ chức ma chay, cưới hỏi, đôn đốc các con trẻ đến tuổi thì vào chùa để đi tu; hoặc đứng ra tổ chức các lễ hội, nghi thức tín ngưỡng tôn giáo có liên quan đến phum như lễ “cúng thần dòng họ của phum”, “cúng thần bảo hộ của phum”…
Về quan hệ xã hội trong các phum, vì là đơn vị cư trú của một hoặc một nhóm gia đình, nên về cơ bản thiết chế xã hội của người Khmer trong các phum chứa đựng hai mối quan hệ chủ đạo, tạo nên sự liên kết xã hội giữa các thành viên trong phum là: quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân Ngoài hai mối quan hệ chủ đạo trên còn có các quan hệ khác như: kinh tế, xã hội, tình cảm, tôn giáo…
Sinh hoạt của phum mang tính chất cộng đồng tự quản của một tập hợp người vừa có quan hệ cùng huyết thống lại vừa có quan hệ lãnh thổ láng giềng Thành viên cấu trúc nên phum là những gia đình bà con huyết thống, nhưng đồng thời mỗi gia đình thành viên là một đơn vị kinh tế hoàn toàn độc lập Mặc khác, nếu xét theo quan hệ huyết thống, thì tính liên kết huyết thống trong phum cũng rất lỏng lẻo, nó không đủ dể tạo nên những dòng họ có tính
kế thừa lâu đời, nó cũng không có những loại của cải chung như đất hương
Trang 2424
hỏa, nhà từ đường… để làm cơ sở liên kết kinh tế chung
Trong quá trình tụ cư, các phum của người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long đã hòa nhập với làng xóm của người Kinh và người Hoa, tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình giao lưu văn hóa, đoàn kết, gắn bó, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc
Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, sóc của đồng bào Khmer cũng là một đơn vị cư trú, lớn hơn phum, tương tự như làng của người Việt Mỗi sóc gồm nhiều phum và một ngôi chùa Những sóc lớn có thể có hai ngôi chùa Chùa là bộ mặt của phum, sóc nên được xây dựng rất công phu, khang trang, thoáng mát
Việc quản lý sóc được giao cho ban quản trị sóc, mà người đứng đầu được gọi là Mê sóc do ban quản trị sóc bầu ra Những thành viên trong ban quản trị được nhân dân tuyển chọn trong số những đàn ông lớn tuổi có uy tín,
có trình độ học vấn, hiểu biết phong tục, tập quán, có tinh thần trách nhiệm với đồng bào Cùng với ban quản trị, Mê sóc trông coi, điều hành các công việc chung thuộc nội bộ của sóc, thay mặt cho các thành viên trong sóc thực hiện các công việc đối ngoại, duy trì mối liên hệ thường xuyên giữa nhà chùa với dân sóc
Xã hội truyền thống của người Khmer trước đây là sự kết hợp giữa tổ chức tự quản của cộng đồng với sự tham gia của tổ chức nhà chùa Sự đan xen hỗn hợp này đã tạo cho xã hội truyền thống của người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long một đặc tính xã hội riêng biệt khác với nhiều tộc người khác
Đứng đầu mỗi chùa có một vị sư cả (lục gru) là người trụ trì ngôi chùa,
vị lãnh đạo tôn giáo cao nhất của một hoặc vài sóc Trong tâm thức người Khmer, sư cả được coi là đại diện cho đức Phật, những lời giáo huấn của ông được nhân dân tôn trọng và thực thi một cách nghiêm túc Trong mỗi chùa cùng với sư cả và các sư sãi chuyên lo các việc tôn giáo còn có tổ chức của tín
Trang 2525
đồ là ban quản trị chùa gồm có ông chủ chùa, thầy phụ trách nghi lễ và các vị khác phụ trách về tài chính, Phật sự Ban quản trị chùa thay mặt nhà chùa đứng ra tổ chức, hoạch định chương trình các buổi lễ, định địa tô cho chùa, giải quyết những vấn đề Phật sự như sửa sang, trùng tu chùa, tìm kiếm những ngân khoản chi tiêu cho nhà chùa…
Quan hệ thân thuộc dòng họ của người Khmer có nhiều điểm khác biệt so với người Việt, người Chăm, người Hoa cùng địa bàn Người Khmer quan niệm về thân tộc, không chỉ bao gồm những người có quan hệ huyết thống mà còn bao gồm cả những người có quan hệ hôn nhân Khái niệm “bà con” bao gồm những người có quan hệ họ hàng huyết thống mở rộng cả về bên nội, bên ngoại, thậm chí cả những người có quan hệ hôn nhân về hai phía Giữa bà con cùng huyết thống và những bà con do quan
hệ hôn nhân, người Khmer không có sự phân biệt trong tình cảm cũng như cung cách ứng xử Trong mối quan hệ họ hàng, người Khmer không có một phân biệt nào giữa bên cha và bên mẹ, không có khái niệm về bên nội bên ngoại, cũng không có khái niệm về tộc hay họ tính theo một phía cha hoặc
