1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chùa khmer ở huyện cầu kè tỉnh trà vinh

77 697 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung, c c công trình nghiên c u đ hảo ược về chùa h er ở Tây Na Bộ trên c c hía cạnh: quá trình thành lập phát triển của chùa Khmer qua các thời kì, vai trò của chùa Khmer trong cá

Trang 1

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc Mỗi một dân tộc c bản sắc văn h a riêng góp phần hình thành nên văn h a dân tộc Việt Người Khmer là một tộc người thiểu số trong cộng đ ng c c dân tộc iệt Na Người Khmer sinh sống chủ yếu ở các tỉnh: Trà inh, S c Trăng, An Giang

Tên gọi Trà Vinh có từ trước khi chúa Nguyễn lập dinh Long H Nă 1876 Thống đốc Nam Kỳ chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn Trên cơ sở đ khu vực hành chính ĩnh Long g m: ĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Sa Đéc Ngày 20/12/1899 Toàn quyền Đông Dương Dou er kí nghị định đổi tiểu khu Trà inh thành tỉnh Đến năm 1957, tỉnh Trà vinh thành tỉnh ĩnh Bình Sau nă 1975, Trà inh được sáp nhập với tỉnh ĩnh Long thành tỉnh Cửu Long Ngày 5/5/1992 tỉnh Trà Vinh t ch h i tỉnh Cửu Long

Huyện Cầu Kè là ột trong 7 huyện của tỉnh Trà Vinh uyện Cầu nằm ven sông Hậu với ngu n nước ngọt quanh nă đ tạo điều kiện triển vườn cây ăn trái với nhiều loại đặc sản mà không huyện nào trong tỉnh c được Trải qua nhiều lần tách, nhập thì huyện Cầu Kè ngày nay đ trở thành vùng trọng điểm sản xuất cây ăn tr i của tỉnh Bên cạnh đ , huyện Cầu Kè còn nổi tiếng với nhiều ễ hội đặc biệt là những lễ hội của đ ng bào dân tộc Khmer

Trên địa àn tỉnh Trà Vinh, người Khmer cư trú tại ột số huyện như: Châu Thành,Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Kè Người Khmer ở huyện Cầu cư trú và sinh sống ở vùng đất gò cát với hoạt động inh tế nông nghiệp à chủ đạo Ngoài ra, người h er c ng tha gia hoạt động inh tế thủ công nghiệp với nghề đan t và dệt Người Khmer ở Trà Vinh nói chung và ở huyện Cầu Kè nói riêng theo Phật giáo Tiểu thừa Phật giáo Tiểu thừa của người Khmer ở Trà Vinh iểu hiện r nét qua kiến trúc chùa và ễ hội Mọi sinh hoạt tôn giáo và phong tục tập quán của

Trang 2

người Khmer ở huyện Cầu Kè điều được thực hiện thông qua hệ thống các ngôi chùa Chùa Khmer ở huyện Cầu Kè mang nhiều nét kiến trúc độc đ o Chùa của người Khmer là chốn inh thiêng đ ng thời à nơi sinh hoạt cộng đ ng của đ ng bào dân tộc Khmer ở huyện Cầu Kè

Với những do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Chùa Khmer ở huyện Cầu

Kè tỉnh Trà Vinh” để à đề tài luận văn cao học lịch sử khóa học 2016-2017

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chùa của người h er n i chung và chùa của người h er tại hu vực Tây

Na Bộ trong đ c tỉnh Trà inh đ được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên c u h c nhau

Đầu tiên à công trình nghiên c u “Người Việt gốc Miên” của Lê ương

xuất bản nă 1969 T c giả đ tì hiểu ngu n gốc, phong tục tập qu n đặc iệt à

về tín ngưỡng, tôn giáo của người h er ở Na Bộ, ngoài ra T c giả c n đề cập đến cộng đ ng người h er ở tỉnh ĩnh Bình nay à tỉnh Trà inh trên c c phương diện: trong đ c iến trúc chùa h er

Nă , trong công trình nghiên c u Chùa Khmer ở Nam Bộ với văn hóa đương đại của tác giả Hà Lý, Nhà xuất bản văn h a dân tộc đ tập trung nghiên

c u về Phật giáo Nam tông (Tiểu thừa) của người Khmer Nam Bộ với hệ thống hàng tră ngôi chùa của đ ng bào Khmer Nam Bộ T c giả c n phân tích sự khác iệt trong kiến trúc và cấu tạo của một ngôi chùa theo Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa

Nă 5, với công trình Lịch sử tỉnh Trà Vinh (3 Tập) do Ban tư tưởng

tỉnh ủy Trà Vinh chịu tr ch nhiệ iên soan đ đề cập đến lịch sử hình thành, địa giới hành chính, t ch c hành chính, công cuộc đấu tranh, bảo vệ và xây dựng tỉnh Trà Vinh T c ph ước đầu nghiên c u về đời sống inh tế, văn h a tinh thần của cư dân sinh sống tại Trà inh trong đ c đạo hật của người h er

Trang 3

Nă 8, nhà nghiên c u Nguyễn ạnh Cường đ phân tích văn h a của

người h er trong t c ph Phật giáo Khmer Nam Bộ những vấn đề nhìn lại, Nhà xuất ản Tôn giáo(2008) Tác giả phân tích đặc điể đời sống của người

h er, người Khmer với phật giáo, ngôi chùa của người Khmer với đời sống tâm linh, những đại lễ và nghi th c tụng niệm của phật giáo Khmer Nam Bộ

Phật giáo Nam tông tại Đông Nam Á của tác giả Trần Quang Thuận, Nhà

xuất ản Tôn giáo, nă 8 tập trung nghiên c u về lịch sử, tôn giáo của các dân tộc ở Đông Na Á trong đ c cộng đ ng dân tộc h er với những điể tương

đ ng trong nghi lễ Phật giáo

Nă 9, t c giả han An với công trình Dân tộc Khmer Nam ộ, nhà xuất

ản Chính trị quốc gia đ nghiên c u về điều kiện địa í, dân cư, đời sống kinh

tế-xã hội, đặc biệt là những sinh hoạt văn h a ang đậm dấu ấn Phật giáo Tiểu thừa của dân tộc Khmer

Nă 1 , với công trình Vài nét về văn hóa dân gian của Người Khmer,

tác giả Nguyễn Anh Động đ đề cập đến lễ nghi và những phong tục tập quán truyền thống của người Khmer Nam Bộ Tác ph m t i hiện đời sống tinh thần của người Khmer với những nét đẹp giản dị, gần g i với thiên nhiên

Nhìn chung, c c công trình nghiên c u đ hảo ược về chùa h er ở Tây

Na Bộ trên c c hía cạnh: quá trình thành lập phát triển của chùa Khmer qua các thời kì, vai trò của chùa Khmer trong các lễ hội trong nă của đ ng bào Khmer; vai trò của chùa h er trong đời sống cộng đ ng cao của dân tộc Khmer,nét kiến trúc độc đ o c ột không hai của chùa Khmer vừa ang đậm dấu ấn Phật giáo vừa man dấu ấn của Bà La ôn và hơi thở của nền sản xuất nông nghiệp úa nước Nam Bộ Tuy nhiên, chưa c ột công trình nào hảo c u về chùa h er ở huyện Cầu tỉnh Trà inh

Trang 4

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tƣợn n i n ứ của đề tài à chùa h er ở huyện Cầu tỉnh Trà

Vinh

* ạ i n i n ứ

ề thời gian: đề tài nghiên c u chùa h er ở huyện Cầu tỉnh Trà inh

từ hi ngôi chùa đầu tiên được dựng thế kỉ XI) đến nay

ề giới hạn phạ vi không gian nghiên c u của đề tài trên địa bàn huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh

4 Mụ đí , n iệm vụ nghiên cứu

Bên cạnh đ , đề tài đặc iệt coi trọng ngu n tư iệu hiện vật sưu tầ về chùa

h er trong qu trình thực tế điền d tại huyện Cầu tỉnh Trà inh

* ƣơn p áp n i n ứu:

hương ph p ịch sử và phương ph p ogic được vận dụng trong qu trình

t c giả nghiên c u về ịch sử hình thành chùa h er ở huyện Cầu tỉnh Trà

Trang 5

inh, phân tích c c yếu tố t c động đến iến trúc và ễ hội chùa h er ở huyện Cầu tỉnh Trà inh

Bên cạnh đ , t c giả vận dụng ột số phương ph p nghiên c u cụ thể nhằ hoàn thành ục đích và nhiệ vụ nghiên c u của đề tài T c giả ph t huy tối đa hiệu quả của phương ph p điền d thông qua c c hoạt động như ph ng vấn sư cả tại c c chùa h er ở huyện Cầu tỉnh Trà inh, trực tiếp tham gia vào một số nghi lễ và lễ hội truyền thống diễn ra ở địa phương hương ph p thống ê và so

s nh về c c chùa h er ở huyện Cầu tỉnh Trà inh nhằ đưa ra những nhận xét về đặc điể của chùa h er ở huyện Cầu tỉnh Trà inh

6 Đón óp ủa luận ăn

Th nhất, uận văn à ngu n tài iệu nghiên c u ổ sung nhận th c về chùa

h er ở huyện Cầu tỉnh Trà inh trong hệ thống chùa h er ở Tây Na Bộ

Th hai, luận văn à tài iệu tham khảo bổ sung về một số lễ hội và phong tục tập quán của người Khmer nam bộ nói chung và ở Cầu kè nói riêng

Th ba, uận văn à tài iệu tha hảo dành cho c c gi o viên giảng dạy về ịch sử và văn h a địa phương tại tỉnh Trà inh

7 Bố cục của luận ăn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của uận văn g c chương

C ƣơn 1 Khái quát huyện Cầu Kè Phật iá ủ n ƣ i tại

ện Cầ tỉn in : vị trí địa , dân cư và đời sống inh tế tại huyện

Cầu tỉnh Trà inh; phân tích h i qu t hật gi o của người h er tại huyện Cầu tỉnh Trà inh

C ƣơn 2 Lịch sử n t n kiến trúc của chùa Khmer tại huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh à r sự ra đời và đặc điể iến trúc của chùa h er ở huyện

Cầu tỉnh Trà inh

Trang 6

C ƣơn 3 ghi lễ, p n tụ và lể hội đƣợ t iện tại Khmer ở huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh t i hiện c c nghi ễ, phong tục và ễ hội tiêu iểu

gắn iền với chùa của người h er ở huyện Cầu tỉnh Trà inh

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠ G 1 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN CẦU KÈ PHẬ GI

Th ng nă 19 7 theo quyết định của Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chính Nam

Bộ Phạ ăn Bạch thì huyện Cầu Kè thuộc tỉnh ĩnh Long hi đ , huyện Cầu

Kè g m các xã: Tích Thiện, ĩnh Xuân, Trà Côn, ựu Thành, Thông Hòa, Tam Ngãi, An Phú Tân, Hòa Ân, Phong Phú, Phong Thạnh, Châu Điền Th ng 6 nă

1951 với sự sáp nhập hai tỉnh ĩnh Long và Trà inh thì Cầu Kè hợp với Tam Bình và Trà Ôn thành Huyện Ba thuộc tỉnh ĩnh Trà

