Qua quá trình học tập và tìm hiểu về nền văn hóa của dân tộc tác giả thấy được những nét đẹp truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc Mường từ đó tác giả nghiên cứu nhằm góp phần vào việc kh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
CAO THI DIỆU
TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGƯỜI MƯỜNG
Ở VIỆT NAM XƯA VÀ NAY
Chuyên ngành : Triết học
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Công Sự
HÀ NỘI – 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS TS Lê Công
Sự - Người thầy đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá
trình thực hiện luận văn
Đồng thời em gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm Khoa Triết học, Ban Giám hiệu nhà trường và các phòng ban Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để tôi hoàn thành tốt luận văn
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả Cao Thị Diệu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS TS Lê Công Sự, có kế thừa một số kết quả nghiên cứu liên quan đã được công bố Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình
Hà nội, ngàytháng năm 2017
Tác giả Cao Thị Diệu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu của luận văn 6
5 Giả thiết khoa học 6
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn 7
8 Phương pháp nghiên cứu 7
9 Cấu trúc luận văn 7
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 7
NỘI DUNG 9
Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ BỐI CẢNH XÃ HỘICỦA NGƯỜI MƯỜNG VIỆT NAM 9
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiênvà bối cảnh xã hội của người Mường Việt Nam 9
1.1.1.Điều kiện tự nhiên, không gian sinh sống người MườngViệt Nam 9
1.1.2.Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội 17
1.2.Lịch sử tồn tại và phát triển của người Mường Việt Nam 30
1.2.1.Nền văn hóa Hòa Bình và lịch sử người Mường Việt Nam thời cổ đại 30
1.2.2 Người Mường trong tiến trình lịch sử Việt Nam hiện đại 32
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở VIỆT NAM 37
2.1 Quan niệm về vũ trụ và con người 37
2.1.1.Quan niệm về vũ trụ của người Mường 38
2.1.2.Quan niệm về nguồn gốc con người 48
Trang 52.2.Quan niệm về đời sống con người 51
2.2.1.Quan niệm về sự sống và cái chết 51 2.2.2.Tín ngưỡng và tôn giáo người Mường 72 2.2.3.1 Những giá trịtrong triết lý nhân sinh của người Mường ở Việt Nam 82 2.2.3.2.Những hạn chếtrong triết lý nhân sinh của người Mường 89
2.3 Những giải pháp xây dựng nhân sinh quan tiến bộ cho người Mường Việt Nam hiện nay 92
2.3.1 Phát triển kinh tế,nâng cao đời sống vật chất cho người Mường 92 2.3.2 Nâng cao đời sống tinh thần cho người Mường 98 2.3.3.Nâng cao công tác giáo dục dân trí, thể lực cho người Mường 100
Tiểu kết chương 2 103 KẾT LUẬN 105 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC: MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ ĐỜI SỐNG NGƯỜI MƯỜNG
Trang 6Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập theo nguyên tắc đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ giữa các dân tộc và quốc tế Qúa trình hội nhập kinh tế thị trường với những ưu điểm tạo ra nhiều
cơ hội cho sự phát triển đất nước nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức không nhỏ đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trước sự mở cửa hội nhập và giao lưu văn hóa có nhiều giá trị văn hóa dân tộc, nhất là những giá trị văn hóa dân tộc thiểu số đang bị mai một, pha trộn, không còn giữ được bản sắc nguyên sơ Do đó giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là điều cấp thiết Văn hóa dân tộc Mường mà cốt lõi là nhân sinh quan là một bộ phận không thể thiếu trong bức tranh toàn cảnh của văn hóa Việt Nam, do vậy việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Mường là rất cần thiết, vừa mang tính thời sự, vừa lâu dài đảm bảo cho quá trình hội nhập nhưng không bị hòa tan Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Đảng ta chủ trương: “Phải tiếp tục cụ thể bằng hệ thống các chính sách mạnh, tạo điều
Trang 7kiện cần thiết để văn hóa các dân tộc thiểu số phát triển trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam”
Người Mường là tộc người (Ethnic) trong cộng đồng quốc gia - dân tộc (Nation) Việt Nam sống ven các thung lũng hai bờ sông Đà (Phú Thọ, Sơn
La, Ba Vì, Hòa Bình), Sông Bôi (Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình), và trung lưu sông
Mã, sông Bưởi (Thạch Thành, Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa) Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2009, số dân có khoảng 1.268.963 người Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu thì đây là một địa vực, đồng thời là một không gian văn hóa thiêng, có khả năng cấu kết con người với về kinh tế, văn hóa Sự phong phú về cảnh quan, môi trường tự nhiên đã tác động rất lớn đến đời sống của người Mường chính vì vậy đã tạo nên một đời sống văn hóa khá phong phú biểu hiện ở thế giới quan, nhân sinh quan, phong cách tư duy, lối sống, sinh hoạt, ứng xử, tình cảm, đạo đức, của con người
Bản thân tác giả luận văn là một người sinh ra và lớn lên ở vùng đất Mường tỉnh Thanh Hóa Qua quá trình học tập và tìm hiểu về nền văn hóa của dân tộc tác giả thấy được những nét đẹp truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc Mường từ đó tác giả nghiên cứu nhằm góp phần vào việc khôi phục, bảo lưu,
kế thừa những giá trị văn hóa của dân tộc mình.Với những lí do trên tôi đã
quyết định chọn vấn đề “Triết lý nhân sinh của người Mường ở Việt Nam"
làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có rất nhiều các tác giả nghiên cứu về văn hóa dân tộc Mường Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình Tôi đã tham khảo kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước đề cập đến các vấn đề nghiên cứu như sau:
Trang 8Công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc như “Văn hóa dân
gian Mường một góc nhìn” của Bùi Huy Vọng, (Nxb Khoa học xã hội, 2015)
Trong công trình này tác giả đã khái quát những quan niệm sâu sắc và phong phú của người Mường về cuộc sống, về lao động sản xuất
Bùi Thiện trong“Văn hóa dân tộc Mường”, do nhà xuất bản văn hóa ấn
hành năm 1978, đề cập đến một nét độc đáo trong lễ hội và tập tục của người
Mường Hòa Bình “Văn hóa dân gian Mường” Bùi Thiện, (Nxb Văn hóa dân
tộc, 2010, đã phân tích những nội dung cơ bản về đời sống văn hóa tinh thần của người Mường, những đặc điểm kinh tế - xã hội cũng như lịch sử tộc người, phân tích đánh giá những yếu tố cơ bản trong quá trình hình thành và phát triển văn hóa tộc người, văn hóa địa phương
Trong“Các dân tộc ít người ở Việt Nam(các tỉnh phía Bắc)”của Uỷ
ban khoa học xã hội Việt Nam, Viện dân tộc học,(Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, 1978), các tác giả đề cập đến nguồn gốc lịch sử, đặc điểm kinh tế,quan
hệ giai cấp xã hội của các dân tộc ít người ở phía Bắc Việt Nam trong đó
có dân tộc Mường
Trong tác phẩm “Tản mạn văn hóa Mường Hòa Bình”(Nxb Thông tin
và truyền thông, 2011), nhà báo Nguyễn Hải người đã nhiều năm đi thực địa ở các vùng Mường Đã viết về đời sống văn hóa xã hội người Mường ở Hòa Bình thể hiện từ ngôn ngữ, nhà ở, vật dùng, tín ngưỡng đến các tập tục sinh hoạt, những cách ứng xử thường nhật của con người với nhau và với cộng đồng
Trong bài“Góp phần tìm hiểu tỉnh Hòa Bình” Bùi Văn Kín – Mai Văn
Trí - Nguyễn Phụng, đã giới thiệu về địa lý tự nhiên nhân văn, truyền thống đoàn kết đấu tranh của dân tộc Mường, các dân tộc anh em trong tỉnh và phong trào cách mạng ở tỉnh Hòa Bình từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam
Trang 9lãnh đạo
Học giả người Pháp Pierre Grossim người đã nhiều năm sống ở Việt
Nam giai đoạn đầu thế kỷ XXvới công trình: “Tỉnh Mường Hòa Bình”, Sở
văn hóa thông tin tỉnh Hòa Bình,(Nxb Lao động, 1994) Thông qua lăng kính chủ quan của tác giả đã nghiên cứu khá toàn diện về người Mường ở Hòa Bình từ địa lý phong cảnh, con người đến lịch sử vùng đất ở Hòa Bình
Tác giả Ngô Đức Thịnh với tác phẩm“Trang phục cổ truyền các dân
tộc ở Việt Nam”,(Nxb Văn hóa, 1994), đã tiếp cận trang phục của người
Mường ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số Việt Nam có thể liệt kê một số tác phẩm như : 1) Đỗ Huy -
