Phật giáo Nam tông được truyền vào Việt Nam theo con đường của các nhà truyền giáo từ Ấn Độ đi theo con đường biển tới Srilanca, Mianma, Thái Lan tới vùng sông Mê Công Campuchia và vào v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦM MINH PHƯƠNG
PHẬT GIÁO NAM TÔNG CỦA NGƯỜI
KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60220313
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ỨNG DỤNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦM MINH PHƯƠNG
PHẬT GIÁO NAM TÔNG CỦA NGƯỜI
KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60220313
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ỨNG DỤNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN DUY BÍNH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, tìm kiếm, nghiên cứu tài liệu và hoàn thành đề cương luận văn Tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ to lớn và tận tình của các thầy giáo, cô giáo khoa lịch sử trường Đại học sư phạm Hà Nội
Tôi xin cảm ơn toàn thể thầy giáo, cô giáo khoa lịch sử , đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của thầy PGS.TS Nguyễn Duy Bính, các thầy cô trong tổ bộ môn lịch sử Việt Nam cùng các thầy cô trong phòng thư viện trường Đại học Trà Vinh, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình tìm kiếm nguồn tư liệu để nghiên cứu viết luận văn
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã ủng hộ và nhiệt tình giúp đỡ, động viên, chia sẻ cùng tôi trong những ngày tháng học tập, nghiên cứu vất vả nhất để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội: ngày 21 tháng 7 năm 2017
Tác giả
Trầm Minh Phương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả phân tích trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Hà Nội: ngày 21 tháng 7 năm 2017
Tác giả
Trầm Minh Phương
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ trọng tâm 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
3.3 Nhiệm vụ trọng tâm 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4.1 Mục đích 8
4.2 Nhiệm vụ 8
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 8
5.1 Nguồn tư liệu 8
5.2 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Bố cục của đề tài 10
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH 11
1.1 Lịch sử hình thành, dân cư, dân số của người Khmer 11
1.2 Địa bàn cư trú 15
1.3 Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội 20
1.3.1 Kinh tế 20
1.3.2 Văn hóa, xã hội 28
Trang 61.4 Truyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào Khmer 34
1.4.1 Đồng bào Khmer kháng chiến chống thực dân Pháp(1945-1954) 34 1.4.2 Đồng bào Khmer kháng chiến chống đế quốc Mĩ và tay sai (1954-1975) 35
1.5 Tiểu kết chương 1 37
CHƯƠNG 2: PHẬT GIÁO NAM TÔNG CỦA NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH TRƯỚC NĂM 1975 38
2.1 Quá trình du nhập, truyền bá Phật giáo Nam tông của người Khmer 38
2.2 Hệ thống giáo lý, giáo luật Phật giáo Nam tông của người Khmer 41
2.3 Cơ sở thờ tự 47
2.4 Các lễ hội tiêu biểu của người Khmer 55
2.4.1 Chôl Chnăm Thmây ( Lễ hội mừng năm mới) 57
2.4.2 Lễ Sene Dolta (lễ cúng ông bà) 62
2.4.3 Óoc-om-bok (Lễ hội cúng trăng) 63
2.4.4 Lễ hội đua ghe ngo 65
2.5 Vai trò của Phật giáo Nam tông trong đời sống xã hội của người Khmer 69 2.6 Tiểu kết chương 2 75
CHƯƠNG 3: PHẬT GIÁO NAM TÔNG CỦA NGƯỜI KHMER Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH SAU NĂM 1975 76
3.1 Chính sách của Đảng và nhà nước đối với Phật giáo Nam tông Khmer 76
3.1.1 Chính sách tôn giáo của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 76
3.1.2 Chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo từ năm 1975 đến nay 79
3.2 Những thay đổi trong đời sống tôn giáo của người Khmer Trà Vinh 83 3.2.1 Về giáo lý 83
3.2.2 Về cơ sở thờ tự 84
Trang 73.2.3 Về lễ hội 93
3.3 Về đời sống xã hội 94
3.4 Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia có lịch sử lâu đời, trải qua hàng ngàn năm hình thành và phát triển Đó là sự đóng góp của toàn thể nhân dân các dân tộc cùng chung sống Mỗi dân tộc lại có những nét đặc trưng, bản sắc dân tộc riêng, thậm chí yếu tố tôn giáo đóng vai trò quan trọng cho sự cấu thành bản sắc dân tộc Tất cả đã tạo nên cho Việt Nam có một nền văn hóa đa dạng trong thống nhất Dân tộc Khmer là dân tộc đã định cư tương đối sớm trên lãnh thổ Việt Nam
Họ sống tập trung chủ yếu ở vùng Tây Nam Bộ-Đồng bằng sông Cửu Long
Ngay từ đầu công nguyên đã có một bộ phận người Khmer sinh sống trên vùng đất này Vào khoảng thế kỉ VI đến thế kỉ VII, qua quá trình di dân và định cư của người Khmer được đẩy mạnh sau khi Nhà nước Chân Lạp của người Khmer thôn tính Vương quốc Phù Nam, biến phần đất của Vương quốc Phù Nam ở Đồng bằng sông Cửu Long thành một phần của Thủy Chân Lạp Tuy nằm trong phần đất Thủy Chân Lạp của Vương quốc Chân Lạp, nhưng Tây Nam Bộ hầu như không nhận được sự quan tâm phát triển phát triển của Nhà nước phong kiến Chân Lạp Về cơ bản đây là vùng đất hoang vu, hẻo lánh, vô chủ cho đến trước thế kỉ XVII
Từ thế kỉ XIII, khi Vương quốc Chân Lạp suy yếu và trước sự nhòm ngó của các quốc gia lân bang, rất nhiều cư dân Chân Lạp đã bỏ vùng đất quê cha đất tổ Lục Chân Lạp để đến với Tây Nam Bộ Những cư dân Khmer tiếp tục đẩy mạnh quá trình di dân lập làng trên vùng đất đã bị chính quyền của họ bỏ quên suốt nhiều thế kỉ
Ở tỉnh Trà Vinh đồng bào Khmer là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam Tỉnh Trà Vinh có gần 300.000 người Khmer, chiếm tỉ lệ khoảng 30% dân số toàn tỉnh Đồng bào Khmer sống tập
Trang 9nhất ở các huyện Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu Kè, Châu Thành, Cầu Ngang…Huyện Trà Cú có đông đồng bào Khmer nhất tỉnh, chiếm 60% dân số so với dân số toàn huyện, chủ yếu sinh sống ở các xã vùng nông thôn sâu Hầu như nơi nào
có đồng bào Khmer sinh sống thì ở đó có chùa Khmer, với kiến trúc độc đáo, hòa quyện thiên nhiên Đối với người Khmer, ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo, văn hóa và lễ hội góp phần tạo nên những sắc thái riêng, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa cho từng tộc người
Phật giáo Nam tông được truyền vào Việt Nam theo con đường của các nhà truyền giáo từ Ấn Độ đi theo con đường biển tới Srilanca, Mianma, Thái Lan tới vùng sông Mê Công( Campuchia) và vào vùng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (phía Nam) của Việt Nam., được đông đảo người dân đặc biệt là đồng bào dân tộc Khmer đón nhận, trở thành tôn giáo của người Khmer Do
đó gọi là Phật giáo Nam tông Khmer Vào khoảng thế kỉ thứ IV, Phật giáo Nam tông có mặt ở Trà Vinh rất sớm , họ sống theo các phum sóc Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đại bộ phận các phum, sóc của người Khmer đều có chùa thờ phật Tính đến nay, ở Trà Vinh có 141 chùa nằm rãi khắp các huyện
kể cả thành phố Trà Vinh, riêng huyện Trà Cú có đến 44 ngôi chùa Người Khmer theo phật giáo tiểu thừa (Hynayana), các ngôi chùa Khmer là sự kết hợp hài hòa giữa lối kiến trúc Ấn Độ và quan niệm bản địa
Ở đây, Phật giáo Nam Tông đã được người Khmer tiếp nhận và phát triển trong cộng đồng qua nhiều thế kỉ, Phật giáo Nam tông chiếm địa vị độc tôn, nó chi phối nhiều mặt trong đời sống đồng bào Khmer, đã gởi gấm tâm tư, tình cảm của mình trong Phật giáo và thắm sâu vào cuộc sống tâm linh cũng như trong các phong tục và lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer Trà Cú có
vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng-an ninh ở khu vực tây nam bộ nói chung, tỉnh Trà Vinh nói riêng là nơi giao thoa giữa các dòng văn hóa Kinh, Khmer, Hoa Tôn giáo Phật giáo Nam tông Khmer chiếm vị trí
Trang 10góp phần tạo nên diện mạo mới về Phật giáo Nam tông Khmer ở Trà Vinh nói chung và Trà Cú nói riêng Quá trình tồn tại và phát triển Phật giáo Nam tông
