Hiện nay, nghiên cứu văn học không còn là một thực thể riêng biệt mà đang có xu hướng phát triển thành một nhánh của nghiên cứu văn hóa như lý luận nữ quyền, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA
VÙNG TIẾP XÚC TRONG TIỂU THUYẾT CHINATOWN CỦA THUẬN
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN NGỌC MINH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 30 tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, động viên của quý thầy cô, gia đình và bạn bè
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc tới các thầy cô khoa Ngữ văn – trường Đại học Sư phạm Hà Nội; đặc biệt
là TS Nguyễn Ngọc Minh, với tri thức, tâm huyết cùng sự bao dung của
người thầy đã đồng hành cùng em trong suốt thời gian hoàn thành Luận văn
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể gia đình, bạn bè, người thân, những người đã luôn bên cạnh để hỗ trợ, động viên em trong suốt thời gian qua
Trong quá trình hoàn thành Luận văn, dù đã cố gắng hết sức, nhưng do khả năng và thời gian hạn chế, Luận văn khó tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được ý kiến đóng góp chân thành của quý thầy cô cùng các bạn để
em có thêm kinh nghiệm trong những nghiên cứu sau này
Cuối cùng, em xin kính chúc quý thầy cô sức khỏe dồi dào để tiếp tục với sự nghiệp trồng người cao quý
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 30 tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Trang 4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VỀ VÙNG TIẾP XÚC 10
1.1 Khái niệm Vùng tiếp xúc 10
1.2 Vùng tiếp xúc trong bối cảnh hậu thuộc địa 12
1.3 Đặc trưng không gian vùng tiếp xúc 20
1.3.1 Vùng tiếp xúc như một không gian địa lý 20
1.3.2 Vùng tiếp xúc như một không gian văn hóa 22
1.3.3 Không gian Vùng tiếp xúc như một sự cạnh tranh về quyền lực 23
Tiểu kết chương 1 27
CHƯƠNG 2: VÙNG TIẾP XÚC NHƯ MỘT ẨN DỤ VỀ KHÔNG GIAN TRONG CHINATOWN 28
2.1 Chinatown – một “miền đất ảo” 29
2.2 Chinatown như một không gian “đường biên” 30
2.2.1 Không gian ga tàu, sân bay 31
2.2.2 Không gian ngôi nhà 39
2.2.3 Không gian những miền đất lạ 43
Tiểu kết chương 2 46
CHƯƠNG 3 CHINATOWN NHƯ MỘT SỰ ĐỐI THOẠI VỀ VĂN HÓA, TƯ TƯỞNG HỆ 47
Trang 53.1 Vùng tiếp xúc như một sự đối thoại về văn hóa 48
3.1.1 Đối thoại về văn hóa 48
3.1.2 Sự khủng hoảng của cái “tôi” 66
3.1.3 Hành trình kiếm tìm căn cước 76
3.2 Đối thoại về tư tưởng hệ 79
Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Hiện nay, nghiên cứu văn học không còn là một thực thể riêng biệt
mà đang có xu hướng phát triển thành một nhánh của nghiên cứu văn hóa như
lý luận nữ quyền, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa hậu thực dân, chủ nghĩa tân duy sử… Cùng với các cách tiếp cận văn học bằng mỹ học, thi pháp học,… nghiên cứu văn học còn chú ý tới những yếu tố văn hoá liên quan đến thiên nhiên, địa lý, lịch sử, phong tục, tập quán,… Bởi văn hóa và văn học có mối quan hệ hữu cơ mật thiết Nếu văn hóa chi phối hoạt động và sự phát triển của văn học, thì ngược lại, văn học cũng tác động đến văn hóa, hoặc trên toàn thể cấu trúc, hoặc thông qua những bộ phần hợp thành khác của nó Nghiên cứu văn hóa – văn học có thể được áp dụng để cắt nghĩa nội dung và hình thức của tác phẩm Nó cũng có thể góp phần lý giải tâm lý sáng tác, thị hiếu độc giả và con đường phát triển nói chung của văn học Chính vì vậy, đặt ra hướng tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hoá là một hướng đi cần thiết và có triển vọng, khiến cho cách tiếp cận, nghiên cứu văn học ngày càng đa dạng, mới
mẻ và sâu sắc hơn
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, những lý thuyết nghiên cứu về văn hóa – văn học có giá trị cao được đề xuất và ứng dụng ở nước ngoài chưa thực sự được nghiên cứu chuyên sâu Một trong những lý thuyết đó có thể kể
đến là khái niệm về Contact zone ( tạm dịch là vùng tiếp xúc – khái niệm này
sẽ được sử dụng trong toàn hệ thống luận văn) của nhà nghiên cứu Mary Louise Pratt
Như Pratt đã nói, một trong những mục đích của Contact zone (vùng
tiếp xúc) là “dành một phần để tương phản với những ý tưởng của cộng đồng làm nền tảng cho nhiều tư duy về ngôn ngữ, giao tiếp, văn hóa” [70] Quả
thật, khái niệm này ra đời đã mở đầu, làm nền tảng cho nhiều nghiên cứu khác
Trang 7phát triển Có thể kể đến cuốn sách Sự nô lệ trong vùng tiếp xúc văn hóa
(Human bondage in the cultural contact zone) của tác giả Rapheal Hormann
và Gesa Mackenthun; Vấn đề về giới trong vùng tiếp xúc mang tính kỷ luật
(Gender in the disciplinary contact zone) của tiến sĩ Rebeca Faery; cuốn Những vùng tiếp xúc – phụ nữ định cư bản địa trong quá khứ thuộc địa của Canada (Contact zones – aboriginal anh settler women in Canada’s colonial past hay công trình Những vùng tiếp xúc, những không gian thứ ba và đạo luật của sự thông dịch (Contact zone, third spaces, anh the act of interpretation) của nhà nghiên cứu Philipp Schorch… Có thể nói, những vấn
đề về giới, về sự thiết lập một không gian quyền lực, không gian hòa giải hay một không gian tồn tại cả hai hình thức quyền lực và hòa giải… của những công trình nghuên cứu trên chính là những hướng đi mở rộng của khái niệm
vùng tiếp xúc mà Mary Louise Pratt khởi xướng
Hơn thế nữa, nhìn lại bề dày lịch sử thăng trầm của Việt Nam, một nước đã từng trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc, sau đó lần lượt bị các nước phương Tây Pháp, Mỹ đô hộ, thì sự giao lưu, tiếp xúc giữa nền văn hóa Việt Nam với các nền văn hóa Trung Hoa và phương Tây là một điều tất yếu Như chúng tôi đã nhắc tới mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa và văn học thì sự giao lưu, tiếp biến văn hóa này ở Việt Nam có ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát
triển của văn học dân tộc Và khái niệm vùng tiếp xúc của nhà nghiên cứu
Mary Louise Pratt tuy là một khái niệm thuộc về văn hóa nhưng cũng như một tiền đề cho nghiên cứu văn học Tuy nhiên, hiện nay, ở Việt Nam, khái niệm này mới chỉ được biết đến ở những bước giới thiệu sơ lược ban đầu, chưa có sự chuyên sâu
Đó là một trong những lý do chúng tôi muốn giới thiệu và ứng dụng khái niệm này vào nghiên cứu một tác phẩm văn học cụ thể trong luận văn của mình
Trang 81.2 Những năm gần đây, cái tên Thuận đã trở nên quen thuộc với độc giả Việt Nam Thuận tên thật là Đoàn Ánh Thuận, sinh năm 1967 tại Hà Nội,
tu nghiệp tiếng Pháp ở Nga từ thời cải tổ, sau định cư và tạo dụng sự nghiệp văn chương ở Pháp Thuận tốt nghiệp khoa Anh ngữ, Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Pyatigorsk (Liên bang Nga) năm 1991, làm cao học văn học Anh cổ điển tại Đại học Paris 7 (1991 – 1992) và cao học Văn học Nga đương đại tại Đại học Sorbonne Thuận là con dâu nhà thơ Trần Dần, vợ họa sĩ Trần Vũ
Trong số các tác giải hải ngoại tạo được sự chú ý của dư luận từ cao trào đổi mới, Thuận xuất hiện muộn nhưng nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn Chị được coi là một trong những “hiện tượng” tiêu biểu của làng tiểu thuyết hiện nay, có công góp phần khơi dòng chảy tiểu thuyết đương đại trong văn học Việt Nam Cảm hứng của Thuận luôn xuất phát từ chính cuộc sống xung quanh, chứ không phải những tưởng tượng xa dời thực tế Chính vì thế, dù rời Việt Nam năm 17 tuổi du học tại Nga, lại có thời gian dài định cư tại Pháp nhưng những thân phận người Việt mới chính
là đề tài cuốn hút Thuận Và chính sự trả nghiệm về sự “chuyển dịch” này của Thuận đã thổi vào tác phẩm của nhà văn làn gió mới của sự tiếp biến văn hóa giữa những nơi mà nhà văn đã từng đi qua
Tính đến thời điểm hiện tại, Thuận là tác giả của bảy cuốn tiểu thuyết:
Made in Việt Nam (NXB Văn mới, California, 2002), Chinatown (NXB Đà
Nẵng, 2005), Paris 11 tháng 8 (NXB Đà Nẵng, 2006), T mất tích (NXB Văn học, 2007, Vân Vy (NXB Hội Nhà văn, 2008), Thang máy Sài Gòn (Nhã Nam
và NXB Hội Nhà văn, 2013), Chỉ còn 4 ngày là hết tháng Tư (NXB Hội Nhà văn, 2015) ; trong đó, phải kể đến tiểu thuyết Chinatown, xuất bản năm 2005
Tác phẩm ra đời như một dấu mốc đánh dấu sự xuất hiện của Thuận
Chinatown là cuốn tiểu thuyết tiêu biểu của dòng văn học hải ngoại
Tác phẩm đã phản ánh hiện thực xã hội một cách đa diện và phong phú, đồng
Trang 9thời, khai thác con người ở góc độ tâm lý Chinatown vừa ẩn chứa những