mẹ Tất cả họ hàng của phía cha và mẹ đều được quan niệm và đối xử giống như nhau [9; tr 63]
Quan hệ hôn nhân của đồng bào dân tộc Khmer khá đa dạng Cũng như các dân tộc khác, người con trai, con gái khi đến tuổi lập gia đình họ
sẽ tìm hiểu nhau, được sự chấp thuận của gia đình hai bên, họ sẽ tổ chức lễ cưới theo nghi thức địa phương Có nhiều lễ cưới được tổ chức tại các ngôi chùa trong các phum nơi sinh sống, do các nhà sư giúp đỡ về công tác tổ chức nghi thức truyền thống
Sau ngày kết hôn, việc định cư bên nhà trai hay nhà gái là điều ở đồng bào Khmer không có sự nhất quán Nếu như đối với dân tộc Việt, sau
lễ kết hôn thường thì người con gái sẽ theo chồng về ở nhà chồng Tuy nhiên, đối với đồng bào Khmer có những trường hợp cho thấy người con trai sẽ về nhà vợ sinh sống, và cũng có trường hợp người con gái sẽ về nhà
Trang 2626
con trai Theo nghiên cứu thì số lượng cư trú sau hôn nhân bên nhà vợ và
số lượng cư trú sau hôn nhân bên nhà chồng chênh lệnh nhau không quá lớn Điều đó chứng tỏ, tập quán cư trú sau hôn nhân của người Khmer là tương đối tự do Sau hôn nhân, người con trai, người con gái và gia đình của họ được quyền lựa chọn nơi cư trú tùy thích và tùy theo điều kiện cụ thể Điều này phản ánh tâm lý, tình cảm của người Khmer không có sự phân biệt, đối xử khác biệt giữa bên nội với bên ngoại cũng như bên vợ với bên chồng Quan điểm này của người Khmer phần nào đó khác và tiến bộ hơn so với người Kinh
Tuy người Khmer nghiêm cấm quan hệ hôn nhân huyết thống trực hệ giữa cha mẹ với con cái, ông bà với con cháu; hôn nhân bang hệ giữa cô,
dì, chú, bác với cháu hay giữa các anh chị em ruột, nhưng người Khmer lại thừa nhận việc quan hệ hôn nhân giữa các anh em họ: con cô với con cậu, con chú bác với con dì…
1.1.4 Dân cư, dân tộc
Theo số liệu điều tra dân số, hiện nay dân số của huyện Trà Cú là
176.250 người, mật độ 476 người/km2 Hiện nay, đang sinh sống trên địa bàn Trà Cú gồm có các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa Trong đó người Khmer chiếm 60,7 % dân số Trà Cú cũng là huyện có đông đồng bào Khmer nhất tỉnh Trà Vinh
Nếu xét theo nguồn gốc thì Người Khmer ở Trà Cú cũng có đặc điểm chung của người Khmer Nam bộ Họ là những người đồng tộc với người Khmer ở Campuchia có chung ngôn ngữ, tôn giáo và những đặc điểm sinh hoạt văn hóa, đặc trưng tộc người Do sống tách biệt với người Khmer ở Campuchia trong một thời gian lâu dài nên người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đã tạo ra những đặc điểm cho cộng đồng mình về cư trú, kinh tế, văn hóa và xã hội Tuy nhiên, từ khi đến khu vực đồng bằng sông Cửu Long sinh sống, nhóm người này đã sống độc lập và không có mối quan hệ với bất
kỳ một quốc gia nào thời đó Đến thời các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn,
Trang 2727
người Khmer đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và có đủ quyền lợi như người Việt
Về đặc điểm nhận dạng của người Khmer được miêu tả như sau:
“Người Khmer thuần chất còn gọi là Khmer rặt có nước da đen, lưỡng quyền cao, quai hàm hơi nhô, tóc đen và hơi quăn, chân mày ngắn, rậm, mắt to và đen, dưới mí mắt có quầng đen, râu rậm, và nhiều người có râu quai nón, môi dầy, mũi nhọn Vóc dáng người Khmer to và chắc hơn người Việt” [28; tr 100]
Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Nam bộ nói riêng và lịch
sử Việt Nam nói chung cho thấy người Khmer là một bộ phận hợp thành của cộng đồng đa dân tộc, đa văn hóa Việt Nam Đặc biệt, trong suốt quá trình hình thành và phát triển, dân tộc Khmer đã cùng chung sống, đồng hành, gắn bó số phận của mình với các dân tộc anh em khác như người Việt, người Hoa, người Chăm…
1.1.5 Truyền thống văn hóa
Quá trình hình thành và phát triển của người Khmer trong suốt chiều dài lịch sử cho thấy sự du nhập đạo Phật vào đời sống của đồng bào có vai trò hết sức quan trọng Trải qua biến thiên của lịch sử, Phật giáo Nam tông đã trở thành đặc trưng văn hóa truyền thống với nền tảng giáo lý vững chắc, với những luân lý đạo đức Phật giáo luôn hướng con người đến những giá trị cao