Trường Lưu, “Bản sắc dân tộc của văn hóa”, (Nxb.Viện văn hóa, 1990) 2) Huy Cận, “Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc”, (Nxb Chính trị Quốc gia
Hà Nội, 1994) 3) Nguyễn Từ Chi, “Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc
người”, (Nxb Văn hóa dân tộc, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2003)
4) Trần Văn Bính (chủ biên).“Văn hóa các dân tộc Tây Bắc – thực trạng và
những vấn đề đặt ra”,(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004) 5) Phan Hữu
Dật, “Góp phần nghiên cứu dân tộc học Việt Nam”, (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004) 6) Nguyễn Thị Huế, “Những xu hướng biến đổi văn hóa
các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam”, (Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội,
2011)
Toàn luận văn dựa trên các văn bản:
(1)Trong cuốn Sử thi thần thoại “Đẻ đất, đẻ nước” do Quách Giao –
Thương Diễm – Bùi Thiện sưu tầm, (Nxb Văn hóa, 1976), dài 6.000 câu thơ,
là nguồn tài liệu đáng trân trọng Cuốn sử thi thần thoại gồm cả phần tiếng Mường và tiếng Việt, lột tả khá độc đáo sử thi dân tộc Mường qua các áng
mo, giữ được cốt cách, hơi thở của dân tộc Mường, giữ được tư duy cách nói, cách nghĩ của người Mường
Trang 10Cuốn “Tế trời, đất, tiên, tổ, mại nhà xe dân tộc Mường”của Bùi Thiện,
(Nxb Văn hóa dân tộc, 2010) Đã tổng hợp về vũ trụ quan, thế giới quan người Mường từ khi mới khai thiên lập địa cho đến nay, họ tế lễ để trở về với cội nguồn
(2) Tác phẩm “Sử thi Mường” do Giáo sư Phan Đăng Nhậtchủ biên, ông
là một trong những nhà khoa học có nhiều trăn trở với văn hóa Mường, (Nxb Khoa học xã hội, 2013) Ông đã sưu tầm các loại Mo là hình thức diễn xướng phức hợp trong tang ma, tình yêu, lễ hội Thông qua đó chúng ta thấy được quan niệm sâu sắc và phong phú của người Mường về cuộc sống, lao động sản xuất
Với cuốn “Làng Mường ở Hòa Bình” của Bùi Huy Vọng, (Nxb.Văn
hóa thông tin, 2014) Là một công trình sưu tầm mô tả về khu dân cư người Mường ở Hòa Bình, giới thiệu về hình thái tổ chức, về đặc trưng văn hóa, tín ngưỡng, phong tục của làng Mường
(3) Tác giả Đinh Văn Ân với tác phẩm “Mo kể chuyện đẻ đất đẻ nước” , (Nxb Khoa học xã hội, 2011) “Sử thi dân tộc Mường”là tác phẩm văn học
dân gian mang tính sử thi phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan qua quá trình hình thành và phát triển của người Mường trước khi xã hội có sự phân chia giai cấp
Tác phẩm “Người Mường ở Hòa Bình” của Trần Từ, (1996), đi sâu
nghiên cứu mỹ thuật của người Mường qua họa tiết hoa văn trên váy và vũ trụ luận Mường qua đám tang Mường
(4).Trương Sỹ Hùng với công trình “Sử thi thần thoại Mường”, (Nxb
Văn hóa thông tin, 2014) Đã khái quát về sử thi của người Mường từ thời cổ đến nay, những giá trị nội dung của sử thi Mường
Tiếp cận vấn đề dưới góc độ dân tộc học, các tác giả cuốn “Người
Mường và văn hóa cổ người Mường Bi” do Từ Chi - Bùi Văn Sở - Bùi Văn
Nhịn sưu tầm, ( Sở văn hóa thông tin Hà Sơn Bình ấn hành, 1988) Các tác
Trang 11giả đã đề cập tới văn hóa tinh thần sinh hoạt lễ hội, lễ nghi nông nghiệp của người Mường Bi - Tân Lạc - Hòa Bình
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều đi sâu vào nghiên cứu
về người Mường dưới nhiều góc độ khác nhau từ lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng đến lịch sử di cư và địa bàn cư trú của người Mường Các tác giả, tác phẩm nói trên đã nhìn nhận vấn đề dưới góc nhìn văn hóa học, dân tộc học, khảo cổ học, xã hội học Còn tác giả luận văn tiếp cận vấn đề dưới góc
độ triết học Nói lên quan niệm của người Mường về sự hình thành con người
và đời sống con người như sự sống, cái chết, quan niệm về thế giới bên kia Mối quan hệ giữa người - trời - đất
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu bối cảnh kinh tế, xã hội, văn hóa cho sự ra đời triết lý nhân sinh của người Mường xưa và nay,Luận văn chỉ ra quan niệm nhân sinh người Mường ở các góc độ như:
- Quan niệm của người Mường về sự hình thành con người
- Đời sống con người: Sự sống, cái chết, quan niệm về thế giới bên kia
- Mối quan hệ giữa Người - Trời - Đất
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu của luận văn
4.1 Khách thể nghiên cứu của luận văn
Dân tộc Mường và đời sống văn hóa tinh thần mà trọng tâm là quan niệm về sự sống và cái chết
4.2.Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là triết lý nhân sinh trong văn hóa của người Mường ở Việt Nam xưa và nay
5 Giả thiết khoa học
Phân tích những nội dung cơ bản trong triết lý nhân sinh của người Mường qua đó nêu lên những giá trị và hạn chế của quan niệm Vào cuộc sống góp phần làm phong phú và đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Trang 126 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày về điều kiện tự nhiên - xã hội, lịch sử người Mường
- Phân tích và làm rõ quan niệm về triết lý nhân sinh, nguồn gốc vũ trụ, con người, làm rõ quan niệm nhân sinh người Mường
- Nêu lên những giá trị và hạn chế trong triết lý nhân sinh của người Mường từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn
Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài là đời sống, sinh hoạt, văn hóa của người Mường Việt Nam trong đó trọng tâm là quan niệm nhân sinh
8 Phương pháp nghiên cứu
Với các quan điểm xem xét khách quan toàn diện, lịch sử - cụ thể Luận văn đồng thời dựa trên các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành dân tộc học, dân tộc học, khảo cổ học
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn gồm có 2 chương và 5 tiết
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1 Những luận điểm cơ bản của luận văn nghiên cứu
- Làm rõ những đặc điểm cơ bản đời sống của người Mường Việt Nam,
về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội từ đó thấy được cơ sở thực tiễn hình thành triết lý nhân sinh của người Mường
- Tìm hiểu triết lý nhân sinh của người Mường ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp góp phần xây dựng nhân sinh quan tiến bộ cho người Mường trong giai đoan hiện nay
10.2 Đóng góp mới của luận văn
- Lý luận: Luận văn góp phần tìm hiểu về triết lý nhân sinh người Mường ở Việt Nam dưới góc độ Triết học Luận văn góp phần khái quát và
Trang 13phân tích khái quát một cách hệ thống những nội dung chủ yếu trong triết lý nhân sinh của người Mường hiện nay Từ đó nhấn mạnh những giá trị của tư tưởng triết lý nhân sinh với việc giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
- Thực tiễn: Kết quả của luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho sinh viên các ngành khoa học xã hội nhân văn và sinh viên chuyên ngành triết học, dân tộc học, đồng thời có thể làm tư liệu tham khảo cho những
ngươi quan tâm đến văn hóa trong cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam
Trang 14NỘI DUNG Chương 1 ĐIỀU KIỆNTỰ NHIÊN VÀ BỐI CẢNH XÃ HỘI
CỦA NGƯỜI MƯỜNG VIỆT NAM 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiênvà bối cảnh xã hội của người Mường Việt Nam
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, không gian sinh sống người MườngViệt Nam
Việt Nam có 54 Dân tộc trong đó có dân tộc Mường Theo số liệu thống kê năm 2009, dân tộc Mường có tổng số 1.268.963 người, đứng thứ 6
về số dân sau người Kinh, Tày, Thái, Hoa, Khơ me,dân tộc Mường cư trú dọc trên một dải đất dài, theo các triền núi đá vôi và gò đồi trung du, từ phía Nam tỉnh Lào Cai đến Bắc Nghệ An - Hà Tĩnh, nhưng quần cư đông đảo nhất là ở Hòa Bình, Hòa Bình được coi là cái nôi của văn hóa Mường Người Mường
cư trú tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Thanh Hóa (328.744 người), Hòa Bình (497.197 người), Phú Thọ (165.748 người), và một bộ phận sống ở thung lũng hai bờ sông Đà (Phú Thọ, Hòa Bình, Ba Vì, Sơn La), Sông Bôi (Kim Bôi tỉnh Hòa Bình) và trung lưu sông Mã, sông Bưởi (Thạch Thành, Bá Thước, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hóa)
Sử thi Đẻ đất đẻ nước kể lại rằng từ thủa xa xưa trời đất còn đang trong cảnh “bạc lạc”, “bời lời” hỗn mang chưa hình thành chính tự nhiên đã sinh