Th ng 9 nă 195 huyện Cầu Kè cùng với Trà Ôn được khôi phục lại và thuộc tỉnh Trà Vinh Khoảng thời gian nă 1956-1957 với sự thành lập tỉnh Tam Cần, huyện Cầu Kè thuộc tỉnh Tam Cần nhưng hi tỉnh Tam Cần giải thể thì huyện Cầu Kè trở lại thuộc tỉnh Trà Vinh.Trong kháng chiến chống ĩ, từ cuối

nă 1957 huyện Tiểu Cần sáp nhập với huyện Cầu và đến nă 197 ới tách

ra, đến nă 1977 Tiểu Cần lại sáp nhập với Cầu , đến 1987 Tiểu Cần mới tách

ra riêng cho đến ngày nay

Tên địa danh Cầu Kè bắt ngu n từ một con rạch cạn do trâu, voi, heo rừng đi lại mà thành Để qua lại cư dân địa phương đ dùng thân cây Kè ( một loại cây họ dừa giống như thốt nốt để bắt qua rạch Từ đ người dân gọi vùng đất này là Cầu

Kè [44;13]

Trang 8

Huyện Cầu Kè g có 01 thị trấn Cầu và 1 x Đ à c c x Châu Điền, Phong Phú, Phong Thạnh, Ninh Thới, Hòa Tân, An Phú Tân, Tam Ngãi, Hòa Ân, Thông Hòa, Thạnh Phú

* Dân ƣ

Những người dân đầu tiên đến đây thuộc các dân tộc Khmer, Kinh, Hoa Người Kinh theo từng nh 5 đến 7 gia đình di dọc theo sông rạch, đ ng tr ng định cư và tr ng úa nước, hoa àu để sinh sống Người Khmer tụ cư thành từng

nh trên c c vùng đất g để làm rẫy, thủ công và tr ng úa nước hi người Hoa đến thường họ sống ở những nơi đông người và buôn bán

Huyện Cầu Kè là một huyện vùng sâu thuộc tỉnh Trà Vinh, dân số chung toàn huyện c 1 5 969 người với 27.559 hộ, trong đ dân tộc Khmer có 38.965 người chiếm 31% dân số sống tập trung ở 38/70 ấp, khóm thuộc 8 xã và thị trấn [4;1]

Theo số liệu quyết định về việc phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo

nă 1 trên địa bàn huyện thì người Khmer có 10.805 hộ, Họ sinh sống rải rác ở các xã trong huyện Trong đ , số hộ cư dân Khmer phân bố tại c c x ần ượt à: Hòa Ân c 1.679 hộ, Hòa Tân c 1.449 hộ, Phong Phú c 2.290 hộ, Phong Thạnh

c 1.267 hộ, Châu Điền c 2.777 hộ, Ninh Thới c 8 hộ, Thông Hòa c 401 hộ, An Phú Tân c 1 hộ, Tam Ngãi c 88 hộ, Thạnh Phú 2 hộ [46;1] Người h er sống nhiều nhất ở 6 xã: a Ân, a Tân, Châu Điền, Phong Phú vàPhong Thạnh

Những cư dân đầu tiên của Cầu Kè là những người gan dạ, c ĩ năng ao động, họ biết đ hắc phục được sơn â , chướng khí, rừng thiên nước độc, chống chọi với thú dữ ọ đ iến vùng hoang vu thành đ ng ruộng [26;7-8]

Trong lịch sử khai kh n và phát triển vùng đất Nam bộ, đ ng bào Khmer luôn gắn bó với c c nh dân c h c như người inh, người oa “Kể từ khi hình thành địa giới hành chính huyện đến nay thì đ ng bào Khmer ở Cầu Kè trở thành một bộ phận của đại gia đình c c dân tộc Việt Na ” [20; 8]

Trang 9

Cộng đ ng người Kinh, Hoa, Khmer sinh sống ở huyện Cầu Kè dù c tín ngưỡng và tập tục h c nhau nhưng vẫn hòa hợp cùng chung s c vì sự ph t triển của địa phương Những giá trị văn h a h c nhau của các dân tộc trong quá trình gặp gỡ, tiếp xúc, giao ưu c thể trực tiếp hoặc gián tiếp trên cở sở kế thừa, tiếp thu

có chọn lọc đ hình thành nên những nét văn h a phong phú và đặc sắc của huyện Cầu tỉnh Trà inh [44;9]

Người Khmer ở Cầu cư trú trong c c phu , s c trên vùng đất gi ng cao Trước 1975, huyện Cầu Kè có 16 sóc nh nhưng nay thành lập các xã thì tên gọi sóc không còn nhiều mà chỉ còn một số như: S c Ruộng, Sóc Kha, Rùm Sóc, Chông Nô

Người h er đến cư ngụ và sinh sống trên vùng đất Cầu Kè từ rất sớm, cùng với người h er đến cư trú thì hật gi o Na Tông c ng ph t triển Trải qua thời gian, ngôi chùa Khmer vẫn t n tại và à điểm tựa tinh thần của đ ng bào Khmer ở Cầu Kè ới vào đường lối đổi mới của Đảng và Nhà Nước mà cuộc sống của đ ng bào Khmer ở Cầu Kè ngày càng phát triễn Từ đ họ c điều kiện chă o cho cuộc sống và ngôi chùa của mình nhiều hơn, phần lớn các ngôi chùa khmer ở cầu được trùng tu, xây dựng hang trang như ngày nay à vào giai đoạn sau đổi mới của đất nước và kéo dài cho tới ngày nay Điều này cho thấy cuộc sống của đ ng bào Khmer ở Cầu Kè ngày nay đ c nhiều ước phát triễn rõ rệt góp phần không nh vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại h a đất nước trong thời

kì mới

* Đ i ốn in tế

Huyện Cầu Kè từ xưa vốn là huyện thuần nông của cộng đ ng các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer Tuy nhiên mỗi dân tộc lại mang một sắc thái riêng tạo nên nét đẹp riêng Người Khmer ở Cầu Kè sống chủ yếu bằng nghề tr ng úa nước Người Khmer ở huyện Cầu thường dùng các công cụ ao động như: đao phảng), chóp (cuốc , can eo ưỡi h i , chơchan (cây dậm lúa mùa), anol ưỡi cày), ta lục(trục

Trang 10

ruộng) Người h e c n iết đến nghề làm thủ công truyền thống như đan đ t tre

n a, à đất, dệt chiếu C c sản ph từ nông nghiệp và thủ công nghiệp phục vụ cho nhu cầu của người dân sinh sống tại c c phum, sóc

Người Khmer tr ng lúa t phục vụ nhu cầu ương thực trong gia đình và

tr ng úa nếp phục vụ cho các dịp lễ tết và dâng cúng chùa Người Khmer cất lúa trong b để dùng quanh nă Người Khmer ở Cầu Kè ngày nay ngoài việc tr ng

úa nước thì họ c ng tr ng các loại cây ăn tr i như dừa, ca , nh n và nuôi thê

gà, vịt, đặc biệt là trâu bò

Do ở gần sông và ênh rạch nên người Khmer đ tùy theo thủy triều lên mà đưa nước vào ruộng, đắp đập nh để xả phèn cho ruộng Khi úa à đ ng thì phá đập rữa phèn, bắt cá Khi thủy triều lên, người h er đắp đập lại một lần nữa Đối với những hu vực sinh sống xa sông và ênh rạch, người h er đắp bờ thành ô

để giữ nước ưa, hi cần thì tát nước vào ô bằng gầu vai, gầu sòng Bên cạnh đ , người Khmer còn bao ngạn, xổ phèn với mục đích giữ nước để canh tác Ngày nay, người h er đều biết thâ canh tăng vụ và áp dụng tiến bộ khoa học ĩ thuật vào sản xuất để nâng cao năng xuất đ p ng ngày càng tốt cuộc sống của gia đình

Dải đất Cầu Kè nằm trong cù lao châu thổ Sa ĩnh Trà Đây à đất phù sa

b i tụ hàng tră nă giữa hai nhánh sông Tiền và sông Hậu Do t c động của gió

và thủy triều, vùng đất này c hình ượn s ng: đ ng bằng tr ng xen ẫn với gi ng,

g , ưng C những gi ng và ưng như: gi ng dầu, gi ng nổi, gi ng lớn, ưng lớn Các kênh rạch đổ ra sông Hậu như: rạch Bon Bót, sông Cầu Kè, rạch Bà Nghệ, rạch Thầy Hợi, rạch Miễu, rạch Rùm Sóc, kênh Tổng T n, kênh ĩ ăn, kênh Ngang, kênh Suôi, kênh S ng

Địa hình Cầu Kè c đặc điể h c nhau giữa vùng Đông Bắc và Tây Na Phía Đông Bắc là những gi ng c t c độ cao từ 1,8-2,5m nằm xen lẫn với những

c nh đ ng: Bắc Sa a, Trà Điêu, Chông Nô, S c ha, Gi ng Lớn, Gi ng Dầu

Trang 11

Phía Tây Na à nơi nhiều kênh rạch: Tân Dinh, Bon Bót, Cầu Kè, kênh Tổng

T n, rạch Rùm Sóc, rạch ĩ ăn, rạch Mặt Bắc

Cầu xưa ia à ột vùng hoang vu với nhiều muông thú có cả cọp,voi, heo rừng Những con rạch ngày nay như đường Trâu Lớn, đường Trâu Nh (xã Hòa Tân), đường Đ c (xã Ninh Thới được hình thành là do trâu rừng, voi đi lại lâu ngày mà thành rạch; địa danh Rạch Đùi (xã Hòa Tân) dân gian truyền ại rằng do cọp ăn thịt người để lại c i đùi à c tên như vậy Theo các ậc cao niên

kể lại thì bàu à nơi à ngày xưa đàn trâu hay về nằm tắm rữa, uống nước C c địa danh như Bàu Bưng (xã An Phú Tân), Bàu Nghệ, Bàu Lớn (xã Tam Ngãi), Bưng Cây Xoài (x Thông a phần nào nói lên sự hoang vu của Cầu trước đây

1.2 Phật giáo củ n ƣ i Khmer ở huyện Cầ tỉn in

Phật là tiếng dịch âm từ phạn ngữ “Phật Đà” Trong thư tịch cổ của Trung Quốc, từ “Phật Đà” c ng dịch là “ hù Đ ”, nghĩa cơ ản là “Gi c giả” hay

“người giác ngộ”, chỉ người đ gi c ngộ chân đế nhân sinh, nắm vững chân lí tối cao do Phật dạy, ch ng đắc những cảnh giới tối cao do sự tu hành Phật pháp hật

gi o ra đời ở bắc Ấn Độ vào thế kỉ th I trước công nguyên Ngưới sáng lập ra Phật giáo là Kiều Đạt Ma Tất Đạt Đa Nă 9 tuổi, ngài vì cầu đạo giải thoát mà xuất gia, trãi qua sáu nă hổ hạnh, cuối cùng c ng ngộ đạo thành Phật [5,tr.9] Phật giáo ph t triển với nhiều tông ph i h c nhau như Đại thừa, Tiểu thừa

Tiểu thừa nhấn mạnh đến sự giải thoát cá nhân Tiểu Thừa lan rộng từ Ấn

Độ đến c c hu vực phía Na như Tích Lan (Sri Lanka) và Miến Điện từ thế

th III TCN Sau đ lan đến phía tây Trung Quốc và c c nước thuộc hu vực Đông

Na Á như Th i Lan, Lào Tiểu thừa an rộng về phía Nam nên c n gọi là Nam Tông hông âu sau đ , những chiếc túi của các thương nhân Ấn Độ theo đạo Phật đ được tìm thấy ở vùng duyên hải n đảo Ảrập và thậ chí xa hơn như ở

Ai Cập Các hình th c khác của Tiểu Thừa lan t a đến c c hu vực như Pakistan,

Trang 12

Kashmir, Afghanistan, vùng duyên hải của Iran,Uzbekistan,Turkmenistan và Tajikistan ngày nay