cả đã thấm nhuần trong tâm thức mỗi người dân Khmer Chính những giá trị cao cả, những bài học mang đậm triết lí Phật giáo ấy đã tạo nên phẩm cách đạo đức, sự hiền hòa chơn chất, sự gắn bó, gần gũi, đoàn kết nhau trong cộng đồng
Đối với người Khmer ở Trà Cú cũng vậy, chùa không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hoá, xã hội Chùa là nơi diễn
ra các lễ hội như: Lễ Phật Đản, lễ nhập Hạ, lễ xuất Hạ, lễ Ban hành giáo lý, lễ cầu siêu, lễ hội dân tộc (Tết năm mới, lễ hội cúng trăng)… Lễ hội giữ một vị
Trang 2828
trí quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của đồng bào Khmer Nam Bộ Các ngày lễ đã giải tỏa về mặt tâm linh, đồng thời giữ gìn truyền thống văn hóa tôn giáo, tạo không gian gắn kết cộng đồng sau những ngày lao động vất
vả cũng như giáo dục thế hệ trẻ ý thức trách nhiệm đối với gia đình và xã hội
Trong các lễ hội dân tộc bao giờ cũng gồm có hai phần, phần lễ và phần hôị, phần hội gồm các tiết mục biểu diễn văn nghệ, sinh hoạt vui chơi và
cả sinh hoạt cộng đồng phum, sóc cũng diễn ra ở chùa
Các tiết mục văn nghệ truyền thống của dân tộc thường được tổ chức tring các lễ hội là: sân khấu truyền thống Dù kê, Rô băm, múa dân gian như: Romvông, Saravan, Sarikakeo, được các nghệ nhân chuyên nghiệp, hoặc nghiệp dư đua tài biểu diễn trong lễ hội Sân khấu Dù kê có nội dung rất phong phú và mang tính giáo dục cao Các tích truyện diễn ra trên sân khấu
Dù kê luôn đề cao đạo lý, tinh thần hướng thiện, ca ngợi cái tốt, cái đẹp; đồng thời lên án cái ác, cái xấu Cốt truyện của các vở diễn thường được rút ra từ thần thoại, cổ tích và kết thúc có hậu Rô băm còn gọi là loại kịch múa cổ điển trong cung đình của người Khmer Nội dung thường là tích cổ như vở Riêm
kê trích từ anh hùng ca Ấn Độ Ramayana Nhân vật trở thành mẫu người lý tưởng của người Khmer như nàng Sêđa xinh đẹp thuỷ chung, hoàng tử Rama tài giỏi nhưng gặp nhiều chuyện gian truân, khổ ải Ngoài ra còn nhiều vở khác, như Ra Ta Na Vông, Linh Thôn cũng đều thấm đượm tinh thần Phật giáo “Ở hiền gặp lành”, làm việc ác ắt phải đền tội
Các hoạt động sinh hoạt vui chơi như đá cầu, đẩy gậy, chơi cù, kéo co, nhảy lưới, giấu khăn, đánh đáo, bịt mặt bắt dê,…và các lễ đọc kinh, cầu nguyện kéo dài tới 2 đến 3 giờ sáng mới chấm dứt, rồi lại tiếp tục đến ngày hôm sau Lễ hội thường kéo dài suốt đêm và trong nhiều ngày
Trong tất cả các lễ hội, nổi bật nhất là lễ hội Ok Om Bok, vì ngoài các hoạt động văn nghệ, các trò chơi dân gian còn có hoạt động đua ghe ngo Trong các cuộc thi đua ghe ngo do tỉnh Trà Vinh tổ chức gồm có các tỉnh lân cận, các huyện trong tỉnh tham gia, trong đó có huyện Trà Cú, đại diện huyện
Trang 29Như vậy, có thể nói ngôi chùa được xem là ngôi từ đường chung của
phum, sóc được tiếp nối đời này sang đời khác, trở thành nơi cố kết và gắn bó giữa những người đã ra đi và những người còn ở lại, giữa những người đã khuất và những người còn sống, giữa thế hệ cha ông và bao thế hệ con cháu vì
cả cuộc đời mỗi người dân đều gắn bó chặt chẽ với ngôi chùa cả khi sống và khi đã chết
1.2 Hệ thống chùa ở huyện Trà Cú
1.2.1 Số lượng, phân bố
Huyện Trà Cú là một nơi có đông đồng bào người Khmer nhất so với các huyện khác trên địa bàn của huyện Trà Vinh Vì vậy, số ngôi chùa trên địa bàn của huyện cũng nhiều hơn so với các huyện khác trong tỉnh Hiện nay, Trà Cú có 37 ngôi chùa trong tổng số 141 ngôi chùa của tỉnh Trà Vinh Trong
đó, ở xã Lưu Nghiệp Anh có 2 ngôi chùa là chùa Chum Nít và Swai pốt, xã
1
Năm 2013, vận động viên ghe ngo của xã Long Hiệp đại diện cho huyện Trà Cú tham gia Hội thi đua ghe ngo chào mừng ngày Ok Om Bok tại tỉnh Trà Vinh ngày 20/11/2010, kết quả đạt giải ba cử ly 800 m Năm 2014, xã Long Hiệp tiếp tục tổ chức vận động viên ghe ngo tham dự giải đua ghe ngo mừng lễ hội Ok-om-Bok tỉnh Trà Vinh cúp sacombank lần thứ nhất năm 2014, kết quả cự ly 800 m đạt giải nhất, cự ly 1.200 m đạt giải nhì, với cúp, cờ, huy chương vàng, bạc
và giá trị tiền thưởng 27.000.000 đồng Năm 2015, tham dự giải đua ghe ngo mừng lễ hội Ok Om Bok tỉnh Trà Vinh cúp Sacombank lần thứ hai năm 2015, xã Long Hiệp có trên 68 vận động viên tham gia; kết quả đạt 01giải nhì cự ly 800 m,