có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là sự ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào Khmer Có thể nói Phật giáo Nam tông đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành nét bản sắc cho dân tộc Khmer trên tất cả các yếu tố, từ phong tục tập quán, sinh hoạt vật chất-tinh thần, những ứng xử trong cộng đồng…Đồng thời Phật giáo Nam tông còn góp phần nâng cao giá trị đạo đức, đạo lý làm người, góp phần phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Tạo nên tính cách, bản sắc văn hóa người Khmer tỉnh Trà Vinh nói chung Tuy nhiên, ở Trà Cú cũng
có một số phần tử thuộc nhóm Khmer krom đã kích động, lợi dụng tôn giáo, thông qua tôn giáo để dụ dổ mua chuộc người Khmer chống phá chính quyền
của ta Vì thế, tìm hiểu đề tài “Phật giáo Nam tông của người Khmer ở huyện
Trà Cú, tỉnh Trà Vinh”giúp ta không chỉ hiểu sâu sắc hơn quá trình phát triển
của Phật giáo Nam tông Khmer cũng như những biến đổi của đạo Phật trong đời sống xã hội người Khmer Đồng thời có những chính sách bảo tồn, phát huy, phát triển tín ngưỡng cũng như bản sắc văn hóa của người Khmer trong cộng đồng văn hóa Việt
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình bước đầu nghiên cứu đề tài, học viên đã tiếp cận được một số tác phẩm, công trình nghiên cứu có liên quan Đồng thời với các tác phẩm, công trình nghiên cứu này nó góp phần quan trọng trong quá trình học viên thực hiện đề tài
Một số tác phẩm, công trình có liên quan như:
Tác giả Phan An, tác phẩm Dân tộc Khmer Nam Bộ của Nhà xuất bản
chính trị quốc gia (tháng 4 năm 2009), người Khmer Nam Bộ bị chi phối và chịu ảnh hưởng nhiều bởi nếp sống cổ truyền, phong tục tập quán, cả nét sinh hoạt tôn
Trang 11đề xóa đói giảm nghèo của người Khmer ở Trà Vinh và sự phát triển đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đồng bào Khmer trong tương lai [(5) 7-22]
Tác giả Trần Văn Bính (2004), tác phẩm Văn hóa các dân tộc Tây Nam
Bộ thực trạng và những vấn đề đặt ra của Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà
Nội, tác giả đã đánh giá, phân tích tương đối toàn diện, khách quan về thực trạng đời sống văn hóa của một số dân tộc thiểu số vùng Tây Nam Bộ trong công cuộc đổi mới, tác phẩm còn nói về tín ngưỡng-tôn giáo của dân tộc Khmer ở Việt Nam hiện nay [(6) 7-254]
Tác giả Nguyễn Mạnh Cường, Tác phẩm Phật giáo Khmer Nam Bộ(
những vấn đề nhìn lại) xuất bản năm 2008, tác giả nói về người Khmer Nam
Bộ từ khi mới sinh ra cho đến khi chết đều gắn bó với ngôi chùa của phum, sóc mình Họ là những tín đồ phật tử rất thuần thành vì từ lúc mới chào đời, cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay họ vẫn được các nhà sư làm lễ cầu siêu mong cho linh hồn của họ sớm được về cõi Niết Bàn Các chàng trai Khmer mới lớn lên họ đã đến tu học ở các chùa…Những nghiên cứu này đánh giá đúng vai trò của người Khmer trong lịch sử cũng như đề cao vị thế của Phật giáo Nam tông Khmer trong giáo hội Phật giáo Việt Nam [(17) 11-215]
Tác giả Nguyễn Khắc Cảnh với tác phẩm Phum Sóc Khmer ở đồng bằng
sông Cửu Long Tác phẩm được chia thành ba chương, trong đó trọng tâm là
chương hai và chương ba Chương 2: Cấu trúc và chức năng của Phum; Chương ba: Cấu trúc và chức năng của Sóc Đây là công trình nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về quá trình hình thành và ra đời của Phum, Sóc, đơn vị kinh tế xã hội của người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long - Tây Nam Bộ đồng thời thông qua tác phẩm, người đọc có thể nhận biết được về đời sống kinh tế xã hội, văn hóa của người dân Khmer trong thiết chế kinh tế, xã hội của họ Tuy nhiên, trọng tâm chính của tác phẩm là về đời sống kinh tế, xã hội của người Khmer trong các Phum, Sóc ở đồng bằng sông Cửu Long [(14) 6-174]
Trang 12Tác giả Phạm Thị Phương Hạnh(chủ biên), tác phẩm Văn hóa Khmer
Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam(tái bản có sửa chữa, bổ sung)
của Nhà xuất bản chính trị quốc gia- năm 2011, nói về sự giao thoa văn hóa với các dân tộc anh em, nhưng cơ bản, người Khmer vẫn giữ được những nét văn hóa đặc sắc, những cốt cách, tinh hoa của dân tộc mình Thể hiện rõ nét nhất qua các ngôi chùa Khmer và sinh hoạt ở mỗi phum sóc, gắn liền với Phật giáo Nam tông tiểu thừa qua tiếng nói, chữ viết, các lễ hội truyền thống, các hình thức nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, sân khấu, ca múa…, gồm sáu phần: Phần thứ nhất nói về một số nét khái quát về người Khmer Nam Bộ, phần thứ hai nói về tín ngưỡng- tôn giáo, phần thứ ba nói về
lễ hội, phần thứ tư nói về văn hóa- nghệ thuật, phần thứ năm nói về phong tục- tập quán, phần thứ sáu nói về ngành, nghề truyền thống [(25) 7-275]
Tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, tác phẩm Người Khmer tỉnh Cửu Long của
Sở văn hóa-thông tin Cửu Long xuất bản ( năm 1987) nói về truyền thống đoàn kết Kinh- Khmer bắt nguồn từ thực tiển lao động và chiến đấu chống ngoại xâm đã tất yếu dẫn đến sự giao lưu trong văn hóa, gồm bốn chương: chương I khái quát về người khmer tỉnh Cửu Long, chương II Tín ngưỡng-tôn giáo và phong tục- lễ hội, chương III Văn học và nghệ thuật, chương IV Truyền thống đoàn kết Việt-Khmer trong chiến đấu và xây dựng [(37) 7-209]
Tác giả Đinh Lê Thư (chủ biên), tác phẩm Vấn đề giáo dục vùng đồng
bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long (năm 2005), tác giả đề cập đến vấn đề
giáo dục song ngữ Việt-Khmer ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đây là một vấn đề không chỉ liên quan đến giáo dục mà còn thể hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đối với dân tộc Khmer để đảm bảo quyền bình đẳng dân tộc và góp phần vào việc bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống dân tộc Khmer Đã có những đóng góp tích cực khi đề ra những giải pháp để nâng cao hơn nữa sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong vùng dân tộc Khmer Sự phân bố
Trang 13huyện, thị thuộc các tỉnh Trà Vỉnh…trình độ học vấn của người Khmer ở Trà Vinh [(38) 11-314]
Ngoài ra còn cò một số công trình nghiên cứu về dân tộc Khmer, Phật giáo Nam tông của người Khmer vùng Tây Nam Bộ được nhiều tác giả nổi tiếng đăng trên tạp chí chuyên ngành sau:
Phan An với bài Phật giáo trong đời sống của người Khmer Nam Bộ
đăng trên tạp chí nghiên cứu tôn giáo, số 5-2003, đã khái quát được vị trí vai trò của các vị sư sãi, nhà chùa đối với đời sống của đồng bào Khmer Thông qua bài viết thấy được mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa nhà chùa, sư sãi với đồng bào Khmer trong phum sóc
Nguyễn Hồng Dương, Sắc lệnh về vấn đề tôn giáo một dấu mốc quan
trong về quan điểm, đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam đối với tôn giáo, tạp chí nghiên cứu tôn giáo, số 10-2012, tác giả để lại cho người đọc
có những tư liệu quan trọng về tôn giáo sau năm 1954 Qua đó thấy đươc chính sách của Đảng và nhà nước rất quan trọng, nhằm phát huy quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân
Nguyễn Xuân Nghĩa (2003), Đạo phật tiểu thừa Khmer ở vùng nông
thôn đồng bằng sông Cửu Long: chức năng xã hội truyền thống và động thái
xã hội, tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 5-2003 Trong bài viết tác giả giúp chúng
ta nắm được quá trình du nhập của Phật giáo tiểu thừa vào đồng bằng sông Cửu Long, dẩn dến sự hình thành các ngôi chùa Khmer
Huỳnh Ngọc Thu, Báo hiếu trong hành vi tôn giáo của cộng đồng người
Khmer Nam Bộ, tạp chí nghiên cứu tôn giáo số 6-2013 Tác giả nghiên cứu rất
kỹ về những giá trị đạo đức của người Khmer Nam Bộ Những giá trị đó được thể hiện thông qua hình thức báo hiếu của con đối với cha mẹ, của phật tử đối với sư sãi Thông qua bài viết thấy được vị trí quan trọng của Phật giáo Nam tông ảnh hưởng lớn đối với người Khmer