Người Khmer ở huyện Cầu Kè theo hật gi o Na Tông Phật giáo Nam Tông Khmer ở Cầu Kè thuộc hệ phái Theravada (nguyên thủy) Theravada có nghĩa à “ ời truyền của Ngài Thera” vị Cao Tăng được phân công đến truyền đạo tại hu vực Đông Na Á Từ y phục, c ch đọc inh, c ch hành đạo, các sinh hoạt

và cách thiền định của Theravada đều dựa trên inh điển của Đ c Phật được ưu truyền và ghi chép đầy đủ trong bộ Đại Tạng Kinh và được dịch đầy đủ sang tiến Khmer có 84.000 câu kinh

Người Khmer ở huyện Cầu Kè quan niệ rằng tu à để báo hiếu và hoàn thiện tính cách của con người trước khi trưởng thành Người đi tu hông chỉ được học Phật à c n được dạy nhiều điều hay phải, iết yêu thương và giúp đỡ ọi người ì thế những người sau hi đi tu s được bà con trong phum, sóc yêu mến

và kính trọng Người đi tu nếu có duyên với nhà Phật s được phong ch c vị và có thể làm sư Cả - người rất được tôn trọng trong cộng đ ng cư dân h er

Chùa à nơi tổ ch c mọi sinh hoạt cộng đ ng và các lễ hội của người Khmer “Chùa à nơi thờ phượng tôn nghiê , à nơi tu hành của các vị sư s i và trung tâm, mọi sinh hoạt văn h a, ễ hội truyền thống của dân tộc đều được tổ ch c trong khuôn viên chùa Chùa không chỉ là trung tâm tôn giáo còn là trung tâm giữ gìn văn h a, chữ viết, phong tục, tập quán, là viện bảo tàng, à nghĩa trang c th p đựng cốt , à c n à nơi tập trung trường lớp ở nông thôn, là chổ họp dân bàn chuyện công ích, nơi tiếp các vị khách quý của phum, sóc [51; 218-219]

Hệ thống chùa và sư s i ở huyện Cầu Kè có sự tổ ch c và quản lí chặt ch Ban quản trị chùa là những người có uy tín trong phum s c được mọi ngưới đề cử

và bầu cử chịu tr ch nhiệ quản lí chùa và các phong tục lể nghi của phum sóc Trong chùa tiếng nói quan trọng và uy tín nhất à sư Cả Sư Cả đôi hi c n c quyền quyết định công việc của phum sóc.“ Phật giáo Nam tông Khmer trong Phật

Trang 13

pháp không những có những điều chung, mà trong giới luật của ình đ c qui định rất cụ thể và trong qu trình hành đạo n đ tạo lập tính qui luật trong chùa và trong giáo phái, ngành giới của mình [1; 226-227]

Ngôi chùa có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống của người h er từ

hi sinh ra cho đến khi họ qua đời với quan niệ “sống vào chùa gửi thân, chết vào chùa gửi cốt” Chùa vừa à nơi inh thiêng, nơi thờ Phật, nơi gi o dục con cái, giáo dục cộng đ ng, à nơi gữi niềm tin trong hiện tai và là hy vọng ở tương ai nơi cõi niết àn hi đ ất Chùa à nơi ỗi con người Khmer trong phum, sóc tham gia học hành tu tâm từ lúc nh và c ng à nơi tổ ch c nghi lễ an táng khi họ lìa xa

c i đời “Ngôi chùa trở thành biểu tượng đặc trưng cho người h er c ng giống như cây đa, giếng nước, sân đình gắn với cuộc sống làng quê của người Việt cổ xưa”[17; 136]

Khi mới sinh người Khmer s được làm lễ cầu an ở chùa, lớn lên họ s vào trường để học tập bằng nhiều hình th c như đi tu trả hiếu, vào chùa học chữ, trong chùa c trường dạy chữ Khmer, dạy đạo đ c à người, dạy ngề (nghề mộc, điêu hắc, đắp phù điêu, dạy à nhà Chùa c vai tr ưu truyền chữ viết cổ trong nhân gian nữa, đ à chữ Pali Các vị sư iết chữ Pali s dạy cho các vị sư khác và dạy cho tr e hi đến học trong chùa để sau này các em biết đọc kinh Phật chữ Pali Trong lịch sử t n tại thì Phật giáo Nam Tông ở Na Bộ nói chung

và ở huyện Cầu Kè nói riêng từng đ ng trước nguy cơ ị xóa b để học chữ quốc ngữ dưới sự quản của chính quyền Ngô Đình Diệ Tuy nhiên, chữ a i vẫn được dạy và ưu truyền đến ngày hôm nay Sau nă 1975, dạy chữ a i được khôi phục, con e trong phu , s c được học chữ trong chùa miễn phí Từ đ , số ượng người h er đọc được kinh Phật Khmer rất nhiều Tùy thuộc vào điều kiện vật chất hay số ượng Acha à việc dạy và học khác nhau.Tại huyện Cầu Kè tất cả các chùa đều có lớp học chữ a i và con e người dân tộc Khmer uôn được khuyến

Trang 14

khích học chữ Người biết chữ Pali s được mọi người kính trọng vì họ chính à những người ưu giữ truyền thống của dân tộc

Trước đây, con trai người Khmer tất cả đều vào chùa tu và thời gian tu là tùy duyên, c người tu và ở trong chùa đến suốt đời Người đi tu thường vào khoảng

1 đến 13 tuổi, c hi tu hai nă , c hi tu a nă , c hi âu hơn và như đ n i à tùy duyên Tu theo người Khmer là báo hiếu và đ ng thời à để học Phật, học cách sống và đạo đ c à người c ng như học nghề miễn phí do các vị sư hay c c vị cao niên dạy trong chùa ào chùa tu để rèn luyện đạo đ c để có lối sống hiền lành, biết thương yêu, giúp đỡ người khác Các vị sư trong chùa gi o dục giáo lí nhà Phật và đạo đ c à người rất nghiêm khắc và có hình th c xữ phạt c ng rất nghiê Do đ theo người h er người nào hi được tu xong trong chùa thì rất được mọi người kính trọng trong các mối quan hệ gia đình và x hội Khi di tu người h er được mọi người trong gia đình và phu , s c gọi à Ông Sư để thể hiện sự kính trọng(cho dù là cha mẹ c ng gọi à Ông Sư Ngày xưa theo người Khmer nếu na thanh niên à hông c đi tu trong chùa thì việc cưới vợ hay làm

ăn s gặp rất nhiều h hăn vì thế có một số người hông đi tu uốn cưới được

vợ phải h a với nhà g i à sau hi cưới thì phải đi tu ột thời gian

Người h er hi đi tu c n được dạy nghề truyền thống qua các vị sư trong chùa Nhiều nhà sư rất gi i nghề truyền thống thậ chí họ trở thành những nghệ nhân thực sự iến trúc chùa với hoa văn ph c tạp hầu hết đều do các vị sư trong chùa thực hiện Trước đây, người con trai Khmer uốn cưới được vợ đều phải iết đến nghề mộc, phải iết đ o cột cất nhà C c công việc và công đoạn tạo dựng mái nhà gỗ đều được dạy ở chùa trong thời gian tu

Ngày nay, số ượng người Khmer vào chùa tu hông c n nhiều vì con em họ phải học phổ thông hay phải di cư ên c c thành phố lớn lập nghiệp à nơi đ thì lại hông c chùa Do đ những qui định khắc he đối với việc đi tu của người

h er c ng thay đổi và hông c n như xưa nữa tuy nhiên trong tâ trí người

Trang 15

Khmer dù sống ở đâu, vào thời ì nào thì “chùa c vai tr quan trọng à trường dạy học à trường dạy ao động, à trường dạy nghề cho không ít nhân lực sau khi ra đời trở thành người ao động gi i ở nhiều ĩnh vực phục vụ cuộc sống của cộng

đ ng người Khmer c ng như cho x hội” [17; 140]

Do chùa thường nằm ở vị trí trung tâ và thường thì chu vi chùa rất lớn thường thì trên 1ha) và có Sala, sân chùa rộng và c sư cả à người được kính trọng nhất phum, sóc nên các công việc chung của phum, sóc và lễ hội thường được tổ ch c ở chùa Trong phum, sóc có việc cần hay cần truyền đạt vấn đề gì thì chùa à nơi tập trung của à con phu , s c,đôi hi trong phu , s c c tranh chấp hay tranh c i thì người Khmer s nhờ đến sư cả phân xử và sư cả s tập hợp mọi người lại để phân xử hay thông qua quyết định của sư cả để mọi người cùng góp ý

và thực hiện Người Khmer ở Cầu ngày xưa và ngày nay ít hi nhờ đến chính quyền địa phương phân xử những tranh chấp nh mà họ thường nhờ đến chùa và

sư cả, khi nào không giải quyết được họ s nhờ đến chính quyền địa phương Chính quyền địa phương ở Cầu c ng thế khi cần truyền đạt hay lắng nge ý kiến của đ ng bào hoặc thực hiện chính s ch gì d thì thường c ng thông qua ngôi chùa

để tập hợp bà con và truyền đạt thông tin ngày nay tất cả các chùa Khmer ở Cầu đều trực thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Na đ tạo đều kiện thuận lợi cho nhà nước thông qua chủ trương, chính s ch và người Khmer ở Cầu ngày nay c ng sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật như ao dân tộc khác sống trên địa bàn

Trong các ngày lễ hội trong nă người Khmer ở Cầu sau hi đ thực hiện xong các tập tục tại nhà thị Họ s tụ họp vào chùa và nhà chùa s tổ ch c nghi

lễ theo truyền thống, sau đ s c c c tr chơi úa h t cho ọi người cùng tham gia và cổ v như đ nh ng chuyền đặc biệt huyện Cầu Kè có tổ ch c giải bóng chuyến dân tộc mừng nă ới của đ ng ào h er thường niên và đơn vị đăng í tham gia không phải là ấp x à à theo đơn vị chùa , đ y gậy, đua ghe ngo, về

Trang 16

đê thì xưa ia thả đ n gi ngày nay do yếu tố an toàn cháy nổ nên rất hạn chế thả đ n gi , đặc biệt là hát Dù Kê và nhảy “Tầ Thon” c c chùa ở cầu đều có giàn trống và bộ nhạc ng â để phục vụ văn nghệ vào dịp lễ hội)

Chùa Khmer ở Cầu Kè giống như nhà ảo tàng của phum, sóc, các loại kinh thơ, s ch vở qu thường được ưu giữ ở chùa hay được các vị sư truyền tụng từ đời này sang đời h c Đặc biệt là các hình th c kiến trúc, trang trí hoa văn hay những vật dung, phương tiện thì ản thân n c ng đ n i ên gi trị văn h a âu đời của

đ ng bào dân tộc như c c pho tượng Phật hay những b c điêu hắc của chùa c ng

có khi do bà con dâng tặng), những chiếc ghe ngo, xe bò, xe cộ Đặc biệt nhất là chiếc ghe ngo được làm từ thân cây sao, cây dầu to lớn sống âu nă , được đục

đ o công phu và được cả phu , s c cùng nhau ưu giữ và bảo quản, bên cạnh thì trong chùa thường ưu trữ những quyển kinh phật có tuổi hàng tră nă vô cùng

có giá trị “người Khmer lấy ngôi chùa làm biểu tượng tín ngưỡng tôn gi o, đ ng thời làm biểu tượng văn h a của mình Ngôi chùa à nơi tập trung cao nhất sự kết tinh văn h a của người h er” [17,tr 1 ]