01 giải nhì cự ly 1200 m Năm 2016, xã Long Hiệp tiếp tục phối hợp với Trung tâm Văn hóa – Thể thao huyện tuyển chọn các vận động viên và tổ chức tập luyện tham gia giải đua ghe ngo nhân Lễ hội Ok Om Bok tỉnh Trà Vinh, tranh Cúp Sacombank lần thứ III năm 2016, kết quả đạt giải Nhì cự ly 800 mét và đạt giải Ba cự ly 1.200 mét
Trang 3030
Thanh Sơn cũng có 2 ngôi chùa đó là chùa Cha và chùa Kos la, Ngãi Xuyên
có 3 ngôi chùa là chùa Xoài Xiêm, Xoài Xiêm Mới, Tuôie ta thốte, Ngọc Biên
có 4 chùa là chùa Rứt sâymô cum, Prây Vo, Kim Tháp, Kom Pong Sa La, Long Hiệp có 3 chùa: Chùa Pnô Prel, Tà Sất, Kbal Thuk,…
Trong 37 chùa Phật giáo Nam tông Khmer, với kiến trúc cổ, đặc sắc của người Khmer có Chùa hay còn gọi Chùa Giồng Lớn hoặc Chùa Cò, tọa lạc tại ấp Giồng Lớn, xã Đại An Chùa Phnô Đung có niên đại trên 300 năm Khuôn viên chùa rộng với cảnh quan đẹp, có nhiều loài cò, chim hoang dã sinh sống, trú ngụ Đây cũng là nơi tập trung nhiều khách du lịch đến tham quan Ngoài ra, các ngôi chùa còn lại thì ngoài nét kiến trúc cổ kính đặc sắc còn được trang trí, tô điểm thêm bằng các tượng Phật được xây dựng rất công phu tạo nên một công trình tuyệt đẹp
1.2.2 Lịch sử hình thành các ngôi chùa
Các ngôi chùa trên địa bàn huyện Trà Cú được xây dựng đa số có niên đại trên 300 năm, bên cạnh đó cũng có một số ngôi chùa được xây dựng sớm hơn hoặc muộn hơn Dựa vào những tài liệu địa chí, lịch sử hình thành vùng đất này cũng như tập quán sinh sống, đặc điểm cư trú của cộng đồng người Khmer nói chung và người Khmer hiện đang sinh sống ở huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh… Có thể thấy, quá trình hình thành các ngôi chùa gắn liền với đời sống kinh tế cũng như văn hóa vật chất, tinh thần của cộng đồng người Khmer
Trang 3131
Hoặc theo một motip khá cũng khá phổ biến là các ngôi chùa Khmer được hình thành trong quá trình đào ao, canh tác,… Người dân trong quá trình đào ao, canh tác thấy một bức tượng Phật với những điềm báo linh thiêng, rồi chọn nơi tìm thấy bức tượng Phật làm nơi xây chùa Bỏ qua các yếu tố li kì của những giai thoại về sự hình thành của những ngôi chùa, chúng ta có thể thấy, motip về một bức tượng Phật được trôi từ thượng nguồn hoặc được đào lên trong quá trình canh tác đều phản ánh chung một đặc tính của những cư dân nông nghiệp và loại hình cư trú đất giồng của người Khmer
Các ngôi chùa ở huyện Trà Cú cũng mang đầy đủ những đặc điểm về loại hình cư trú đất giồng và gắn chặt với những cư dân nông nghiệp từ thuở
sơ khai, hình thành Tên gọi của các ngôi chùa thường gắn với các sự tích chùa đều có Pháp hiệu gọi bằng Pali hoặc gắn với địa danh hành chính nơi chùa tọa lạc
Ngôi chùa có niên đại sớm nhất ở huyện Trà Cú là chùa Trô Pras Bat Chùa Trô Pras Bat hay còn gọi là chùa Chông Bát là cách gọi theo địa danh hành chính Chông Bát một ấp của xã Tân Hiệp, huyện Trà Cú Chùa Trô Pras Bat tọa lạc cách trung tâm thành phố Trà Vinh khoảng 25 km về hướng nam, cách thị trấn Trà Cú khoảng 12 km về hướng đông bắc thuộc ấp Chông Bát,
xã Tân Hiệp, huyện Trà Cú Chùa Trô Pras Bat được xây dựng năm 1646, đến nay đã trải qua hơn 30 đời sư cả trụ trì Dưới thời Pháp thuộc (trước năm 1940), chùa Chông Bát thuộc làng Hội Long, tổng Ngãi Hòa Trung, quận Bắc Trang Cuối năm 1940, Thống đốc Nam Kỳ Henri Georger Ri Voal quyết định đổi tên quận Bắc Trang thành quận Trà Cú, vào thời điểm này chùa Trô Pras Bat thuộc quận Trà Cú Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa Trô Pras Bat thuộc xã Long Hiệp, huyện Trà Cú Đến sau năm 1975, chùa Trô Pras Bat thuộc ấp Nhị Trường, xã Long Hiệp Đến năm 1981, xã Long Hiệp được chia tách thành ba xã Tân Hiệp, Ngọc Biên và Long Hiệp, chùa Trô Pras Bat thuộc
ấp Chông Bát, xã Tân Hiệp, Trà Cú
Chùa có niên đại muộn nhất ở huyện Trà Cú là chùa Phnô Om Pung
Trang 32xã Tân Hiệp (trước năm 1981 thuộc xã Long Hiệp), huyện Trà Cú Chùa nằm cách trung tâm thành phố Trà Vinh khoảng 23 km về hướng nam và cách thị trấn Trà Cú khoảng 12 km về hướng đông