Trang 14Bên cạnh một số bài nghiên cứu trên, củng có một số bài viết có liên quan đến đề tài mà học viên nghiên cứu như:
Lê Thanh Hiền - Vai trò của ngôi chùa Khmer trong đời sống văn hóa cộng đồng ( Luận văn thạc sĩ khoa ngôn ngữ-văn hóa-nghệ thuật Khmer Nam
Bộ, Đại học Trà Vinh)
Nguyễn Thị Khánh Phượng - Lễ hội Phật giáo của người Khmer Trà Vinh Trần Thanh Tâm - Nghệ thuật sân khấu Dù Kê tỉnh Trà Vinh
Nguyễn Trung Thành – Phật giáo Khmer ở Tây Nam Bộ: truyền thống
và hiện đại ( Nguồn: Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử- năm 2015)
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ trọng tâm
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về phật giáo nam tông của người Khmer huyện Trà Cú
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: nghiên cứu về vùng đất huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
Thời gian: tập trung nghiên cứu về Phật giáo Nam tông của người Khmer ở Trà Cú từ khi Phật giáo được tiếp nhận và trở thành tôn giáo chính thống của người Khmer
Trang 154 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Luận văn phân tích làm rõ Phật giáo Nam tông Khmer đối với đời sống tinh thần của đồng bào Khmer Trà Cú Đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực của Phật giáo Nam tông trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa mới trong cộng đồng người Khmer
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát chung về Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Trà Vinh và Phật giáo Nam tông Khmer huyện Trà Cú Phân tích thực trạng của Phật giáo Nam tông đối với đời sống tinh thần của đồng bào Khmer huyện Trà Cú
Khái quát một số vấn đề đặt ra và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực của phật giáo đối với đời sống tinh thần trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa mới trong cộng đồng người Khmer ở Trà Cú
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chính thực hiện luận văn này bao gồm các nguồn sau: Văn hóa Khmer Nam Bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam(tái bản có sửa chữa, bổ sung), Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Sóc Trăng, Văn hóa các dân tộc Tây Nam Bộ thực trạng và những vấn đề đặt ra, Các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ, Dân tộc Khmer Nam Bộ, Người Khmer tỉnh Cửu Long, Vấn đề giáo dục vùng đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long, Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khmer Nam Bộ…Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam tông Khmer Trà Cú-Trà Vinh và các bài đăng trên tạp chí chuyên ngành
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp luận:
+ Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong mối
Trang 16+ Phương pháp lịch sửlà phương pháp tái hiện trung thực bức tranh quá khứ của sự vật, hiện tượng theo đúng trình tự thời gian và không gian như nó
đã từng diễn ra (quá trình ra đời, phát triển, tiêu vong)
+ Phương pháp logich là phương pháp nghiên cứu tổng quát các sự kiện, hiện tượng lịch sử, loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, không cơ bản để làm bộc lộ bản chất, tính tất yếu và quy luật vận động và phát triển khách quan của sự kiện, hiện tượng lịch sử đang “ẩn mình” trong các yếu tố tất nhiên lẫn ngẫu nhiênphức tạp ấy
- Phương pháp cụ thể:
+ Phương pháp sưu tầm, chỉnh lý, xử lý tư liệu
+ Phương pháp chuyên gia
Đời sống vật chất, văn hóa, xã hội của người Khmer
Thông qua đề tài có thể thấy được quá trình tiếp nhận và phát triển của Phật giáo Nam tông trong dân tộc Khmer ở Trà Cú-Trà Vinh
Thông qua đề tài có thể thấy được vị trí, vai trò của Phật giáo Nam tông của người Khmer trong đời sống vật chất tinh thần của đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh nói chung và huyện Trà Cú nói riêng
Những biến đổi của Phật giáo Nam tông của người Khmer được đề tài giải quyết một cách tương đối cơ bản Đây cũng là đóng góp lớn của đề tài
Thông qua những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, đặc biệt những giá trị tinh thần như: phong tục, tín ngưỡng, các lễ hội truyền thống chịu ảnh hưởng của phật giáo nam tông của người Khmer cũng thấy được những đóng
Trang 17những giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc Việt Nam, góp phần làm cho văn hóa Việt Nam thêm đa dạng, phong phú, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc trong thống nhất
Trà Vinh trước năm 1975
Chương III Phật giáo Nam tông của người Khmer huyện Trà Cú,
Tỉnh Trà Vinh sau năm 1975
Trang 19CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI KHMER
Ở HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
1.1 Lịch sử hình thành, dân cư, dân số của người Khmer
Đồng bằng sông Cửu Long được xuất hiện rất muộn so với những vùng đồng bằng khác ở nước ta, là một đồng rộng lớn và màu mỡ nhất của Việt Nam với diện tích 40,000 km2, bao gồm 12 tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau Được hình thành trong quá trình địa chất lâu dài, chủ yếu do sự bồi đắp phù sa của sông Cửu Long(còn có tên gọi là sông Mê Kông) [21,23,25] Theo nhà địa lý Lê Bá Thảo cho rằng, cách đây 2500 năm dưới sự che chở của các cồn cát duyên hải, của đồi núi miền Đông Nam Bộ ở phía Bắc và dãy Đậu Khấu ở phía Tây Nam, vịnh biển vùng sông Cửu Long được lấp dần Cùng với sự rút lui của mực nước biển Lúc bấy giờ, bề mặt đồng bằng còn chịu ảnh hưởng của các dòng thủy triều mạnh, bị chia cắt thành vô vàn các lạch triều lớn nhỏ đan cắt vào nhau, tiền thân của các kênh rạch mà ta thấy ngày nay
Vào những thế kỉ đầu công nguyên, châu thổ đồng bằng sông Cửu Long
đã được khai thác với sự ra đời của một nền văn hóa rực rỡ - văn hóa Ốc Eo (An Giang-Việt Nam) từ thế kỉ II đến đầu thế kỉ thứ VIII – đánh dấu một bước tiến có ý nghĩa lịch sử trong cuộc chinh phục đồng bằng sông Cửu Long
Từ thế kỉ X trở đi, do biển rút dần, những giồng đất lớn được nổi lên
ở vùng Sóc Trăng, Trà Cú, Giồng Riềng trở thành những vùng đất đai màu
mỡ thu hút cư dân đến cư trú
Từ thế kỉ XII, những người nông dân Khmer nghèo khổ trốn tránh sự bóc lột hà khắc, nạn lao dịch nặng nề của giai cấp phong kiến và vua chúa
Trang 20của các triều đại Ăng-ko đã tìm cách di cư đế vùng đồng bằng sông Cửu Long màu mở Ở đây những ngày đầu, họ chiếm cứ những vùng cát lớn, quần
tụ thành những cụm cư trú tập trung Từ thế kỉ XV, khi đế chế Ăng-ko sụp
đổ, người dân Campuchia lại rơi vào cảnh đói nghèo và bị đàn áp nặng nề bởi bọn phong kiến ngoại tộc Thái Lan, kể cả tầng lớp quan lại, sư sãi và trí thức Khmer đương thời Để thoát khỏi ách áp bức ngoại tộc, người Khmer
đã di cư đến vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày một đông Đến cuối thế
kỉ XV đầu thế kỉ XVI, về đại thể ở đồng bằng sông Cửu Long đã hình thành
ba vùng dân cư tập trung của người Khmer:
Vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau( chủ yếu là Sóc Trăng, Vĩnh Châu, Vĩnh Lợi)
Vùng An Giang, Kiên Giang ( chủ yếu là Vọng Thê, Tri Tôn, Nhà Bàng, sau đến phía Tây Bắc Hà Tiên
Vùng Vĩnh Long, Trà Vinh (chủ yếu tập trung ở bảy huyện thị của tỉnh Trà Vinh, còn Vĩnh Long thì rất ít) [25,26,27,28,30]
Hiện nay dân tộc Khmer nằm trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam,
là 1 trong 54 dân tộc cùng chung sống, gắn bó trên lãnh thổ Việt Nam Cũng như dân tộc Kinh (Việt), Hoa, Mường, Thái… dân tộc Khmer có lịch sử hình thành, phát triển lâu đời
Dân tộc thiểu số là khái niệm dùng để chỉ những dân tộc trong một quốc gia (hoặc nhiều quốc gia khác nhau) có dân số ít hơn so với dân tộc đa
số đóng vai trò chủ thể trong quốc gia đó Ví dụ như dân tộc Mường, Thái, Khmer… Trong cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam, dân tộc Khmer (người Khmer) được xếp thuộc các dân tộc thiểu số, họ sinh sống chủ yếu ở vùng Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long)