Trong suy nghĩ của người h er ở huyện Cầu Kè thì chùa là từ đường không chỉ của gia đình à à của dòng họ và của cả phu , s c hi người thân trong gia đình qua đời, người Khmer mời nhà sư về đọc kinh cầu siêu Tro cốt được đe gửi trong chùa và đặt trong những th p để cốt do gia đình, d ng họ xây cất trong chùa Trước đây, xương cốt của người h er sống tại phum, sóc được để chung trong những th p để cốt Ngày nay với điều iện kinh tế phát triển hơn trước nên từng gia đình và d ng tộc c th p để cốt riêng Trong ngày lễ Đo ta, ên cạnh việc cúng giỗ tại gia đình thì người h er c n dâng đ cúng vào chùa để các vị sư đọc kinh ột số hộ gia đình c n vào chùa thỉnh xương cốt ông bà về nhà làm lễ cúng sau đ hết lễ s mang gửi ại vào chùa Vì thế người h er dù đi xa ỗi hi

có dịp về lại quê hương họ s vào chùa làm lễ cúng i ông à và người đ huất

Trang 17

Giống như c c chùa hật giáo của ph i Đại thừa, chùa của người Khmer

c ng c ruộng, vườn nhưng hình th c canh t c thì c điểm khác nhau Theo Phật giáo Tiểu thừa nguyên thủy thì nhàsư hông sản xuất trực tiếp vì sợ làm hại đến côn trùng và th c ăn của sư đ c à con phu , s c o hàng ngày Nhưng sau nă

1975, thì mọi người cùng chung tay xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa nên nhà sư

c ng sản xuất Nhưng phần lớn công việc đ ng áng là do Phật tử trong phum, sóc làm công quả cho chùa dưới sự phân công của ban quản trị chùa Sản ph m làm ra chùa dùng để giúp đỡ à con h hăn trong phu , s c à chủ yếu; phần còn lại chùa chia lại cho phum, sóc và hàng ngày chùa cắt cử nhà sư đi xin t trong phum, sóc ào dịp ễ, các mạnh thường quân và phu , s c đ ng g p Ruộng của nhà chùa thường là do cư dân trong phum, sóc hiến tặng Đ à phần ruộng của những gia đình neo đơn hông ai canh t c, hi về già thì người ta s hiến cho chùa; của những gia đình giàu c họ hiến cho chùa xe như à ập dược công đ c với phật và uy tin với phum, sóc; hay của những người đi tu trong chùa đặc biệt là những gia đình c phần đất giáp ranh với nhà chùa Trước đây có rất nhiều người suốt đời tu trong chùa vì thế phần đất họ được gia dình chia cho s thuộc về chùa sau khi họ mất đi và vì thế diện tích ruộng của chùa ngày càng nhiều Ngày nay thì việc hiến đất cho chùa vẫn c n nhưng hông được nhiều như xưa Tuy nhiên việc hiến đất cho chùa đối với người Khmer ở huyện Cầu được xem như ột công

đ c lớn vì thế người Khmer ở Cầu Kè sẵn sàng hiến đất cho chùa hi c điều kiện

Theo Phật giáo Khmer Tiểu thừa thì nhà sư dựa vào ch tín để sống và hành đạo, tu Phật Tuy nhiên chùa Khmer c vai tr như trung tâ từ thiện của phum, sóc và của cả cộng đ ng dân cư Nhà chùa à nơi nương tựa cho những người neo đơn, tr em m côi, cơ nhỡ ặc dù bữa ăn của nhà sư à xin được từ

ch tín nhưng nhà sư sẵn sàng chia s phần ăn của mình cho những người nương tựa chùa Tr em ở trong chùa s được sư nuôi dưỡng và dạy dỗ học tập nên người

và khi lớn lên có toàn quyền quyết định tu nữa hay không hoặc rời kh i chùa thành

Trang 18

gia lập thất Người già neo đơn hi ở trong chùa mà mất đi thì nhà chùa s tổ ch c nghi lễ tang chế giống như người ình thường khác Trong phum, sóc có Phật tử gặp h hăn nhà chùa s kêu gọi à con trong phu , s c quyên g p giúp đỡ để vượt qua h hăn Đối với người Khmer ở huyện Cầu Kè thì ngôi chùa giống như ngôi nhà của họ

Chùa Khmer ở huyện Cầu Kè có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong mọi mặt đời sống vật chất lẫn tinh thần của cư dân ỗi người Khmer ở Cầu Kè uôn hướng về chùa- nơi cầu nguyện hi c n sống và nơi gửi gắ thể x c ẫn inh

h n hi qua đời

Tiểu kết ƣơn 1

Cầu Kè là một huyện nằm trong tỉnh Trà Vinh có trên 30% là dân tộc người Khmer sinh sống và c đến 22 chùa Nam Tông Khmer Đối với người Khmer trong huyện Cầu Kè trải qua thăng trầm của lịch sử, các dân tộc đ ề vai s t c nh đoàn kết chung lòng chống giặc ngoại xâm Trong thời kì hội nhập, người h er c ng không ngừng nỗ ực góp phần xây dựng cuộc sống ngày càng phát triển đ ng thời phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc thông qua hệ thống chùa Phật giáo Nam Tông Phật gi o Na tông đ đ ng hành cùng người Khmer trong suốt quá trình lập làng, giữ nước và c vai tr quan trọng trong đời sống tinh thần của người

dân Khmer

Trang 19

CHƯƠ G 2 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, KIẾN TRÚC C A CHÙA KHMER T I HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH

2.1 Lịch sử hình thành

Chùa h er à cơ sở tôn giáo thờ tự và thường được xây dựng ở trung tâm của phum s c Từ “Chùa” theo tiếng Khmer gọi à “Wot” xuất phát từ tiếng Pali là Wat Tăng” c nghĩa à nơi tôn nghiê , c ng à nơi sư s i ở à người ta gọi đ à Chùa[33; 218] Mọi hoạt động theo tín ngưỡng tôn giáo, việc học hành và sinh hoạt của các vị sư và tín đ đều được thực hiện tại chùa

Huyện Cầu Kè có tất cả 22 ngôi chùa Chùa h er tại huyện Cầu Kè ra đời trong c c giai đoạn ịch sử h c nhau Ngôi chùa h er được xây dựng sớ nhất tại huyện Cầu Kè à chùa Phi Rù S c vào nă 1 97 tại ấp Rùm Sóc xã Châu Điền huyện Cầu Kè Tiếp đ à chùa Canda ấp Gi ng Dầu, xã Hòa Ân) xây dựng

nă 1 17, chùa Bà i (ấp Bà Mi, xã Tam Ngãi) xây dựng nă 1 6 , ên cạnh đ

c ng c ột số chùa được xây dựng uộn hơn như chùa Ô So ậu xây dựng

nă 1968 ấp Ô Mịch, x Châu Điền)

Các ngôi chùa nằm rải rác ở khắp các xã trong huyện theo địa àn cư trú của người Khmer ới những xã tập trung đông người h er thì c đến 5 chùa, điển hình như x hong hú c c c chùa như: chùa ê -La- on Rư –Xây- Róc xây ấp

II hong hú được dựng từ nă 15 5, chùa Thiệp-Ô-Then ấp II được dựng vào

nă 171 ấp II), chùa Muni-Răngsi-Mêpăng ấp I dựng nă 1851 ấp IV), chùa Mang-Khou-Ô-Then (ấp Kênh Xáng) xây nă 196 , chùa Ratanasàgara(Phrơ tại ấp Ô Rù , x Châu Điền được dựng vào nă 197 C c ngôi chùa c ng được trùng tu nhiều ần Dẫn ch ng như chùa hi Rù S c được trùng tu vào nă 199 , chùa Sanvarathmamàsa (Ô tưng được trùng tu vào nă

C c vị sư giữ vai tr vô cùng quan trọng đối với sự ra đời của chùa h er ở huyện Cầu tỉnh Trà inh Sự ra đời của ngôi chùa Phi Rùm Sóc gắn iền với nhân vật ịch sử à ông Prom và bà Sóc Đây à hộ dân khá giả người Khmer sinh

Trang 20

sống tại địa phương từ âu, chịu ảnh hưởng tử hật gi o Tiểu thừa ới ong muốn địa phương có một ngôi chùa để thờ tự và cúng Phật cùng tổ tiên nên họ đ hiến một phần đất của ình để cùng với bà con trong phum, sóc có một ngôi chùa

để thờ tự và cúng phật như ao nơi h c Trải qua quá trình phát triển thì ngôi chùa

c ng đ nhiều lần trùng tu và mới đây nhất à vào nă 199 mTừ thế k th X đi, cùng với sự rút dần của nước biển thì ở Cầu c ng hiện lên những vùng đất cao màu mỡ, rất thuận lợi cho cư dân cư trú và sản xuất Vào lúc này những người nông dân nghèo khổ, do không chịu được sự bóc lột hà khắc cùng với các loại thuế khóa nặng nề của phong kiến Ăng or, đ trốn, tì đến sinh sống ở những gi ng đất cao của đ ng bằng Na Bộ Tại đây họ sinh sống theo từng khu vực, dựa trên mối quan hệ dòng họ, gia đình Trong cuộc sống của cư dân h er ở đây họ cần có điểm tựa tâ inh để t n tại , vì thế những gia đình giàu c trong d ng họ đ hiến đất, hiến tiền để xây dựng nên ngôi chùa để à nơi thờ tự, tu hành và à nơi để giáo dục con cháu mai sau

Giống như những nơi h c ở chùa Khmer ở Cầu thường được xây dựng

ở trung tâm của phu , s c để bà con dễ dàng đi ại cúng viếng Chùa được xây dựng trên những khoảng đất rộng thường trên 1ha c tường rào bao quanh[h3] Bên trong là những vườn cây cổ thụ như sao, dầu, thốt nốt, hay những vườn bạch đàn Các ngôi chùa Khmer à điểm kết nối của cộng đ ng, chùa có vai trò vô cùng quan trọng từ trong cuộc sống kinh tế đến tâm linh và mọi nghi th c tôn giáo hay lễ hội thường được tổ ch c ở chùa hoặc thông qua chùa bằng nhiều hình th c khác nhau

2.2 Kiến trúc

Chùa Khmer theo hật gi o Tiểu thừa nên trong chùa Khmer chỉ thờ duy nhất Phật Thích Ca Mâu Ni Bên cạnh đ còn có nhiều th p đựng ngọc xá lợi Phật, cất giữ xương cốt của sư s i và hật tử đ qua đời Chùa thường được cất trên một

nh đất rộng từ trên 1ha đến 5ha, xung quanh chùa thường có rất nhiều cây cổ

Trang 21

thụ thường là cây sao và cây dầu C c ngôi chùa thường được xây dựng hướng về hướng đông, hướng mặt trời mới đạt thành chánh quả chánh giác

Kiến trúc cùa Khmer rất đặc trưng, thể hiện sự hòa huyện của nhiều loại hình nghệ thuật điêu hắc, trạm trổ rất đặc sắc Chùa Khmer không chỉ à nơi sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng mà còn là trung tâm hoạt động văn h a, à nơi ảo ưu

và gìn giữ các giá trị văn h a của dân tộc sự hiện diện của các loại hoa văn, iến trúc, th p, tượng thờ, phù điêu, t c ph điêu hắc, hình v trên tường đ thể hiện tài năng và trí tuệ của những Nghệ nhân Khmer tài hoa và những người thợ đ đều được đào tạo từ nhà chùa

* Cổng chùa

Cổng chùa Khmer ở Cầu Kè có nhiều điểm tương đ ng và h c iệt trong so

s nh với chùa h er tại c c địa phương h c Nếu như chùa Khmer trong hu vực Tây Nam Bộ c cổng chính hướng về hướng Đông và cổng phụ mở về hướng Tây thì cổng chùa Khmer ở Cầu Kè với cổng chính và cổng phụ được mở tuỳ theo địa thế của từng hu vực Cổng chính của chùa Khmer ở Cầu Kè thường hướng về đường giao thông thuận tiện nhất như đường quốc lộ, cổng phụ của chùa h er ở huyện Cầu tạo điều iện thuận lợi cho việc đi ại của các vị sư trong chùa[h1]