Ngôi chùa Phật giáo Nam tông lớn nhất Việt Nam là chùa Vàm Rây Chùa tọa lạc tại ấp Vàm Rây, xã Hàm Tân (trước kia là xã Hàm Giang), huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh, với thời gian tồn tại hơn 600 năm Để giữ di tích
cổ còn sót lại, ông Trầm Bê đã tài trợ phục chế và cải tạo trong thời gian 3 năm Chùa Vàm Rây khởi công phục dựng và cải tạo từ ngày 03 tháng
5 năm 2004 đến ngày 03 tháng 3 năm 2008 thì hoàn thành và được chính thức khánh thành ngày 22 tháng 5 năm 2010 Dù mới được khánh thành nhưng chùa Vàm Rây đã góp phần tạo nên diện mạo đầy mới mẻ và hấp dẫn cho du lịch văn hóa Trà Vinh và hệ thống chùa Khmer Nam Bộ
Bên cạnh đó còn có một số ngôi chùa tiêu biểu khác, như: Chùa Phnô Đung hay chùa Cò là một ngôi chùa Khmer cổ và lớn thuộc ấp Giồng Lớn, xã Đại An, huyện Trà Cú, cách thành phố Trà Vinh khoảng 40 km về phía Nam Chùa có nét kiến trúc đặc sắc của nền văn hóa Khmer với diện tích hơn 3 ha.Một số tài liệu nhận định không ai biết chính xác năm xây dựng chùa Tuy nhiên, một số tài liệu khác hoặc theo lời kể của sư Trương Văn Biển trụ trì hiện tại của chùa thì cho rằng chùa được xây vào năm 1677 Hơn 100 năm nay xung quanh chùa, từ chánh điện đến các khu sinh hoạt, ăn uống của các nhà sư là nơi cư ngụ của hàng trăm chủng loại cò như cò trắng, cò quắm, cò
mỏ vàng, cò mỏ trắng, cò mỏ đen,…vì thế người dân và du khách quen gọi
Trang 3333
chùa Phnô Đung là chùa Cò
Chùa Tà Sất là một ngôi chùa tọa lạc tại ấp Chợ xã Long Hiệp cách huyện Trà Cú khoảng 12 km về hướng đông Theo lời kể của bác Thạch Dune thì chùa có lịch sử hình thành trên 300 năm Có thể, chùa được xây dựng vào năm 1698 và đã trải qua 3 lần trung tu Chùa có diện tích trên 3 ha do ông Sất hiến đất và để ghi nhớ công ơn của ông nên nhà chùa quyết định lấy tên ông
để đặt cho chùa vì thế chùa mới có tên gọi là Tà Sất (trong tiếng Khmer Tà có nghĩa là ông), đó là cách lý giải theo tên gọi Tà Sất Ngoài ra cũng như một số chùa khác trong huyện, chùa còn được gọi với tên là Trà Sất là cách gọi theo địa danh hành chính nơi chùa tọa lạc
Chùa Cha hay còn gọi theo địa danh hành chính là chùa Sóc Chà tọa lạc
ở ấp Sóc Chà B xã Thanh Sơn huyện Trà Cú cách thị trấn Trà Cú khoảng 3
km Theo lời kể của sư trụ trì Kim Ngọc Toàn, chùa Cha được xây dựng vào năm 1752 trải qua 19 đời trụ trì, người có công hiến đất thành lập chùa là ông Thạch Tiêng Là một ngôi chùa khá quy mô trong huyện với diện tích là 4 ha Chùa Cha là điểm tập trung các sư ở những chùa khác đến học ở các lớp học cao hơn của giáo lý Pali
1.2.3 Đặc điểm kiến trúc
Theo quan niệm của người Khmer “sống tạm, thác gửi về chùa”, sau
khi chết người ta sẽ về dưới bóng gốc cây Bồ đề nơi cửa Phật nên người Khmer theo Phật giáo Nam tông rất chú trọng đến việc xây dựng chùa chiền
Ở giai đoạn đầu của quá trình hình thành và phát triển, các ngôi chùa còn đơn
sơ, nhỏ hẹp Dưới thời chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn sau này, chùa của người Khmer chủ yếu được xây dựng bằng một số cây gỗ, lợp bằng lá cọ hoặc lá dừa (loại lá rất phổ biến ở Tây Nam Bộ), bên trong chùa thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và một số bát hương, chuông, mõ…
Chùa của người Khmer là một công trình kiến trúc độc đáo thường được tọa lạc trên một khu đất rộng, yên tịnh, u tịch được bao bọc bởi những
Trang 3434
cây cao to như cây dầu, sao, thốt nốt,…tạo thành một khu rừng nhỏ, ngoài ra trong khuôn viên chùa còn có các loại cây cảnh, hoa kiểng trang trí góp phần tạo nên một không gian linh thiêng huyền ảo tuyệt đẹp
Tổng thể kiến trúc chùa Phật giáo Nam tông ở huyện Trà Cú, tỉnh bao gồm các công trình kiến trúc hợp thành một ngôi chùa như: Cổng chùa (Khă - Lôông - Thă - Via), chính điện (Pré - Vihear), Sala (giảng đường), tháp (Chetiya), liêu (kod) và các công trình phụ trợ khác như hồ nước, nhà tắm, nhà vệ sinh,…