cách tân trong nghệ thuật tiểu thuyết, vừa là tiếng nói cho cuộc sống, số phận của những con người đang lưu vong nơi đất khách quê người Ở một khía cạnh nào đó, dưới ngòi bút của chị, người đọc thấy được sự trỗi dậy mạnh mẽ của một cuộc đấu tranh “quyền lực” giữa các nền văn hóa được thể hiện trong tác phẩm
1.3 Ở phạm vi bài nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu khái
niệm vùng tiếp xúc trong tiểu thuyết Chinatown – sáng tác của Thuận - một
nhà văn nữ hải ngoại đã tốn khá nhiều tâm lực của giới nghiên cứu, phê bình văn học Đặt một hiên tượng văn học trong mối liên hệ với văn hóa là một thử nghiệm mới mẻ, đầy thú vị và triển vọng
Trên đây là những lý do cơ bản thôi thúc chúng tôi tiếp cận, nghiên cứu
đề tài này
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Chinatown là tiểu thuyết đầu tiên của Thuận được xuất bản trong
nước Tác phẩm ra đời đã gây một tiếng vang lớn trên văn đàn văn học Việt Nam Ngay lập tức, tác phẩm trở thành đề tài bàn luận tốn khá nhiều bút mực của các nhà nghiên cứu
Tìm hiểu về Chinatown của Thuận, chúng tôi nhận thấy có nhiều ý kiến
phân tích về những cách tân nghệ thuật tiểu thuyết trên nhiều phương diện
Trong cuốn Văn học Việt Nam sau 1975 – những vấn đề nghiên cứu và giảng
dạy của Nguyễn Văn Long – Lã Nhâm Thìn đồng chủ biên, với nhan đề Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 – từ góc nhìn thể loại, tác giả Bùi Việt Thắng đã đề
cập tới phương diện của nghệ thuật tự sự như một minh chứng cho cái “mới”,
“lạ” của Chinatown Nhà nghiên cứu khẳng định: “Đây là một lối kiến trúc tiểu
thuyết kiểu lồng ghép “các mảnh vỡ tâm trạng” khiến người đọc rất khó tiếp
Trang 10nhận theo lối truyền thống” [34; 191] Luận văn Ý thức về nhịp điệu trong một
số tiểu thuyết Việt Nam thời đổi mới của Lê Thị Thanh Huyền đề cập tới tính
nhịp điệu ; hay trong Luận văn Cách tân trong tiểu tiểu thuyết của Thuận – Luận văn Thạc sĩ của Phan Thị Thu Hiền, 2007; Những đặc sắc nghệ thuật
trong tiểu thuyết Chinatown của Thuận – Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị
Thanh Hải, 2010; … đều đề cập tới những cách tân, những đặc sắc nghệ thuật
trong các sáng tác của Thuận, đặc biệt là tiểu thuyết Chinatown
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về những cách tân nghệ thuật tiểu thuyết, hệ tư tưởng trong sáng tác của Thuận cũng là một vấn đề được quan tâm đặc biệt Ngay ở bài giới thiệu in trên trang bìa của tiểu thuyết
Chinatown, tác giả Dương Tường đã định nghĩa Chinatown “là một cuốn tiểu thuyết về thân phận tha hương theo nghĩa rộng nhất của từ này” [64] Còn
Ngô Thị Kim Cúc trong Bí ẩn cuối cùng là Chinatown lại đề cập tới nỗi đau khôn cùng của sự vong thân Tác giả viết: “Khôi hài vì nó chệch ra khỏi mọi
chuẩn mực của đời sống nhưng lại rất vênh váo bởi chính sự lệch lạc đó Đáng sợ vì cái mới bong bong ấy không cho con người nhận ra bản thể, bản ngã của mình Nhân vật của tiểu thuyết chính là sự vong thân Có những kẻ lưu vong trên xứ người nhưng luôn biết rõ mình là ai, muốn gì mà phải làm
gì Lại có những kẻ lưu vong trên chính xứ sở mình, trong chính thân phận mình, không hề biết mình là ai, muốn gì và sẽ đến đâu” [7]…
Tiểu thuyết thứ hai của Thuận – Chinatown ra đời đã đã dành được sự
quan tâm đặc biệt không chỉ trong những công trình nghiên cứu, những khóa luận, luận văn tốt nghiệp, mà còn sôi nổi trên các trang báo viết và mạng Internet, đặc biệt trên các diễn đàn văn học, blog cá nhân… Có thể kể đến một
số bài viết đặc sắc như: Thân phận công dân toàn cầu trong tiểu thuyết của
Thuận của Nguyễn Thị Hoa; Tiểu thuyết Chinatown và những chiều kích hiện
Trang 11tại của thời gian quá khứ (Bài đọc tại buổi ra mắt sách của Thuận và Mi
Lorad Pavic tại Café Intello, Văn Miếu, Hà Nội, 10/03/2005), Thuận và Phố
Tàu: Dùng nghịch lý để nói những nghịch lý của Nguyễn Chí Hoan; Phố Tàu: Không chỉ là tha hương, Văn học hải ngoại: “dòng riêng” có gặp “dòng chung” của Nguyễn Vĩnh Nguyên; Đôi nét về thi pháp và kết cấu tiểu thuyết Chinatown của Hoàng Nguyễn; I’m yellow – Khoái cảm văn bản của Đoàn
Cầm Thi;… Những bài viết kể trên đều ít nhiều đề cập đến những phương diện khác nhau về nghệ thuật tiểu thuyết của Thuận
Nhận được nhiều sự quan tâm, Thuận và Chinatown xuất hiện trong
hàng loạt các bài phỏng vấn trên các báo, diễn đàn Có thể điểm qua một số
chia sẻ của nhà văn qua các bài nói chuyện như: Cát Khê, Thuận: Trong văn
chương, mọi đề tài đều bình đẳng; Hà Linh, Thuận: Khi viết văn tôi không mặc cảm; Lê Hồng Lâm, Thuận và tiểu thuyết Chinatown, Báo Sinh viên Việt
Nam số ra ngày 26/03/2005; Phong Điệp, Tôi đề nghị một đọc không thụ
động; Thụ Nhân, , Tôi rất muồn biết vì sao mình được tặng thưởng; Thuận, Tôi luôn hướng đến độc giả người Việt ở Việt Nam, Báo thể thao Văn hóa số
21, ngày 15/03/2005; Thủy Lê, Với tôi, mỗi tác phẩm là một chuyến đi xa…
Nhìn lại lịch sử nghiên cứu về tiểu thuyết của Thuận nói chung và tác
phẩm Chinatown nói riêng, chúng tôi nhận thấy: Thuận là một “hiện tượng” nổi bật và Chinatown là một tiếng vang lớn trong làng tiểu thuyết đương đại
Việt Nam Tác phẩm đã được quan tâm và tốn khá nhiều tâm lực và bút lực của đông đảo giới nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung đi vào tìm hiểu những cách tân nghệ thuật, hệ tư tưởng trong sáng tác trong tiểu thuyết của Thuận; bên cạnh đó là một loạt các bài báo, phỏng vấn về phong cách viết của tác giả cũng như các bài bình luận, đánh giá về
Chinatown
Trang 12Như vậy, qua quá trình khảo sát sơ lược, có thể thấy rằng, hiện tại, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về không gian văn hóa
trong Chinatown, đặc biệt là Không gian vùng tiếp xúc trong tiểu thuyết
Chinatown của Thuận
2.2 Hơn thế nữa, vùng tiếp xúc là một khái niệm thuộc về văn hóa
nhưng lại có khả năng ứng dụng trong nghiên cứu văn học rất cao Tuy nhiên, nghiên cứu khái niệm này trong văn học còn khá mới mẻ ở Việt Nam Tính đến thời điểm hiện tại, nghiên cứu về đề tài này còn rất hạn chế Theo khảo
sát, chúng tôi mới thấy được bài nghiên cứu về Vùng tiếp xúc (contact zone)
trong du kí Phương Đông lướt ngoài cửa sổ (Paul Theroux) – Khóa luận tốt
nghiệp của Phạm Thị Hoài Phương, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2013 Tuy nhiên, vì đây là bài nghiên cứu đầu tiên nên tất cả mọi vấn đề đều nằm ở mức phát hiện, giới thiệu khái quát ban đầu, chưa thực sự đi vào nghiên cứu chuyên sâu
Thực tiễn đó cho thấy, việc tìm hiểu “Không gian vùng tiếp xúc trong
tiểu thuyết Chinatown của Thuận” là một hướng đi mới, có ý nghĩa thiết
thực trong nghiên cứu phê bình, tiếp nhận cũng như sáng tạo văn học
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn sử dụng khái niệm vùng tiếp xúc của nhà nghiên cứu Mary Louise Pratt để ứng dụng, nghiên cứu về Không gian vùng tiếp xúc trong tiểu
thuyết Chinatown của Thuận
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác phẩm chúng tôi sử dụng để nghiên cứu là tiểu thuyết Chinatown
của nhà văn Thuận, NXB Đà Nẵng, 2005
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng đề cập tới một số tác phẩm khác của tác giả cũng như đặt tác phẩm vào hệ thống một số sáng tác của các
Trang 13nhà văn dòng văn học hải ngoại để từ đó làm nổi bật các nội dung được đề cập trong đề tài
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp liên ngành
Không gian vùng tiếp xúc là một lý thuyết nghiên cứu có liên quan mật
thiết đến các lĩnh vực như chính trị, xã hội, văn hóa, nghệ thuật… Chính vì vậy, khi thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp liên ngành để có được cái nhìn bao quát vấn đề
4.2 Phương pháp thống kê
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê làm cơ sở cho những khái quát khoa học của mình Trong luận văn, phương pháp này được vận dụng chủ yếu khi thống kê tần suất xuất hiện của các kiểu
không gian trong tiểu thuyết Chinatown
4.3 Phương pháp phân tích, so sánh
Đây là các thao các cơ bản được sử dụng trong luận văn Chúng tôi sử
dụng các thao tác này nhằm cụ thể hóa các không gian vùng tiếp xúc trong tác
phẩm; đồng thời đặt nó trong mối tương quan so sánh với một số tác phẩm khác của Thuận cũng như của các nhà văn hải ngoại khác, để từ đó làm nổi bật các nội dung được đề cập trong đề tài