Lịch sử hình thành và phát triển của người Khmer Tây Nam Bộ kéo dài trong suốt hơn nửa thế kỷ (khoảng từ thế kỷ XII), và gắn liền với vùng đất Tây Nam Bộ Việt Nam
Trang 21Tên gọi người Khmer Theo đó, người Khmer là tên gọi tương đối đồng nhất từ xưa đến nay Tuy vậy, cũng có một số tên gọi khác dùng để chỉ người Khmer Các chúa Nguyễn và vua Nguyễn thường gọi các dân tộc, tộc người,
nhóm người không phải là người Việt (Kinh) là người Man, Mán, tuy vậy
trong cách gọi mà vua chúa nhà Nguyễn sử dụng ta vẫn có thể xác định được
danh xưng đó cho dân tộc nào, vì khi nói về người Man, Mán, Miên, các vua
chúa Nguyễn gọi liền với địa vực của người Man đó, như man Phú Yên, tức chỉ những người dân tộc thiểu số ở Phú Yên (có thể là người Chăm); man Châu Đốc ( những người Khmer ở Châu Đốc, vì vùng này người Khmer chiếm
số lượng đông đảo)… Thời các vua Nguyễn gọi là Miên Đây là cách gọi xuất phát từ âm tiếng Hán được Việt hóa Miên thực ra không có ý nghĩa xấu, chữ
Miên trong văn bản triều Nguyễn hay dùng có ý nghĩa là Lụa [41,7]
Xét theo nguồn gốc thì người Khmer Nam Bộ ngày nay và người Khmer Campuchia có chung nguồn gốc hình thành, ngoài ra còn chung tiếng nói, tôn giáo và đặc điểm sinh hoạt văn hóa Theo tác giả Đoàn Thanh Nô
thì: “người Khmer Nam Bộ … thuộc hậu duệ của người Phù Nam, ngữ hệ
Môn – Khmer” [41, 7] Trong danh mục các dân tộc thế giới thì người Khmer
Nam Bộ và người Khmer Campuchia cũng chỉ là một tộc người Họ không
phải là “người Việt gốc Miên” Nhưng do sống lâu đời trên vùng đồng bằng sông Cửu Long, tách biệt với tận gốc, lại có mối giao tiếp thường xuyên, lâu dài trên nhiều lĩnh vực với người Việt và các dân tộc khác nên ở người Khmer Nam Bộ xuất hiện nhiều yếu tố văn hóa và ý thức riêng so với người Khmer Campuchia [6,7,8, 15-16] Ví dụ, người Khmer Nam Bộ chủ yếu ở nhà đất (nhà trệt) như người Việt trong vùng, không ở nhà sàn như người Khmer Campuchia Trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong những dịp lễ hội, người Khmer Nam Bộ hầu như chỉ mặc quần ào bà ba (nhất là màu đen) như người Việt Nam Bộ Đặc biệt trong suốt quá trình hình thành và phát triển,
Trang 22dân tộc Khmer đã đồng hành, gắn bó, số phận của mình với các dân tộc anh
em khác như người Việt, người Hoa…
Đặc điểm nhận dạng của người Khmer được miêu tả như sau: “Người Khmer thuần chất còn gọi là Khmer rặt có nước da đen, lưỡng quyền cao, quai hàm hơi nhô, tóc đen và hơi quăn, chân mày ngắn, rậm, mắt to và đen, dưới mí mắt có quầng đen, râu rậm, và nhiều người có râu quai nón, môi dầy, mũi nhọn Vóc dáng người Khmer to và chắc hơn người Việt” [28, 100]
Người Khmer Nam Bộ hầu hết là những người nông dân cần cù đã bao thế kỷ cùng với người nông dân Việt chung sức khai phá vùng đồng bằng sông Cửu Long, họ có chung số phận, đều bị các thế lực phong kiến, thực dân bóc lột, đàn áp Nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, người Khmer đã tự nguyện đi theo cách mạng do Đảng ta lãnh đạo, sát cánh với đồng bào người Việt và các dân tộc anh em hi sinh xương máu để giải phóng mảnh đất thiêng liêng phía nam Việt Nam, bảo vệ toàn vẹn tổ quốc Việt Nam [7, 18]
Dân số người Khmer có những biến đổi to lớn trong suốt quá trình phát triển của dân tộc này trên lãnh thổ Việt Nam: theo tư liệu lịch sử năm
1862, trong thời kỳ thực dân pháp xâm lược miền Nam Việt Nam, lúc bấy giờ dân tộc Khmer có khoảng 147.718 người Năm 1906 có 209.225 người, năm 1916 có 242.157 người [44, 58] Năm 1946, theo thống kê của phủ thống đốc Nam Kỳ tộc người Khmer có khoảng 242.157 người [41, 9-10] Theo số liệu thống kê dân số năm 2009 thì người Khmer ở Việt Nam có tổng số dân
là 1.260.640 người, đứng thứ 5 trong 54 dân tộc anh em Người Khmer phân
bố rộng rãi trong cả nước, nhưng tập trung đông đảo nhất là ở Nam Bộ, trong
đó vùng Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long) là vùng tập trung nhiều nhất với tổng số dân là 1.183.476 người Như vậy, từ 147.718 người năm
1862 ở lần thống kê dân số đầu tiên (thời Pháp xâm lược Nam Bộ) đến năm
Trang 232009, dân số người Khmer đã tăng thêm khoảng hơn 1.000.000 người Riêng tại tỉnh Trà Vinh, huyện Trà Cú là một huyện có đông đồng bào Khmer nhất tỉnh khoảng 111.607 người chiếm 60% dân số so với dân số toàn huyện ( dân
số của huyện khoảng 180.084 người) thống kê dân số năm 2013
1.2 Địa bàn cư trú
Cũng như trong toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở đây địa hình
bị chia cắt bởi một hệ thống chằng chịt những sông rạch và kênh đào Địa hình vùng này phẳng thấp, có những sống đất dọc theo hai bờ sông Tiền, sông Hậu và những gò đất chạy song song với bờ biển cao một vài mét Những sống đất và gò đất này được người Khmer gọi là “phnô”(giồng) Những giồng hay gò đất là vùng đất phù sa cổ, trên mặt là đất cát pha thịt, dưới sâu là đất sét, dể thoát nước Đây là những dãy duyên hải xưa cũ mà đồng bằng trong quá trình tiến dần ra biển hình thành nên Đây là một trong những vùng cư trú cổ xưa nhất của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long mà minh chứng là những chùa tháp đươc xây dựng từ khoảng 400 năm về trước, hiện còn đươc bảo lưu ở đây Phum, Sóc của người Khmer phần lớn được xây dựng trên các dãy đất giồng, một số cư trú xen kẽ trong các trũng đồng ruộng mênh mông gọi là “ô” một số cư trú ven kênh và ven
bờ biển [33,34]
Dân tộc Khmer hiện nay có địa bàn phân bố dân cư tương đối rộng, họ sinh sống ở mọi vùng miền trên đất nước Việt Nam Tuy nhiên, người Khmer phân bố tập trung, đông đảo nhất là vùng Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long)
Tây Nam Bộ là vùng “đồng bằng tương đối trẻ” Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành dựa trên sự bồi tụ của sông Mê Kông Sông Mê Kông chảy vào Việt Nam thông qua hai hệ thống sông Tiền và sông Hậu, được nhân dân gọi là sông Cửu Long vì khi sông Mê Kông chảy qua vùng đất Nam Bộ thoát ra biển thông qua 9 cửa sông lớn Trải qua hàng triệu năm bồi đắp
Trang 24hệ thống sông Tiền, sông Hậu cùng với các hệ thống nhánh sông của nó đã bồi tụ lên vùng đồng bằng phì nhiêu màu mỡ này
Tuy là vùng đồng bằng phì nhiêu màu mỡ, rất thuận lợi cho sự canh tác, sản xuất nông nghiệp của con người, nhưng do là vùng đồng bằng có mặt bằng địa hình thấp, vẫn đang trong quá trình bồi lắng tiếp tục của hệ thống sông Cửu Long, ngoài ra, trong lịch sử vùng đồng bằng này thường xuyên bị sự xâm nhập của nước biển, do mực nước biển dâng cao Từ những thế kỉ đầu sau công nguyên, vùng đất này nhiều lần bị nước biển xâm lấn, tạo nên những vùng trũng, vùng đầm lầy ngay ở sâu trong đất liền Từ thế
kỷ XVII khi mực nước biển hạ về như hiện nay, con người mới quần tụ đông đảo hơn trước
Từ thế kỷ I – VII, Tây Nam Bộ thuộc lãnh thổ của vương quốc Phù Nam cổ đại Từ thế kỷ VII – XVI, XVII, Chân Lạp (thuộc quốc của Phù Nam) lớn mạnh xâm chiếm, biến lãnh thổ Phù Nam, trong đó có Tây Nam
Bộ thành lãnh thổ của mình, thuộc vùng thủy Chân Lạp Tuy thuộc Chân Lạp, nhưng do thiếu sự quan tâm của nhà nước Chân Lạp, vùng đất này không được nhà nước chú tâm phát triển Bên cạnh một số lớp dân cư người Khmer sinh sống ở một số các giồng đất cao của đồng bằng, thì nơi đây còn
có những người dân di cư khác
Suốt hơn 10 thế kỷ thuộc lãnh thổ Thủy Chân Lạp của Chân Lạp, nhưng về cơ bản Tây Nam Bộ vẫn là vùng đất hoang vu, dân số ít ỏi, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, không có nhiều thay đổi so với thủa ban đầu của nó Thế kỷ XIII, khi xứ giả nhà Nguyên sang xứ Chân Lạp, thì vùng này vẫn còn hết sức hoang vu: “Có đến mười cảng nhưng chỉ có cảng thứ tư (cửa sông Tiền) là có thể vào được, tất cả các cảng khác đều bị cát làm cạn nên thuyền lớn không vào được Nhưng đứng xa đều trông thấy mây leo, cây già, cát