Cổng chính chùa Khmer ở Cầu Kè c ng xây dựng theo hình th c ngọn tháp thể hiện sự uy nghi, kỳ vĩ ai trụ cổng thường xây rất cao, to; các mặt hướng ra ngoài được trang trí bằng bằng phù điêu đặc trưng của Phật giáo Nam tông hoặc của văn ho Ấn Độ ai ên trước cổng thường à tượng thường được đắp nổi trên trụ cổng, có khi dựng riêng đ ng hai bên ) Rea-hu và tượng Chằn Tượng Rea-hu được thể hiện là một quái vật hung dữ với đôi ắt trợn trừng, vành miệng rộng, nhe hai hà răng nhọn lổm chổ đang nuốt mặt trăng; Chằn được thể hiện dưới dạng một người to lớn , kho mạnh, với v mặt dữ tợn, tay cầm chày v đ ng gác

ở cổng chùa[h6]

Trang 22

ới mô típ Rea-hu và chằn được trang trí nơi cửa Phật, người nghệ nhân Khmer ngụ ý về nghĩa sâu xa của triết í nhân đạo cao cả Phật giáo: cái xấu, cái

ác không phải là lực ượng đ ng sợ, đ ng oại trừ Với quyền năng tuyệt đối, vô biên, với tấ ng nhân đạo cao cả của đ c Phật thì cái xấu, c i c c ng vẫn được cải biến để trở về phục vụ cho cái thiện, c i c ích Điều này được thể hiện ở ối sống giản dị, thân thiện của người Khmer ở huyện Cầu

Cổng chùa Khmer ở Cầu Kè luôn có mái, trên mái có xây tháp Nhiều cổng chùa c một tháp, ột số cổng chùa ại c ba tháp Điều đặc iệt à cổng chùa

h er ở huyện Cầu hông c nă th p như chùa h er ở c c địa phương

h c Để chống đỡ cho mái cổng à thanh đà được các nghệ nhân thực hiện bằng cách tạo tượng Thiên thần hay Thiên nữ đ ng tựa vào trụ cổng vươn tay nâng cổng lên Tượng được hắc họa với d ng v vừa duyên d ng ại vừa thể hiện sự vững chắc như uốn nâng đỡ cả chúng sanh Tượng nâng đỡ mái cổng thường à tượng Neang Rong với thân hình uyển chuyển, hướng ặt ra phía ngoài, đưa ắt nhìn xuống như uốn gửi gắm một lời khuyên hay chào đ n với thiện nam tín nữ đến chùa

Đối với chùa có cổng một ngôi th p thì thường lợp mái nhiều lớp ch ng lên nhau.Mái cổng có hình búp sen hoặc hình chuông hay hình t úp đặt trên bậc tam cấp nhằm thể hiện cho a c i đ c phật từng thọ sanh trong suốt bốn A-Tăng-Kỳ và một tră nghìn đại kiếp tạo duyên ành để thành đạo Trên bát úp là cột trụ cao thẳng lên trời có gắn ba hoặc nă đĩa tr n tượng trưng cho ta ảo hoặc nă vị Phật s thành đạo trong kiếp này và trên cùng là Niết Bàn

Có một số chùa có cổng được xây dựng phía trên là ba ngôi tháp c n phần dưới thì trang trí giống nhau với những gam màu bắt mắt như àu vàng, àu đ ng hay àu vàng ca Ba ngôi th p à tượng trưng cho tam bảo: Phật – Pháp – Tăng Tháp giữa phải lớn hơn tượng trưng cho đ c phật Ba ngôi tháp là hình búp sen

c ch điệu, là những loài hoa gắn liền với đ c B Tát tại vườn Lâm- Ti- Ni ngày

Trang 23

rằ th ng tư vesa , ngôi th p chia cấp bởi những hoa lá sống động tượng trưng cho t ch nh đạo và đỉnh cuối cùng là niết bàn

Dù xây dựng trước hay sau, to lớn hay nh bé thì chùa Khmer ở huyện Cầu

Kè vẫn ang nét riêng của mình Mỗi ngôi chùa có một cách bố trí cổng khác nhau nhưng c ng theo nguyên tắc Phật giáo chung nhất nhằ đảm bảo tính nghệ thuật

và uy nghiêm

* Khuôn viên chùa

“Người có nhà; phum, sóc có chùa” là câu nói quen thuộc của đ ng bào Khmer và mỗi ngôi chùa là bộ mặt của cả phum, sóc, vì thế đối với đ ng bào việc hiến công, hiến của để xây dựng ngôi chùa của mình ngày càng to lớn, khang trang

là tâm nguyện à phước lớn của bản thân Vì thế cho nên ở huyện Cầu Kè chùa của

đ ng bào Khmer qua thời gian ngày càng đẹp và khuôn viên chùa ngày càng lớn, các thế hệ c tiếp nối cống hiến cho ngôi chùa của phum, sóc

Trước ia do điều kiện kinh tế của đất nước nói chung và của đ ng bào nói riêng c n h hăn nên huôn viên chùa được x c định bởi những hàng sao cao vút hay những hàng bạch dàn thẳng tấp Ngày nay với sự ph t triển của đời sống kinh tế, hàng rào chạy quanh huôn viên chùa được xây dựng chắc chắn với những hoa văn, hoạ tiết đẹp ắt

Hàng rào là những mảng tường được xây dựng nối tiếp nhau được xâ dựng dọc theo chu vi của hu đất để bao bọc khuôn viên ngôi chùa Trên các mảng tường thường c phù điêu trang trí à những hình tượng hoặc mô ph ng hoa lá thiên nhiên hoặc thuật lại truyện, tích dân gian Giữa hai mảng tường là những cột gạch vuông hình trụ vươn cao, đầu trụ thường được trang trí thành hình hoa sen, đầu rắn, đầu r ng, điệu múa apsara hay bánh xe luân h i Mặc dù ch c năng của hàng rào à ngăn c ch, ảo vệ, nhưng với những hình ảnh được trang trí bởi những bàn tay khéo léo của các nghệ nhân thì tường rào của chùa Khmer ở huyện Cầu Kè vẫn có sự gần g i, sẵn sàng c u vãn chúng sanh, đưa họ đến chốn cực lạc Tường

Trang 24

rào kết hợp với cổng chùa thể hiện được tinh thần rộng mở, tha th của nhà Phật Trên những khoảng tường rào hai bên cổng chùa các nghệ nhân thường đắp nổi tượng rắn(r ng) nă đầu(rắn thần Naga) uốn ượn với đầu hướng về phía cổng như biểu tượng của việc bảo vệ lối vào chùa[h7]

Bên trong khuôn viên chùa là quần thể kiến trúc độc đ o như ch nh điện,

sa a, tăng x , th p để cốt và ngày nay do c điều kiện nên hầu hết các chùa ở Cầu

Kè đều đ xây dựng cột cờ trước san ch nh điện Ngoài những quần thể kiến trúc trên trong chùa Khmer ở Cầu Kè có vườn cổ thụ rợp bóng với những cây sao, cây dầu Dưới ng cây à các vị sư nghỉ nghơi trong những trưa h ôi c đ ng thời vào lễ hội à nơi na thanh nữ tú hò hẹn trao duyên; những ngọn sao dầu à nơi những bầy chim về làm tổ, trú ngụ quanh nă Ở huyện Cầu Kè, hầu hết những chùa Khmer được xây dựng trên những gi ng cát cao nên trong khuôn viên luôn có

ao nước lớn để lấy nước phục vụ sinh hoạt và tưới tiêu trong chùa Đặc biệt h nước c n à nơi giữ th c ăn âu ngày của chùa: ngày tết đ ng bào cúng bánh tét cho chùa, chùa ăn hông hết thường sư ang nh đe ngâ dưới ao chùa để ăn lâu ngày Trước đây do điều kiện c n h hăn nên trong huôn viên chùa c phần đất để thực hiện nghi lễ tang đ à dùng để đào thiêu à con trong phu s c qua đời và việc thiêu thường làm thủ công nên những người ngh o hông c c i thì nhà chùa cho đốn hạ cây trong huôn viên chùa à c i đốt Nhiều chùa c khuôn viên rất lớn với diện tích trên 2-3ha nên trong khuôn viên chùa có cả ruộng chùa, vườn rau ao cá của chùa

Nhìn chung chùa Khmer ở Cầu Kè dù lớn hay nh c ng c huôn viên với đầy đủ những yếu tố nêu trên, khuôn viên rộng hay hẹp tuỳ vào bà con xung quanh giàu hay nghèo mà họ hiến đất nhiều hay ít, và ngày nay thì c điể h c xưa à

c c chùa đều cho xây dựng hàng rào kiên cố bao quanh khuôn viên chùa

* C án điện

Trang 25

Trong các ngôi chùa Phật giáo thì dù kết cấu, kiến trúc thế nào đi nữa thì toàn bộ giá trị kiến trúc và tâ inh điều tập trung vào ngôi ch nh điện Ch nh điện chùa Khmer ở huyện Cầu thường được xây dựng ở vị trí trung tâm và có nền phải cao hơn so với các công trình khác Theo Phật giáo Tiểu thì cổng chính mở ra hướng Đông và cổng phụ mở ra hướng Tây Từ cổng vào à con đường “nhất

ch nh đạo”, cuối đường là trung tâm ngôi chùa, ch nh điện được xây dựng phía

ên tr i đường ch nh đạo Nhưng như đ n i chùa Khmer ở Cầu Kè cổng chính thường mở ra nơi nào c đường giao thông thuận lợi nên ch nh điện không theo khuôn khổ n i trên à c điểm giống ở đây à ch nh điện được xây dựng ở trung tâm ngôi chùa

Ch nh điện của chùa h er ở huyện Cầu c ng giống như ch nh điện của chùa h er vùng Tây Na Bộ được xây theo hướng Đông – Tây[h4] Theo quan niệm của Phật giáo Nam tông Khmer thì Phật ở hướng tây quay mặt nhìn về hướng đông để c u độ chúng sinh nên phải xây chánh diện theo hướng đông tây

Ch nh điện là phần thực thể không thể thiếu của ngôi chùa, ch nh điện à nơi thờ phật và chỉ duy nhất thờ Phật Thích Ca Trong gian ch nh điện chùa Khmer được bài trí rất đơn giản, ở vị trí chính là bệ thờ tượng Phật Thích Ca Bệ tượng là toà sen chia thành nhiều cấp, trên toà sen à tượng Phật đặt ở chính giữa

Ch nh điện của chùa h er được xây dựng hông như của ph i Đại thừa

mà phải theo đúng quy c ch đ à: chiều dài gấp đôi chiều rộng, chiều cao phải bằng chiều dài, mái và thân là hai phần bằng nhau và có hành lang xung quanh

ch nh điện Chính điện có bốn cửa chính theo hướng Đông –Tây cùng bảy hoặc chín cửa sổ hướng nam bắc C c cửa sổ và cột chùa à những con số – 5 – 7 – 9 Trên àn thờ hật c ọng tầng iểu hiện ta ảo, 5 tầng iểu hiện 5 ho thân của hật, 7 tầng à phải qua 7 iếp người ới chết, số 9 à số hông gian nhà chùa Như vậy tổng thể ngôi chùa được quy vào ột ta gi c cân như ột quy ước c tính tượng trưng triết học