5 Đóng góp của luận văn
Trong khuôn khổ phạm vi luận văn, chúng tôi cố gắng giới thuyết về
khái niệm vùng tiếp xúc, đặt vùng tiếp xúc vào bối cảnh hậu thuộc địa và đưa
ra những đặc trưng của Không gian vùng tiếp xúc; đồng thời áp dụng lý thuyết
vùng tiếp xúc vào nghiên cứu văn học để thấy được mối liên hệ giữa văn hóa
và văn học, định hướng cái nhìn mới, những khả năng nghiên cứu mới trong nghiên cứu văn học
Trang 146 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và thư mục tham khảo, phần nội dung của luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1 Giới thuyết về vùng tiếp xúc
Chương 2 Vùng tiếp xúc như một ẩn dụ về không gian trong Chinatown
Chương 3 Chinatown như một sự đối thoại về văn hóa, tư tưởng hệ
Trang 15CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT VỀ VÙNG TIẾP XÚC
1.1 Khái niệm Vùng tiếp xúc
Khái niệm vùng tiếp xúc của Mary Louise Pratt được đề cập đến lần đầu tiên trong công trình nghiên cứu Arts of the contact zone (Những nghệ
thuật của vùng tiếp xúc) của bà ở Hội thảo về Ngôn ngữ hiện đại của Hiệp hội
Ngôn ngữ hiện đại được tổ chức ở Pittsburgh, Pennsylvania
Mở đầu bài phát biểu, bà mô tả cách người con trai của mình kết nối với thế giới người lớn thông qua bóng chày Pratt mô cách đứa con trai 6 tuổi – bé Sam học được tất cả những kiến thức về toán học, khoa học, ngôn ngữ và
lịch sử thông qua thẻ bóng chày Và bà gọi điều này là “điểm tiếp xúc” với
người lớn
Sau khi khái lược một ví dụ rất đơn giản về con trai, bà nhanh chóng đưa ra một ví dụ khác Đó là một bản thảo từ năm 1963, được viết bởi Felipe Guaman Poma de Ayala Bản thảo là một lá thư viết cho vua Phillip III của
Tây Ban Nha có tựa đề “The First New Chronicle and Good Government”
Bản thảo đã ghi lại một cách chi tiết về cuộc chinh phục Nam Mỹ của Tây Ban Nha Bà trích dẫn bản thảo và thảo luận về cách viết của Guaman Poma
như một hiện thân của vùng tiếp xúc Từ những thảo luận về bản thảo trên,
Pratt nhanh chóng đưa ra kết luận về vùng tiếp xúc, khi cho rằng, nghệ thuật của nó (thường được thực hiện bởi những người bị áp bức), thường cho thấy một hình ảnh của những người khác (những kẻ áp bức) từ quan điểm của người đầu tiên (người bị áp bức); và từ đó, những người bị áp bức, cùng với những ý tưởng riêng, tạo ra một nền văn hóa mới
Pratt sau đó đã thảo luận về các tác phẩm của Benedict Anderson, người đã viết rằng, cộng đồng chỉ là những gì họ nghĩ rằng họ đang có; vì vậy, mọi người khác nhau bởi cách họ đang nghĩ đến Cũng trong bài phát
Trang 16biểu của mình, bà đã gợi mở cho mọi người suy nghĩ về không gian xã hội của họ Bà đã giới thiệu một cách cụ thể về những không gian xã hội này,
thay vì gọi đó là những “cộng đồng”, bà bắt đầu gọi là vùng tiếp xúc
Trở lại một ví dụ khác với Sam; bà mô tả lại sự phản ứng của con trai trước “quyền lực” của giáo viên và những người có “quyền lực” khác đối với cậu Pratt nói rằng, dưới sự “áp bức”, Sam đã phản ứng một cách tương tự như Guaman Poma, khi mà cả hai cố gắng, hoặc là đẻ chống lại, hoặc để dung hòa với sự “áp bức của quyền lực”
Từ những thảo luận về những ví dụ cụ thể trong bài phát biểu, tác giả
đã đưa ra khái niệm về vùng tiếp xúc Theo bà, đó là “những không xã hội nơi
mà những nền văn hóa gặp gỡ, va chạm và móc nối với nhau, thường trong bối cảnh của những mối quan hệ quyền lực rất không cân xứng, ví dụ như chủ nghĩa thực dân, chế độ chiếm hữu nô lệ, hoặc hậu quả còn sót lại của chúng ở nhiều nơi trên thế giới” [70; 2]
Như vậy, từ phát biểu của Mary Louise Pratt, có thể hiểu rằng, sẽ luôn có
sự tương tác giữa các nền văn hóa, vì vậy, ranh giới văn hóa của các không gian
xã hội có thể bị phá vỡ Và vùng tiếp xúc chính là một không gian được tạo ra
bởi sự va chạm của hai hay nhiều nền văn hóa có xu hướng nhấn chìm các nền văn hóa cấp dưới của nền văn hóa trong chính quyền thống trị Và hiểu theo một cách đơn giản nhất, vùng tiếp xúc ở đây là một không gian giao thoa, gặp gỡ giữa các nền văn hóa khác biệt, không cân xứng nhau về “quyền lực”
Bà cũng nhấn mạnh: “Khái niệm vùng tiếp xúc một phần nhằm đối lập
với khái niệm cộng đồng tồn tại dưới tư tưởng về ngôn ngữ, giao tiếp và văn hóa như học trong trường phổ thông” [70; 5] Như vậy, khái niệm lý thuyết
mà Pratt đưa ra là một khái niệm về văn hóa, biểu thị sự tiếp xúc văn hóa đã tồn tại rất lâu trong lịch sử phát triển của loài người
Trang 171.2 Vùng tiếp xúc trong bối cảnh hậu thuộc địa
Các nền văn hóa tồn tại không đơn lẻ, tách biệt mà luôn có sự liên hệ,
va chạm, ràng buộc lẫn nhau Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự tiếp xúc giữa con người, các quốc gia, các nền văn hóa ngày càng gia tăng và thu hẹp khoảng cách Và khi các quốc gia, các vùng lãnh thổ càng có mối giao lưu, tiếp xúc, thậm chí mâu thuẫn, đụng độ, khi khoảng cách giữa con người
trên thế giới càng thu hẹp lại, thì không gian vùng tiếp xúc càng xuất hiện
nhiều hơn
Trở lại khái niệm mà Pratt đưa ra về vùng tiếp xúc, đó là “những không
gian xã hội nơi mà những nền văn hóa gặp gỡ, va chạm và móc nối với nhau, thường trong bối cảnh của những mối quan hệ quyền lực rất không cân xứng,
ví dụ như chủ nghĩa thực dân, chế độ chiếm hữu nô lệ hoặc hậu quả còn sót lại của chúng ở nhiều nơi trên thế giới” [70; 2], có thể hiểu một cách khái
quát rằng, vùng tiếp xúc thường xuất hiện trong bối cảnh liên quan đến
“QUYỀN LỰC” – thứ được tạo nên bởi sự tương tác giữa hai nền văn hóa có
sự chênh nhau về “QUYỀN LỰC”, ví dụ như thực dân và thuộc địa
Thực tế đã minh chứng, trong các cuộc thăm dò thuộc địa ở phương Đông, thực dân phương Tây ít nhiều đã khẳng định mối quan hệ thống trị quyền lực lên vùng đất mà họ đặt chân đến Và ở đó sẽ xuất hiện sự tương tác văn hóa giữa thực dân và thuộc địa, giữa phương Đông và phương Tây Sự tương tác đó chính là sự đụng độ, chuyển biến giữa hai nền văn hóa khác nhau và không cân xứng nhau về “quyền lực”
Như chúng ta đã thấy, trong hầu hết mọi hoàn cảnh, phương Tây luôn
tự cho rằng, sự hiện diện của họ ở nước ngoài sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến
“những người bản địa” (bản sắc của người bản địa sẽ bị lu mờ dần đi để đi theo những giá trị và cách thức của phương Tây), nhưng cũng không thể chắc chắn rằng, phương Tây sẽ không bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa mà chúng
Trang 18xâm nhập Theo tác giả H.K.Bhabha trong công trình The Location of Cuture
(1994) thì, “sự xâm nhập văn hóa thực dân và thuộc địa luôn ảnh hưởng tới
cả hai” [67] Trong bộ phim Đông Dương của đạo diễn Resgis Wargnier
công chiếu lần đầu năm 1992, người mẹ Pháp Éliane Devries dù có yêu thương và cố gắng cô công chúa Việt Nam Phạm Linh Đan theo cách của mình, nhưng càng ngày, bà càng đẩy cô xa hơn, để rồi không còn là người phụ nữ quý tộc Pháp với sự kiêu hãnh và tâm thế của “kẻ bảo hộ” nữa, mà bị chính đứa “con nuôi” của mình chối bỏ, phải trở về nước cùng nỗi đau về tất
cả những gì đã trải qua ở Việt Nam Từ một ví dụ đó, có thể dễ dàng thấy được rằng, chính sự xâm nhập văn hóa thực dân và thuộc địa đã tạo lập bản sắc cho thuộc địa, đồng thời làm thay đổi diện mạo cho thực dân Như vậy, Bhabha cũng đã phần nào lên tiếng khẳng định, sự tương tác giữa thực dân và thuộc địa sẽ dẫn tới một dạng thức văn hóa hỗn hợp; dạng thức văn hóa đó,
theo Mary Louise Partt, chính là vùng tiếp xúc
Đặt khái niệm này vào bối cảnh cụ thể là nền văn hóa Việt Nam, ta thấy rằng, trong quá trình hình thành và phát triển, nền văn hóa bản địa Việt Nam
đã có tương tác sâu sắc với các nền văn hóa thực dân, văn hóa Trung Hoa Một nghìn năm Bắc thuộc, hàng trăm năm Pháp thuộc rồi chịu sự xâm lược của đế quốc Mỹ đã làm biến đổi không nhỏ tới diện mạo văn hóa dân tộc Trước sự tương tác đó, ta thấy được sự mâu thuẫn, đụng độ giữa văn hóa Việt Nam với các nền văn hóa khác Có thể kể đến, đó là sự kháng cự của nền văn hóa nhỏ (Việt Nam) đối với nền văn hóa thực dân (Pháp) và sự xâm chiếm, đồng hóa của nền văn hóa lớn (Pháp, Trung Hoa) với văn hóa Việt Như
Nguyễn Hưng Quốc trong bài nghiên cứu Tính chất thuộc địa và hậu thuộc
địa trong văn học Việt Nam đã phát biểu: Đối với Trung Hoa, chúng ta “chưa thoát khỏi tâm lý thuộc địa, tự xem mình như một phần của Trung Hoa văn hiến” Đối với phương Tây, ta “chưa thoát khỏi tâm lý hậu thuộc địa: nhìn