vàng, lau trắng, thảng thốt nhìn qua thật không dễ phân biệt” [43, 20]
Trang 25Thậm chí đến thế kỷ XVII, Lê Quý Đôn còn nhận xét vùng đất Nam Bộ vẫn còn rất hoang vu hẻo lánh: “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai từ cửa biển Cần Giờ, Lôi (Soài) Rạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm” [21, 66]
Từ thế kỷ XVI, đã xuất hiện những lớp dân di cư người Việt từ phía Bắc đến đây sinh sống, họ là những người dân khốn cùng buộc phải từ bỏ nơi
“chôn nhau, cắt rốn” của mình để vào đây sinh sống, họ là những nạn nhân của các cuộc chiến tranh phong kiến giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn, nạn nhân của sự cướp bóc, đàn áp, thống trị của chế độ phong kiến hà khắc… Sự
sáp nhập vùng đất Tây Nam Bộ gắn liền với công cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn (1558-1776), bắt đầu bằng sự kiện chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp, và kết thúc vào năm
1757, khi vua Chân Lạp Nặc Nhuận dâng vùng đất Vĩnh Long ngày nay cho chúa Nguyễn Phúc Khoát: “hiến hai phủ Trà Vinh và Ba Thắc” [34, 444] Sự sáp nhập này không chỉ đơn thuần là việc sáp nhập một vùng lãnh thổ mới,
mà còn là sự sáp nhập số lượng cư dân mới, dân tộc mới, một nền kinh tế,
xã hội, văn hóa mới (nhưng không hoàn toàn xa lạ) vào nền quốc gia Đại Việt thế kỷ XVI – XVIII Thông qua các biện pháp chính trị, ngoại giao, quân sự (chủ yếu là chính trị, ngoại giao) mà vùng đất Tây Nam Bộ thuộc về lãnh thổ Đàng Trong của các chúa Nguyễn Đại Việt Và cũng từ đây, dân tộc Khmer đã trở thành dân tộc của Đại Việt, họ cùng có chung số phận và vận mệnh như các dân tộc khác trong lãnh thổ Đại Việt, họ cũng góp công sức của mình vào sự phát triển của đất nước Đại Việt
Về cơ bản, sự phân bố dân cư của người Khmer họ vẫn sinh sống trên vùng đất cổ truyền, nơi họ sinh sống qua hàng trăm năm nay, đó là vùng Tây Nam Bộ Tuy nhiên, trải qua nhiều biến thiên lịch sử của đất nước, dân tộc Khmer cũng phần nào có sự di cư, dịch chuyển địa vực cư trú
Trang 26Dưới thời chúa Nguyễn, vùng đất Tây Nam Bộ hoàn toàn được sáp nhập vào lãnh thổ Đàng Trong năm 1757, cùng với đó là toàn bộ cư dân sống trên vùng đất này Vùng đất Tây Nam Bộ được đặt dưới sự quản lý của dinh Long Hồ, do một võ quan mang chức Trấn Thủ trông coi cả công việc hành chính lẫn quân sự Các phụ tá có quan Cai bộ trông coi về Ngân khố và một phán quan gọi là Ký lục
Dưới thời Nguyễn (1802-1945) vùng đất Nam Bộ nói chung và Tây Nam Bộ nói riêng, được phân chia làm 6 tỉnh bao gồm: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Trong 6 tỉnh thành này, thì người Khmer tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Định Tường, Vĩnh Long, An Giang Tuy nhiên, chưa có tài liệu nào ghi rõ về số lượng người Khmer và
sự phân bố người Khmer ở từng địa phương là như thế nào
Sang thời Pháp, năm 1862, khi hòa ước Nhâm Tuất được ký kết, theo
đó triều đình Nguyễn phải nhượng 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp gồm: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường Lúc này người Pháp đã thực hiện công cuộc kiểm kê dân số ở Nam Kỳ Theo tác giả Nguyễn Phan Quang, trong tác
phẩm Góp thêm tư liệu Sài Gòn – Gia Định từ năm 1859-1945 thì vào năm
1862 miền Nam Việt Nam có khoảng 147.718 người Khmer; đến năm 1906
là 209.225 người [44] Tuy vậy, thời kỳ này thực dân Pháp mới chỉ dừng lại
ở việc kiểm kê tổng số dân, còn việc phân bố dân cư ở từng địa phương như thế nào thì chưa làm được
Số lượng cụ thể về dân số người Khmer ở từng địa phương như thế nào thì đến năm 1946 mới có số liệu đầu tiên Theo bảng thống kê dân số năm 1946 của phủ Thống đốc Nam Kỳ, tộc người Khmer có khoảng 242.157 người, sống ở các tỉnh: “Cần Thơ 17.906 người, Trà Vinh 66.314 người, Châu Đốc 28.312 người, Long Xuyên 1.770 người, Sóc Trăng 43.597 người, Rạch Giá 41.586 người, Hà Tiên 4.494 người, Thủ Dầu Một 12.689 người,
Trang 27Biên Hòa 841 người, Bạc Liêu 15.326 người, Tân An 336 người, Gò Công
200 người, Tây Ninh 835 người” [41, 8-10]
Dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, số lượng dân cư và phân
bố cư trú của người Khmer như sau: “Vĩnh Bình 237.330 người, Ba Xuyên
và Bạc Liêu 156.951 người, Châu Đốc 62.593 người, Rạch Giá và Hà Tiên 52.856 người, Chương Thiện 31.337 người, Phong Dinh 7.134 người, Vĩnh Long 4.500 người, Long Xuyên 3.058 người, Tây Ninh 4.315 người, Bình Long 4.731 người, Sài Gòn 1.166 người” [41, 10] Như vậy, theo thống kê trên thì số dân của người Khmer là khoảng 600.000 người, tức tăng hơn 4 lần sau đợt thống kê lần đầu năm 1862
Theo cuộc tổng điều tra dân số năm 1989 thì dân số Khmer của tỉnh Cửu Long ( nay là hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh) là 262849 người, chiếm 14,53% dân số của tỉnh và chiếm 29,35% dân số Khmer đồng bằng sông Cửu Long Họ sống tập trung ở 6 huyện thuộc vùng Trà Vinh và 15 huyện, thị của tỉnh Vĩnh Long Trong đó, tập trung đông nhất ở huyện Trà Cú có 92000 người, chiếm tỉ lệ 68,02% dân số của huyện; kế đến là huyện Châu Thành có
52297 người, chiếm tỷ lệ 43,79%; huyện Tiểu Cần có 30018 người, chiếm tỉ
lệ 37,04%; huyện Cầu Ngang có 34956 người, chiếm tỉ lệ 36,76% và những huyện khác…[33,34]
Thống kê dân số năm 2009 cho thấy dân số người Khmer đã có những bước phát triển rõ rệt, theo đó tổng số dân là 1.260.640 người, trong đó khu vực người Khmer sống đông đảo nhất vẫn là các tỉnh vùng Tây Nam Bộ với tổng số dân là 1.183.476 người, đứng thứ 5 trong 54 dân tộc anh em Phân
bố cư trú của người Khmer ở khu vực Nam Bộ như sau: “Sóc Trăng (397.014 người, chiếm 30,7% dân số toàn tỉnh và 31,5% tổng số người Khmer ở Việt Nam), Trà Vinh (317.203 người, chiếm 31,6% dân số toàn tỉnh và 25,2% tổng số người Khmer tại Việt Nam), Kiên Giang (210.899 người, chiếm
Trang 2812,5% dân số toàn tỉnh và 16,7% tổng số người Khmer ở Việt Nam), An Giang (90.271 người), Bạc Liêu (70.667 người), Cà Mau (29.845 người), Thành phố Hồ Chí Minh (24.268 người), Vĩnh Long (21.820 người), Cần Thơ (21.414 người), Hậu Giang (21.169 người), Bình Phước (15.578 người), Bình Dương (15.435 người) [56] Ngoài ra người Khmer còn định cư ở một
số khu vực khác trên đất nước như: “ Trung du miền núi phía Bắc 370 người, vùng Đồng bằng Sông Hồng 284 người, vùng Trung Bộ và duyên hải miền Trung 1.287 người, vùng Tây Nguyên 2.436 người, đa số người Khmer ở các vùng này sống ở thành phố, thị xã, thị trấn; về nghề nghiệp chủ yếu là cán
bộ công chức nhà nước, số ít là nông dân” [54]
Ở nhiều địa phương, người Khmer phân bố rộng khắp ở tất cả các huyện, thị trấn, tuy mức độ có khác nhau Như ở Kiên Giang, người Khmer sinh sống tập trung ở cả 13/13 huyện thị Đông nhất là ở huyện Gò Quao 39.720 người (chiếm 29,8% dân số toàn huyện), ít nhất là huyện Kiên Hải 240 người [41] Đối với cấp xã, thị trấn, thôn, ấp người Khmer cũng phân bố ở nhiều nơi khác nhau, nhưng cũng có xã, thị trấn, thôn, ấp người Khmer chiếm đa số về dân cư: theo
số liệu năm 1997 thì có 3 xã có dân số Khmer chiếm dưới 3%, 2 xã có trên 5%,
2 xã có từ 18 – 20%, 2 xã có trên 20% và 2 xã có tỷ lệ dân số Khmer cao nhất là
xã Tân Mỹ – huyện Trà Ôn (38,45%) và xã Loan Mỹ – huyện Tam Bình (44,16%)… 3 ấp có dân số người Khmer chiếm trên 40 – 50%, 4 ấp có tỷ lệ trên
50 – 70%, có 8 ấp có dân số người Khmer chiếm trên 70 – 98%, trong đó có 4
ấp có dân số người Khmer chiếm trên 90% (thuộc các xã Loan Mỹ – huyện Tam Bình và xã Đông Bình – huyện Bình Minh) [65]
1.3 Đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội
1.3.1 Kinh tế
Người Khmer huyện Trà Cú sống chủ yếu ở vùng nông thôn Đó là vùng sản xuất nông nghiệp với cây lương thực chủ yếu là lúa nước Trong quá
