Ông đòi hỏi học trò phải biết rèn luyện, say mê, ham hiểu biết, tự mình tìm tòi, suy nghĩ để tiếp nhận kiến thức một cách chủ động, sáng tạo.[13;113] Trong cuốn "Khoa sư phạm tích hợp h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN MINH CHÁNH
TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858 -1918)
Ở LỚP 11, TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN MINH CHÁNH
TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858 -1918)
Ở LỚP 11, TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Kiều Thế Hưng
HÀ NỘI 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình và đầy trách nhiệm của PGS.TS Kiều Thế Hưng đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các thầy cô trong tổ bộ môn Lý luận
và Phương pháp dạy học lịch sử, Phòng tư liệu Khoa Lịch sử, Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội và trường Đại học Trà Vinh đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Cảm ơn tập thể giáo viên và học sinh trường THPT Hồ Thị Nhâm, Nguyễn Văn Hai, Bùi Hữu Nghĩa… đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thực nghiệm sư phạm và điều tra thực tế
Cảm ơn bạn bè, người thân đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 25 tháng 06 năm 2017
Học viên
Nguyễn Minh Chánh
Trang 4i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GV
HS NXB SGK THPT PPDH
Giáo viên Học sinh Nhà xuất bản Sách giáo khoa Trung học phổ thông Phương pháp dạy học
Trang 5ii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔ CHỨC DẠY HỌC LỊCH SỬ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT - LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ……… 6
1.1 Cơ sở lý luận ……… 6
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài ……… 6
1.1.2 Chủ trương đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực ……… 10
1.1.3 Ý nghĩa của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông ……… 11
1.2 Cơ sở thực tiễn ………. 12
1.3 Nội dung cơ bản của phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ……… 15
Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG TỔ CHỨC DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1918 Ở TRƯỜNG THPT ……… 17
2.1.Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến 1918 ở trường THPT 17
2.1.1 Vị trí ……… 17
2.1.2 Mục tiêu … 17
2.1.3 Nội dung cơ bản chương trình Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến 1918 ở trường THPT ………. 20
2.2 Một số biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918 ở trường THPT… 21 2.2.1 Phát triển năng lực học sinh trong dạy học truyền thống ……. 21
2.2.1.1 Dạy học nội khoá……… 21
2.2.1.2 Dạy học ngoại khoá……… 25
2.2.2 Phát triển năng lực học sinh trong một số phương pháp dạy học tích cực ……… 36
2.2.3.1 Dạy học nhóm ……… 36
2.2.3.2 Dạy học theo dự án……… 39
2.2.3.3 Dạy học trải nghiệm ……… 43
2.2.3.4 Dạy học theo phương pháp đóng vai ……… 47
2.3.Thực nghiệm sư phạm ……… 49
Trang 62.3.1.Mục đích thực nghiệm ……… 49
2.3.2 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm ……… 49
2.3.3 Nội dung thực nghiệm ……… 49
2.3.4 Kết quả thực nghiệm ……… 51
KẾT LUẬN 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC 58
iii
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, Đảng
và Nhà nước ta luôn coi trọng giáo dục là quốc sách hàng đầu Nghị quyết Hội nghị TW8, khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác
định: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học"; "Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời".[trích Nghị quyết số 29-NQ/TW]
Đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ chung của các ngành, các cấp, trong đó ngành giáo dục và đào tạo có vị trí đặc biệt quan trọng, với tư cách
đó là nơi trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện Tính căn bản và toàn diện còn thể hiện tính đồng bộ của hoạt động đổi mới Đó là quá trình đổi mới từ chương trình đến nội dung dạy học, từ sách giáo khoa đến phương pháp và phương tiện dạy học… Trong tính hệ thống và đồng bộ của hoạt động đổi mới mang tính cách mạng này, vấn đề đổi mới nội dung và phương pháp dạy học luôn là một trong những ưu tiên trọng tâm Bởi không đổi mới nội dung và phương pháp, thì dù mục tiêu có tốt đến mấy, hoạt động đổi mới cũng khó có thể thành công