Trang 19nền văn minh kĩ thuật như mình một cái gì đó của “chủ” vừa thèm thuồng, vừa đố kị và nghi kị” [50]
Để chứng minh điều này, ta đi vào phân tích thái độ của người Việt Nam trước nên văn minh phương Tây mà Pháp mang tới Như chúng ta đã biết, Pháp sang xâm lược Việt Nam với âm mưu biến Việt Nam thành thuộc địa của chúng, mà trước hết, chúng muốn kiến tạo một Hà Nội thành một Paris thu nhỏ Từ khi có sự hiện diện của chính quyền thực dân, Hà Nội dường như mang dáng dấp của một tiểu Paris với Tòa thị chính, Phủ toàn quyền, Dinh thống sứ, Nhà hát lớn, Khách sạn Metrophole, Bưu điện và một loạt những biệt thự trường học, trường đại học theo lối kiến trúc phương Tây… Không gian kiến trúc đấy khá đa dạng về phong cách, đáp ứng những nhu cầu khác nhau của chủ thể thực dân: Từ sinh hoạt hàng ngày đến sự hoài niệm mẫu quốc và quan trọng nhất là để biểu đạt cho quyền lực và sự hiện diện vĩnh cửu của quyền lực thực dân Không chỉ có những điểm nhấn về kiến trúc, chính quyền thực dân còn mang tới cho Hà Nội một hệ thống dường phố mới với những tên phố mới được đặt tên theo những danh nhân Pháp, những
sỹ quan Pháp trong cuộc đánh chiếm Bắc kỳ, những toàn quyền và nhà cai trị Pháp như: Borgnis Desbordes (tên phố cũ Tràng Thi), Brière de l’Isle (tên phố
cũ Hùng Vương), Champ de courses (Đội Cấn), Colomb (phố Phan Bội Châu), Concession (Phạm Ngũ Lão)… Trước những đổi thay thực dân Pháp mang tới vùng đất “ngàn năm văn hiến”, người dân Việt Nam ngay lập tức tỏ
rõ thái độ phản kháng không đồng tình của mình Ta có thể dễ dàng thấy được điều đó qua những sáng tác tiêu biểu của những sĩ phu yêu nước cuối thế kỷ XIX Đại diện trong số đó, phải kể đến tác giả Nguyễn Đình Chiểu Là một nhà nho tiết tháo, sống theo đạo nghĩa, ông đã nhiều lần lên án mạnh mẽ thực
dân Pháp trong các sáng tác của mình Trong tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc”, ông khảng khái “tuyên chiến” với tất cả những gì thuộc về thứ mọi
Trang 20ngoại bang: “Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ” , “Bữa thấy bòng bong
che trắng lốp, những muốn ăn gan/Ngày xem ống khói chạy đen sì/ Toan ra cắn cổ” Rõ ràng ở đây, Nguyễn Đình Chiểu đã thẳng thắn lên tiếng “kháng
cự” trước văn minh, văn hóa phương Tây
Cùng tinh thần với Nguyễn Đình Chiểu, nhưng Thạch Lam lại chọn lối
văn thể hiện nhẹ nhàng, sâu lắng Tuyển tập tùy bút, truyện ngắn “Hà Nội
băm sáu phố phường” (Nhà xuất bản Đời nay, 1943) của tác giả đã thể hiện
sự phấp phỏm, lo âu: “Hà Nội đã thay đổi nhiều lắm Những phố cũ hẹp và
khuất khúc, với nhà thò ra thụt vào, những mái tường đi xuống từng bực như cầu thang, những của sổ gác nhỏ bé và kín đáo đã nhường chỗ cho những phố gạch thẳng và rộng rãi, với những dãy nhà giống nhau đứng xếp hàng Thẳng và đứng hàng, đó là thể hiện của văn minh Khi ông cầm lái chiếc ô tô thì ông lấy làm dễ chịu vì đường rộng, vì phố thẳng lắm, nhưng với người tản
bộ đi chơi, lòng thư thả và mải tìm sự đẹp, thì phố xá mới không có thú vị gì Không có những cái khuất khúc dành cho ta nhiều cái bất ngờ, không có một ngọn cây hoa quả nhô sau bức tường thấp, khiến chúng ta đoán được cả một thuở vườn nhỏ bên trong, ở đấy biết đâu lại không thướt tha một vài thiếu nữ khuê các như xưa” [21] Những trăn trở rất nhẹ nhàng, sâu lắng của một
Thạch Lam trong “Hà Nội băm sáu phố phường” đã cho thấy sự xung đột
mạnh mẽ giữa một bên là văn minh Tây phương, một bên là bản sắc văn hóa dân tộc: nền văn minh Pháp mang tới Việt Nam là sự tiện nghi, tiện dụng, ngăn nắp, với những phương tiện sinh hoạt mới của thế giới hiện đại; bản sắc dân tộc là truyền thống, gắn với ký ức tập thể, với những hoài niệm Đôi khi,
sự xung đột giữa văn minh và truyền thống đơn giản chỉ thể hiện sự chia cắt
không gian giữa tầng trên tầng dưới của những dãy phố: “Trong đêm khuya,
chúng ta thử dạo chơi các phố, lúc đó không bị những ánh sáng và thức hàng làm cho lóe mắt Lúc đó những cửa hàng mới mẻ đã đóng cả, và cái phố với
Trang 21căn nhà đều phô bày vẻ thật Các nhà chỉ thay đổi có cái dưới: sự thay đổi ít khi lên đến từng trên Và bây giờ, nếu người ta có phép gì cắt bỏ các từng dưới và đặt các từng trên xuống đất, chúng ta sẽ có một hàng phố cũ kỹ với những hình bát quái, mảnh gương và giơi bay: một phố tựa như của kinh kỳ xưa, chắc thế” [21] Có thể nói, trong tương quan với văn minh, văn hóa
truyền thống chỉ là sự luyến lưu, tiếc nuối về một thời vang bóng Có lẽ vì thế
mà trong những câu, từng chữ, “Hà Nội băm sáu phố phường” vẫn phảng phất một nỗi hoài niệm lo lắng: “Những cái tục lệ đẹp đẽ ấy nay mất dẫn đi
Sự sành ăn và cái thưởng thức của người nơi vật đã kém sắc sảo, ý nhị rồi chăng? Có thể mới ra đời được những thứ phục linh cẩu xanh đỏ và nhay nhớt, những thứ kem “Việt Nam” và “Hải Phòng” và “Thượng Hải” và trăm thứ bà rằn vừa nhạt vừa tanh… Tôi còn tha thứ hơn cái thứ “kẹo vừng, kẹo bột” ngày xưa tuy nó không ngon nhưng ít ra cũng đem lại cho phố phường
Hà Nội cái tiếng rao kéo dài và hơi buồn của lũ trẻ bán hàng” [21] Không
gay gắt, giễu đời như các nhà văn cùng thời khác, như những lời thủ thỉ tâm tình, Thạch Lam đã tái hiện lại toàn cảnh một xã hội đang dần trở lên hỗn tạp bởi sự giao thoa văn hóa Đông – Tây Trước sự đổi thay của Hà Nội, ông chọn cách tìm về những giá trị văn hóa mang đặc trưng của vùng đất “ngàn năm văn hiến” thanh lịch, nhã nhặn, tao nhã đang dần bị những tiện nghi hiện đại của nền văn minh phương Tây khỏa lấp; như một cách để oán trách, để che bai, để phản kháng trước trước sự xâm chiếm , đồng hóa của văn hóa phương Tây
Tuy nhiên, nhìn nhận lại thực tế, văn minh và phương Tây hóa không chỉ đến từ phía chủ thể thực dân Như H Bhabha đã nhấn mạnh tình thế mâu thuẫn của thuộc địa trước những “quyền lực”mà thực dân đặt lên trong công
trình nghiên cứu của mình: “ Vừa lo lắng, phòng thủ, vừa thích thú, chủ động
tạo lập các mẫu sao chép; vừa sợ hãi , lại mong muốn đạt đến trình độ của
Trang 22thực dân” [67] Cùng với thời gian, cái văn minh, cái phương Tây vì gắn với
sự tiện dụng, gắn với tính thị trường ngày một nồng đậm trong môi trường đô thị đã nhanh chóng trở thành cái thời thượng được người Việt lựa chọn một cách tự nguyện Người ta đặt tên cho cửa hàng bằng tiếng Pháp, nói chuyện, giao dịch với nhau bằng tiếng Pháp Tư tưởng sính ngoại, ấu trĩ khi cố gắng nhồi nhét tiếng Pháp cho sang của người dân trở thành một chủ đề ưa thích để Thạch Lam trút bầu tâm sự Trước cảnh đền Ngọc Sơn bị thay đổi, ông than
phiền: “Mắc đèn cho sáng , cho tiện những người đi lễ đền Một ý tốt, rất tốt
Nhưng sao lại phải trả bằng một cách bôi nhọ vẻ đẹp của đền thế? Muốn sáng cổng và sáng cầu thiếu gì cách: Mắc đèn vào những chỗ lõm khuất khúc của cổng và của cầu: Đèn để như thế vừa được kín đáo, vừa không làm giảm
vẻ đẹp, không kể cái lối ánh sáng đập lại ấy dịu dàng và làm tôn vẻ cảnh đền hơn lên” [21] Rất nhẹ nhàng và sâu lắng, Thạch Lam đã tái hiện một không
gian xã hội, nơi có sự tiếp xúc, giao lưu giữa nền văn hóa của thực dân phương Tây và bản sắc văn hóa dân tộc Trong sự giao lưu, tiếp xúc đó, ta thấy được mạch ngầm của sự cạnh tranh “quyền lực”: Một bên muốn kiến tạo thuộc địa thành một phần của mình bằng ánh sáng của văn minh, một bên cố
lưu giữ truyền thống Đó chính là biểu hiện của vùng tiếp xúc mà Pratt muốn
nhắc tới
Khi có sự giao lưu, tiếp biến với văn hóa phương Tây, bên cạnh sự “đề kháng”, còn có sự tiếp thu những mặt tích cực của văn minh phương Tây, bứt phá ra khỏi khuôn khổ tù túng của những lối đi cũ, để từ đó tạo ra một diện mạo mới, vừa mang hơi hướng hiện đại, vừa giữ được những đặc trưng của truyền thống dân tộc Ra đời từ những năm 30 của thế kỉ XIX, Thơ Mới xuất hiện khi làm gió của văn hóa phương Tây có ảnh hưởng nhất định tới giới trí thức trẻ Việt Nam Họ nhanh chóng tiếp thu văn hóa Pháp và nhận ra vần luật, niêm luật của cổ thi đã gò bó trong công việc thể hiện tiếng thơ của con
Trang 23người Năm 1917 trên báo Nam Phong (số 5), Phạm Quỳnh, nổi tiếng là
người bảo thủ, cũng phải thú nhận sự gò bó của luật thơ cũ: “ Người ta nói