Cổng chùa được xây dựng theo phong cách kiến trúc xưa của người Khmer với motip ba ngọn tháp Tháp giữa cao hơn tháp hai bên tượng trưng cho Phật, Pháp, Tăng Trên cổng có hàng chữ đắp nổi ghi tên chùa Trên mỗi đầu cột có gắn hình tượng chim thần Krud (Garuda) và Keynor (nàng tiên nữ) với hai cánh tay dang rộng vươn lên chống đỡ mái như muốn đón chào quí khách Phật tử thập phương đến chiêm bái đức Phật Hai bên hông cánh cổng xòe ra phía trước hình vòm cung với hình tượng rắn thần Naga 5 đầu ở hai bên Thân hình rắn mềm mại, uốn éo để bảo vệ cho ngôi chùa Thường thì điểm chung của các cổng chùa là có ba ngọn tháp, còn về phần trang trí thì mỗi chùa lại có một cách trang trí khác nhau Tuy nhiên, lối vào cổng hoặc hai bên cổng có trang trí các bức tương Phật, hoặc tượng hình tiên nữ
Bên cạnh cổng chùa là hàng rào chùa được xây dựng công phu, thường được xây thành dãy tường cao trên 1 m Trên mép bờ tường được trang trí bởi thân rồng uốn lượn tạo vẽ mềm mại, mượt mà nhưng trang nghiêm Một số chùa thì trang trí một đoạn ở hai bên cổng chùa, có chùa thì trang trí dài hơn hoặc hết cả bờ rào Đối với các đoạn không trang trí hình rồng thì thường được trang trí bằng các dãy hoa văn cách điệu và trên trụ cột có trang trí tượng thần bốn mặt Bề mặt tường được trang trí bằng các hoa văn trạm khắc bằng xi măng hình hoa lá cách điệu hoặc các bức trạm khắc hình nàng tiên cá, bức họa trạm khắc các nhân vật trong sử thi Riêm kê hoặc hình tượng bánh xe luân hồi, điệu múa apsara hay những bông hoa cari Lối đi từ cổng chùa vào
Trang 3535
hoặc ở hai bên cổng chùa Trên lối đi, một số chùa trang trí thêm các tượng Phật hoặc tượng hình tiên nữ, chẳng hạn như chùa Phnô Đung ở lối đi có đặt tượng các tiên nữ trang trí ở cả hai bên
Trong khuôn viên chùa, chính điện là kiến trúc trung tâm, là công trình quan trọng nhất, lớn nhất trong một ngôi chùa Chính điện được xây dựng trên nền cao có hai cấp, cao hơn hẳn so với các công trình khác Nền cấp một được bao bọc bởi hàng rào với những cây sắt nhọn chỉa lên cao, các cây cột hàng rào đều được trang trí hoa văn giống như hoa văn ở các cây cột Nền cấp hai cao hơn cấp một khoảng 0,5 m, có hành lang hẹp hơn, ở các dãy cột ngoài cùng của chính điện là các cột hình vuông và đều được bao bọc bởi các lang cang, chỉ trừ lối đi ở phía trước và phía sau Hầu hết các ngôi chính điện đều quay mặt về hướng đông, vì người Khmer quan niệm Đức Phật ở hướng tây quay mặt về hướng đông ban phúc lộc và cứu độ chúng sinh Hướng đông được xem là hướng may mắn, là hướng của sự sinh sôi, nãy nở, của sự sinh tồn
Kiến trúc của ngôi chính điện là điểm độc đáo nhất, là phần quan trọng nhất của chùa, tập trung toàn bộ giá trị nghệ thuật kiến trúc và là nơi thờ phụng Đức Phật Chính điện được kiến trúc với hệ thống cấu trúc mái ba cấp, mỗi cấp lại chia thành ba nếp và đều được lợp ngói tạo hình vẩy con rồng (vẩy cá) Trên mỗi đỉnh gốc mái thường được đắp một khúc đuôi rắn dài, cong vút, uốn mềm mại Trên các giải giáp mí của các nếp mái thường được đắp các tượng rồng, đó là loại rồng Khmer Đầu rồng ở dạng kép nằm ở ngay
vị trí các gốc đao của mái, thân rồng nằm xoãn dài theo bờ dãy với hàng vi lưng được tỉa rõ từng cái, uốn cong ngược lên như ngọn lửa Sự kết hợp giữa đầu thân và đuôi rồng tạo nên những hình ảnh chiếc thuyền đua bơi, bao quanh bốn dãy hành lang rộng với hàng cột dày đặc Mỗi cột đều có gắn tượng Krud (người chim) với một nửa thân là chim, một nửa là người hoặc là tiên nữ đứng dang hai tay đở mái, trong rất khỏe khoắn sinh động Trên trần chính điện phía bên ngoài chính điện còn được trang trí các bức vẽ về sự tích
Trang 3636
của 12 con giáp (chùa Phnô Đung) Ở một số chùa, trên chính giữa nắp chùa còn dựng thêm một tháp nóc, tháp nóc hình quả chuông úp, gồm nhiều tầng, trên đỉnh đặt tượng đầu thần Bốn Mặt (Maha Prum) Đó là vị thần đại biểu cho sự thông minh, bốn mặt nhìn ra bốn phía đại diện cho tứ pháp đó là: Từ,
bi, hỷ, xả Trên đầu tượng là một tháp nhọn cao vút, nhìn như một mũi tên cắm vào không trung, biểu trưng cho đấng tối cao trên thế giới vĩ đại hơn người
Hệ thống cấu trúc cấp mái ba cấp ở các ngôi chùa được phân bố theo mỗi cách, mỗi kiểu khác nhau tạo nên một nét đẹp riêng Điểm chung của cấp mái ba cấp là các mái vừa so le, vừa có độ dốc không đều nhau, được trang trí bằng những tượng rồng, cùng với tháp nhọn cao