Trang 26

ết cấu iến trúc ch nh điện à hỗn hợp gỗ, gạch, ng i ai hàng cột c i dựng cao ở giữa, c c ực đều d n ên hai hàng cột này và p vào c c đầu trụ đặt trên xà ngang nối giữa hai đầu cột c i, tạo thành ột ộ i ở giữa cao vút Từ đầu

c c cột c i c c xà và v ch nối ra tường xây xung quanh tạo thành ớp i th hai

và ớp i th a ra đầu cột hiên che ín hành ang

Kiến trúc i chùa được thiết ế ằng sự thay đổi của cấp i từ trên xuống với những g c 6 độ, 1 độ ết hợp với hàng cột hiên thanh tho t vuông g c với

ặt nền chùa, ại c sự g p ặt của c c ôtíp trang trí: nnâr, r d ở ỗi

g c chùa và trên đầu cột, trong tư thế ột đường cong với hai tay đỡ i chùa tạo nên ột chuyển động phong phú, thật ho hoắn, ph ng ho ng ại vừa tinh tế và

ay ổng vươn ên cao hoà vào trời xanh[h8]

N c ch nh điện được thiết kế theo tổng thể hình tam giác cân, mái chùa có

ba cấp, mỗi cấp chia thành ba nếp, nếp giữa lớn hơn, hai nếp phụ hai bên bằng nhau, hông c th p n c Người Khmer quan niệm hình tam giác là hoàn thiện nhất, ở đ ch a đựng c i đẹp hoàn ĩ và tuyệt đối, nghĩa iểu trưng của tam giác tương ng với con số Trong đạo Hinđu thần linh tối thượng c ng hình thành 3(Brahma-Vishnu-Siava Đạo phật c câu: “hoàn ết trong tam bảo” hật-Pháp-Tăng , thời gian phân ba: “qu h - hiện tại- tương ai”

Hình tam giác còn gắn liền với ngọn lửa thiêng của đạo inđu à đ c Phật thay bằng ngọn lửa bên trong Đây đ ng thời là tri th c xuyên suốt, là sự giác ngộ

và sự hu b cái v bọc bên ngoài ì vậy con số 3 nói riêng và con số l nói chung là số được trân trọng gắn liền với nhà Phật Riêng phần đỉnh nóc ngôi chánh điện mỗi đỉnh g c i thường được đắp một húc đuôi rắn dài, cong vút uốn mềm mại Hai khoảng trống ở hai đầu h i được bịt bằng hai tấm gỗ hình ta gi c được chạm khắc rất công phu à người Khmer gọi à “ ô Cheang”[h5] Trên các bờ dãy giáp mi của các nếp i thướng được đắp c c tượng r ng, hình r ng uống ượn mà khi ta nhìn s thấy được hình ảnh chiếc thuyền đua ơi Trong inh Phật, người

Trang 27

Khmer tin rằng r ng là vật thiêng tự biến thành thuyền đưa phật vượt sông đi giảng kinh c u độ chúng sinh ới hình ảnh r ng trên i chùa, người Khmer cầu mong

đ c Phật dừng chân ở lại ngôi chùa của họ để ban phúc cho mọi người Một số ngôi chùa, trên chính giữa nóc chùa còn dựng thêm tháp nóc Tháp nóc hình hình quả chuông úp, g m nhiều tầng, trên đỉnh đặt đầu tượng thần bốn mặt Đây à vị thần đại diện cho sự thông minh, bốn mặt nhìn ra bốn phía để biết hết sự đời Trên đầu tượng là một tháp nhọn cao vút như ột i tên cắm vào không trung Tất cả

đ tạo nên một v đẹp riêng độc đ o của ngôi ch nh điện Một dáng v đ sộ, lộng lẫy nhưng hông nặng nề à như ột sự vươn cao, thanh tho t Ch nh à ột tổng thể kiến trúc vô cùng độc đ o à điểm nhấn của ngôi chùa đ ng thời theo phật giáo nam tông Kh er thì đây à yếu tố không thể thiếu trong việc tu hành trai giới,

ch nh điện à nơi thực hiện những lễ nghi quan trọng nhất của Phật giáo Nam tông Khmer như: ễ ra hạ, lễ dâng y kathina, lễ an vị tượng phật

Các ngôi chùa Khmer ở huyện Cầu Kè về cơ ản đều có hệ thống kiến trúc chính điện tuy nhiên vẫn c sự khác nhau về kích cỡ, qui mô và vật liệu Những ngôi chùa được xây dựng sớ thì cây cột trụ vẫn còn là cột gỗ, còn những chùa xây dựng sau này chủ yếu bằng bê tông cốt thép Dù có khác nhau về ích thước, vật liệu nhưng chùa h er vẫn ang đậm kiến trúc Phật giáo và là biểu tượng của Phật giáo Khmer Nam tông Nam bộ

* Sala (S đ n )

Nói về kiến trúc của ngôi chùa Khmer ở Cầu Kè chúng ta không thể b qua sala hay còn gọi là nhà hội hoặc giảng đường Đặc điểm chung của các sala ở huyện Cầu Kè c ng như ở tất cả các chùa Khmer Nam bộ đ à ộ phận được xây dựng đầu tiên của ngôi chùa Sa a được xem là kiểu nhà hội của Phật tử, giảng đường của sư s i, à nơi tiếp khách trong những ngày lễ tết trong nă của đ ng bào dân tộc Khmer Ngày nay trong quá trình phát triển thì các ngôi sala trong chùa Khmer ở huyện Cầu Kè đ ang d ng vấp của những nét kiến trúc hiện đại (xét về

Trang 28

kết cấu, vật liệu xây dựng, ích thước ) Trước đây, sa a thường được cất bằng gỗ,

c sàn được tận dụng làm kho hay có khi làm phòng học hay phòng họp của chư tăng Sa a c ng à nơi để cử hành lễ dâng cơ hay chu n bị lễ vật trước khi dâng

ên ch nh điện theo nghi th c của Phật giáo Nam Tông[h2]

Sa a được xây dựng trên nền cao nhưng hông được cao hơn ch nh điện, hông c hàng rào hành ang như ch nh điện, sala là một nhà sàn, mặt sàn cao khoảng 2m, mặt sàn là những thanh gỗ ghép lại với nhau Chiều rộng a hay nă gian và chiều dài thường dài hơn chiều rộng nhưng vẫn phải là số l Thông thường sàn c a ước cột, khoảng giữa lớn nhất, c c ước hai bên nh hơn Gian giữa là gian lớn nhất có thờ Phật Thích Ca hướng đông ặt sàn sa a hông đ ng đều mà được chia làm các khu vực có cốt nèn khác nhau phù hợp với ch c năng sử dụng

và ch c sắc của sư s i trong chùa

Sa a thường có hai khối mái khổng l ch ng lên nhau cao vút lên trời r i tựa trên bàn tay nh nhắn của chim thần(Garula)[h 21] hay tựa trên bàn tay mềm mại của của nàng Neang-Rong Mái sala chỉ có hai lớp biểu thị cho hai cõi: dục giới và sắc giới, bởi l công năng của nó chỉ để cúng dường, trai tăng ch không thiền định, hông hành tăng sự, hay à đại lễ đàn như ở ch nh điện Bên trong gian giữa có thờ i thân đ c phật Từ trong nhìn ra theo chiều dài thì gian bên phải là tăng ph ng để chư tăng ng i, mặt nền thường được nâng cao bốn đến nă tấc Từ trong ra là vị sư cả, r i đến cả nhì r i lần ượt ra ngoài tuỳ theo tuổi hạ của các vị,

kế đến phần còn lại là chổ ng i của thiện nam tín nữ Có chùa còn dùng sala làm phòng học và thường được sử dụng là gian bên trái

Bên trong sala vách và trần được trang trí bằng tranh v hay phù điêu thuật lại “túc sanh truyện”, à cho người vào đ c như vào trong giảng đường Phật học và s hiểu được nghiệp của mình tạo, quả của mình trong tam thế (quá kh , hiện tại, vị lai) Tuy sala có v bề thế, uy nghiêm và có khi lớn hơn ch nh điện những có những điểm khác biệt là ở cách bố trí hướng chính và quy định các chiều

Trang 29

hình học trong hướng chính Mặt chính của sala có khi là chiều dài, có khi là chiều rộng; hướng chính có thể à hướng na hay hướng bắc và c ng hi à hướng đông nhưng hông c hướng tây Tranh đắp và tranh v trên trần và v ch sa a c ng không thuật lại sự nghiệp và cuộc đời của đ c phật vì trong chùa Khmer lịch sử của đ c Phật chỉ được thể hiện trong ch nh điện

Nhìn chung, nghệ thuật xây dựng sala vừa dễ dàng bố cục không gian vừa

dễ tạo hình th c kiến trúc, vừa gần g i, thuận lợi cho thiện nam tín nữ đến làm lễ cúng đường phật pháp Với trí tuệ của mình các nghệ nhan Khmer dựng chùa đ tạo nên nét độc đ o đặc biệt cho ngôi chùa trong phum sóc của ình Người Khmer luôn tự hào và xem ngôi chùa là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của họ là vậy

* H ăn tƣợn t n t í

Đầu tiên à loại hình ta gi c được thể hiện ở đầu h i ngôi chùa mà từ xa xa

ta đ nhìn thấy được Loại hình th hai là hình tháp nhọn hay hình t úp được thể hiện ở ngay c ng chùa hay trên phần đỉnh của ngôi ch nh điện

Dưới những b c tượng phật uy nghi là bệ tượng, tòa sen to lớn với những hoa văn hình ngọn lửa, chung quanh ch nh điện là những phù điêu đắp nổi hình chim Krud ưỡn ngực hai tay nâng đỡ i chùa, trên n c ch nh điện à hình tượng Rắn thần Naga cong vút v lên trời xanh một đường cong kì ảo như ời gọi đ c Phật hãy dừng lại an phước cho dân lành Ở các cột được sơn ài àu đen, tô v nhủ vàng với các hình r ng, hoa sen nở cùng phối với ô típ hoa văn hình thoi

c ng được nh vàng

Reahu à hình tượng trang trí độc đ o và rất phổ biến ở chùa Khmer ở Cầu

Kè Tượng Reahu có dạng chung là mặt mày dữ tợn, đôi ắt trợn trừng, miệng rộng với răng nhọn lởm chởm, chỉ c đầu, không có mình, hai tay cầm mặt trời hay mặt trăng đưa vào iệng để nuốt; hay ở dạng đang thổi một lu ng cu ng phong được c ch điệu ình tượng này thường xuất hiện trên cổng, vòm cửa mặt tiền

Trang 30

ch nh điện, trên bàn thờ phật hay trên th p, ên canh tượng bốn mặt thường được đặt trên các nóc của những ngôi th p để xương cốt

Tượng Chằn (Yeak) hình d ng được nhân c ch h a dưới dáng v như ột

võ tướng có thân hình cao to, chắc kh e, toàn thân mặc giáp, v mặt hung tợn, mắt

l i, mài xếch, miệng rộng nhe nanh nhọn, tay cầm chày v Tượng chằn thường

đ ng trước cổng chùa hay chung quanh ch nh điện như c nhiệm vụ bảo vệ chùa Trên diề i được trang trí hoa văn hoa văn dạng hoa lá hay những d y i gi o hướng xuống Ở những đầu h i tam giác trang trí những đề tài c iên quan đến sự

ra đời của phật gi o như th i tử cưỡi cổ xe ngựa, Phật tọa thiền trên tòa sen hay đơn giản chỉ là hoa sen, Phật Thích Ca và Chư Tiên, Reahu phun gi nuốt trăng