tiếng thơ là tiếng kêu của con tim Người Tàu định luật nghiêm cho người làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại tiếng kêu ấy cho nó hay hơn, nhưng cũng nhân đó mà làm mất đi cái giọng tự nhiên vậy” Sau đó, Phan Khôi cùng viết
nhiều bài báo chỉ trích những trói buộc của thơ văn cũ và đòi hỏi cởi trói cho sáng tác thơ ca Từ những tư tưởng ấy, thơ ca Việt Nam làn đầu tiên bứt phá
ra khỏi khuôn khổ, khép lại mấy trăm năm thống lĩnh của thơ Đường Tiếp nhận làn gió mới của văn học phương Tây, đặc biệt là sự ảnh hưởng thơ ca lãng mạn Pháp đã tạo điều kiện cho Thơ Mới sáng tạo về thi hứng, bút pháp
và cách diễn đạt mới lạ, độc đáo Một trong những nhà thơ đầu tiên chịu ảnh hưởng sâu sắc thơ Pháp là Thế Lữ, Huy Thông, về sau là Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử,… Hầu hết các nhà Thơ Mới đều chịu ảnh hưởng sâu sắc chủ nghĩa tượng trưng của thơ ca lãng mạn Pháp mà đại biểu là Budelaire, Verlaine, Rimbaud Sự ảnh hưởng ấy diễn ra trên nhiều bình diện: Từ cách gieo vần,
ngắt nhịp đến cách diễn đạt Ta có thể tìm thấy điều này ở các bài “Nguyệt
Cầm”, “Đây mùa thu tới” (Xuân Diệu), “Đi giữa đường thơm” (Huy Cận),
“Màu thời gian” (Đoàn Phú Tứ) Một số bài thơ trong tập “Tinh huyết” (Bích Khuê), “Thơ điên” (Hàn Mặc Tử), “Thơ say” (Vũ Hoàng Chương) mang hơi hướng của các bài thơ như: “Những nguyên âm” của Rimbaud, “Tương hợp”
của Budelaire… thuộc trường phái suy đồi của thơ ca Pháp Tuy nhiên, song song với việc tự giác tiếp nhận, ảnh hưởng những cái mới, cái hiện đại của văn hóa, văn học phương Tây, các nhà thơ của phong trào Thơ Mới vẫn giữ được đặc trưng của thơ ca truyền thống trong các sáng tác của mình Sự ảnh hưởng mấy trăm năm của thơ Đường có thể không còn vị trí độc tôn nhưng không có nghĩa nó hoàn toàn biến mất khỏi thi trường Việt Nam Không thể phủ nhận rằng, Thơ Mới ảnh hưởng thơ Đường khá đậm nét Sự gặp gỡ giữa
Trang 24thơ Đường và Thơ Mới chủ yếu là thi tài, thi đề Các nhà Thơ Mới vẫn tiếp thu và tiếp tục giữ lại những mặt tích cực tiến bộ của thơ Đường Trong bài
thơ “Tràng giang”, Huy Cận đã mượn tứ thơ của Thôi Hiệu để bày tỏ nỗi nhớ nước thương nhà: “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn
cũng nhớ nhà” Bên cạnh đó thể thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát;
cách gieo vần, ngắt nhịp 2/2/2; 3/3 (ở câu lục) và 2/2/2/2; 4/4 (câu bát) đều đặn, hài hòa như ca giao truyền thống, hay hệ thống hình ảnh thiên nhiên gần gũi, cảnh sắc tình yêu gắn với làng quê, với những đêm hội làng, của hò hẹn, đợi chờ… cảnh thôn quê Việt Nam quen thuộc, chân chất tự bao đời: Cây đa, bến nước, con đò, hương đồng, gió nội, bướm trắng, hoa chanh, giàn đỗ ván,
ao rau cần, giậu mồng tơi, trầu cau… những cặp hình ảnh song đôi: Trầu- cau, thuyền- bến… là minh chứng không thể chối bỏ để chứng minh rằng, Thơ Mới tiếp nhận những tinh hoa văn hoa văn hóa phương Tây nhưng cũng đậm
đà tính dân tộc Nhận xét về hệ thống ngôn ngữ trong Thơ Mới, trong bài
nghiên cứu Thơ Mới, cuộc nổi loạn ngôn từ, Đỗ Đức Hiểu đã thẳng thắn bày
tỏ “Thơ Mới là bản hòa âm của hai nên văn hóa xa nhau vời vợi, là bản giao
hưởng cổ và hiện đại Đó là sự giao thoa tiếng Việt với Thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp thế kỉ XIX Sự ảnh hưởng thơ Đường và thơ ca lãng mạn Pháp với phong trào Thơ Mới không tách rời nhau Điều này cho thấy sự tác động và ảnh hưởng từ nhiều phía đối với thơ mới là tất yếu trong quá trình hiện đại hóa thơ ca Chính sự kết hợp Đông- Tây nói trên đã tạo nên bản sắc dân tộc và sự hấp dẫn riêng của Thơ Mới” [26] Có thể nói, Thơ Mới chính là
một minh chứng cụ thể và sinh động của sự kết hợp văn hóa Đông – Tây, hay
nói như Pratt, đó chính là một biểu hiện của vùng tiếp xúc ở những tầng sâu
Dù có nhiều ý kiến trái chiều trước sự giao lưu, tiếp biến văn hóa Đông – Tây, phản kháng hay lệ thuộc, bài xích hay chấp nhận tiếp thu có chọn lọc
những tư tưởng của nền văn hóa mới thì việc xuất hiện một không gian vùng
Trang 25tiếp xúc là một tất yếu, đã góp phần làm đa dạng hóa nền văn hóa, văn học
Việt Nam, đồng thời, đưa văn học Việt Nam bước sang một thời đại mới
1.3 Đặc trƣng không gian vùng tiếp xúc
1.3.1 Vùng tiếp xúc như một không gian địa lý
Giao lưu, tiếp xúc văn hóa là một cuộc hành trình, hành trình đưa văn hóa của một quốc gia, một dân tộc, một vùng lãnh thổ tới một vùng đất mới
Trên hành trình ấy, trước hết, vùng tiếp xúc như một không gian địa lý Trong công trình “Đông phương học” của Edward Said, ông cho rằng, phương
Đông chỉ là một khái niệm thuần túy bị phương Tây kiến tạo nên Trong con mắt của người phương Tây, phương Đông hiện lên như một xứ lạ phương xa đầy huyền bí, quyến rũ lạ kỳ Chính điều này đã thúc đẩy tham vọng được chinh phục, chiếm hữu của thực dân phương Tây Như Said đã khẳng định,
trước phương Đông, phương Tây luôn ẩn chứa tham vọng bá chủ: “Phương
Đông vừa như một thế giới cổ mà người ta muốn trở lại, như trở lại thăm vườn Eden hoặc thiên đường, để xây dựng một phiên bản mới về thế giới cổ đó; đồng thời lại là một nới hoàn toàn mới mà người ta đến thăm như chuyến
đi của Colombus đến châu Mỹ” [68] Cũng trong hành trình kiến tạo của
mình, phương Tây đã tự xác lập cho mình những tính năng ưu việt như sự logic, dân chủ, tiến bộ, đối lập hoàn toàn với tính duy cảm, phi logic, nguyên thủy, chuyên quyền của người phương Đông Như một lẽ tất yếu, phương Tây luôn đặt mình ở vị thế “trung tâm”, trong khi phương Đông là một “ngoại biên” khác biệt Những biểu đạt về phương Đông và phương Tây đó, dù nhiều hay ít, chủ định hay vô tình đều với mục đích củng cố thêm địa vị thống trị của phương Tây Ở một khía cạnh nào đó, có thể hiểu rằng, phương Đông không đơn thuần chỉ là thực tại, mà là huyền thoại mà phương Tây xây dựng lên để hợp lý hóa sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc phương Tây, nhằm thỏa mãn tham vọng chinh phục của của họ
Trang 26Cuốn “Hành trình phương Đông” – một phần trong bộ hồi ký nổi
tiengs của giáo sư Blair T Spalding do dịch giả Nguyên Phong dịch kể về những trải nghiệm của một đoàn khoa học gồm các chuyên gia hàng đầu của Hội Khoa học Hoàng gia Anh được cử sang Ấn Độ nghiên cứu về huyền học
và những khả năng siêu nhiên của con người Suốt hai năm trời rong ruổi khắp các đền, chùa Ấn Độ, họ được tiếp xúc, chứng kiến, trải nghiệm và hiểu biết sâu sắc về các khoa học cổ xưa và bí truyền của văn hóa Ấn Độ Nếu
như, trong mắt của đại đa số người phương Tây nhìn Ấn Độ như “một xứ
chậm tiến, một thuộc địa mê tín, dốt nát, đầy kẻ thất học”, thì Spalding lại cho
rằng, “phương Đông có những chân lý quan trọng đáng để người phương Tây
nghiên cứu, học hỏi Đã đến lúc người phương Tây phải quay về phương Đông để trở về với quê hương tinh thần” [5] Có thể nói, “Hành trình phương Đông” đã mở ra một chân trời mới để Đông – Tây gặp nhau, để khoa học –
huyền bí hội ngộ, để hiện đại và cổ xưa giao hòa Sự gặp gỡ đó đã mở ra những vùng tiếp xúc văn hóa Đông – Tây tại những nơi các nhà khoa học đã
đi qua
Hay như trong du ký “Phương Đông lướt ngoài cửa sổ” của Paul
Theroux, chỉ trong thời gian bốn tháng, với ba mươi chuyến tàu nối tiếp, nhân vật “tôi” đã đặt chân tới nhiều không gian địa lý khác nhau, từ London đi Paris, tới Thổ Nhĩ Kỳ, các nước Trung Đông, Ấn Độ, Đông Nam Á, Nhật Bản, qua Siberia, Nga… Những con tàu đưa “tôi” đến những vùng đất mới, nơi “tôi” có thể cảm nhận được sự tiếp xúc của những nền văn hóa giao hòa
Như vậy, có thể nói, không gian địa lý được xem như những vùng tiếp xúc, nơi có sự gặp gỡ, va chạm và móc mối các không gian văn hóa với nhau,
có sự chênh nhau về quyền lực Tại các địa điểm này, con người ở các dân tộc khác nhau, quốc gia khác nhau với những nền văn hóa khác nhau gặp gỡ, tiếp xúc Thậm chí một người nhưng sống ở các không gian văn hóa khác nhau cũng có sự va chạm giữa các dòng văn hóa
Trang 271.3.2 Vùng tiếp xúc như một không gian văn hóa
Theo Pratt, vùng tiếp xúc là những không gian xã hội, nơi có sự gặp gỡ,
va chạm giữa các nền văn hóa Như vậy, có thể nói, tại các vùng tiếp xúc, các
nền văn hóa khác nhau có cơ hội giao lưu, hòa hợp, tạo thành một thế giới