Bên trong chính điện là một gian phòng rộng có rất nhiều cột tròn to Trên các cột đều có vẽ hình rồng hoặc trạm khắc hoa văn rất đẹp Trần của chính điện cũng được trang trí các hình vẽ về sự tích Đức Phật, hoa văn Trên bức tường, phía trên là các bức vẽ về sự tích của Đức Phật Thích Ca từ lúc đản sinh cho đến lúc viên tịch, phía dưới là các bức vẽ về cõi âm, về các cảnh đài ải, chịu cực hình ở chốn âm phủ
Chính giữa điện là bệ thờ Phật với tượng Phật lớn nhất đặt ở trung tâm Bên cạnh đó có nhiều tượng Phật lớn nhỏ gồm nhiều dạng khác nhau như Phật đản sinh, Phật thiền định, Phật thuyết pháp, Phật khất thực, Phật đắc đạo, Phật nếp bàn Tất cả các tượng Phật kể trên đều là Phật Thích Ca, khác với Phật giáo Bắc tông, Phật giáo Nam tông chỉ thờ Phật Thích Ca Tượng Phật mặc áo cà sa choàng kín một bên vai trái, vai phải để trần, mái tó xoăn xoay tròn thành đỉnh nhọn tượng trưng cho trí tuệ, quyền lực và sự vĩnh hằng cao
cả, khuôn mặt tượng có trán rộng, gương mặt đầy đặn, đôi lông mày cong, đôi mắt khép hờ, mũi thẳng, miệng rộng, đôi môi hơi dầy, đôi tai to và dài gần chấm vai Phần thân mình tượng có ức nở, lưng thẳng, bụng thon, hai cánh tay tròn trịa Tay trái của tượng trong thế ấn Tam Muội, tay phải tì qua chân, bàn tay úp chỉ các ngón xuống đất Ngoài ra, còn có các tượng Phật nhỏ hơn như
Trang 3737
tượng Phật trong tư thế đứng thẳng, tượng mặc áo cà sa buông thõng, phủ kín lưng như một tấm áo choàng, tay phải của Phật xuôi bên hông, tay trái đưa về phía trước ngực Tượng Phật ngồi trên rắn thần Muhalinđa, tượng thể hiện lúc Phật ngồi thiền định dưới gốc cây bồ đề được rắn thần Muhalinđache chở, thần rắn cuộn lại 3 vòng thành chiếc bệ cho tượng, đầu rắn 7 đầu (9 đầu) phùng ra thành mái đầu che chở cho Phật Tượng Phật nhập niết bàn, nằm nghiêng đầu đặt lên tay phải, mặt quay về hướng Đông, đầu quay về hướng Nam Tượng Phật đi khất thực, hai tay ôm bình bát tư thế đứng thẳng Tượng Phật khổ hạnh lúc tuyệt thực, túc tham thiền cơ thể nhịn ăn lâu ngày để mong tìm ra đạo lý
Phía bên ngoài chính điện ở 4 góc thường được bố trí 4 ngôi tháp đựng hài cốt của các Phât tử đã mất Cách bố trí này được các chùa lựa chọn như chùa Phnô Đung, chùa Trô pras bat, chùa Cha… Tuy nhiên, không phải chùa nào cũng bố trí 4 tháp như vậy Qua quan sát chùa Phnô Đung được bố trí 4 ngôi tháp ở 4 góc của chính điện, cũng ở chùa này phía dưới nền xung quanh chính điện còn được trang trí bởi một hàng các tượng chằn đẹp được đúc bằng
xi măng góp phần tô thêm vẽ đẹp cho ngôi chính điện Phía dưới bậc tam cấp, bên ngoài hàng rào ngôi chính điện ở hai còn bố trí tượng hình sư tử hoặc tượng chằn như trông coi, canh giữ cho khu vực linh thiêng này
Ở phía Đông của chính điện thường có một ao sen, nhưng ngày nay ở khu vực này được xây dựng thành nhiều công trình khác nhau, có chùa thì xây một tượng Phật lớn, có chùa thì xây nhiều tượng Phật tạo nên bố cục đẹp, một
số chùa thì khu vực này vẫn để hoang sơ tạo thành một rừng cây nho
Công trình quan trọng tiếp theo của chùa là Sala Sala là giảng đường hay còn gọi là phước xá được xây dựng rộng rãi, là nơi được xây đầu tiên khi dựng chùa, nơi đây được xem như nhà hội của phật tử và sư sãi, có khi còn là nơi học tập văn hóa, là nơi thuyết pháp, nơi tập trung phật tử độ cơm cho các
vị sư sãi, nơi tổ chức sinh hoạt, nơi tổ chức phòng nhạc ngũ âm Sala là nơi sinh hoạt tôn giáo của tín đồ Phật tử với các chư tăng trong chùa Vào các dịp
Trang 3838
lễ tết, người dân tập trung đông đảo nhất, mang thức ăn đồ uống đến cúng chùa, để dâng cho các tu sĩ và các lễ tết cũng đều diễn ra tại đây Về kiến trúc, Sala không quy mô bằng chính điện nhưng cũng được xây dựng bề thế, Trong sala, ở gian giữa cũng có bàn thờ Phật nhưng đơn giản hơn so với chính điện Kiến trúc sala mang dấu ấn của ngôi nhà sàn truyền thống của người Khmer Trụ cột được làm bằng gỗ hoặc bêtông, Sala có nền rộng và cao hơn mặt đất khoảng 1 m – 1,5 m và không có hàng rào Mặt bằng sàn Sala được phân chia thành các khu vực có kích cỡ và độ cao thấp khác nhau, phù hợp với chức năng sử dụng và chức sắc sư sãi trong chùa Thông thường, gian giữa là gian lớn nhất, gian hai bên nhỏ hơn, trên vách tường còn có nhiều hoa văn, tranh
vẽ về sự tích Đức Phật Ngoài bàn thờ Phật ở gian giữa, một số ngôi chùa còn