ra đất, trời đẻ ra nước lúc này chưa có con người, chưa có muôn loài, trời đất còn hoang vu, lạnh lẽo Trên mặt đất nảy sinh cây si, cây lớn nhanh chẳng bao lâu cây đã thành cây si lớn khổng lồ Vào một năm không lành cây si bị gió đánh đổ cuống từ thân, gốc si đổ mục đẻ ra chim Ây cái Ứa.Đôi chim đẻ ra một bọc trứng ở Hang Hanh Hang Hao, từ bọc trứng này đẻ ra muôn loài cây cối, cuối cùng còn một quả trứng ấp mãi và đẻ ra muôn loài, muôn vật, đẻ ra Lang Đá Cài, Lang Đá Cần, Nàng Dạ Kịt và đẻ
Trang 15ra các dân tộc khác Người Mường từ trứng thiêng đẻ ra, cư trú, làm ăn trên mảnh đất này và phát triển lan toả đi khắp nơi định cư và sinh sống
Phạm vi cư trú của người Mường rất rộng nhưng đặc trưng văn hóa của người Mường cơ bản vẫn giống nhau, tuy cũng có đặc trưng riêng của từng nơi, do sự tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa vùng miền,nhưng vẫn mang nét chung của văn hóa dân tộc Mường
* Về địa hình
Người Mường sinh sống, tập trung ở nhiều địa bàn vùng núi cao phía Tây Bắc lãnh thổ Việt Nam, là một quần thể núi đá vôihùng vĩ, địa hình hiểm trở Chia thành nhiều vùng, mỗi vùng có những thung lũng lớn nhỏ
do các Mường tự khai phá, quần cư mà thành Những thung lũng này do các núi cao, dãy đồi bát úp có ngăn cách, có thông nhau
Đặc điểm địa hình của người Mường sinh sống cơ bản là vùng trung
du, đồi núi thấp, các đồi núi xen lẫn, tạo nên các thung lũng bồn địa các vùng đồng bằng nhỏ, hẹp chằng chịt khe lạch và sông suối là yếu tố tự nhiên tác động rất lớn đến việc định hình các khu dân cư của người Mường Các khu dân cư người Mường thường tọa trên những chân đồi thấp, các mái gò đất thoai thoải, phía sau là núi Các làng Mường xây dựng cho mình những ngôi nhà sàn để ở.Các ngôi nhà sàn thường hướng ra phía trước hay xung quanh là cánh đồng, đất bãi canh tác nông nghiệp, xa hơn là có các con sông, con suối chảy qua
Bản Mường thường tọa lạc trên các mái đồi viền quanh, thung lũng như lòng bồn, lòng chảo vùng trũng nhất ở đây thường có các con sông, con suối chảy và những phù sa của dòng sông đã bồi đắp hình thành nên các cánh đồng màu mỡ để người Mường trồng trọt, canh tác Địa hình này thường không ổn định, các chân đồi có nơi thoai thoải độ dốc vừa phải song có nơi cũng có độ dốc cao trên mái đồi xuống đến chân đồi lại khá bằng phẳng, đây là địa hình
Trang 16phổ biến và đặc trưng nhất trong địa bàn cư trú của người Mường
Ngoài ra các làng, bản người Mường sinh sống trên các gò, bãi độ dốc vừa phải ở giữa thung lũng Trong những địa vực làng Mường sinh sống cũng
có nơi tiếp giáp với đồng bằng có địa thế khá bằng phẳng, có những cánh đồng xen lẫn núi đá vôi Người Mường không làm nhà, lập làng bản ở gần các con sông, con suối,mà sống ở một khoảng xa nhất định, rất ít những làng, bảnMường sinh sống ngay trên các bờ sông, bờ suối Những ngôi nhà sàn của người Mường cách các con sông khoảng chừng 200 m Người Mường chọn cho mình những khu đất làm nhà gần các con sông thường là nơi cao ráo, cao hơn mặt nước sông, suối rất nhiều Vào mùa lũ lụt nước dângcao chỉ làm ngập một số nhà sàn chứ không bao giờ ngập tràn hết các làng, bản Mường
Với cấu trúc địa hình tương đối ổn định nên người Mường định cư được lâu dài Các làng bản Mường cao hơn so với mặt nước sông vì vậy mà tránh được những thảm họa của thiên nhiên Việc người Mường lập làng, bản, làm nhà trên các mái đồi thoải, không gần các bờ sông, bờ suối đã tránh được những trận lở núi, lở đất khi mùa lũ quét về Trước đây người Mường lập làng, bản trên những địa hình để tránh các con thú giữ hay trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm người Mường chọn nơi ở là những địa thế an toàn, thuận lợi nhất để sinh hoạt
Hai bên bờ của các con sông đều có các làng, bản Mường, ven các con
Trang 17sông trong các các thung lũng nhỏ hẹp có những đồng bãi phù sa đất tươi tốt, cây cối xanh tươi, các khu dân cư trù phú, không lo thiếu nước trong sinh hoạt vàcanh tác, trồng trọt Từ xa xưa người Mường đã biết làm xe cọn nước, đắp bai, xẻ mương dẫn nước từ sông về các cánh đồng nên mùa màng của những làng bản Mường nơi đây quanh năm tươi tốt Ngoài ra sông còn cung cấp cho người Mường nguồn thức ăn hàng ngày
Sông Đà hay còn có tên gọi khác là sông Bờ, sông Đà Giang là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng Sông bắt nguồn thệ thống sông từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi nhập với sông Hồng ở Phú Thọ Sông Đà dài 910km, ở Trung Quốc sông có tên gọi là Lý Tiên Giang, do hai nhánh Bả Biên Giang và A Mặc Giang hợp thành Đoạn ở Việt Nam dài 527km, điểm đầu là biên giới Việt Nam - Trung Quốc tại huyện Mường Tè (Lai Châu) Sông chảy qua các tỉnh Tây Bắc Việt Nam như Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ Đoạn đầu sông trên lãnh thổ Việt Nam, sông Đà còn được gọi là Nậm Tè Điểm cuối là ngã ba Hồng Đà, huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ Sông có lưu lượng nước lớn, cung cấp lượng nước lớn cho sông Hồng và đổ ra cửa biển Ba Lạt
Sông Mã bắt nguồn từ phía Nam tỉnh Điện Biên chảy theo hướng Tây Bắc -Đông Nam qua huyện Sông Mã của tỉnh Sơn La, qua lãnh thổ Lào, rồi tới tỉnh Thanh Hóa Tại Thanh Hóa sông tiếp tục chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam qua các huyện phía Bắc của tỉnh nhưMường Lát, Quan Sơn, Cẩm Thủy , hội lưu với sông Chu rồi đổ ra Vịnh Bắc Bộ ở cửa Hới nằm giữa huyệnHoằng Hóa và thị xã Sầm Sơn cùng với hai cửa phụ là Lạch Trường và cửa Lèn Hệ thống sông Mã gồm dòng chính là sông Mã và hai phụ lưu lớn là sông Chu, sông Bưởi, hệ thống sông này có tổng chiều dài là 881km, nằm trong lãnh thổ Việt Nam dài 17.520 km Các phụ lưu lớn của sông Mã là sông Chu, sông Bưởi, sông Cầu Chày đều hợp lưu với sông Mã trên địa phận Thanh Hóa Ngoài ra còn có
Trang 18các phụ lưu sông nhỏ như sông Lũng, sông Sơn Trà, sông Nậm Soi,lưu vực của sông Mã rộng 28.400 km², phần ở Việt Nam rộng 17.600 km², cao trung bình
762 m, độ dốc trung bình 17,%, mật độ sông suối toàn lưu vực 0,66 km/km² Lưu lượng nước trung bình năm 52,6 m³/s
Sông Bôi được bắt nguồn từ 2 nhánh chính Nhánh tả bắt nguồn từ xã Độc Lập, huyện Kỳ Sơn ở phía Đông thành phố Hòa Bình, gồm rất nhiều dòng suối tạo thành, chảy qua các xã Độc Lập, Đú Sáng, Bình Sơn, Sơn Thủy rồi hợp lưu với nhánh Hữu Bôi tại xã Thượng Bì Nhánh hữu sông Bôi cũng bắt nguồn từ nhiều dòng suối, vùng núi Hang thuộc xã Thượng Tiến, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình Chảy qua các xã Thượng Tiến, Hợp Đồng, Vĩnh Đồng, Hạ Bì, rồi hợp lưu với nhánh tả Bôi tại xã Thượng Bì Từ xãThượng Bì sông Bôi chảy qua các huyện Kim Bôi, Lạc Thủy tỉnh Hòa Bình và làm ranh giới giữa các huyện Nho Quan, Gia Viễn tỉnh Ninh Bình, sông Bôi hợp lưu với sông Hoàng Long tại xã Đức Long huyện Nho Quan và xã Gia Phú huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình Dòng Sông chảy theo hướng phía Tây - Bắc xuôi hướng Đông – Nam,hai bên bờ sông có các bãi bồi phù sa, ở đây tập trung đông đúc các làng Mường
Sông Bưởicó hai nhánh, một nhánh bắt nguồn từ vùng núi Chu, gần suối Rút (huyện Mai Châu - tỉnh Hòa Bình), ở độ cao 450m, nhánh kia bắt nguồn từ thị trấn Mường Khến, huyện Tân Lạc tỉnh Hòa Bình Hai nhánh chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam qua địa phận huyện Tân Lạc, hợp lưu tại phía tây Nam thị trấn Vụ Bản của huyện thành một dòng trước khi hợp lưu với nhánh thứ ba bên tả ngạn cách đó 2km rồi chảy qua huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình, vượt qua phía Tây Vườn quốc gia Cúc Phương Đến gần Dốc Làotrong địa phận xã Thạch Lâm huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa, hợp lưu với một nhánh nhỏ phía hữu ngạn rồi chảy tiếp qua địa phận huyện Thạch Thành Tới địa phận các xã Thạch Định, Kim Tân, đổi hướng chảy thành Bắc
Trang 19- Nam và chảy ngoằn nghèo qua địa phận huyện Vĩnh Lộc để sau cùng đổ vào
bờ trái sông Mã, nơi giáp ranh các xã Vĩnh Thái, Vĩnh Khang của huyện Vĩnh Lộc và xã Yên Thái huyện Yên Định của tỉnh Thanh Hóa.Tổng chiều dài
130 km Diện tích lưu vực 1.790 km², độ cao trung bình 247 m, độ dốc trung bình 12,2%, mật độ sông suối 0,59 km/km²
Nhìn chung lưu vực các con sông nói trên rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, khí hậu ấm áp, nguồn nước phong phú, đất đai màu mỡ và
dễ canh tác đã cho phép những cư dân Mường sinh sống ven các con sông phát triển nông nghiệp thuận lợi