“thứ ba” mang đầy đủ những nét đặc trưng của nền văn hóa giao hòa Hơn ba thế kỷ di dân tới Việt Nam, cộng đồng người Hoa đã góp phần vào sự phong phú và đa dạng của văn hóa Việt, hình thành những đặc điểm của vùng văn hóa Nam Bộ của Việt Nam Sự ảnh hưởng của văn hóa Hoa đối với văn hóa của các cư dân ở Nam Bộ được thể hiện khá rõ nét và đa dạng Ta có thể dễ dàng thấy được sự giao lưu, ảnh hưởng của nền văn hóa người Hoa tơi văn hóa Việt qua kiến trúc nhà ở Những khu phố của người Hoa trên địa bàn quận 5, quận 6 ở Thành phố Hồ Chí Minh với những sắc màu riêng tạo thành một Chinatown – Chợ Lớn giống như các Chinatown ở nhiều quốc gia trên thế giới Hay như kiến trúc các miếu đền của người Hoa cũng mang một phong cách rất riêng có thể thấy ở các quần thế miếu, đền, chùa của người Hoa vùng Chợ Lớn có lối kiến trúc chữ “tam”, đặc biệt nhất là lối kiến trúc tiêu biểu thường gọi là “ tứ hợp “, hay còn gọi “hình ấn “ gồm dãy bốn nhà hợp thành chữ “ khẩu” giữa có thiên tĩnh lấy ánh sáng cho phần chánh điện và
để thông thoáng nhang khói Bên trong được trang trí bởi các con vật trong bộ
tứ linh, long, lân, quy, phụng, tiên đồng – ngọc lữ, sân chùa xây la thành, luôn
có cặp lân đá đứng oai vệ trấn giữ Nổi bật trong đền, chùa của người Hoa ở đây là tông màu đỏ chủ đạo như một biểu tượng về sức sống, về niềm tin và may mắn Những kiến trúc tôn giáo của người Hoa cũng đã ảnh hưởng không
ít đến kiến trúc các tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt và người Khmer Tới Lai Cậy (Mỹ Tho), ta có thể gặp kiểu kiến trúc mái đình quen thuộc kiểu các mái chồng xếp lên nhau “ thiềm trùng diệp ốc “ …
Trang 28Không chỉ riêng ở Nam Bộ, văn hóa, tín ngưỡng người Hoa còn có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống văn hóa tinh thần của người Việt trên khắp dải đất hình chữ S Thật dễ dàng thấy được điều này trong việc thờ cúng thần tài, ông địa của những thương nhân người Việt với hy vọng về những may mắn trong kinh doanh
Từ một ví dụ cụ thể trên, có thể thấy rằng, vùng tiếp xúc chính là hệ quả
tất yếu của sự giao lưu, tiếp xúc giữa các nền văn hóa Đó là một không gian văn hóa da dạng, phong phú với sự hài hòa của những nét đặc trưng trong các nền văn hóa
1.3.3 Không gian Vùng tiếp xúc như một sự cạnh tranh về quyền lực
Trở lại với khái niệm lý thuyết vùng tiếp xúc mà Mary Louise Pratt đưa
ra, đó là “những không gian xã hội, nơi mà những nền văn hóa gặp gỡ, va
chạm và móc mối với nhau, thường trong bối cảnh của những mối quan hệ quyền lực rất không cân xứng” [70;2] Như đã trình bày ở trên, vùng tiếp xúc
như một không gian văn hóa, có thể hiểu rằng, tại các không gian này, hai nền văn hóa phương Đông và phương Tây gặp gỡ, giao thoa, đụng độ và luôn có
sự không cân xứng nhau về QUYỀN LỰC Ở đây, chúng tôi xin nhấn mạnh
yếu tố QUYỀN LỰC như một đặc điểm quan trọng trong hình thành các vùng
Trong tác phẩm Rong chơi Sài Gòn, tác giả đã tái hiện xứ thuộc địa như là
một “kẻ khác” kì quái, xấu xí, tầm thường, đáng ghê tởm; và con người nơi
đây là như những kẻ hèn mọn, bẩn thỉu, quái đản:“Bên trong nhà rất tối, và
được chia làm nhiều gian”, “Ngay giữa căn buồng là một loại cửa hầm trên
Trang 29sàn nhà, và hai buồng khác cũng có cửa hầm như thế”; “Tôi chưa bao giờ thấy những thân hình xấu xí, chắc nịch, cứng ngắc đến như thế, những cần cổ ngắn một cách đồng nhất như thế, với đôi vai xuôi xuống như thế, những khuôn mặt bẹt và những chiếc mũi còn tẹt hơn nữa như thế, những cái miệng rộng, nặng nề, môi dày đến như thế, những xương gò má chĩa nhọn như thế, những vầng trán thấp như thế, những chiếc đầu có đỉnh bẹt ở trên như thế, và một làn da dày và căng như thế, khiến ta liên tưởng đến từ ngữ “hèn mọn”
[13] Rõ ràng ở đây, Đông Dương – Việt Nam được nhìn nhận như một “kẻ khác”, bẩn thỉu, xấu xa, hèn kém, mông muội dưới nhãn quan thuộc địa của người Phương Tây Đằng sau sự nhìn nhận đó, ta thấy được một sự áp đặt ngầm thứ được gọi là QUYỀN LỰC thực dân lên những vùng đất mà họ muốn chiếm hữu
Xét cho cùng, vùng tiếp xúc trong quan niệm của Pratt không chỉ đơn
thuần là một không gian địa lý, là nơi giao lưu, tiếp xúc giữa các nền văn hóa,
mà chìm sâu trong đó, là một sự cạnh tranh QUYỀN LỰC Isabella Bird miêu
tả xứ Đông Dương là một “kẻ khác”, vừa hèn kém, vừa kì quái, thật đáng ghê tởm mục đích cuối cùng cũng chỉ để “thực thi cái quyền lực tuyệt đối của kẻ chinh phục đối với kẻ bị chinh phục”
Khác với cách thể hiện của Isabella Bird, với một thứ ngôn ngữ Việt Nam chuẩn ngữ pháp và sự hóm hỉnh, sắc sảo, logic của người phương Tây,
“Ngược chiều vun vút” của Joe Ruelle là những câu chuyện về những vấn đề rất Việt Nam, từ những câu chuyện ăn uống vỉa hè của giới trẻ đến văn phong chat chit; từ chuyện giao thông đến những thói quen sính hàng hiệu, sính dùng
ngoại ngữ… “Người Việt Nam sinh ngoại thật”, sính ngoại để “cho nó oai
Cho nó oách Chứng tỏ rằng mình là hiểu biết về thế giới (và “khác bọn nhà quê”) [52]… Đọc cuốn sách, ta dễ dàng nhận ra, Joe nhìn nhận sự việc với
tâm thế của một người nước ngoài, một người đến từ nền văn hóa khác, môi
Trang 30trường khác đối với Việt Nam; có lẽ vì thế, mà chúng ta có một hướng nhìn toàn diện hơn về tất cả những thói quen thường nhật của người Việt Nói một cách khác, đó là tâm thế, là cái nhìn của phương Tây, của quyền lực thực dân đối với phương Đông, với một nền văn hóa thuộc địa
Trong một diễn ngôn khác, ta lại thấy những biểu hiện khác của quyền lực ở những vùng tiếp xúc Vẫn là một Đông Dương – Việt Nam thuộc địa
nhỏ bé, nhưng trong cái nhìn của Marguerite Duras trong tác phẩm “Người
tình”, hình ảnh Nam Kỳ Việt Nam lại hiện lên như tất cả những gì trong trẻo,
gần gần, thân thương nhất: “Màu xanh xa xôi hơn cả bầu trời, vượt trên mọi
chiều sâu, bao trùm mọi biên giới của vũ trụ Ðối với tôi, bầu trời là một vệt sáng rực thuần khiết băng ngang màu xanh, sự hợp nhất lạnh lẽo vượt trên mọi màu sắc…”; “Ánh sáng tuôn xuống từ bầu trời như những dòng thác trong suốt thuần khiết, thành những dòng nước lặng yên và bất động Không gian xanh lơ, bạn có thể giữ nó trong tay Xanh lơ Bầu trời là sự dội đập rộn ràng của ánh sáng rực rỡ Ðêm thắp sáng mọi vật, tất cả vùng quê trên cả hai
bờ sông xa tít đến những nơi chốn mà mắt có thể nhìn thấy được” [35] Ở
đây, ta thấy một cách nhìn khác về xứ Đông Dương thuộc địa Đông Dương không còn là một xứ sở mông muội, hạ đẳng, lười biếng, xấu xí, cần được khai hóa như trong suy nghĩ của Isabella Bird; hay với những thói quen xấu như những gì Joe cảm nhận mà hoàn toàn ngược lại: Đẹp, trù phú, thơ mộng
và rất giàu tình người Vậy nhưng ẩn sâu trong đó, ta thấy được sự mâu thuẫn giằng xé giữa một bên là thách thức quyền lực, một bên là tham vọng thống
trị của người da trắng Nguyễn Thị Ngọc Minh trong Diễn ngôn về xứ thuộc
địa trong tác phẩm Người tình của Maguerite Duras đã nhận xét: “Diễn ngôn của Duras về xứ thuộc địa vừa thách thức quyền lực thực dân và đồng nhất mình với xứ thuộc địa, lại vừa đầy tham vọng thống trị và thôn tính” [36] Có
thể nói, ngay trong cách nhìn của người phương Tây về Đông Dương thuộc
Trang 31địa, ta thấy đã có sự mâu thuẫn về QUYỀN LỰC Đây chính là biểu hiện của
vùng tiếp xúc mà Pratt muốn nhắc tới
Có thể đưa ra một ví dụ cụ thể hơn nữa về sự cạnh tranh QUYỀN LỰC
trong không gian của những vùng tiếp xúc khi khảo sát về sự không gian kiến
trúc của Nhà hát Lớn ở Hà Nội Đây là một công trình được người Pháp khởi công xây dựng từ năm 1901 và hoàn thành năm 1911, theo mẫu Nhà hát Opéra Garnier ở Paris, do hai kiến trúc sư người Pháp Harlay và Broyer sáng tạo Mặc dù là một công trình kiến trúc mang tính triết chung, được pha trộn bởi nhiều phong cách, nhưng Nhà hát Lớn Hà Nội vẫn mang đậm dáng vẻ Tân cổ điển Pháp, đặc biệt ở kết cấu kiến trúc với kiểu mái hai mảng lợp ngói
đá đen cùng các họa tiết trang trí bên trong Giữa một không gian Hà Nội cổ kính, (nếu không nói là lạc hậu so với sự hiện đại của phương Tây), thì sự xuất hiện của những công trình mang đặc trưng của kiến trúc Pháp như một
sự hiện diện của thứ gọi là QUYỀN LỰC thực dân mà Pháp muốn thể hiện Hơn thế nữa, Nhà hát Lớn Hà Nội không chỉ có giá trị đơn thuần về kiến trúc
Từ đầu thế kỷ XX, đó cũng là nơi chứng kiến những cuộc “tiếp xúc” đầu tiên giữa Việt Nam với văn hóa, nghệ thuật phương Tây, cụ thể là âm nhạc và sân khấu Như vậy, không gian bên trong Nhà hát Lớn là không gian của văn hóa nghệ thuật phương Tây, là văn minh phương Tây; đối lập hoàn toàn với sự cũ