Trang 29sinh sống lâu đời người Khmer đã chọn canh tác lúa nước làm sinh hoạt sản xuất chính trong nền kinh tế của họ
Hiện nay có khoảng 90% số dân Khmer chuyên sống vào nông nghiệp, chủ yếu sản xuất lúa gạo và các loại hoa màu Các loại nông sản chính này vừa
là nguồn cung cấp lương thực vừa là nguồn thức ăn cho việc chăn nuôi của họ Các loại hình sản xuất khác như chăn nuôi, đánh bắt cá đồng, sản xuất tiểu thủ công cũng mang lại một lượng thu nhập quan trọng Ngoài ra còn có một số người Khmer mua bán nhỏ ở các chợ và thị trấn
Do gắn chặt với vùng này từ lâu đời, người Khmer sớm hiểu biết về đặc điểm môi sinh như tính chất đất đai, thời tiết khí hậu, các yếu tố thủy văn và các giống động, thực vật Trong nghề trồng lúa họ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, từ đó tạo ra được một truyền thống sản xuất với các giống địa phương
và kĩ thuật canh tác thích hợp trên các loại đất khác nhau
Tính chất phong phú và đặc thù của nghề làm ruộng của người Khmer thể hiện rõ ở cách phân loại đất đai, ấn định thời vụ nông lịch, việc chọn giống
và kĩ thuật canh tác
Việc phân loại đất canh tác chử yếu căn cứ vào độ cao thấp của mặt ruộng đối với việc ngập nước trong mùa mưa lũ cũng như khả năng giữ nước mưa ở các địa thế khác nhau Theo đó, người Khmer đã có các khái niệm về các loại ruộng như sau:
Ruộng gò có tên là sre tuôl và sre cuộc, là loại ruộng ở trên vùng đất gò
cao So với các địa thế chung quanh, nó có thể thấp hơn mặt giồng và cao hơn các loại ruộng khác Loại ruộng này phần lớn đươc cấu tạo với sa cấu thịt pha cát Do cao hơn chung quanh và dể thoát nước, nên khả năng giữ nước kém, phải đắp bờ kĩ lưỡng Thích hợp cho loại ruộng gò là vụ lúa sớm với các giống lúa ngắn ngày Ở huyện Trà Cú, ruộng gò ở khắp nơi theo các cuộc đất cao như
ở vùng đất giồng duyên hải và các gò đất ven sông rạch
Trang 30Ruộng vừa có tên là sre tùm niệp thấp hơn ruộng gò, có mặt ruộng bằng
phẳng Ruộng có khả năng giữ nước lâu hơn ruộng gò Ruộng được tưới chủ yếu bằng nước mưa Thích hợp cho ruộng vừa là các giống lúa mùa
Ruộng sâu có tên là sre chầm rộn ở vùng trũng sâu với các ngọn rạch
đưa nước đều và ngập nước vào mùa mưa Có nhiều loại ruộng thuộc các đặc tính khác nhau nhưng có cùng chung tính chất ngập nước như sre chru, sre quịa, sre ô, sre bâng…Đó là các ruộng ở gần các ao, đìa, bưng…Loại ruộng sâu chủ yếu là đất thịt, sét và thường bị phèn nặng Ngoài ra còn có những loại ruộng thường bị ngập nước bởi thủy triều là các ruộng láng( sre láng) hoặc các ruộng
ở dọc theo sông rạch như sre khoen, sre mọt prẹt
Các loại ruộng sâu có rãi khắp các vùng trũng trong huyện, ruộng láng
có ở nơi bị ảnh hưởng thường xuyên của thủy triều như Đôn Xuân Ruộng mọt prẹt có ở dọc các sông lớn như vùng ven sông Hậu từ cửa biển Định An đến Bãi Xào (xã Thanh Sơn), ruộng sâu thích hợp với vụ lúa muộn với các giống lúa dài ngày
Ruộng rộc (sre tộ) là loại ruộng có bề mặt trủng ở giữa như hình máng,
nằm giữa hai giồng song song nhau Ruộng sre tộ có địa hình đặc biệt, với chiều ngang là khoảng cách của hai giồng kế cận thường vài trăm mét và chiều dài thì trãi dài theo đuôi giồng Loại ruộng này phân bố chủ yếu ở các xã Hàm Giang, Phước Hưng, An Quãng Hữu…Người Khmer canh tác trên ruộng này
vụ lúa sớm và lúa mùa Ngoài ra ở những nơi chỉ có một vụ lúa, họ thường trồng các loại hoa màu như rau, đậu, dưa hấu…trong mùa khô
Do sinh sống bằng nghề trồng lúa lâu đời với nhiều kinh nghiệm trong chọn giống, người Khmer đã tạo ra được nhiều giống lúa thích hợp cho từng
vụ mùa ở nhiều loại đất khác nhau Cho đến nay, đồng bào Khmer đã canh tác
ba vụ lúa chính: vụ lúa sớm, vụ lúa mùa và vụ lúa muộn
Nhìn chung, công việc trồng lúa của người Khmer được tiến hành chủ yếu trong mùa mưa, với điều kiện đất đai, vụ mùa và giống lúa khác nhau ở
Trang 31từng vùng Họ đã khắc phục những điều kiện tự nhiên của địa phương với bao kinh nghiệm lâu đời nhằm tạo ra lương thực nuôi sống bản thân Trước đây việc canh tác lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên với tổ chức sản xuất nhỏ, kĩ thuật thô sơ thủ công nên năng suất thấp, thiếu ổn định Ngày nay, họ đang góp phần vào công cuộc cải tạo nông thôn, theo đó việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp ngày càng phổ biến rộng rãi
Hoạt động kinh tế chính của người Khmer là nông nghiệp, trong đó chủ yếu là nông nghiệp lúa nước Bên cạnh nghề nông, họ cũng làm các ngành nghề khác như chăn nuôi, đánh bắt cá đồng, buôn bán nhỏ Trước đây,
họ cũng làm các nghề thủ công truyền thống như đan, rèn, dệt, làm gốm…
Trong nghề nông truyền thống, người Khmer phân biệt các loại ruộng đất khác nhau và trên mỗi loại, họ canh tác những loại cây trồng khác nhau cũng như có kỹ thuật canh tác thích hợp cho từng loại Nói chung, có hai loại ruộng đất chính là ruộng để canh tác lúa (srê) và “rẫy” (chăm-ka) để trồng các loại hoa màu Trong hai loại trên, ruộng lúa chiếm phần lớn và còn được phân biệt thành nhiều loại dựa vào địa hình như ruộng gò (srê toul), ruộng vừa (srê chumrơn) và ruộng rộc (srê tộ) Còn rẫy (chăm-ka) là đất thổ canh trên giồng, trên các vùng chân núi Trên mỗi loại ruộng, người Khmer canh tác những giống lúa thích hợp và có thời gian canh tác khác nhau, được phân biệt thành
vụ lúa sớm, vụ lúa mùa và vụ lúa muộn Trên loại ruộng vừa canh tác hai vụ,
họ cũng quen gọi vụ hè thu hay vụ đông xuân như nông dân người Việt trong vùng
Trước năm 1975, ruộng nước của người Khmer canh tác chủ yếu một
vụ trong năm và thường là các loại lúa dài ngày (lúa mùa) Vụ mùa bắt đầu
từ tháng 4 – khi mùa mưa bắt đầu, sau khi tổ chức lễ Chol Chnam thmay – kéo dài đến tháng 12 hoặc thánh giêng năm sau Các khâu canh tác chủ yếu
là làm đất, gieo cấy, chăm sóc và thu hoạch Khâu làm đất gồm cày, bừa,
Trang 32trục Thời gian làm đất kéo dài từ 1 – 2 tháng, tức là từ tháng 4 đến tháng 6 Trong thời gian làm đất, người nông dân Khmer cũng đồng thời gieo mạ để đến khi làm xong đất là mạ vừa để cấy Khâu làm đất cũng gồm cả làm đất
mạ Đất dùng để gieo mạ được chọn lựa ở những mảnh ruộng có điều kiện tưới tiêu tốt để giữ nước cho mạ, nhất là trong những ngày mới gieo mạ Việc gieo mạ là công việc của nam giới và đòi hỏi người gieo mạ phải có kỹ thuật và kinh nghiệm để gieo giống cho thật đều Tùy theo thời tiết từng năm, điều kiện chuẩn bị đất của từng gia đình mà mạ từ khi gieo đến khi được nhổ
để cấy có thể có tuổi từ một tháng đến 1,5 tháng Nông cụ để làm đất gồm
có cày, bừa, trục, cuốc, leng, xẻng… và sức kéo chính (trong giai đoạn từ trước năm 1975) là bò hoặc trâu Cũng cần lưu ý là người Khmer thường nuôi bò để làm sức kéo, trong khi người Kinh ở lân cận lại thích nuôi trâu hơn Bò cũng dùng để kéo xe và từng là phương tiện vận chuyển khá quan trọng của người Khmer
Trước đây, khi còn canh tác chủ yếu một vụ lúa trong năm thì người Khmer thường canh tác các loại giống lúa mùa, trong đó có một số giống lúa
đã phổ biến chung trong vùng và có thể cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long như “nàng quớt” (neang quơt), giống “móng chim”, “nàng tây” (neang tai) Ngoài ra, họ cũng canh tác các loại nếp (nôp) như nếp “khơnôp”, nếp
“thêvôđa” Trong hơn 10 năm gần đây, trên vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ở tỉnh Vĩnh Long nói riêng, người Khmer đã canh tác từ 2 – 3
vụ lúa và thường canh tác các giống lúa cao sản Kỹ thuật canh tác vì vậy cũng có những thay đổi nhất định, do tăng vụ và sự phát triển của các dịch vụ trong nông nghiệp, nhất là cơ giới hóa trong khâu làm đất cũng như trong khâu thu hoạch: thuê máy kéo, máy phóng… Trong khâu chăm sóc, họ cũng
sử dụng các loại thuốc diệt cỏ để giảm bớt sức lao động
Khi còn làm lúa mùa hay lúa một vụ, người Khmer thường gieo mạ rồi cấy Ở những nơi đất gò, cứng, người thợ cấy phải dùng nọc cấy (sơch-