Từ thời nguyên thủy người Mường đã phát hiện và lợi dụng những thuận lợi đó để phát triển sản xuất Cùng với nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng phát triển mạnh.Chính vì dựa trên những điều kiện đó đã tạo nên cho người Mường một lối sống văn hóa phong phú
* Khí hậu
Người Mường tập trung sinh sống ở các vùng núi thuộc phía Tây Bắc chính vì vậy chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng Tây Bắc Do địa hình kết hợp với hoàn lưu khí quyển đã tạo nên khí hậu vùng Tây Bắc đa dạng, phức tạp Chính từ đặc điểm khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa của người dân sinh sống ở đây
Với vị trí xa nhất về phía Tây lãnh thổ Tây Bắc là vùng núi cao và cao nguyên đồ sộ, hiểm trở nhất Việt Nam, theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Tiếp giáp với miền Vân Nam - Trung Quốc ở phía Bắc Phía Nam giáp Lào (thuộc Phong Xa Lì và Sầm Nưa) rồi chạy cho đến tận thung lũng sông Cả
Do có vị trí trên nên vùng Tây Bắc chịu sự tác động hút gió ở rìa phía Nam của áp thấp khu vực (áp thấp Miễn Điện) đã tạo điều kiện đưa không khí nóng, ẩm từ Bengan vượt qua dãy núi Việt Lào vào gây Phơn tới vùng này sớm nhất,do đó mùa hạ ở đây đều sớm hơn các vùng phía Đông
Trang 20Vai trò của địa hình Tây Bắc có tác động rõ rệt đến khí hậu vùng này Trong sự kết hợp với hoàn lưu khí quyển dãy Hoàng Liên Sơn đồ sộ với những đỉnh cao trên 3000m điển hình là Phan Xi Phăng cao 3143m nằm theo hướng Tây Bắc - Đông Nam mà hướng gió chính lại là Đông Bắc - Tây Nam, nên nhìn chung gió thường thổi thẳng góc với địa hình và sự tương phản lớn nhất trong khí hậu diễn ra hai sườn Đông và Tây của dãy Hoàng Liên Sơn Cụ thể hơn là trong tương quan với gió mùa Đông Bắc và Tây Nam chính Hoàng Liên Sơn đóng vai trò ngăn gió Nếu tầng gió mùa đông không dày lắm, thì ít
có khả năng vượt qua khối núi có vai trò là hàng rào, khí hậu giữa phần phía Đông và phần phía Tây Bắc Bộ với những sắc thái riêng biệt
Với đặc điểm khí hậu vùng Tây Bắc đã có ảnh hưởng tới việc làm nhà, người Mường thường làm nhà theo các phía: Đông - Bắc, Đông - Nam và Tây - Nam, có rất ít làng Mường, làm nhà theo hướng Tây - Bắc Điều này là
do ảnh hưởng của khía hậu, người Mường chủ yếu sinh sống nằm trên thềm lục địa Châu Á ở phía BắcViệt Nam, các dãy núi đều có hướng xuất phát từ phía Tây - Bắc chạy xuôi hướng Đông - Nam Trừ hướng Bắc ra, các hướng khác đều đón nhiều ánh sáng mặt trời Riêng hai hướng Đông - Nam và Tây - Nam vào mùa hè đón gió Đông - Nam thổi và quay lưng lại với gió lạnh mùa đông thổi từ hướng Bắc tới Hướng Tây - Bắc đón ít ánh sáng mặt trời hơn các hướng khác, đặc biệt vào mùa Đông, có gió mùa Đông Bắc thổi về lạnh buốt nên người Mường ít khi hướng làng, bản, hướng ngôi nhà của mình về hướng đó Trước khi lập nhà mới người Mường cân nhắc lựa chọnhướng về gió, về ánh sáng mặt trời Từ thời xa xưa người Mường đã biết dựa vào khí hậu để lựa chọn những hướng phù hợp, thể hiện tư duy ứng dụng và không cứng nhắc, tự nhiên không lúc nào cũng thuận theo ý của con người mà chính con người phải tự ứng biến thuận với quy luật tự nhiên để định cư lâu dài
Mặt khác dãy Hoàng Liên Sơn chạy dài từ biên giới Việt Trung đến Vạn Yên dài 180km, rộng 30km với độ cao trên 2000 như bức bình phong
Trang 21ngăn chặn không khí cực đới tràn vào lãnh thổ cửa sườn khuất gió Không khí cực đới thâm nhập vào lãnh thổ Tây Bắc từ đồng bằng ở phía Đông theo thung lũng sông Đà
Tất cả địa hình, thủy văn khí hậu đã tác động đến lối sống, sinh hoạt, cách suy nghĩ của người Mường từ cách bố trí xây dựng hướng ngôi nhà sàn trong sinh hoạt, nhất là trong việc tang ma chôn cất người chết Các khu đống
mả chôn người chết đều được đặt ở phía Tây có thể là Tây Nam có thể là Tây Bắc so với vị trí các khu dân cư Mường Điều này thể hiện rõ quan niệm về tín ngưỡng coi trọng hướng Đông là hướng mặt trời mọc, là mường sang là mường của người sống, phía Tây là phía mặt trời lặn
Đặc điểm khí hậu của vùng Tây Bắc đã ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, phương thức sản suất và canh tác chính vì địa hình có sự khác biệt của vùng Tây Bắc đã tạo nên bản sắc riêng biệt của văn hóa Mường vùng Tây Bắc Việt Nam Trong thực tế các yếu tố mặt trời, thế đất, gió, nước là yếu tố quan trọng được người Mường cân nhắc kỹ trước khi lập làng, làm nhà Để sống hài hòa với thiên nhiên và hạn chế thấp nhất những thiệt hại do thiên nhiên gây ra,mà hàng năm vào các mùa mưa bão hầu như các làng, bản Mường rất ít
bị gió, lũ cuốn trôi, những trận lũ quét, sạt lở không gây thiệt hại lớn cho người Mường
Trong cuộc sống hiện tại với sự biến đổi khí hậu ngày càng diễn ra rõ rệt, các hiện tượng khí hậu cực đoan ngày càng trở nên khốc liệt hơn, các hiện tượng như lũ lụt, hạn hán … xảy ra ngày càng nghiêm trọng cho toàn nhân loại Điều đó thể hiện được cái nhìn của người Mường từ thủa xa xưa vẫn còn nguyên giá trị đó là lối sống hài hòa với tự nhiên Nếu tuân theo tự nhiên con người sẽ hạn chế được những thiệt hại của thiên tai và khai thác tối đa những lợi ích từ thiên nhiên Cùng với điều kiện tự nhiên thì điều kiện kinh tế, văn
hóa, xã hội đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Mường
Trang 221.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội
* Hoạt động khai thác tự nhiên: săn bắn và hái lượm
Hoạt động khai thác tự nhiên của người Mường chủ yếu là săn bắn, hái lượm Do địa bàn sinh sống nơi rừng núi, nguồn tài nguyên phong phú,núi rừng che chở, nâng đỡ đã tạo lợi thế cho hoạt động này phát triển Mặt khác là
do nền kinh tế xuất phát từ trình độ thấp, nên hoạt động khai thác tự nhiên có vai trò quan trọng trong đời sống của họ
Hiện nay nền kinh tế mở cửa, hoạt độngkhai thác tự nhiên không còn đóng vai trò chủ đạo nhưng vẫn được đồng bào Mường lưu giữ, góp phần giải quyết thực phẩm hàng ngày, đồng thời là trò vui chơi, nét sinh hoạt văn hóa nhằm bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống, dân tộc
Săn bắn trước đây là hoạt động phổ biến của đồng bào Mường và là
công việc thường trực của người đàn ông Săn bắn chủ yếu theo hình thức tập thể (phường săn), cũng có những cá nhân đi săn bắn riêng lẻ nhưng ít khi họ đi Người Mường đi săn theo hai cách là đi klem và đi hội săn
Đi klem là chỉ người đi săn thú chuyên nghiệp, thường những sợ săn chuyên nghiệp này đi một mình hoặc đi cùng hai người Người đi săn klem thường đi theo mùa, vào mùa xuân và vào cuối xuân sang hè Đi săn vào mùa xuân lúc này trời ấm, rừng nhiều sương, ẩm, cây cối đâm chồi nảy lộc, lúc thú rừng ra ăn các lá cây non Còn đi săn vào cuối xuân sang hè lúc các bầy ong rừng đã đầy bọng, mùi thơm của sáp lan tỏa, các chú gấu ra tìm những tổ ong
Đi săn hay có thể gọi là đi hội săn, hội săn được tổ chức đông người, mang theo cồng, chiêng, chó, kéo nhau vào một cánh rừng nào đó Dàn người đi thành hình vòng cung rộng, vừa đi vừa đánh cồng chiêng thúc chó cắn ầm ĩ cả khu rừng, rồi kéo dồn vòng cung lại Nếu có thú, họ sẽ thúc thú ra bãi đất trống rộng để phóng lao hoặc bắn Người Mường thường tổ chức đi săn vào dịp Mường có công việc như lễ xuống đồng hay lễ mừng cơm mới Con thú
Trang 23hôm đấy đi săn được dùng làm vật hiến tế cho lễ xuống đồng, dâng lễ cúng người lập ra mường, ra làng bản và cúng lễ cơm mới
Việc săn bắn không chỉ tìm kiếm và cung cấp thức ăn cho gia đình mà thể hiện tinh thần đoàn kết, chia sẻ trong cộng đồng, giúp con người gắn chặt với nhau hơn Săn bắt còn xuất phát từ nhu cầu của việc bảo vệ nương rẫy khỏi sự phá hại của muông thú cũng như mất mát các con vật nuôi Công việc săn bắn còn thể hiện sự tự hào và vai trò của người đàn ông trong gia đình, chỉ có người đàn ông mới có đặc quyền như vậy, hình thành cho con người một tính cách muốn làm chủ thiên nhiên và quý trọng nguồn lợi thiên nhiên
Hái lượm là hoạt động khai thác nguồn lợi tự nhiên do các Mế và con
trẻ đảm nhận Họ hái tất cả các sản phẩm của núi rừng gồm rau, củ, măng, thu hái mộc nhĩ, nấm hương, thu lượm trám, hái lượm cây làm thuốc, các loại cây lấy hạt ăn Bằng các công cụ thô sơ như lưỡi hái, dao, thậm chí bằng tay Mục đích hái lượm là cung cấp thức ăn cho gia đình, vì vậy việc hái lượm trở thành công việc hàng ngày của người phụ nữ Mường