Có thể nói chùa Khmer ở Cầu Kè là một tổng hòa các sắc thái riêng của người Khmer Mặc dù không thể so s nh được với kiến trúc Phật giáo Ấn Độ hay

Ca phuchia nhưng những giá trị gữi gắm trong hình khối kiến trúc, sự hòa hợp giữa kiến trúc và điêu hắc cùng với những đường nét kiến trúc tinh xảo đầy ấn tượng Tất cả tạo nên nét riêng biệt, đặc sắc góp phần vào kho tàng kiến trúc của các dân tộc Việt Nam

Tiểu kết ƣơn 2

Người h er đ đặt chân đến sinh sống ở vùng đất Cầu Kè trên một ngàn

nă và từ đ thì Phật giáo Nam tông và ngôi chùa Khmer c ng ra đời ở Cầu Kè trên một ngàn nă ịch sử, cùng với sự ra đời của phum, sóc Khmer thì ngôi chùa Khmer c ng được xây dựng Trong sự phát triễn ấy nó diễn ra liên tục và cho đến ngày nay vẫn không ngừng, những ngôi chùa Khmer ngày càng to lớn và khang trang hơn cùng với sự phát triễn kinh tế của đ ng bào Khmer

Chùa Khmer ở huyện Cầu Kè không chỉ à nơi tu Phật, học Phật mà còn là trường học, nơi ưu giữ những giá trị vật chất, tinh thần của dân tộc Đây à nơi gìn giữ bản sắc văn h a của dân tộc Khmer và à nơi giao ưu văn h a với các dân tộc Kinh, Hoa anh em Chùa Khmer là niềm kiêu hãnh của đ ng bào dân tộc Khmer

Trang 31

trong phum, sóc ở Cầu Kè, nó vừa mang giá trị văn h a vừa mang giá trị nghệ thuật với cổng chùa, huôn viên, hoa văn và hình tượng trang trí

Trang 32

CHƯƠ G 3 NGHI LỄ, H G C VÀ LỄ HỘI ĐƯ C H C HIỆ

I CH KHMER Ở HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH

3.1 Nghi lễ

* Lễ dâng y Kathina

Đối với người Khmer ở Cầu Kè, chùa không chỉ à nơi thờ Phật, tu hành mà chùa còn là trung tâm sinh hoạt văn h a, à nơi ết nối cộng đ ng nên mọi hoạt động văn h a tinh thần của cả cộng đ ng trong các dịp lễ hội luôn gắn chặt với ngôi chùa àng nă đ ng bào Khmer ở Cầu Kè có rất nhiều lễ hội như: lễ Nhập hạ(Cholvosa); lễ ra hạ(chanhvosa); lễ Donlta(lễ cúng ông bà); lễ Ok om bok(lễ cúng trăng, đặc biệt là lễ dâng y Kathina (lễ dâng y cà sa) là lễ không thể thiếu với

đ ng bào Khmer ở Cầu Kè

Theo Phật giáo Tiểu thừa thì ngu n gốc lễ dâng y có từ thời đ c Phật c n đi hoằng đạo Theo đ thì hi c n tại thế đ c Phật và Chư Tăng thường đi du phương hoằng đạo Tỳ hưu thời đ c ph p y ta phục và tất cả đều may theo hình chữ nhật, vì là hình chữ nhật nên y phục phần lớn đều được chư tăng tự may cắt , màu sắc đơn giản như vàng, nghệ, nâu Tam y g m có: nội y antaravasaca được gọi là

an đà hội hay hạ trước y , y vai tr i uttarasangha được gọi là uất đà a tăng hay thượng trước y , y ép sanghati được gọi là tang già lê hay trùng phục y)

Trong Phật giáo Nam tông, “Kathina” ang nghĩa à ền chặt, gắn kết hay không dễ vỡ vụn Thuật ngữ này ao hà nghĩa của sự bền vững hướng đến viên mãn nhờ bố thí, cúng dường Theo tiếng Pali, “Kathina” hông c nghĩa à y, o hay dâng y à c nghĩa à sự vững bền, chặt ch Ngoài ra trong tiếng Phạn,

“Kathina” athinaya c nghĩa à c i hung dệt vải, khung treo

Tích Phật kể rằng hi đ c phật còn tại thế, sau quá trình hoằng pháp, Ngài chu n bị an cư tại chùa Kỳ Viên(Anatapindika) thành Xá Vệ(Savathi), thì có một tăng đoàn hoảng người xin đến được cùng an cư với đ c Phật Được Ngài

đ ng ý, tăng đoàn đ đến chùa Kỳ iên, nhưng do đường xa, đi ại h hăn nên

Trang 33

hi đến nơi y, o đều bị ướt và rách nát Sau hi an cư đ c Phật mới cho phép nới

l ng một số giới luật để tăng đoàn được ưu ại mai vá y phục mới trước khi lên đường hành ph p C ng chính tại đây, nữ thí chủ Visakha(một trong hai bậc hộ pháp của phật giáo(còn gọi à trưởng giả Sudatta đ dâng y cho đ c Phật lần đầu tiên Từ đ tục dâng y xuất hiện

Kathina là lễ cầu ưa thuận gió hòa, nhà nhà yên vui hạnh phúc Những người đến chùa dự lễ ngoài việc cầu an cho gia đình ở kiếp này, họ còn cầu cho kiếp sau ình được s c kh e, xinh đẹp, giàu có, con cháu hiếu thảo Theo người Khmer các vị sư s i uôn được hiểu à đại thể của tất cả tăng đoàn truyền thừa giáo

ph p Nên đại lễ Kathina có ý nghĩa hết s c to lớn, vừa thể hiện thiện tâm của người phật tử đối với việc hộ trì tăng đoàn, vừa tạo nên niềm vui lớn trong mùa lễ hội cho người phật tử tại gia, đ ng thời đại lễ còn nhắc nhỡ cho t chúng, cả tăng

sĩ và Phật tử tại gia luôn nhớ và trân trọng tấm lòng của đàn tín ì thế đại lễ athina được xem là một lễ hội thiêng iêng, được tổ ch c rất tôn nghiêm, long trọng Có l vì nguyên nhân này nên người thành tâm không tự tay trực tiếp dâng y

à đặt y trước mặt đại tăng à đổi lại chư tăng chỉ nhận y bằng cách im lặng ch không nhận lấy bằng tay như ình thường với người thành tâm có thể dâng y may sẵn hoặc dâng vải để may y

Lễ dâng y Kathina là lễ dâng lên tam bảo(Phật, h p, Tăng) t vật dụng, nhất là các vật dụng thiết yếu dùng trong nhà chùa và dùng trong sinh hoạt của chư tăng Trong c c ễ vật đ , chiếc áo cà sa là vật lễ rất quan trọng không thể thiếu Ngoài việc dâng các lễ vật thiết yếu đến ngôi tam bảo, c c tín đ Phật tử và các mạnh thường quân c n đ ng g p inh phí với mục đích à để trùng tu, sữa chữa, xây dựng chùa và cung cấp ương thực, thực ph đến đại đ c, chư tăng để các Ngài yên tâm tu học, phụng sự Phật pháp

Đại lễ không chỉ tạo nên nhiều thuận duyên cho Phật tử tại gia dâng y mà ngay cả với Phật tử xuất gia mang nhiều nghĩa Điều đ c nghĩa à việc thụ y

Trang 34

đúng thời, đúng ph p à ột thuận duyên cho chư tăng trong ùa an cư, ngoài ra việc thụ y đúng ph p c ng s sinh công đ c bởi nhắc nhỡ Chư Tăng tr nh việc

đa ê thụ hưởng(tham), không những không tốt cho bản thân mà còn tác hại đến những người khác

Theo quy định của Phật giáo Nam Tông, các chùa chỉ tổ ch c đại lễ Kathina mổi nă ột lần và bắt đầu là ngày ra hạ(xuất hạ) là ngày 15 tháng 9 âm lịch và kết thúc vào ngày lễ Ok om bok là ngày 15 tháng 10 âm lịch( nếu không trong thời gian này thì không phải là Kathina) Trong vòng một tháng mổi chùa chỉ được ấn định một ngày cụ thể để thông báo cho Phật tử biết và tiến hành làm lễ dâng y đại

lễ athina thường do một phật tử đ ng đầu khởi xướng và mời các Phật tử khác hùn phước, thông báo với chư tăng về thời gian tổ ch c lễ để các ngài tổ ch c lễ thọ y Theo người Khmer quan niệ ai đ ng ra làm chủ lễ dang y cà sa s có nhiều phúc đ c vào kiếp sau và trong cuộc sống hiện tại luôn gặp nhiều may mắn Do đ mọi người dù giàu hay ngh o ai c ng ong uốn được một lần đ ng ra tổ ch c lễ dang y cà sa Nếu trường hợp ra hạ à hông c gia đình nào đăng í tổ ch c trường hợp này ít xảy ra) thì lễ dâng y s được tổ ch c tập thể, do ban quản trị nhà chùa tổ ch c và inh phí để mua các vật dụng dâng đến chư tăng được quyên góp mỗi nhà một ít tùy vào lòng hảo tâ Ngoài ra để tăng thê phần long trọng nhiều chùa còn kết hợp tổ ch c c c tr chơi dân gian, c c oại hình văn h a, nghệ thuật truyền thống để vui chơi, giải trí vào an đê như h t dù ê, â thon Lễ dâng

y athina được tổ ch c trong hai ngày, có thể tóm tắt như sau:

Ngày th nhất, sau khi trình lên Sư Cả và Sư Cả đ ng ý cho tiến hành lễ thì chủ lễ s mời vị Acha hướng dẫn nghi th c, mời h ch đến nhà dự để xe như à cùng hùn phước với chủ lễ đặc biệt chủ lễ còn phải thỉnh các vị sư trong chùa đến nhà để h i hướng cho vong linh ông bà, cầu an và xin phúc lành cho những người còn sống và xin phước báo s gặp được ở kiếp sau

Trang 35

Buổi chiều của ngày th nhất chủ lễ tổ ch c cho đoàn người khiêng kiệu lễ vật đ được chu n bị trước đ đi đến chùa[h9], để tăng thê phần long trọng chủ

lễ mời(ngày nay có thể phải trả tiền đội múa Sây-Dâm có trống, kèn dẫn đầu đoàn người hành lễ vào chùa Những thiếu nữ s được chọn xếp thành hai hàng, trong tay cầm bình hoa lấp nh di cùng đoàn rước, đi cùng đoàn dâng y à nhiều cây bông có gắn tiền nhiều mệnh giá và vì thế c người lầ tưởng là lễ dưng ông nhưng thực chất lễ Kathina hoàn toàn khác biệt với lễ dung bông và lễ chị được xem là Kathina khi diễn ra trong thời gian như đ nêu ở phần trên Kiệu lễ vật s được dặt tại sa a chùa Sau đ ọi người ng i lại nge các vị Sư thuyết pháp, còn các thanh niên nam nữ vui chơi úa h t ở sân chùa

Sang ngày th hai gia chủ s làm các nghi th c còn lại Gia đình chủ lễ tổ

ch c khiêng kiệu, các vật dụng khác nh hơn được đội trên đầu cùng với đoàn diễu hành đi v ng quanh ch nh điện a v ng sau đ ới vào ch nh điện dâng y cà sa cùng với tất cả các lễ vật, tại ch nh điện các vị sư s tụng kinh, Sư Cả s chon một

vị Sư tu hành tốt, chấp hành đúng giới luật nhập hạ để chủ lễ dâng tặng y cà sa đặc biệt là những vị sư c hoàn cảnh gia đình h hăn s được ưu tiên trước), tiếp theo à dâng đến các vị Sư còn lại và kết thúc lễ tại chùa