Trang 33val) chọc lỗ rồi tra mạ vào Ở những nơi đất mềm, người đi cấy chỉ cần dùng ngón tay cái đưa rễ mạ vào đất và dùng các ngón tay kéo đất bít rễ mạ để cây lúa đứng vững Nhổ mạ có thể do nam giới (đối với những đám mạ nặng nhổ,
do mạ bám đất), cũng có thể do nữ giới làm, còn việc cấy thường là công việc của phụ nữ mặc dù nam giới cũng biết cấy Hiện nay, người Khmer đã
sử dụng kỹ thuật sạ, nhất là trong vụ hè thu như nông dân người Việt, do đó không cần gieo mạ, nhổ mạ và cấy như trước nữa Tuy nhiên, vào vụ đông xuân, nhiều gia đình người Khmer cũng như người Việt vẫn phải gieo mạ, nhổ mạ rồi cấy như trước kia
Công việc thu hoạch gồm cắt lúa, đập hoặc gặt rồi cho bò hay trâu đạp Trước đây, khi làm lúa mùa, thân lúa cao, người Khmer thường dùng vòng hái (kan-điêu) để gặt lúa Đến khi canh tác lúa cao sản, thân lúa thấp, họ không dùng vòng hái nữa, mà dùng lưỡi liềm để cắt lúa Sau khi gặt lúa xong, người nông dân dùng bồ để đập lúa Rơm được đưa về chất thành “cây rơm”, dùng cho trâu bò ăn hoặc dùng vào các việc khác Gần đây, việc thu hoạch
đã thuận tiện hơn nhờ có “máy phóng” và người ta chỉ cắt lúa, sau đó đưa vào “máy phóng” để “phóng”
Năng suất lúa bình quân ở vùng đồng bào Khmer tỉnh Vĩnh Long nói chung nhờ vào việc tăng vụ và công tác khuyến nông mà đã được nâng lên một cách đáng kể, từ trung bình 6 – 7 tấn/ ha lên 8 – 10 tấn/ ha từ năm 1995 đến năm 1998 [64]
Vấn đề sở hữu ruộng đất trong nông nghiệp, người Khmer có nhiều hình thức sở hữu, tuy nhiên hình thức sở hữu chính là ruộng đất tư
Người Khmer gọi ruộng đất tư của mình là “đây cruaxa” (đất của riêng hay
“đất mồ hôi” Cơ sở hình thành loại ruộng đất này là việc nhân dân tự do khai phá dưới các chính sách khai khẩn đất hoang của nhà nước đương thời: “Ruộng đất khai phá được ngay từ buổi đầu đã là ruộng đất tư, nó được lưu truyền qua thừa
Trang 34kế từ thế hệ này sang thế hệ khác và được người Khmer khẳng định quyền sở hữu của mình đối với loại tư liệu sản xuất quan trọng này” [9, 103] Ngoài ra, khi nhà nước thừa nhận việc mua bán, trao đổi ruộng đất trong nhân dân, nhiều người Khmer có điều kiện kinh tế đã mua một phần diện tích ruộng đất của các hộ dân
khác trong vùng làm ruộng đất tư của mình Theo tác giả Phan An, trong Một số
vấn đề kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Khmer đồng bằng sông Cửu Long in
trong Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long: tỷ lệ ruộng đất tư ở vùng nông
thôn Khmer khá cao Ở huyện Trà Cú tỉnh Trà Vinh nơi có đông người Khmer cư trú tỷ lệ ruộng đất tư chiếm từ 95-97% Ở Kế sách, Phú Tâm, tỉnh Sóc Trăng tỷ lệ
đó dưới 90% [2, 126]
Bên cạnh việc kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, người dân Khmer còn lấy hoạt động đánh bắt trên sông, rạch làm hoạt động sản xuất hàng ngày Người dân Khmer tuy sống chủ yếu trên các giồng đất cao, nhưng do sống trong một địa bàn cư trú rộng lớn và có một hệ thống sông, rạch chằng chịt
Hệ thống sông cung cấp cho những cư dân các dân tộc nói chung và cư dân Khmer nói riêng một nguồn sinh kế hết sức dồi dào
Ngay từ thời Nguyễn đã ghi nhận việc đánh bắt nguồn lợi thủy sản trên các sông lớn, nhiều loài cá được ghi chép lại, các loài cá này còn tồn tại tới tận ngày nay Một số loại cá sông như: cá tra ngư (cá tra) vi và kỳ có xương nhọn, không có vẩy, mình xanh, bụng trắng, lớn 5,6 thước, béo, thịt dùng phơi khô, mỡ dùng thắp đèn, sơn ghe; loại mình vàng mà con nhỏ hơn gọi là lăng ngư (cá đìa), loại lưng xanh gọi là lê hoa ngư (cá bông lau), thu ngư (cá thu), mai ngư (cá mòi), úc ngư (cá úc)… các loại cá ao hồ là hoa lê ngư (cá trầu bong, hoặc cá lóc bong), lê ngư (cá tràu), quá sơn ngư (cá rô), giác ngư (cá trê)… Hoa mạn ngư (con lịch) đầu bằng, mình tròn có hoa rằn, không vẩy, lớn bằng ngón tay, vị béo ngon, lúc có mưa theo trong ruộng đi ra, người làm nghề trồng cá đăng bằng tre ngăn hạ lưu dòng sông, lấy cái đó hứng mà
Trang 35bắt [25, 62-64] Tôm tép thì có một số loại như sau: tôm càng, tôm lóng, tôm lứa, tôm đất, tép muỗi… [28, 199-200]
Việc đánh bắt nguồn thủy sản vô cùng dồi dào này cũng được quy định khá chặt chẽ Dưới thời Nguyễn và ở đầu thế kỷ XX, việc đánh bắt mang tính nhỏ lẻ, hộ gia đình thì chính quyền không can dự, mọi người dân có thể
tự do khai thác; đối với việc đánh bắt mang tính quy mô lớn do một địa chủ hay nhà tư sản có tiềm lực kinh tế và hoạt động đánh bắt mang tính thương nghiệp thì nhà nước có quy định rõ ràng Việc đấu thầu đánh bắt cá đã được tiến hành theo phương thức, nhà nước chia các đoạn sông thành nhiều đoạn dài, ngắn khác nhau, những gia đình có tiền, có nhu cầu sẽ đấu thầu để có được quyền khai thác Thậm chí có trường hợp người dân đấu thầu xong rồi lại bán lại quyền khai thác cho người khác
Các hình thức đánh bắt có giăng lưới bén, thả câu, đi soi, đặt lờ, lọp… Những hình thức đánh bắt này còn rất đơn giản và ngư cụ cũng còn rất giản đơn như chĩa, lờ, nơm, câu…
Hoạt động nông nghiệp đã có những chuyển biến quan trọng với việc tăng vụ (chuyển từ một lên hai vụ và tại nhiều nơi lên ba vụ lúa), thay đổi cây trồng chăn nuôi… Sản xuất nông nghiệp của người Khmer hiện nay không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày trong gia đình, mà họ đã có ý thức sản xuất nông sản hàng hóa Biểu hiện cho sự thay đổi quan trọng này là việc cải tạo vườn tạp để trồng các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế (như xoài, sầu riêng, cam, bưởi, nhãn… ), chăn nuôi (bò thịt, vịt đàn… ), trồng nấm rơm Hoạt động chăn nuôi nói chung phát triển đều khắp Nghề trồng nấm rơm trong những năm gần đây được khuyến khích nhằm tận dụng nguồn rơm rạ có sẵn, phần diện tích trong vườn, ruộng nên đã phát triển thành một phong trào tại các địa phương, góp phần tăng thu nhập cho không ít hộ người Khmer và là hoạt động sản xuất không đòi hỏi vốn nhiều và ít bất trắc
Trang 36Tại các khu vực cư trú của người Khmer có một số gia đình mở cửa tiệm bán tạp hóa, bán nước giải khát, bánh trái cho trẻ em… Đây cũng là một thay đổi trong đời sống kinh tế của người Khmer vì trước đây hầu như không có người Khmer làm nghề buôn bán
Ngoài ra người Khmer cũng làm các nghề thủ công truyền thống như đan, rèn, dệt, làm gốm… nhằm đáp ứng nhu cầu trong sinh hoạt hàng ngày, và phần rất nhỏ cho hoạt động buôn bán, trao đổi
Tuy hoạt động kinh tế của người dân Khmer đã có những bước chuyển mạnh mẽ sau khi giải phóng, nhưng về mặt bằng chung, thu nhập, mức sống của người Khmer Tây Nam Bộ còn khá thấp, ở nhiều vùng mức sống của người dân còn thấp hơn so với mặt bằng chung của địa phương
1.3.2 Văn hóa, xã hội
Về cơ bản người Khmer Tây Nam Bộ hiện nay sống trong các “phum”,
“sóc” Các phum, sóc là đơn vị cư trú, theo các gọi cổ truyền của người Khmer Thời các chúa Nguyễn, các phum, sóc được người dân Khmer thành lập trên các giồng đất cao, hoặc những gò đất cao, hoặc nền đất cao hơn mặt bằng chung xung quanh, thậm chí người dân Khmer còn tự tạo lên nền đất cao để cư trú thông qua việc đắp đất, tạo độ cao
Trong một phum thường có từ 5 – 7 gia đình, có khi là 9 – 10 gia đình sinh sống, họ có chung quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân với nhau Phum được định hình là một khu vườn có lũy tre xanh bao bọc, có cổng trước, cổng sau, bên trong là các ngôi nhà và xung quanh các ngôi nhà thường có đống rơm, truồng trâu bò, nhà tắm, giếng nước, nhà để công cụ sản xuất và những mảnh vườn nhỏ để trồng rau hoặc cây ăn quả “Riêng phum có đất để trồng trọt hay có vườn tạp, người Việt gọi là vuông, trong đó ngoài đất ở còn có một diện tích đất để làm rẫy hoặc trồng cây Tùy theo từng phum mà khu vườn có thể lớn hay nhỏ, có khi chỉ một công đất, nhưng thường là từ 5 đến 7 công” [9, 52]