Ở mỗi thời kỳ khác nhau việc hái lượm cũng khác nhau Trước kia kinh tế đồng bào Mường chủ yếu phụ thuộc vào núi rừng, một phần nữa họ chưa ý thức được việc phải trồng các loại cây rau, củ, quả Để phục vụ đời sống, có nhưng cũng vẫn thiếu chưa đa dạng các loại cây rau, củ, quả vì vậy rừng vẫn là nguồn cung cấp chính
Những năm gần đây việc hái lượm của người Mường không còn phát triển như trước, người Mường ít phụ thuộc vào rừng, hoạt động hái lượm chỉ còn được duy trì trong lúc rảnh rỗi, lúc giáp hạt Bởi vì chính sách phát triển kinh tế mới đã làm cho nền kinh tế của người dân Mường tăng trưởng, dân trí cao hơn trước Người Mường đã biết trồng trong vườn nhà mình nhiều loại cây, rau, củ, quả Ngày nay người Mường vào rừng hái lượm không chỉ phục
vụ cho gia đình mà những sản phẩm hái lượm còn làm hàng hóa trao đổi với
Trang 24miền xuôi Việc hái lượm thể hiện sự cần cù, tảo tần chăm lo từng bữa ăn cho các thành viên trong gia đình của người phụ nữ Mường Rừng chính là nguồn lợi cung cấp thức ăn nuôi dưỡng con người chính vì điều đó mà người Mường tin có thần rừng Người Mường thờ thần rừng, xem rừng luôn che chở cho đồng bào Hái lượm còn thể hiện một đặc trưng của người Mường Đã có ý thức bảo vệ rừng bởi vì rừng là nhà của người Mường
Cùng với việc săn bắt, hái lượm thì nghề đánh bắt cá cũng tự do Việc
đánh bắt cá được tiến hành vào cuối xuân đầu hè lúc ở thượng nguồn có mưa, nước suối lên to, người Mường rủ nhau đi đánh bắt cá Ở những nhánh sông đầu nguồn, ao, hồ, đầm và những cánh đồng ngập nước hình thành tự nhiên trong các thung lũng cho nên vào mùa mưa lượng nước mới lớn hoặc vào thời
kỳ dẫn nước vào ruộng, họ mới tiến hành đánh bắt cá
Dụng cụ đánh bắt cá chủ yếu là lưới, cần câu, đơm đó Người Mường thường đi đánh cá theo hai hình thức đó là đánh cá tập thể và cá nhân Việc đánh bắt cá tập thể trước kia do nhà Lang tổ chức Sau buổi đánh bắt cá kết thúc, người Mường tiến hành chia sản phẩm, cách phân chia cá của người Mường mang tính chất cộng đồng tương trợ lẫn nhau, người đánh được nhiều sẵn sàng chia cho người bắt được ít, thể hiện tình cảm bạn bè, làng xóm, chứ không phải là nghĩa vụ
* Sản xuất nông nghiệp: trồng trọt và chăn nuôi
Người Mường, chủ yếu trồng lúa nước và lúa nương Lúa gạo, ngô là thức ăn chính của người Mường và cũng là ngành trồng trọt chính của họ Do trình độ sản xuất thấp, nên trồng trọt cây công nghiệp được đưa vào rất muộn Nhìn chung trọt của người Mường còn lạc hậu nhiều so với người Kinh Sự khác biệt lớn nhất trong trồng lúa nước của người Mường đó là kỹ thuật thô
sơ, chủ yếu nghiệp dùng sức cày kéo của gia súc cùng với cuốc để canh tác trên triền núi, nương rẫy Sống ở khu vực ven các triền núi đồi, người Mường
Trang 25đã biết dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để có đất canh tác, tận dụng những khu đất có bề mặt tương đối bằng phẳng trong thung lũng và ở khắp mọi nơi để làm ruộng, nên mặc dù không có những cánh đồng rộng lớn như người Kinh ở đồng bằng Sông Hồng, người Mường cũng không thiếu đất canh tác Nhưng do phụ thuộc vào thiên nhiên nên năng suất rất thấp, chỉ có nương mới phát gieo trồng gặp thời tiết thuận tiện thì năng suất mới cao Những năm hạn hán kéo dài, năng suất kém, nhiều khi có làm mà không có
ăn Nguồn lương thực đem lại từ canh tác nương rẫy không đảm bảo nhu cầu cuộc sống
Phương thức sản xuất và sinh sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm cốt lõi sinh tồn đã trở thành tập quán sinh sống và tình cảm ngấm sâu trong tiềm thức của người dân Mường Ở đây, nông nghiệp vừa là điều kiện sinh tồn, nhưng cũng là ước mơ, khát vọng về sự giàu có, sung túc
và thịnh vượng của dân cư Mường Đất đai, ruộng vườn, lúa gạo hay trâu bò luôn được coi là thước đo sự giàu có, sung túc, do vậy tư tưởng “dĩ nông vi bản” đã trở thành ý thức hệ bất di bất dịch, kể cả đối với tầng lớp quan lang cũng như đối với người nông dân và các tầng lớp dân cư khác
Canh tác nương rẫy, ở khắp các vùng Mường nương rẫy chiếm diện
tích lớn hơn ruộng nước, nhưng năng suất thấp hơn so với ruộng nước Nương rẫy được chọn thường là những khu đất xốp và tốt Cách thức canh tác chủ yếu là phát, đốt, chọc tỉa Công cụ canh tác chủ yếu là dao, rựa, búa, dìu, gậy vót nhọn đầu hoặc đầu bịt sắt Người Mường canh tác theo một quy trình bắt đầu vào mùa khô, trước tiên họ chặt cây, phát cỏ, dọn sạch mặt bằng, mùa mưa đến cũng là lúc bắt đầu gieo trồng, họ dùng gậy nhọn đầu hoặc bịt đầu sắt chọc lỗ tra hạt rồi dùng chân lấp đi Các loại lúa trồng trên nương rẫy năng suất thấp so với lúa nước, dần dần cây lúa nương được thay thế bằng một số loại cây khác phù hợp với nương rẫy như ngô, khoai, sắn, đậu, lạc Những
Trang 26năm gần đây trên các nương rẫy người Mường trồng cây công nghiệp như chè, cao su, dứa mang lại lợi nhuận kinh tế hơn Các loại cây trên nương rẫy không chăm sóc phân bón hóa học mà chỉ làm cỏ, sau đó thu hoạch Hầu như các cây trên nương rẫy phần lớn phụ thuộc vào thiên nhiên, kỹ thuật canh tác còn đơn giản, nên năng suất không cao
Canh tác ruộng nước, do đặc thù địa hình nên diện tích ruộng nước ít
hơn so với nương rẫy, nhưng năng suất cao, đây là loại cây cung cấp lương thực chính Người Mường một năm tiến hành canh tác hai vụ, vụ thứ nhất được tiến hành vào sau khi đón năm mới và thu hoạch vào cuối tháng năm, vụ thứ hai bắt đầu vào tháng 6, tháng 7, gặt vào tháng 9, tháng 10
Hiểu được vai trò của nước đối với đời sống con người nên người
Mường đã sớm biết làmGuồng nước, hệ thống tưới nước thông dụng đắp đập,
đào mương Mương dẫn nước đào từ những khúc sông hoặc suối, những con đập, mương đào tới tận khu ruộng cao nhất, rồi từ đó chảy xuống các ruộng dưới bằng nhiều ống dẫn nước, những ống dẫn nước thường làm bằng ống tre, nứa ngắn, cắm xuyên qua bờ đảm bảo nước chảy nhiều hơn, giữ được nhiều nước ở ruộng hơn Nhìn vào hệ thống mương máng chứng tỏ người Mường
đã hiểu được tính chất, lợi ích của công việc dẫn nước tới ruộng Người Mường ở đây chủ yếu dùng cày, dùng bừa kèm theo sức kéo của trâu bò
Người Mường có phương pháp làm đất khác hẳn so với người kinh, người Mường chỉ cày một lần và chỉ bừa ngay sau khi cày, không có thời gian nào cho đất nghỉ ngơi, công việc cày bừa là công việc của người đàn ông
Sau những vụ mùa thu hoạch người Mường chọn những hạt thóc giống
to chắc mẩy cho vào một cái chậu to, chiếc vại tưới ngập nước khi nào nước rút cạn họ lại tưới thêm, ngâm như vậy khoảng tám ngày, thóc mọc mầm rồi vớt ra Khi hạt giống nảy mầm, bắt đầu gieo mạ bằng cách dùng cây làm cho
Trang 27bề mặt ruộng phẳng, công việc gieo mạ cả người đàn ông và đàn bà cùng làm,
họ rắc đều hạt trên bề mặt ruộng
Từ lâu trong sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường đã có câu chuyện
kể về Nàng tiên lúa chính vì vậy người Mường rất chú trọng việc xuống đồng cấy lúa Họ thường chọn những ngày tốt và thực hiện một số kiêng kỵ Để mùa màng không bị thất bát người Mường kiêng không nhóm lửa nấu bếp ở một căn nhà mới làm hoặc mới sửa lại Cây lúa là cây lương thực chính nên được chăm sóc, trước đây người Mường không dùng phân bón hóa học mà chỉ dùng phân xanh, ngày nay do đất bạc màu người Mường mới sử dụng đến phân hóa học nhưng ít
Vào tháng năm và tháng mười hàng năm người Mường lại thu hoạch Bằng cách dùng lưỡi hái, dao để gặt lúa Sau khi cắt lúa ngoài ruộng về nhà, dùng các phương pháp thủ công như chân để vò lúa, sức để đập Ngày nay, người ta đã dùng máy tuốt lúa Canh tác ruộng nước của người Mường còn quá đơn giản Các biện pháp cải tiến hầu như chưa được áp dụng rộng rãi nhưng cho đất đai màu mỡ nên đem lại năng suất thu hoạch cao
Cùng với trồng trọt chăn nuôi cũng là yếu tố quan trọng của kinh tế gia
đình Trước kia chăn nuôi chỉ dừng lại ở quy mô gia đình, chủ yếu nuôi trâu,
bò, dê, lợn, gà… Do thiên nhiên ưu đãi tạo điều kiện thuận lợi cho dân Mường chăn thả gia súc, nuôi hàng đàn trâu, bò bằng cách thả rông vào rừng, (rừng là nơi cung cấp thức ăn chính cho chúng, rừng cũng là nhà của chúng, chúng sinh nở ở đó một cách tự nhiên, họ đánh dấu bằng cách đó là buộc một cái gì đó vào cổ như buộc cái chuông, dù trâu bò của họ có đi đâu họ vẫn tìm được) Nói chung việc chăn nuôi trước đây chủ yếu theo phương pháp đơn giản và mang nặng tính chất tự nhiên, vật nuôi chủ yếu phục vụ sản xuất, giải quyết thực phẩm, ít khi trao đổi, không năng suất, thường bị thú dữ ăn thịt hoặc bị chết bệnh tật, đói rét hiệu quả chưa cao Nhưng hiện nay cùng với