Sau đây à tiến trình một lễ dâng y athina được tổ ch c ở huyện Cầu :

Ngày18/10/2014

8h - 16h

18h - 20h

Công tác chuẫn bị cho đại lễ

Lễ tam bảo, thuyết pháp tại ch nh điện Ngày 19/10/2014

7h30 - 8h Lễ dặt t trai tăng dâng cơ cho sư tại chính điện chùa

8h - 8h30 -Tuyên bố lí do, giới thiệu đại biểu, mời chư tôn thiền

Trang 36

đ c tăng, phật tử tham dự đại lễ dang y Kathina

Lễ nhiễu phật v ng xung quanh ch nh điện, thực hiện nghi lễ dâng y Kathina tại ch nh điện

8h30 - 10h30 Thuyết pháp ý nghĩa ễ Kathina

11h - 13h Chư tôn đ c nh đạo an thường trực hội đ ng ch ng

minh, hội đ ng trị sự giáo hội phật giáo việt nam, hệ phái nam tông, bắc tông thọ trai: mời cơ trưa đại biểu và phật tử tham gia

13h Kết thúc đại lễ dang y Kathina

iệc tổ ch c Kathina phải có sự đ ng ý, chấp thuận của vị sư cả trong chùa, của cả phum sóc Niều gia đình, tộc họ nào đ uốn đ ng ra tổ ch c một đ rước athina nhưng c ng chưa chắc được, bởi vì nếu trong nă đ phật tử trong bổn sóc có nhiều người muốn được tổ ch c thì phải có buổi họp hội đ ng quản trị chùa cùng với chư tăng, sau đ s đi đến quyết định lễ athina nă đ s được rước chung hay do một gia đình, d ng họ nào đ tổ ch c

Hiện nay do đời sống kinh tế của đ ng bào Khmer ở Cầu Kè có phát triễn nên các lễ Kathina hằng nă ở chùa được tổ ch c lớn hơn và ngày càng trở về với truyền thống với đầy đủ nghi th c hơn Ngày nay do c sự giao thoa văn h a trong cuộc sống của đ ng bào dân tộc Khmer-Kinh-Hoa nên c hi đ ng bào không phải

là dân tộc Khmer c ng đăng í với chùa để được thực hiện đại lễ athina Điều

Trang 37

này đ tạo nên sự đoàn ết, gắn bó giữa các dân tộc anh e xe nư ột nhà, không phân biệt dân tộc, tôn giáo

Đại lễ athina đ trở thành một nét đẹp văn h a truyền thống của dân tộc Khmer, là dịp để tôn vinh những giá trị truyền thống Phật giáo có từ thời đ c Phật,

đ ng thời c ng à dịp để hàng Phật tử xuất gia và tại gia tri ân công đ c đ c Phật Thích Ca Mâu Ni tạo tác duyên nghiệp trở thành những thắng duyên trong Phật pháp Mỗi ùa an cư iết hạ đi qua à người Khmer lại nhớ về đại lễ Kathina, về tổ tiên như ột hạnh nguyện lớn trong cuộc đời mình

Tùy theo từng địa phương việc dâng y athina tuy c đôi chút h c nhau nhưng đại lễ Kathina của người Khmer ở Cầu Kè ang nghĩa sâu sắc cho việc tín ngưỡng và làm theo những gì phật dạy để từ đ hình thành nên nhân c ch con người Thông qua các hoạt động trong ngày lễ đ tạo nên sự gần g i và thân thiện, sống có trách nhiệ và uôn thương yêu đù ọc lẫn nhau, tình àng nghĩa x trong đ ng bào dân tộc Khmer và các dân tộc anh em từ đ c ng được thắt chặt, gắn , eo sơn hơn

B Tát, Phật Di Lạc trong chùa Phật giáo Tiểu thừa thờ chỉ duy nhất Phật Thích

Ca Mâu Ni

Phật giáo Tiểu thừa c nă iểu tượng Phật Thích Ca Mâu Ni:

Trang 38

Một à tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ng i bên gốc cây bị Ma vương vây quanh

Hai là lúc Phật Thích Ca Mâu Ni đắc đạo

Ba là Phật tham thiền

Bốn là lúc Phật nhập niết àn tượng Phật nằm nghiêng)

Nă à úc Phật đưa tay tha th

C c tượng Phật trong chùa Khmer thường à do c c tín đ (trong và ngoài nước) cúng tặng nhà chùa Tượng do ột cá nhân cúng hoặc do nhiều người cúng Khi các ngôi chùa mới được xây dựng thì tín đ s cúng tượng Phật vào chùa, tượng Phật có thể được là bằng nhiều chất liệu như vàng, đ qu , ngọc thạch , hay tượng gỗ và được xe như à g p phước vào chùa Nếu tượng do cá nhân cúng thì s được khắc tên vào ph i sau ưng đ c Phật, còn do nhiều người cúng thì s có một tấm th thường bằng đ ng) khắc tên những người đ và gắn phía sau tượng phật Dù làm bằng chất liệu gì hay do ai cúng thì tượng Phật hi được đặt ở chùa

c ng phải thực hiện đầy đủ các nghi th c của Phật giáo Tiểu Thừa Người Khmer gọi là lễ Apphisek nếu như hông c ễ Apphise thì tượng Phật s trở thành khối

gỗ, đ vô tri ch không linh thiên gì Lễ Apphisek có thể làm tại chùa hoặc tại nhà

Lễ Apphisek làm tại chùa thì trước tiên mọi người s đến chùa sửa soạn trang trí Phật đài, quét soạn nhà chùa và ch nh điện sạch s Tượng s được đễ trên một bàn lớn trước phật đài, hi đọc kinh xong mới ưng tượng Phật lên phật đài

Lễ s được tổ ch c vào an đê hoảng 8h , tín đ ng i hai hàng nam nữ hai bên làm lễ, dọc inh và dâng nhang, đ n cúng Phật và cầu nguyện (cầu cho cả phum, sóc và mọi người); kế tiếp ông trưởng ban nghi lễ( là Acha chùa đọc kinh hợp

th c tượng Phật và tượng Phật lúc này s được xem là linh nghiệ để mọi người sùng bái Tiếp theo ông trưởng ban dọc kinh bằng tiếng Phạn c điều thú vị là tùy theo chất liệu tượng phật à đọc bài kinh cho phù hợp , đọc kinh xong vị trưởng ban s mời các vị sư s i trong chùa được cúng tượng đọc kinh cầu an đến 24h, lúc

Ngày đăng: 13/07/2017, 15:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phan An (2009), Dân tộc Khmer ở Nam Bộ, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Khmer ở Nam Bộ
Tác giả: Phan An
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
3.Báo cáo tình hình công tác dân tộc năm 2013, ngày 18/11/2013- phòng dân tộc huyện Cầu Kè Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình công tác dân tộc năm 2013
4. Báo cáo tổng kết hoạt động của hội đoàn kết Sư sãi yêu nước huyện cầu kè lần thứ IV(2007-2013) và phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ V(2013-2018), Cầu , ngày 1 th ng nă 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động của hội đoàn kết Sư sãi yêu nước huyện cầu kè lần thứ IV(2007-2013) và phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ V(2013-2018)
13.Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, NXB ăn h a thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: NXB ăn h a thông tin
Năm: 1996
14.Tần ăn Bổn (2002), Một số lễ tục dân gian người Khmer đồng bằng sông cửu long,NXB ăn h a dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lễ tục dân gian người Khmer đồng bằng sông cửu long
Tác giả: Tần ăn Bổn
Nhà XB: NXB ăn h a dân tộc
Năm: 2002
15.Trần ăn Bính (2004),Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ thực trạng và vấn đề dặt ra,NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: ),Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ thực trạng và vấn đề dặt ra
Tác giả: Trần ăn Bính
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
16. Nguyễn Tuệ Chân (2015), Lịch sử phật giáo,NXB Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử phật giáo
Tác giả: Nguyễn Tuệ Chân
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2015
17. Nguyễn Mạnh Cường (2008), Phật giáo Khmer Nam Bộ, những vấn đề nhìn lại, NXB Tôn giáo Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phật giáo Khmer Nam Bộ, những vấn đề nhìn lại
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: NXB Tôn giáo Hà Nội
Năm: 2008
18. Nguyễn Tấn Đạt (2000), Mối quan hệ giữa Nhà Nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa Nhà Nước và Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tấn Đạt
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
22. Lý Tùng Hiếu (2011), Các vùng văn hóa Việt Nam, NXB Đại học quốc gia thành phố H Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vùng văn hóa Việt Nam
Tác giả: Lý Tùng Hiếu
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia thành phố H Chí Minh
Năm: 2011
23.Nguyễn Duy Hinh (2011), Phật giáo trong Văn Hóa Việt Nam, NXB ăn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo trong Văn Hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: NXB ăn hóa thông tin
Năm: 2011
25.Đỗ Quang ưng (2001), Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ, NXB Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo và mấy vấn đề tôn giáo Nam Bộ
Tác giả: Đỗ Quang ưng
Nhà XB: NXB Tôn giáo
Năm: 2001
26. Viện văn h a 199 ,Văn hóa Khmer vùng đồng bằng Sông Cữu Long 27. Huyện Cầu Kè (2001), Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Cầu Kè anh hùng(1930-1975) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Khmer vùng đồng bằng Sông Cữu Long" 27. Huyện Cầu Kè (2001)
Tác giả: Viện văn h a 199 ,Văn hóa Khmer vùng đồng bằng Sông Cữu Long 27. Huyện Cầu Kè
Năm: 2001
30. Nguyễn Thanh Luân (1995), Tổ chức hoạt động thư viện ở nông thôn trên kinh nghiệm tổ chức phục vụ đồng bào dân tộc Khmer ở Trà Vinh, Luận văn thạc sĩ thông tin thư viện, Trường đại học văn h a à Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động thư viện ở nông thôn trên kinh nghiệm tổ chức phục vụ đồng bào dân tộc Khmer ở Trà Vinh
Tác giả: Nguyễn Thanh Luân
Năm: 1995
31. Nguyễn Đ c Lữ (2006), Tôn giáo với dân tộc và Chủ Nghĩa Xã Hội, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo với dân tộc và Chủ Nghĩa Xã Hội
Tác giả: Nguyễn Đ c Lữ
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
33.Tạ Phia Rinh (2011), Vai trò sư sãi Khmer trong việc phát triễn giáo dục và văn hóa dân tộc, Kỷ yếu hội thảo khoa học cộng đồng dân tộc Khmer trong quá trình phát triễn và hội nhập, NXB đại học KHXH và NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò sư sãi Khmer trong việc phát triễn giáo dục và văn hóa dân tộc, Kỷ yếu hội thảo khoa học cộng đồng dân tộc Khmer trong quá trình phát triễn và hội nhập
Tác giả: Tạ Phia Rinh
Nhà XB: NXB đại học KHXH và NV
Năm: 2011
35. Nội qui trụ trì phật giáo Nam Tông Khmer trong tỉnh Trà Vinh, Ngày 13 th ng nă 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội qui trụ trì phật giáo Nam Tông Khmer trong tỉnh Trà Vinh
43.Huỳnh Thanh Quang (2011), Giá trị văn hóa Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị văn hóa Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Huỳnh Thanh Quang
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
44.Trần Phong Quang (2014), Chùa ông Bổn Cầu Kè, NXB ăn h a nghệ thuật, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa ông Bổn Cầu Kè
Tác giả: Trần Phong Quang
Nhà XB: NXB ăn h a nghệ thuật
Năm: 2014
46.Quyết định số 35/QĐ-UBNDHCầu Kè ngày 17/12/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 35/QĐ-UBNDHCầu Kè

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w