kỹ, lạc hậu của không gian bên ngoài Nhà hát Lớn Có thể nói, sự hiện diện của những công trình mang hơi thở của nền văn minh phương Tây chính là một sự định vị về QUYỀN LỰC của nền văn hóa thực dân đối với nền văn hóa thuộc địa
Trang 32Tiểu kết chương 1
Trên đây, chúng tôi đã giới thiệu một cách khái quát về khái niệm vùng
tiếp xúc, Đặc trưng của vùng tiếp xúc và đặt khái niệm lý thuyết này vào bối
cảnh hậu thuộc địa, trong đó nhấn mạnh tới “quyền lực” như một yếu tố chi
phối sự hình thành các không gian vùng tiếp xúc
Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý, khái niệm vùng tiếp xúc Pratt đưa ra
ban đầu là một lý thuyết thuộc về văn hóa, nhưng có khả năng ứng dụng
cao trong nghiên cứu văn học Khi đã nhìn nhận vùng tiếp xúc như một yếu
tố thuộc về văn học, chúng ta có thể mở rộng các đề tài nghiên cứu về mối liên hệ văn hóa giữa các quốc gia, các vùng lãnh thổ trong các tác phẩm văn học, đặc biệt là dòng văn học hải ngoại, trong các tác phẩm du ký… Đây sẽ là những trải nghiệm mới mẻ, đem lại cái nhìn bao quát hơn trong dòng phát triển của văn học
Trang 33
CHƯƠNG 2: VÙNG TIẾP XÚC NHƯ MỘT ẨN DỤ VỀ KHƠNG GIAN
TRONG CHINATOWN
Ngay trong lời giới thiệu cuốn sách, Dương Tường đã viết: “Ngổn
ngang và tung tĩe như những mảnh của một trị chơi ghép hình, khơng chương hồi liền một mạch suốt hơn200 trang sách, bề bộn những suy ngẫm, hình tượng, chi tiết nhấn lại bất tận đến thành ám ảnh, như lưỡi dao cùn nhay mãi khơng đứt, như cái đĩa hát cũ bị vấp rãnh, cuốn sách đậm đặc một thứ humor xĩt xa và khơng thiếu những yếu tố mà giờ đây người ta gọi là hiện đại này nhiều lúc làm tơi như nhập đồng Và luơn luơn nghe thấy một bè ẩn, đúng hơn, một undertone day dứt Nĩ giống như âm hưởng của câu hỏi đau đớn mà Paul Gauguin dùng đặt tên cho một kiệt tác cuối đời của ơng: Dó venons- nons? Que Sommes-nons? Où allons-nons? (Chúng ta từ đâu đến? Chúng ta
là cái gì? Chúng ta đi đến đâu?)” [64] Chinatown là một câu chuyện kể về
những hồi tưởng của một người phụ nữ xưng “tơi” trong suốt hai tiếng đồng
hồ kẹt cùng đứa con trai 12 tuổi tại một ga xa điện ngầm ngoại ơ Paris vì một cái túi du lịch vơ chủ được phát hiện quanh đĩ với những suy nghĩ miên man
về thời đi học, về những ngang trái của thế sự và hồn cảnh khiến cuộc tình
và hơn nhân của mình dở dang, bất hạnh, về đứa con trai chỉ mơ đến khi 18
tuổi sẽ cĩ được ba quốc tịch: Việt, Pháp, Trung Hoa (mà vẫn vơ Tổ quốc)…
“Đĩ là một cuộc độc thoại nội tâm bất tận, đầy tiếc nhớ quá khứ và những nhận xét sắc bén về cuộc sống và số phận, khi nhân vật chính nhìn lại cuộc đời mình, từ Hà Nội đến Leningrat rồi Paris, những con người đã đi qua đời mình, nhất là Thụy, người tình Trung Hoa từ thuở nhỏ, một mối tình đầy trắc trở, rồi sau đĩ trở thành người chồng chạy trốn, đến một Chinatown (Chợ Lớn) vơ hình nào đĩ, nơi khơng cĩ mảnh vụ quá khứ nào bắt kịp được”
Trong cuộc hành trình đĩ, ta thấy được sự giao thoa, tiếp xúc giữa các nền
Trang 34văn hóa ở những nơi nhân vật “tôi” từng sống, từng kiếm tìm và từng tưởng tượng Đó là khung cảnh Hà Nội thời cuối bao cấp và những năm đầu mở cửa; là Liên Xô trước công cuộc cải tổ; Paris sau những cuộc biểu tình đòi thay đổi chính sách giáo dục; các Chinatown – phố Tàu ở Sài Gòn và khắp thế giới… Qua đó, mối quan hệ giữa “tôi” và Chinatown, thái độ của “tôi” đối với Trung Hoa, với Paris, với Leningrad từng bước được thể hiện rõ nét trong tác phẩm
2.1 Chinatown – một “miền đất ảo”
Chinatown ban đầu là cái tên bằng tiếng Anh dùng để chỉ “Khu phố Tàu” – có người dịch mượt mà hơn và hiện đại hơn bằng cái tên “Phố người Hoa” Thuật ngữ Chinatown xuất hiện vào giữa thế kỷ XIX, khi khu phố người Hoa được thành lập ở thành phố San Francisco của Hoa Kỳ Đây cũng
là khu phố Tàu đầu tiên và lớn nhất được thiết lập bên ngoài châu Á Tới giữa thế kỷ XIX, các thành phố khác ở Bắc Mỹ cũng thành lập các khu phố người Hoa dọc theo đường bờ biển từ San Diego đến Victoria Nửa sau thế kỷ XIX, phố người Hoa tiếp tục được mở rộng tại các thành phố như New York, Boston, Chicago (Mỹ), hay phố người Hoa ở Úc, Châu Âu, thậm chí ở cả Nam Phi
Với xu hướng giao lưu, hội nhập như hiện nay, Chinatown có mặt hầu như ở khắp các nước trên thế giới Webster’s New World College Dictionary (Third Edition) đã ghi nhận Chinatown như một danh từ chung và định nghĩa
“the Chinese quarter of any city outside of China” (khu phố Tàu của một thành phố nào đó bên ngoài nước Tàu)
Ở Việt Nam, Chinatown từ lâu đã sớm xuất hiện.Từ thế kỷ XVII, người Trung Quốc bắt đầu di cư sang Việt Nam, được chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần cho phép vào miền Nam khai khẩn đất hoang Ngày nay, cộng đồng người Việt gốc Hoa ở Nam Bộ rất lớn mạnh, chiếm 50% tổng số người Việt
Trang 35gốc Hoa trên cả nước Sài Gòn chính là nơi cộng đồng người Việt gốc Hoa tập trung sinh sống đông nhất, đặc biệt là khu vực quận 5, quận 6 xung quanh Chợ Lớn, tạo thành một Chinatown vô cùng sầm uất
Tuy nhiên, Chinatown Chợ Lớn – Sài Gòn, Việt Nam, cũng như tất cả các Chinatown khác trên thế giới, không đơn thuần là nơi người Hoa định cư, sinh sống, mà còn là nơi văn hóa Trung Hoa và văn hóa Việt Nam, văn hóa Trung Hoa và văn hóa Pháp, văn hóa Pháp và văn hóa Việt Nam giao lưu, tiếp xúc
Như vậy, nghe tên tác phẩm của Thuận, người ta cứ ngỡ tác phẩm phải viết về phố Tàu hay câu chuyện lấy bối cảnh ở phố Tàu, nhưng không phải, Chinatown của Thuận thực chất chỉ là một “miền đất ảo” Và dù là Chinatown
ở phố Belleville gần quận Mười Ba, thủ đô Paris nước Pháp, hay Chinatown Chợ Lớn – Sài Gòn, Việt Nam, thì ngay khi bắt đầu, người đọc đã bị ám ảnh cái cảm giác vừa quen, vừa lạ, vừa mong manh, mơ hồ, vừa thân thuộc, hiện hữu Đó là nơi mà “tôi” sẽ thực hiện những chuyến đi, những cuộc hành trình tìm kiếm, sẽ thỏa thích vùng vẫy để vượt thoát khỏi chính mình, tìm lại mình
và khẳng định mình
2.2 Chinatown như một không gian “đường biên”
Chinatown là một cuốn tiểu thuyết có kết cấu truyện lồng trong truyện
Đó không chỉ là câu chuyện hành trình tìm về ký ức với với sự giằng xé nội tâm của “tôi” mà còn là cuộc chạy trốn của một người đàn ông xưng “tôi”
khác trong tiểu thuyết I’m yellow của “tôi” Hai cuộc hành trình của hai nhân
vật đã đưa độc giả tới những miền đất mới, ở cả Việt Nam, ở Pháp và cả Chinatown – Trung Hoa
Vùng tiếp xúc là những không gian, nơi diễn ra sự giao lưu, tương tác
giữa các nền văn hóa Trong quá trình khảo sát tác phẩm, chúng tôi thấy
những không gian mang tính vùng tiếp xúc có thể kể đến như không gian nhà
Trang 36ga, bến sân bay, không gian ngôi nhà, không gian giấc mơ… Đây có thể được coi là những không gian “ranh giới”, “tiếp xúc” thể hiện rõ nét nhất văn hóa bản địa, đồng thời cũng là nơi giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau Những không gian này xuất hiện một cách dày đặc, lặp đi lặp lại như để nhấn mạnh về cuộc đấu tranh nội tâm của nhân vật
2.2.1 Không gian ga tàu, sân bay
Ga tàu, sân bay là một trong những không gian xuất hiện nhiều nhất
trong chuyến hành trình tìm về ký ức của nhân vật “tôi” Có thể nói, đây là
một không gian điển hình cho các không gian vùng tiếp xúc Từ ga tàu, sân
bay, “tôi” có thể đi tới các miền đất mới, nơi khác Hà Nội, khác Việt Nam Dĩ nhiên, ở những nơi đó, “tôi” sẽ có những trải nghiệm đầy thú vị nhưng cũng
là nỗi ám ảnh suốt cuộc đời “tôi”
2.2.1.1 Điểm trung chuyển đưa “tôi” đến những vùng đất mới
Ga tàu, sân bay là một không gian điển hình, nơi người này từ nơi này
đi, người kia từ nơi khác đến và không ai lưu lại nơi này quá lâu Có thể nói,
nó là một điểm dừng chân, một trạm trung chuyển trước khi con người bắt đầu một chuyến hành trình đi tới những vùng đất mới, tiếp xúc với một nền văn hóa mới Nó tựa như một cảnh cửa, mà chỉ cần bước vào, một không gian khác sẽ được mở ra Và chính sự tồn tài của nó đã kết nối các không gian lại với nhau
Trong mọi cuộc hành trình, ga tàu, sân bay là những địa điểm cố định,
và người ta luôn nghĩ nó “cố định”, nhưng thực chất, đó lại là một vùng tiếp
xúc linh hoạt Bởi đứng ở đó, người ta sẽ luôn có những cảm giác về một
không gian mới với vô vàn điều diệu kỳ sẽ xảy ra Khi lần đầu tiên đứng ở sân bay tiễn con gái sang Leningart, bố mẹ nhân vật “tôi” đã mơ về một tương lai