Trang 28những tiến bộ khoa học kỹ thuật được đưa vào áp dụng đã đem lại nhiều thuận lợi lớn, nên nhà nào cũng vậy nuôi hàng đàn gia súc, gia cầm và áp dụng những kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến để tăng cả số lượng và chất lượng, gia súc được đưa ra làm sản phẩm chính để trao đổi, bán ở các chợ vùng Mường hoặc đưa đến các vùng khác của người Kinh, miền xuôi, ra thành thị trở thành đặc sản
Chăn nuôi, xuất hiện từ rất sớm gắn liền với đời sống người Mường Chăn nuôi không chỉ phục vụ sản xuất, cung cấp thức ăn hàng ngày, mà những năm gần đây còn làm thay đổi đời sống của người Mường vì lợi nhuận mà nó đem lại Điều kiện thiên nhiên thuận lợi nhưng do phương thức và mục đích chăn nuôi còn hạn chế, cho nên chăn nuôi chưa phải là một ngành phổ biến, kỹ thuật chăn nuôi mới được đưa vào phạm vi hẹp, sự đóng góp của ngành chăn nuôi đối với nền kinh tế người Mường rất lớn
Bên cạnh sản xuất nông nghiệp là cơ bản, thì trong xã hội truyền thống, các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng xuất hiện từ sớm,
và hỗ trợ, bổ sung cho nông nghiệp
Trong sinh hoạt của người Mường, thủ công và thương nghiệp xuất hiện rất sớm như rèn, đúc, mộc, dệt, đan nhưng chỉ tồn tại trong phạm vi hộ gia đình mà chưa phát triển thành các làng nghề hoặc phường, thể hiện tính tự cung tự cấp trong hoạt động sản xuất Người Mường rèn chủ yếu các công cụ lao động như cày, cuốc, dao, lưỡi hái và các vật dụng trong gia đình Đến nay người ta vẫn còn nhiều tranh cãi về việc người Mường là chủ nhân đúc trống đồng và các nhạc cụ cồng chiêng Dệt là một nghề truyền thống mà khi nhắc đến ta nghĩ ngay đến những chân váy, cạp váy Mường nổi tiếng Những người phụ nữ Mường gắn với việc nhuộm vải, khung cửi dệt nên những cạp váy, cặp váy, chăn, gối, váy, áo Trước đây việc dệt nên những sản phẩm chỉ dừng lại quy mô nhỏ phục vụ gia đình nhưng hiện nay những sản phẩm dệt
Trang 29được mang ra thị trường mua bán, trao đổi Cùng với dệt thì nghề chăn tằm cũng rất phổ biến Người Mường chăn tằm lấy tơ để dệt nên những chiếc váy hay những đồ dùng trong gia đình
Ngoài ra người Mường rất giỏi trong lĩnh vực nấu rượu Đã từ rất lâu rượu cần đã đi vào đời sống sinh hoạt người Mường, như một nét văn hóa đặc sắc Rượu cần được xem như là một phương tiện giao lưu, giãi bày, rượu là suy ngẫm, là sự thăng hoa, rượu không thể thiếu trong các sự kiện trọng đại Rượu cần khác hẳn với rượu của người Kinh ở chỗ về cách thức và phương pháp chưng cất rượu Khi nấu rượu cần thứ không thể thiếu đó là men, men rượu được coi như linh hồn của vò rượu Men được lấy từ lá, men được chế biến từ lá cây trên rừng mà người Mường gọi cây ấy là cây “trơ trẳng”, loại cây này mọc ở trên rừng Để nấu rượu ngon phải trải qua rất nhiều công đoạn
và cần sự tỉ mỉ, khéo léo, cẩn thận của người phụ nữ Mường Với các công đoạn như ngâm gạo, rửa trấu, đồ rượu, ủ men, cho vào vò phụ nữ Mường luôn là người nắm giữ công thức nấu rượu của gia đình Rượu cần được xem
là tinh hoa của người Mường hơn nữa còn là một nét văn hóa đặc sắc của người Mường và cảm phục hơn những bàn tay khéo léo kinh nghiệm của những người phụ nữ Mường
Về thương nghiệp, bản chất nền kinh tế của người Mường nói chung là
“tự cung tự cấp” vì hầu hết người Mường sống ở vùng thung lũng, núi cao Tuy nhiên ở mỗi địa bàn cư trú rất khó khăn cho việc trao đổi hàng hóa với thị trường bên ngoài, người dân chủ yếu trao đổi các sản vật cho nhau thông qua các phiên chợ Họ bán những sản vật khai thác tự nhiên như tre, nứa, vầu, các lọai măng, rau củ quả và sản xuất dư thừ như ngô, khoai, sắn, đậu, lạc…sản phẩm gia súc gia cầm, mua về lúa gạo và những vật dụng gia đình
Nói chung thương nghiệp của người Mường chưa thực sự phát triển, mới dừng lại ở việc trao đổi những vật dụng cần thiết, hoặc có trở thành hoàng hóa với quy mô nhỏ, chứ chưa trở thành hàng hóa lợi nhuận kinh tế
Trang 30cao Tuy vậy thương nghiệp của người Mường mang một phong cách, mà không có dân tộc nào có đó là người Mường không có thói quen làm hàng để câu khách, không có khái niệm giữa cái đem bán và cái mình dùng phải khác nhau, hàng hóa của người dân không chỉ nhằm mục đích đơn thuần, mà còn
ẩn chứa trong đó tính chân thật giữa người bán và người mua Đặc điểm nổi bật của thương nghiệp người Mường là chợ, ngoài tính chất là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa, chợ còn là một trung tâm sinh hoạt văn hóa nơi vui chơi giải trí
Do trình độ sản xuất lạc hậu nên phần lớn các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của dân cư lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên Trong triết lý về quan hệ giữa tự nhiên và con người (Thiên - địa - nhân), thì “thiên” (trời) và “địa” (đất) luôn được coi là yếu tố chi phối “nhân” (con người) Song con người lại được coi là “tinh hoa của đất”, là một bộ phận gắn bó mật thiết với tự nhiên
Vì vậy, trong nền kinh tế xã hội nông nghiệp truyền thống, các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” luôn được coi là quan trọng hàng đầu trong sản xuất
và đời sống
* Văn hóa - xã hội, Làng xã ngày xưa người Mường gọi là Quêl
Mường Thời nguyên thủy người Mường đã biết chế tác công cụ lao động, tìm
ra lửa để nấu chín thức ăn, dần dần thoát khỏi văn hóa hang động chuyển sang văn hóa làng xã, từ đó Mường Quêl không còn nữa mà thay thế vào đó là làng xóm, xã Mường Ở thời kỳ phong kiến để quản lý các Mường, các làng xóm
có chế độ nhà Lang, ngoài ra triều đình phong kiến còn áp đặt xứ Mường
Cơ cấu và tổ chức xã hội Mường cổ truyền phân hóa thành hai lớp người, thành viên của lớp người này không nhập vào lớp người kia:
Tầng lớp thống trị: bao gồm Lang Cun, Lang Đạo và Lang Nhà Lang
là những người đứng đầu, cấp trên, người cai trị thì giàu có, sang trọng, có quyền sai khiến kẻ hầu người hạ Nhà Lang đặt ra các luật lệ biếu xén, thu lụt,
Trang 31bắt vạ bất công để bóc lột dân chúng Thịt trâu, bò ở nhà, bắn được hươu, nai, hoẵng trong rừng, dải to cá lớn dưới sông phải biếu chúng một vai hay một khúc cá béo Trong nhà phải thường xuyên thay đổi nhau đi phục dịch nhà Lang, từ việc nhỏ đến việc lớn
Lang Cun là Lang đứng đầu một Mường lớn tức là tương đương với một tổng - vùng châu thổ Sông Hồng thời phong kiến, cũng có nơi Lang Cun cai quản một vùng lớn Các Lang cai quản Mường lớn như: Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng, Mường Động Lang Cun ở Mường lớn được gọi là Đại thủ quan, hay lang chủ hoặc còn gọi là Lang Chu hay Lang Trưởng Lang Chu hay Lang Trưởng là chỉ thứ bậc vòng đời của một Lang Cun Để tránh nhầm đời ông với đời cháu người ta gọi thêm con số để phân biệt thứ bậc
Lang Đạo là con trai thứ của Lang Cun, Lang Đạo còn có các tên gọi khác nhau như lang hiệp, lang quan, lang nhất, không được quyền như con cả thay cha cai quản Mường lớn Lang Đạo được giao cho cai quản Mường nhỏ, đồng nà, ít dân, dân thưa hơn Lang Đạo phụ thuộc vào Lang Cun về mặt tục
lệ cũng phải góp cho Lang Cun, khi Lang Đạo có việc gì lớn phải xin phépLang Cun Khi Lang Cun chết thì con cả thay thế, còn các con thứ nếu không có đất đai để chia cho quản Mường thì chỉ được hưởng quyền lợi là nhà Lang, không phải đi phiên, làm xâu, làm nõ như dân nhà nóc
Lang đây là con em họ hàng của nhà Lang, là con cháu các ngành thứ, không được cai quản Mường, không có đồng nà cho nhà nóc làm xâu, làm nõ Được mang tước hiệu Lang những người này không phải đi phu phen, tạp dịch, không phải đi làm ruộng xâu, ruộng nõ Con cái nhà Lang có thể lấy bình dân, không nhất thiết phải lấy người nhà Lang
Trong xã hội Mường tuy nhà Lang là cao nhất nhưng vẫn đưa ra những hình phạt đối với Lang Khi một Lang sống quá tàn bạo khắc nghiệt với dân,
Trang 32dân trong Mường không thể chịu được họ có thể nổi dậy, đuổi Lang Sau khi đuổi Lang đi Mường lại tổ chức đón Lang mới về để cai quản Mường, chứ không được đón Ậu cả hay ai khác lên thay thế Con gái nhà Lang chỉ được lấy chồng nhà Lang, không được lấy con trai nhà dân Đến tuổi lấy chồng mà không có con nhà Lang Cun thì đành phải ở vậy Đàn bà con gái nếu không