bố trí ở các góc trong gian nhà bàn thờ vị sư đầu tiên có công thành lập chùa, những người có công lao với chùa hoặc suốt cuộc đời gắn bó với chùa Bên ngoài Sala, ở các dãy cột, các mép viền góc mái, cửa sổ đều được trang trí hoa văn hoặc trang trí các hình tượng, Phía bên ngoài ở một số chùa còn được đặt các tượng sư tử, hình tượng như trông coi, canh gác, bảo vệ cho nơi này Bên trên nóc mái ở một số chùa cũng được lợp bằng ngói vẩy cá, các góc gác mái cũng được trang trí hình rồng, hình đuôi rắn, mặc dù không công phu bằng ngôi chính điện nhưng cũng góp phần tạo nên một vẽ đẹp cho Sala
Một công trình quan trọng kế tiếp Sala là tăng xá Tăng xá là một dãy nhà rộng gồm nhiều phòng, là nơi ở của các sư sãi, mỗi phòng đều bố trí giường và còn có bàn ghế dùng để tiếp khách Đối với các chùa có số lượng
sư đông thì sẽ có nhiều phòng hơn Thường thì các liêu sư được xây dựng khá đơn giản, trừ trường hợp đó là liêu của trụ trì hay hòa thượng thì được trang trí đẹp hơn
Kế tiếp là tàng kinh các hay còn gọi là thư viện Phật giáo, là nơi đặt toàn bộ các kinh sách phục vụ cho quá trình nghiên cứu và học tập giáo lý của Đức Phật Ngoài ra còn có các loại sách khác như sách văn học Khmer, truyện
cổ tích, truyện dân gian, luật nam nhi, luật nữ nhi,…Tuy nhiên, không phải
Trang 3939
ngôi chùa nào cũng đều có thư viện mà chỉ có những chùa lớn thì mới có thư viện, còn với những ngôi chùa nhỏ thì kinh sách được bố trí trong các tủ của chùa
Ngoài ra còn có tháp, là nơi được xây dựng để cất tro cốt của người đã mất Thông thường khi người thân mất, các Phật tử thường đem tro cốt của người đã mất vào gởi ở tháp tập thể được nhà chùa xây dựng Còn đối với các gia đình, dòng họ có khả năng thì họ sẽ xây dựng tháp riêng của gia đình và dòng họ mình, là nơi để tro cốt của gia đình và của họ hàng, thân tộc của mình Các tháp để cốt thường được xây xung quanh chính điện, tháp thường
có ba phần chân tháp rộng hình vuông, thân tháp tròn, bên trong có nhiều tầng, đỉnh tháp thì nhọn, trên đính có đặt hình đầu thần Bốn mặt
Bên cạnh đó, chùa nào cũng có nhà hỏa táng tức là nhà thiêu dùng để hỏa táng người chết, nhà hỏa táng luôn được xây dựng cách xa trung tâm chùa, có dạng hình tháp
Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn có các tăng xá, sa la để các vị sư nghỉ ngơi, tu học, bà con phật tử cùng các sư sãi hành đạo Đặc biệt, ở hướng đông chính điện còn có một tháp thờ bàn chân Phật Đây là nơi thờ bàn chân Phật duy nhất ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại Những công trình này đều là những tác phẩm nghệ thuật mang đậm bản sắc văn hóa Khmer
Trong đó, các tác phẩm điêu khắc về các hình tượng có nguồn gốc và ý nghĩa tín ngưỡng xuất phát từ những truyện kể dân gian được xem là điểm nhấn và nét độc đáo riêng biệt trong văn hóa Khmer Nam Bộ
Trang 4040
nghiệp và những phong tục tập quán này xuất phát từ các yếu tố nông nghiệp Đồng bào Khmer là cư dân nông nghiệp từ lâu cùng với văn hóa mang đậm nét nông nghiệp các hoạt động truyền thống của đồng bào Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer được tiến hành tổ chức theo trình tự diễn biến thời tiết, cơ cấu vụ mùa trong năm Lễ hội của người Khmer thể hiện những nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc của dân tộc mình, là một nét văn hoá độc đáo góp chung vào
sự đa dạng, đặc sắc của nền văn hóa Việt
Các ngôi chùa Phật giáo Nam tông ở huyện Trà Cú chiếm số lượng khá lớn so với tổng số các ngôi chùa Phật giáo Nam tông ở tỉnh Trà Vinh Các ngôi chùa ở huyện Trà Cú cũng mang đầy đủ những đặc điểm về loại hình cư trú đất giồng và gắn chặt với những cư dân nông nghiệp từ thuở sơ khai, hình thành Tên gọi của các ngôi chùa thường gắn với các sự tích chùa đều có Pháp hiệu gọi bằng Pali hoặc gắn với địa danh hành chính nơi chùa tọa lạc Các ngôi chùa Phật giáo Nam tông ở huyện Trà Cú có lối kiến trúc độc đáo của nền văn hoá của mình, hầu hết các ngôi chùa đều ảnh hưởng kiến trúc của Ấn
Độ và các nước Đông Nam Á Chùa là nơi tôn trí tượng Phật Thích Ca, chư tăng hành lễ, phật tử lễ bái; tháp là nơi tôn trí Xá lợi của phật tổ và xương cốt của chư tăng và phật tử