tươi sáng cho “tôi” và thằng Vĩnh: “Ngoài sân bay, bố tôi cất giọng ngâm Ôi
nước Nga thiên đường của các con tôi Mẹ tôi khen Tố Hữu làm thơ vừa vần
Trang 37vừa vui… Bố mẹ tôi hy vọng nước Nga thiên đường sẽ làm tôi quên Thụy”
[62; 24] Khi lần thứ hai tiễn mẹ con “tôi” lên đường sang Pháp học cao học,
bố mẹ “tôi” một lần nữa huyễn ảo về một ba lê thiên đường: “Đến Paris chết
là cùng chứ gì Ba lê thiên đường của các con tôi Bố tôi lên giọng ngâm Bố tôi nói Tố Hữu làm thơ vẫn vui, vẫn vần Nhưng Tố Hữu đã nhầm Cuối thế kỷ hai mươi, nước Nga thành địa ngục Tư bản mới là thiên đường” [62; 31] Có
thể nói, dù chưa một lần đặt chân tới, chưa một lần thưởng thức làn gió của thiên đường ba lê Paris, những bố mẹ “tôi” đã mặc định những suy nghĩ về một thế giới khác, thế giới của sự văn minh, tiến bộ, nơi mà con gái và cháu ngoại có thể hưởng thụ một cuộc sống thiên đường, khác với căn hộ tập thể mười tám mét vuông ở phố Đê La Thành, khác với bố mười bẩy năm xếp hàng mua óc lợn về hấp, mẹ mười bẩy năm bóc kẹo mậu dịch nấu chè đỗ đen,
và hơn thế nữa, là khác nơi có Thụy và không gian những thứ tồn tại có liên quan tới Thụy
Cũng ngay tại ngưỡng cửa này, bố mẹ “tôi” đã vẽ ra một tương lai tươi
sáng về một nước Nga lý tưởng, đáng mong đợi: “Con gái học ở Nga, con rể
cũng học ở Nga, về nước cả hai làm việc ở các bộ hoặc các trường đại học Được vài ba năm, cả hai lại cùng thi nghiên cứu sinh… Tại Nga, trong khi chờ đợi bảo vệ luận án phó tiến sĩ, hai vợ chồng trẻ tranh thủ vào đảng, phó tiến sĩ kèm theo từ đảng viên mà cho lên các vi dít thì thật là lý tưởng… Nếu còn thời gian thì tại sao không cho ra đời một thằng cu cho nó biết mùi bơ mùi sữa, cho nó bập bẹ tiếng Nga, mười tám năm nữa có quay lại cũng không
bị ngơ ngơ ngáo ngáo Được vài ba năm, hai vợ chồng lại cùng thi nghiên cứu sinh cao cấp… Tại Nga, trong khi chờ đợi bảo vệ luận án tiến sĩ, hai vợ chồng nên mở rộng quan hệ với các anh em sứ quán và thương vụ cho đỡ cảnh đất khách quê người… Về nước lần thứ ba, hai vợ chồng lúc đấy vừa trạc bốn mươi, các vi dít tiến sĩ đảng viên vừa in tiếng Việt vừa in tiếng Nga
Trang 38đỏ chói Vợ trưởng bộ môn, chồng trưởng phòng nghiên cứu, hoặc ngược lại, điểm này cũng không nên câu nệ lắm Một năm vài lần vào dự tiệc sứ quán Liên Xô, bắt tay vỗ vai chuyên gia Liên Xô, quay lại Liên Xô tham gia hội nghị khoa học, gặp lại các anh em thương vụ và sứ quán ta ở Matxcơva… Đi lại gặp gỡ như thế sáu cách tiếng Nga cũng đỡ bị quên Hai vợ chồng nói với nhau, thỉnh thoảng đệm vài từ khờ-ra-sô, con cái vẫn hiểu vì bảy tuổi đã được gửi hết vào các lớp chuyên Nga của Hà Nội, bạn bè đến chơi cũng toàn dân khờ-ra-sô bằng đỏ Liên Xô đang nhăm nhe chức viện phó viện này, hiệu trưởng trường kia, roạt một cái trong túi rơi ra một xấp các vi dít đỏ chói tiến
sĩ đảng viên Đỏ chói như màu đỏ bố mẹ tôi vẫn tô hai chữ tương lai”
[62;72,73,74] Có thể nói, sân bay như một ngưỡng cửa, mà chỉ cần bước qua
nó, tất cả những gì thuộc về nơi “tôi” đã từng sinh sống sẽ khép lại, để mở ra những vùng đất mới, nơi những ước mơ về hai chữ tương lai của bố mẹ “tôi”
sẽ trở thành hiện thực
Khác với suy nghĩ của bố mẹ “tôi”, với những người bạn học cùng ở
Leningart, thì sân bay như một trạm dừng chân để họ từ bỏ mọi thứ thuộc về nước Nga thiên đường “Đặt chân tới sân bay Nội Bài là quên hết Bọn con
cái chúng nó một tháng sau cũng phải quên hết mùi bơ, mùi sữa” [62;9] Rõ
ràng, ở đây, sân bay như một điểm dừng chân để khép lại quá khứ Bước xuống sân bay là bước đến một vùng đất khác, một cuộc sống khác, không
còn bơ, sữa; không còn bắp cải nấu thịt cừu, không còn cái lạnh giá của tháng Năm nước Nga
Không gian sân bay, ga tàu không chỉ là nơi bố mẹ “tôi” thỏa sức mơ
về những thiên đường, là điểm dừng chân trước khi tới một cái đích mới của những người bạn, đó còn là trạm trung chuyển trên hành trình chạy trốn của
người đàn ông ba mươi chín tuổi, chồng của Loan trong tiểu thuyết I’m yellow
mà “tôi” đang viết, đôi khi là cuộc chạy trốn của cả “tôi” nữa Trong hành
Trang 39trình ấy, cả người đàn ông trong tiểu thuyết và cả “tôi” đều nhận ra rằng, ga
tàu không thuộc về một nơi chốn nào cụ thể, đó chỉ là trạm dừng chân, để họ
nhảy sang một chuyến khác, tới những vùng đất khác, tiếp xúc với những con người, những vùng văn hóa ở không gian những vùng đất đó
Có thể nói, nhà ga, sân bay là những không gian vùng tiếp xúc điển
hình, tiếp xúc của không gian văn hóa khác nhau, những con người mang những nét văn hóa khác nhau Đó là trạm dừng chân cần thiết để con người ổn định lại, sẵn sàng tâm thế trước khi bước vào một không gian văn hóa khác Trước khi lên máy bay bay tới thiên đường mà bố mẹ sắp đặt trước, lần nào cũng vậy, tôi đều chạy vào nhà vệ sinh công cộng như tìm một chốn riêng tư
để giải tỏa tất cả những nỗi niềm “Tôi vào nhà vệ sinh công cộng định ngồi
khóc một lúc Nhà vệ sinh công cộng sân bay Nội Bì cách đây hai mươi ba năm không khác gì nhà vệ sinh công cộng đại học Thanh Xuân Hai mươi ba con nhặng xanh ngắt làm tôi không nhỏ được giọt nước mắt nào cho nỗi nhớ Thụy.” [62; 25] “Hai mẹ con ra sân bay trời mưa tầm tã Tôi chạy vào nhà vệ sinh công cộng Nhà vệ sinh công cộng tôi đã vào ngày lên đường đi Nga Mười hai năm qua vẫn từng ấy con nhặng xanh ngắt Nhưng bây giờ tôi đã biết thế nào
là xa cách Mẹ tôi ôm thằng Vĩnh bên ngoài Tôi đứng khóc ở bên trong Tôi muốn gặp Thụy để hỏi Tôi muốn hoãn tất cả đẻ gặp Thụy [62; 30]… “Tôi lại chạy vào nhà vệ sinh công cộng Một hàng người làm tôi phải chạy ra…” [62; 31]
Như vậy, không gian sân bay ở đây tồn tại không đơn thuần như một
ranh giới giữa hai lãnh thổ, phân tách hai thế giới, mà là một bước ngoặt trong cuộc đời của các nhận vật Chính vì vậy, nó gợi nên những cảm xúc, những
hoài niệm, những suy tư, những ước vọng về một thế giới mới đầy hứa hẹn
2.2.1.2 Nơi kết nối với những vùng đất mới, con người mới
Không chỉ là điểm trung chuyển, nơi dừng chân chuẩn bị tâm thế trước lúc bước vào cánh cửa đưa con người tới những không gian mới, mà những
sân bay, những ga tàu còn là nơi kết nối con người tới những vùng đất mới,
Trang 40những con người mới Mỗi ga tàu đều mang những đực điểm riêng của một
vùng đất, một địa điểm khác nhau Điều này tạo nên một không gian tiếp xúc văn hóa giữa “tôi” và người đàn ông ba mươi chín tuổi với những vùng đất khác Đó là một thành phố Vinh với những ngôi nhà cao tầng dập dờn lúc nửa
đêm: “Tàu đến Vinh lúc nửa đêm Trong toa, người lớn dựa vào ghế, trẻ con
nằm thẳng xuống sàn Ai cũng mê mệt ngủ Thành phố Vinh dập dờn ngoài cửa sổ Tôi đã từng ở đây một tuần Một tuần không kỷ niệm Chữ kỷ niệm khiến tôi díp cả mắt Hai cái năm tầng do Liên Xô xây dựng, hai cái Twin Towers của Vinh, hình ảnh cuối cùng trước khi tôi làm một giấc dài vô tận”
[62; 137]; hay như một màu tím huyền thoại của xứ Huế: “Tàu đến ga Huế…
Mấy cô nữ sinh cũng hay mua vé lên tàu Huế… Có lần tôi đứng dưới đất dòm lên thấy cả toa tím lịm, cứ như trường Đồng Khánh mới chuyển về đây Quay sang bên cạnh chạm phải mấy chục nam sinh , sơ mi trắng, tóc chẻ ngôi, cũng đang dựa gốc cây nghe mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ” [62; 140] Nhân
vật “tôi” – người đàn ông ba mươi chín tuổi, chồng của Loan trong cuốn tiểu
thuyết I’m yellow của “tôi” với hành trình nhảy tàu của mình, hàng chục nhà
ga anh ta chỉ dừng chân trong phút chốc Những nhà ga Hàng Cỏ, Nam Định, Ninh Bình, Vinh, Đồng Hới, Nha Trang, Bình Định… chỉ là những bước dừng chân thoáng qua, trước khi anh ta thực hiện một “bước nhảy” để lên một chuyến tàu khác, đi tới một vùng đất khác
Trong không gian nhà ga, sân bay các nhân vật còn có dịp tiếp xúc với
những con người ở vùng đất họ đi qua Trong sự tiếp xúc đó, mỗi người đều lướt qua với những tâm trạng, hoàn cảnh khác nhau nhưng lại để lại trong
“tôi” những ấn tượng, tạo nên những hình dung văn hóa riêng biệt cho từng vùng đất “tôi” đi qua Trên chuyến bay sang Paris diễm lệ, “tôi” đã có dịp quen “hắn”, một Tây ba lô chính hiệu Hắn là một đại diện của nước Pháp, khác với bốn mươi chín giáo viên trong ngôi trường nhân vật “tôi” đang dạy:
rất Pháp nhưng cũng rất Việt Nam “Hắn ngồi cạnh mẹ con tôi trên máy bay