có chồng mà chửa sẽ bị phạt nặng Còn con trai nhà Lang Cun phải lấy vợ là con nhà Lang rồi mới được lấy con nhà dân làm vợ thứ, ngoài ra con trai nhà Lang Đạo thì có thể lấy vợ là con dân trước cũng được
Tầng lớp bị trị là những người bình dân gọi là Mọl (người) hay Jân
(dân) Tầng lớp này lại được phân chia thành ba tầng nhỏ:
Cao nhất là tầng các Ậugiúp các Lang quản lý đất và người: như lang
Quách Tất Thát để dễ bề cai trị một vùng rộng lớn ông ta đã trang bị bộ máy tay sai đắc lực, dưới quyền là 4 loại Ậu: Ậu Cả, Ậu Kha, Ậu Nhưng, Ậu Cai
xã đảm nhận những việc như bảo vệ trị an, trông coi ruộng đất, coi việc hầu
hạ, việc tạp dịch, thu lụt, phạt vạ, những Ậu này được hưởng một số ruộng đất
tô
Thấp hơn là tầng Nha Nọoc (nhà nóc) là dân thường trong Mường và
đứa hầu hạ trong nhà, chịu các hình thức lao dịch cho Lang
Dưới cùng là tầng các Nọoc Kloi (nhà nóc) hay còn gọi là Tựa Roong
(đứa nương) là những hộ chỉ làm nương rẫy, không có ruộng nước (không có phần ruộng được Mường, xóm chia), do vậy bị mọi người khinh rẻ, nhưng họ lại được thoát khỏi các hình thức lao dịch
Công việc quản lý ruộng đất và con người do các Lang ở từng Mường dựng lên, quản lý phỏng theo tổ chức dòng họ Mường theo nguyên tắc đề cao nam giới và quyền anh trưởng Điều khiển Mường là Lang Cun (Lang Cun trưởng), nắm trong tay một số làng xóm ở trung tâm bao gồm cả người và ruộng đất gọi là Chiêng (chiêng), ngoài phạm vi chiêng là việc của trưởng
Trang 33từng chi nhánh thứ Lang Tao (lang)
Dưới thời Pháp thuộc, chế độ xã hội của nhà Lang trên đất Mường cũng
ít nhiều thay đổi Nhiều vùng Mường có thêm nhiều châu ậu mới, đó là ậu lam Mường Chuyên đi rao các công việc của Mường, còn ở một số Mường lớn lại có thêm một số châu ậu gọi là ậu chiềng Ậu chiềng chuyên đi thu gà, lợn, tiếp khách Tây hay quan từ triều, tỉnh về
Khi thực dân Pháp đặt ách thống trị lên cả các vùng Mường, thì ở các vùng Mường lại có thêm một ậu mới gọi là ậu trảm Ậu trảm chuyên làm công việc đàn áp những người mưu phản chống lại nhà lang và chống lại quan Tây
Người Mường vốn cư trú dọc theo các triền núi, trong các thung lũng nhỏ hẹp, nên đất canh tác không nhiều Ruộng đất Mường được chia làm ba loại đó là: Ruộng lang, ruộng công, ruộng tư
Ruộng Lang (Na Lang)là ruộng của Lang Cun và Lang Đạo, chiếm tỷ
lệ khá cao trên tổng diện tích ruộng nước của Mường và từng làng xóm ngoài Mường Ruộng được chuyển lại cho đời sau theo hình thức cha truyền con nối nhưng chủ yếu là truyền cho con trai trưởng, còn con thứ chỉ được một phần hạn hữu Ruộng Lang được khai thác bằng ba hình thức lao dịch: hình thức lao dịch tập thể - Xâu mọi nhà nóc tập hợp nhau lao động trên thửa ruộng nhà Lang, dưới sự chủ trì của Ậu anh; hình thức lao dịch do từng hộ nhà nóc - no (nõ) thực hiện trên những mảnh ruộng lang vốn được phân cho mấy nóc; hình thức thứ ba, người thực hiện là Con Hâu (con hầu) đầy tớ trong nhà của Lang
và đại diện cho các nhà nóc thay phiên nhau phục dịch tại nhà Lang Phiên (phiên) Tuy là ba hình thức lao dịch nhưng lúa gặt được trên cả ba phần ruộng, đều trăm phần trăm về tay nhà lang, những người trực tiếp lao động trên ruộng lang thì không được hưởng
Ruộng dân(Na Jân), Na Côông (ruộng công) ruộng dành cho hai tầng
lớp trên của tầng lớp thứ hai là Ậu Eng (ậu anh) và Nha nọoc (nhà nóc) là
Trang 34phần ruộng đất chia theo khẩu phần hộ bình dân, hộ được chia ruộng được hưởng toàn phần kết quả lao động trên ruộng của họ, loại ruộng này cũng truyền lại cho con trai cả, dưới sự kiểm soát của nhà Lang và bộ máy dưới quyền nhà Lang - Ậu anh Ở đây không có tập tục chia lại ruộng như người miền xuôi, không ai kể cả nhà Lang cũng không có quyền lấy một mảnh ruộng thuộc khẩu phần này sang khẩu phần khác Tính công hữu của ruộng công hay ruộng dân trên đất Mường cũng bị hạn chế bởi tập tục truyền khẩu
từ cha đến người con trai trưởng; mặt khác nhà Lang được phép lấy lại khẩu phần của một hộ trao cho hộ khác khi chủ hộ mất đi mà không có con trai nối dõi gọi là Thu Luyck (thu lụt); do ruộng dân và công phân hóa thành hai loại nhỏ, Na Ậu (ruộng ậu) là loại ruộng tốt hơn và khẩu phần nhiều hơn dành cho các họ Ậu anh và Na Ậu dành cho các hộ nhà nóc; ngoài ra hình phạt đối với một số người phạm trọng tội cũng bị tịch thu ruộng
Ruộng Tư (Nà Rườm)đó là những ruộng ở hẻm núi, chân đá, bìa rừng
xa nhà, không thuận nước, do những người lao động tự khai đất hoang, cải tạo thành ruộng Diện tích đất nhỏ lẻ, đất xấu, khó canh tác, năng suất kém
Dưới chế độ lang, đạo, ruộng đất của người Mường bị phân chia thành nhiều loại nhỏ lẻ có phần manh mún Người Mường vốn cư trú dọc các triền núi, trong các thung lũng nhỏ hẹp, phương thức canh tác còn nhiều lạc hậu, chính vì vậy điều kiện kinh tế sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất chủ yếu là tự cung tự cấp Điều kiện tự nhiên và bối cảnh xã hội của người Mường đã ảnh hưởng đến lối sống, cách suy nghĩ của đồng bào Mường Người Mường luôn gắn chặt với giới tự nhiên mà cụ thể là với cây, cỏ, thời tiết, đất đai, khí hậu … Chính thiên nhiên là nơi cung cấp thức
ăn, che chở Đứng trước muôn vàn hiện tượng tự nhiên, vũ trụ bao la người Mường cũng như các dân tộc khác không thể giải thích thế giới bằng tư duy khoa học Trong tâm thức của họ thế giới này thuộc về các thần linh
Trang 35cai quản, bởi vậy sùng bái tự nhiên, quan niệm vạn vật có linh hồn Đứng trước các hiện tượng tự nhiên người Mường rất yêu quý, tôn trọng tự nhiên nhưng cũng lo lắng, sợ hãi tự nhiên Điều này thể hiện rõ qua sự sùng bái
tự nhiên như tục thờ cây si, thờ một vực sông, ngọn núi cao… tất cả đều là thần
Người Mường quan niệm mọi vật trong thiên nhiên có phần hồn nên cần thờ cúng, bảo vệ như cây lúa, cây ngô, con trâu Người Mường còn có tục lệ là thờ thần rừng, thần sông, thần núi thể hiện một triết lý đa thần của
cư dân nông nghiệp Theo người Mường rừng là nguồn thức ăn, là nơi có đất và giữ nước, đất và nước là cội nguồn gốc rễ của sự sống, con người gắn chặt hòa quyện vào tự nhiên cần tôn trọng tự nhiên Trong đời sống tâm linh của người Mường luôn tồn tại những câu chuyện huyền bí, những huyền tích cổ xưa kể về sự linh thiêng của rừng, rừng được coi là mái nhà trong rừng luôn có thần rừng cai quản và che chở phù hộ cho dân làng trong cuộc sống hàng ngày Tín ngưỡng thờ thần rừng của người Mường được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nó như một sợi dây tâm linh Để cầu mong cho một năm mưa thuận gió hòa, cây cối tốt tươi, mùa màng bội thu, con cháu khỏe mạnh, cuộc sống ấm no, yên vui hàng năm đồng bào Mường vẫn mở ra lễ hội cúng thần rừng
Điều kiện tự nhiên và bối cảnh kinh tế xã hội đã có sự tác động tích cực đến đời sống tinh thần của người Mường, tạo nên một đời sống tinh thần phong phú được thể hiện trong sinh hoạt cũng như trong các phong tục
tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo
1.2 Lịch sử tồn tại và phát triển của người Mường Việt Nam
1.2.1 Nền văn hóa Hòa Bình và lịch sử người Mường Việt Nam thời
cổ đại
Đẻ đất đẻ nước là sử thi thần thoại phản ánh nhiều phương diện đời
Trang 36sống người Mường từ thủa khai thiên lập địa đến khi hình thành tộc người
(ethnic), lập đô “Đồng chì tam quan kẻ chợ”, có một lãnh thổ gồm 1919 bản
trải rộng trên địa bàn thuộc các tỉnh Phú Thọ, Sơn La, Hà Tây, Hòa Bình, Thanh Hóa
Sử thi thần thoạiĐẻ đất đẻ nướcđã nói lên vũ trụ dường như đã hoàn
thành, cósự xuất hiện của con người, sau đó có đất, có nước, có chu chương Mường nước, có nhà có cửa nhưng làm thế nào để giữ chu chương thì ở Mường nước xuất hiện việc bầu thủ lĩnh, người đứng đầu gắn kết các cá nhân Thủ lĩnh ở đây chính là Dịt Dàng được bầu chọn, cuộc sống khi đó đã bắt đầu hình thành xã hội có tổ chức, có giai cấp, các thị tộc cần có người đứng đầu cai quản mọi công việc và phân xử khi có tranh chấp
Dựa vào cuốn Người Mường ở Hòa Bình[ xem 44], các nhà khoa học
đã phân tích và thấy rằng người Mường cũng trải qua thời kỳ Nguyên thủy hay là thời kỳ Tiền sử và trải dài đến thời Sơ sử Bằng những hiện vật làm bằng đá như hình đĩa, hình hạnh nhân, rìu ngắn, rìu tam giác, rìu tứ diện, nạo mũi nhọn, hòn ghè, chày và mũi nhọn bằng xương.Trong hang còn có mộ cổ