Trang 37Các phum thường ở sát nhau, được phân chia bằng những hàng rào tre bao bọc xung quanh, có cổng ra vào
Mỗi phum có tên gọi khác nhau, để phân biệt giữa phum này với phum khác, đồng thời tên gọi này có ý nghĩa đặc biệt đối với mỗi phum
Phum thường được đặt theo tên của người sáng lập ra phum Có thể là người đàn ông, hoặc người đàn bà chủ phum (mê phum): phum Tà Hoạt, phum
Tà Thu, phum Tà Doanh Âm, phum Tà Chau, phum X’rây Vậy Thơm (phum
Bà Thơm), phum Tà Sơn Sen… Tên gọi của phum được thay thế khi người chủ phum đó mất, chuyền lại chức mê phum cho một người nào đó trong phum và tên phum lại được gọi theo tên người chủ phum mới Như vậy, việc đặt tên phum theo cách này phần nào đó có giá trị về mặt lịch sử, đó là việc ghi nhớ về những người có công sáng lập phum, nhưng khi tên phum bị thay đổi theo tên của người đứng đầu phum thì dễ gây tình trạng khó nhận biết tên phum đối với người ở nơi khác lần đầu đến phum
Ngoài cách đặt tên phum theo tên người như vậy, người Khmer còn đặt tên phum liên quan đến địa lý hoặc sự tích nào đó: “phum Đôn Nay (phum Thiêu người chết), phum Chông Pri (phum Ngọn rừng), phum Chọt trô ca (phum Hẻm cây gạo), phum Srah Prók (phum Giếng tiên nam)” [9, 59] Phum Phù Ly (Ankuli)
ở tỉnh Vĩnh Long ban đầu chỉ có gia đình của hai ông bà là ông Ơn và bà Ly đến khai phá Sau đó có thêm 7 gia đình nữa đến cư ngụ, hình thành nên phum có tên
là phum Ka-đây nằm bên rạch Ka-đây, khu vực cầu Ka-đây hiện nay “Ở xã Đông Bình – huyện Bình Minh tỉnh Vĩnh Long có phum Ankuli 1 và phum Ankuli 2 thì
ở đó người Việt gọi là Phù Ly, vốn xuất phát từ tên phum cũng đồng thời là địa danh “Ankuli” Một số trường hợp khác, địa danh được gọi theo tiếng Việt, nhưng vốn dịch nghĩa từ địa danh tiếng Khmer” [65]
Về cơ bản việc xây dựng nhà ở trong các phum được chia làm ba loại:
“phổ biến nhất là các gia đình làm nhà (nhà ở và nhà bếp) sát liền nhau, không
Trang 38có lối ngăn cách, thành một dãy ngoảnh mặt ra đường Loại hình phân bố thứ hai (thường là ở những phum có đất hẹp) các ngôi nhà được bố chí làm 2 dãy dài đối diện nhau, cách nhau một khoảng trống ở giữa làm lối đi lại, sân chơi cho trẻ em hoặc dùng để phơi thóc hoặc các thứ khác Loại hình thứ ba là các ngôi nhà được xây cất rải rác trong phum, không nhất thiết phải liền dãy hay
bố chí thẳng hàng, mỗi ngôi nhà tách rời nhau, chiếm một khoảng không gian trong phum, giữa chúng không có hàng rào ngăn cách mà chỉ có lối đi lại” [9, 52-53] Đối với loại hình cư trú thứ ba đòi hỏi phum đó phải có diện tích tương đối rộng lớn
Về quan hệ xã hội trong các phum: vì là đơn vị cư trú của một hoặc một nhóm gia đình, nên về cơ bản thiết chế xã hội của người Khmer trong các phum chứa đựng hai mối quan hệ chủ đạo, tạo nên sự liên kết xã hội giữa các thành viên trong phum là: quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân Ngoài hai mối quan hệ chủ đạo trên còn có các quan hệ khác như: kinh tế, xã hội, tình cảm, tôn giáo…
Quan hệ thân thuộc dòng họ của người Khmer có nhiều điểm khác biệt
so với người Việt, người Chăm, người Hoa cùng địa bàn Người Khmer quan niệm về thân tộc, không chỉ bao gồm những người có quan hệ huyết thống mà còn bao gồm cả những người có quan hệ hôn nhân Khái niệm “bà con”, bao gồm những người có quan hệ họ hàng huyết thống mở rộng cả về bên nội, bên ngoại, thậm chí cả những người có quan hệ hôn nhân về hai phía Giữa bà con cùng huyết thống và những bà con do quan hệ hôn nhân, người Khmer không
có sự phân biệt trong tình cảm cũng như cung cách ứng xử Trong mối quan hệ
họ hàng, người Khmer không có một phân biệt nào giữa bên cha và bên mẹ, không có khái niệm về bên nội bên ngoại, cũng không có khái niệm về tộc hay
họ tính theo một phía cha hoặc mẹ Tất cả họ hàng của phía cha và mẹ đều được quan niệm và đối xử giống như nhau [9, 63]
Trang 39Quan hệ hôn nhân của đồng bào dân tộc Khmer khá đa dạng Cũng như các dân tộc khác, người con trai, con gái khi đến tuổi lập gia đình họ sẽ tìm hiểu nhau, được sự chấp thuận của gia đình hai bên, họ sẽ tổ chức lễ cưới theo nghi thức địa phương Có nhiều lễ cưới được tổ chức tại các ngôi chùa trong các phum nơi sinh sống, do các nhà sư giúp đỡ về công tác tổ chức nghi thức truyền thống Sau ngày kết hôn, việc định cư bên nhà trai hay nhà gái là điều ở đồng bào Khmer không có sự nhất quán Nếu như đối với dân tộc Việt, sau lễ kết hôn thường thì người con gái sẽ theo chồng về ở nhà chồng Tuy nhiên, đối với đồng bào Khmer có những trường hợp cho thấy người con trai sẽ về nhà vợ sinh sống, và cũng có trường hợp người con gái sẽ về nhà con trai Theo khảo sát của Nguyễn Khắc Cảnh ở 7 phum của 2 tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh cho ta kết quả: con trai phum lấy vợ đi ở rể cư trú bên vợ là 36 người, con trai ngoài phum về ở rể cư trú trong phum là 27 người (tổng cộng là 63 người); con gái trong phum lấy chồng đi cư trú bên chồng là 31 người và con gái ngoài phum
về làm dâu trong phum là 28 người (tổng cộng là 59 người) [9, 73] Như vậy,
số lượng cư trú sau hôn nhân bên nhà vợ và số lượng cư trú sau hôn nhân bên nhà chồng chênh lệnh nhau không quá lớn Từ kết quả này cho ta đi đến một nhận xét: tập quán cư trú sau hôn nhân của người Khmer là tương đối tự do Sau hôn nhân, người con trai, người con gái và gia đình của họ được quyền lựa chọn nơi cư trú tùy thích và tùy theo điều kiện cụ thể Điều này phản ánh tâm
lý, tình cảm của người Khmer không có sự phân biệt, đối xử khác biệt giữa bên nội với bên ngoại cũng như bên vợ với bên chồng Quan điểm này của người Khmer phần nào đó khác và tiến bộ hơn so với người Kinh
Tuy người Khmer nghiêm cấm quan hệ hôn nhân huyết thống trực hệ giữa cha mẹ với con cái, ông bà với con cháu; hôn nhân bang hệ giữa cô, dì, chú, bác với cháu hay giữa các anh chị em ruột, nhưng người Khmer lại thừa nhận việc quan hệ hôn nhân giữa các anh em họ: con cô với con cậu, con chú bác với con dì…
Trang 40Những công việc chung trong phum do một “Mê phum” đứng ra đảm nhiệm Mê phum không có một quy chuẩn nào cố định lựa chọn, mà thường do
Mê phum trước đó chỉ định Sự thừa kế này có tính đến khả năng và tư cách đạo đức
Mê phum không chỉ đứng ra quản lý các công việc chung của phum mình,
mà còn đại diện cho phum đứng ra giải quyết các công việc đối ngoại với các phum hoặc công việc bên ngoài liên quan đến phum Về đối nội, các mê phum giúp cho các thành viên trong phum giải quyết các công việc như: giúp về tổ chức
ma chay, cưới hỏi, đôn đốc các con trẻ đến tuổi thì vào chùa để đi tu; hoặc đứng
ra tổ chức các lễ hội, nghi thức tín ngưỡng tôn giáo có liên quan đến phum như lễ
“cúng thần dòng họ của phum”, “cúng thần bảo hộ của phum”…
Sóc – Srók cũng là một đơn vị cư trú của người Khmer vùng Tây Nam
Bộ, Sóc vừa ám chỉ một đơn vị cư trú đồng thời nó cũng là đơn vị xã hội tự quản truyền thống, tương tự như làng của người Việt, hoặc “buôn”, “plei” của một số dân tộc Tây Nguyễn [9, 97-98]
Các sóc cổ thường cư trú trên đất giồng, quy mô giồng lớn nhỏ khác nhau Thường mỗi sóc chiếm một khúc giồng giữa các sóc có quy định gianh giới rõ rệt theo quy ước của dân các sóc với nhau Gianh giới đó có thể là rặng tre xanh bao bọc, có thể là con đường mòn cắt ngang qua giồng, cũng có thể là một khoảng đất hẹp hoặc có thể lấy mốc là một cây cổ thụ lâu năm Thông thường trên mỗi giồng lớn có từ 2 đến 5 sóc cùng cư trú Ở vùng Trà Vinh, Vĩnh Long đơn vị sóc thường trùng với đơn vị hành chính là ấp và quy mô các sóc có khoảng từ hơn 100 hộ đến vài ba trăm hộ với số dân khoảng từ 1000 đến
2000 người
Tên gọi của các sóc thường trùng với tên giồng, nếu một giồng có nhiều sóc thì tên sóc sẽ được gọi theo vị trí hướng của sóc đó: sóc Kan đal (sóc Giữa), sóc Ta lêch (sóc Đông), sóc Chông phno (sóc Đầu giồng)… có sóc được đặt