và ít răng của con người, cùng với các di chỉ như hươu, nai, trâu, bò Trên vách hang có khắc hình một con thú và ba đầu người Ở thời kỳ này đã xuất hiện Totem giáo, hiện tượng con người tôn sùng các con vật trong tự nhiên Đây là giai đoạn quan trọng trong lịch sử con người chuyển từ thời kỳ mông muội ở trong hang đá, sống bằng hái lượm và săn bắt sang trồng trọt và canh tác nông nghiệp Con người đã chuyển từ hang động ra các gò đồi, chân núi thấp gần sông suối để cư trú và sinh sống Đây là giai đoạn con người đang thoát khỏi đời sống nguyên thủy, phải chống chọi nhiều nhất với thú dữ và thiên nhiên khắc nghiệt để sinh tồn Người Mường trước kia sinh sống chủ yếu bằng bầy đàn sau chuyển sang lối sống tập trung cộng đồng Người Mường ở thời kỳ này đã biết vai trò của các thú rừng, đã đoàn kết chống lại
Trang 37sức mạnh của các thú dữ Ngoài săn bắt thú dữ để làm thức ăn, người Mường
ở thời kỳ này còn thuần hóa, chúng làm vật nuôi Sự tôn sùng sức mạnh và vẻ đẹp hoang dã của các loài thú tự nhiên bắt đầu chuyển con người sang thời kỳ mới
Thời kỳ Văn hóa Hòa Bình, ở thời kỳ này có sự xuất hiện của trống đồng, người Mường đã biết đúc trống đồng và trên các trống đồng được trang
trí nghệ thuật đặc sắc Chính từ trên quê hương của xứ sở sử thi thần thoại Đẻ
đất đẻ nước với nền văn hóa nổi tiếng là do đặc điểm điều kiện tự nhiên, đã
gây nhiều khó khăn cho người Mường Song từ đó không làm nản chí của người Mường mà họ đã luôn thành công trong đấu tranh, người Mường luôn xây dựng, phát triển không ngừng về mọi mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa -
xã hội Trong thời gian lịch sử đất nước Việt Nam anh hùng người Mường đã luôn luôn sát cánh cùng các dân tộc anh em đấu tranh bảo vệ,giữ gìn độc lập thống nhất
1.2.2 Người Mường trong tiến trình lịch sử Việt Nam hiện đại
Trước cách mạng tháng 8 - 1945 trong xã hội Mường tồn tại chế độ Lang đạo với chính sách bóc lột nặng nề, dã ma, tàn bạo Đại diện cho tầng lớp thống trị là quan lang, đại diện cho giai cấp bị trị là người dân bị đối xử như nô lệ Các Quan lang gồm có Lang cun, Lang đạo Lang cun thuộc dòng tộc trưởng, là người đứng đầu một dòng họ và nắm quyền cai trị một vùng Lang đạo thuộc ngành thứ, được Lang cun chia quyền cai trị một khu vực nhỏ hơn và phụ thuộc vào Lang cun Chức Lang được duy trì theo chế độ cha truyền con nối Nhìn chung về bản chất xã hội nhà Lang trươc năm 1945 là một xã hội lạc hậu, bất công, với chính sách bóc lột nặng nề theo kiểu chúa đất đối với nông nô thời trung cổ
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, khi chính quyền nhân dân còn non
Trang 38trẻ, giặc Pháp đã tiến hành cuộc chiến tranh hòng áp đặt trở lại chế độ thực dân của chúng
Những năm 1948 – 1950 cùng với việc lập xứ Thái tự trị, Pháp dựng Đèo Văn Long lên làm vua, thực dân Pháp lúc bấy giờ thành lập nên xứ Mường tự trị giả hiệu Đây là một cách chia để trị của thực dân
Năm 1886 thực dân Pháp lập ra tỉnh Mường, chính thức đặt ách thống trị của thực dân đối với nhân dân Việt Nam trong đó có người Mường Ngày 23/6/1962 toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập “Hội Đồng Quan Lang” gồm có 12 thành viên Quan lang là cấp hành chính đầu tiên đặt trên đất Mường, cũng là bộ máy tay sai đầu tiên giúp thực dân Pháp cai trị dân tộc Mường Ở cấp châu tổng, xã thực dân Pháp bổ nhiệm các Lang cun, Lang đạo làm chánh phótri châu, chánh phó tổng, lý phó trưởng
Thực dân Pháp dùng nhiều thủ đoạn để cai trị dân tộc Mường.Về mặt chính trị, áp dụng triệt để chính sách chia rẽ dân tộc trong nội bộ các dân tộc ở Việt Nam trong đó có dân tộc Mường, dùng thủ đoạn “dùng thủ lang trị thủ dân” Về mặt văn hóa, chúng triệt để thi hành chính sách ngu dân, lập ra một
số trường học dành cho con cháu nhà Lang, nhà tổng lý kì hào đến học, nó cấm dân không được đi học chữ, không được nuôi thầy dạy chữ trong nhà
Về kinh tế, thực dân Pháp, phong kiến Lang đạo thi hành các chính sách thuế như thuế điền “thuế đầu mẫu”, thu thuế thổ, thu thuế thân đối với tất
cả nam giới từ 18 tuổi trở lên đây gọi là thuế đinh Với chế độ thuế khóa nặng
nề đã xô đấy người dân Mường vào con đường tối tăm, lạc hậu
Dưới sự áp bức bóc lột nặng nề của thực dân Pháp, phong kiến Lang đạo, dân tộc Mường cùng với các dân tộc khác đoàn kết đấu tranh giành chính quyền, làm chủ quê hương mình
Trải qua các cuộc chống giặc ngoại xâm, chống chế độ phong kiến Lang đạo và cải tạo tự nhiên, người Mường đã tạo dựng nên một truyền thống
Trang 39tốt đẹp, lòng yêu nước, dũng cảm đấu tranh, cần cù lao động, trung thực, nhân hậu và có tinh thần đoàn kết chặt chẽ với các dân tộc khác Cho đến ngày nay yêu nước, đoàn kết, đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của người Mường
Trong giai đoạn hiện nay, cộng đồng người Mường vừa xây dựng, vừa phát triển kinh tế, tham gia xây dựng và bảo vệ đất nước Phát huy tiềm năng
và thế mạnh của dân tộc đã định hướng phát triển nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa bên cạnh đó họ còn đẩy mạnh chăn nuôi và bước đầu đã đạt được những kết quả tốt
Nguồn tài nguyên rừng dồi dào và phong phú chính là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển lâm nghiệp Bên cạnh công tác trồng rừng, người Mường còn tích cực đẩy mạnh công tác bảo vệ rừng, bảo vệ điều kiện sinh tồn cho các loại động vật, việc triển khai dự án xóa đói giảm nghèo 135 đã giúp người giảm được đói nghèo từ đó người Mường có điều kiện tham gia mọi sinh hoạt văn hóa cộng đồng làng bản
Sự phát triển của ngành công nghiệp cũng ngày càng phát triển, công nghiệp chế biến đã có những bước tiến đáng kể, các sản phẩm nông nghiệp như lúa, ngô, khoai, chè được chế biến - xay xát tại địa bàn Các ngành tiểu thủ công nghiệp cũng vươn lên đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của địa phương, từng bước khôi phục nghề dệt thổ cẩm, đan lát đồng thời du nhập các nghề mới Về mặt kinh tế nhân dân vùng Mường được thiên nhiên ưu đãi, nhân dân sẵn có truyền thống cần cù, sáng tạo, đã tạo lập được cuộc sống phong phú, tươi đẹp trên chính mảnh đất quê hương mình
Nhận thức được tầm quan trọng của giao thông trong vấn đề phát triển kinh tế và các ngành dịch vụ khác Các khối ban ngành lãnh đạo đã chỉ đạo xây dựng một hệ thống đường giao thông liên tỉnh, liên huyện và cấp xã, các tuyến đường giao thông đã khác hẳn trước kia rất nhiều tạo điều kiện cho bà con đi lại Về các nghành dịch vụ phát triển tương đối như các hàng tiêu dùng,
Trang 40hệ thống các chợ nông thôn
Tiểu kết chương 1
Người Mường có nguồn gốc từ người Việt - Mường cổ, là một tộc người vốn sinh sống ở miền núi cao, ven các lưu vực sông lớn, sản xuất chủ yếu là canh tác nương rẫy và trồng lúa nước, phương thức sản xuất còn nhiều yếu kém vì vậy cuộc sống của người Mường phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và sự ban tặng của thiên nhiên Chính từ điều kiện tự nhiên bối cảnh sinh sống của người Mường đã tạo dựng một nền văn hóa phong phú, giàu bản sắc dân tộc thể hiện đậm nét lối sống của họ qua những nghi thức tín ngưỡng sinh hoạt cộng đồng Điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt đã tạo dựng nên phẩm chất của người Mường là một dân tộc yêu tự do, độc lập, tâm hồn phóng khoáng, yêu lao động, cần cù, nhẫn nại trong đấu tranh với thiên nhiên
Qua đây, cho ta thấy một số đặc điểm nổi bật của người Mường và văn hóa của họ:
- Nền kinh tế của người Mường chủ yếu là tự cung tự cấp chưa mở rộng ra thành mô hình kinh tế, chưa có sự xuất hiện trao đổi hàng hóa nhiều Cây lương thực chính là ngô, lúa, khoai, sắn Chăn nuôi trâu, bò, gia súc, gia cầm theo hình thức nhỏ lẻ chỉ để làm thực phẩm cung cấp thức ăn cho gia đình, rất ít bán Cây hoa màu chủ yếu khoai, dong riềng, rau có năng suất cao nhưng giá trị kinh tế lại thấp Các cây ăn quả, cây dược liệu có thể đem lại lợi ích cao nhưng do chưa được đầu tư thích đáng nên chưa có vai trò lớn trong cuộc sống Nền kinh tế của người Mường đang còn khép kín, điều kiện phương thức canh tác còn lạc hậu chưa tiếp cận được với nền khoa học kỹ thuật hiện đại Vì vậy, đời sống người Mường còn đạm bạc và chất lượng chưa cao
- Người Mường có bề dày truyền thống về lịch sử văn hóa từ thời cổ đại cho đến thời kỳ cận, hiện đại Với truyền thống vẻ vang đó đã mở ra một