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh được coi là một trong những nhân tố hạt nhân của hoạt động đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay Đó
là quá trình chuyển biến từ dạy học theo hướng tiếp cận nội dung sang dạy học theo hướng tiếp cận năng lực, là tiếp tục thực hiện tư tưởng “học đi đôi với hành” trong điều kiện và hoàn cảnh mới, là sự khắc phục những hạn chế của tư tưởng kinh viện và hàn lâm đã tồn tại quá lâu trong dạy học
Dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực không chỉ là đổi mới, mà đó thực sự là một cuộc cách mạng trong dạy học Chỉ có điều chúng ta phải tiến hành cuộc cách mạng đó như thế nào mà thôi Ở trường phổ thông, mỗi môn học đều cần và có thể thực hiện mục tiêu dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực Trong thời gian qua vấn đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực đã được quan tâm khá nhiều cả trong nghiên cứu lý luận cũng như trong triển khai thực tế Vấn
đề đặt ra hiện nay là việc triển khai dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực trong từng môn học cụ thể như thế nào? Hay nói cách khác, việc vận dụng những quan điểm lý luận chung vào dạy học của từng môn học sẽ như thế nào? Ví như, lịch sử là môn học bên cạnh cái chung lại có cái đặc trưng riêng của nó Ưu thế của môn lịch sử trong giáo dục thế hệ trẻ là ưu thế của của giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, hình thành nhân cách và nâng cao giá trị nhân văn của con người Điều này tác động như thế nào đến nhiệm vụ dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực?
Trang 8Hiện nay việc dạy và học Lịch sử ở trường phổ thông đã đạt được những tiến bộ trong việc phát huy tính tích cực của người học, tuy nhiên phần lớn là dạy học theo phương pháp dạy học truyền thống, nặng về truyền thụ kiến thức, xa rời thực tiễn, từ đó dẫn đến tình trạng học sinh không thích học môn Lịch sử, thậm chí nhiều học sinh không đọc hay tìm hiểu nội dung bài học trong sách, việc học chỉ là nhằm chống đối, học để trả bài cho qua chứ không vì mục đích yêu thích hay trau dồi kiến thức Vì vậy đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho người học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đổi mới giáo dục nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng
Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến 1918 là một giai đoạn có nhiều chuyển biến quan trọng trong lịch sử dân tộc Xét về mặt nhận thức, học sinh phải tiếp cận nhiều khái niệm mới và đòi hỏi năng lực tư duy chiều sâu Tổ chức dạy học để học sinh nhận thức được quá trình lịch sử quan trọng này vừa sinh động, hấp dẫn, vừa khai thác và phát triển tối ưu năng lực học tập của học sinh, là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự cố gắng và sáng tạo không không mệt mỏi của người giáo viên
Xuất phát từ những lí do trên và với mong muốn góp một phần nhỏ để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử ở trường THPT, chúng tôi đã chọn
vấn đề “ Tổ chức dạy học phần lịch sử Việt Nam (1858 - 1918) ở lớp 11,trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh ” làm đề tài
luận văn nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề dạy học và dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh
đã được các nhà giáo dục học, giáo dục lịch sử trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở các góc độ khác nhau Tiếp cận các công trình nghiên cứu của họ là
cơ sở để chúng tôi giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra
2.1 Tài liệu nước ngoài
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực có nguồn gốc sâu xa từ dạy học
tích cực Ngay từ thời cổ đại, nhà triết học Hi Lạp Sôcrat (470 – 399 TCN), đã đưa ra
phương pháp dạy học gọi là “đỡ đẻ” nhằm phát huy tinh thần tích cực tư duy của học
sinhtrong dạy học [31; 6] Khổng Tử (551 - 479), nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung
Quốc thời cổ đại đã chú ý kích thích suy nghĩ của học sinh Ông đòi hỏi học trò phải biết rèn luyện, say mê, ham hiểu biết, tự mình tìm tòi, suy nghĩ để tiếp nhận kiến thức một cách chủ động, sáng tạo.[13;113]
Trong cuốn "Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng
lực ở nhà trường", Xavier Rogiers đã đưa ra những khái niệm về năng lực, cấu
tạo của năng lực và khẳng định "nhà trường phải tiếp tục là một cơ sở bảo đảm cho những giá trị quan trọng của xã hội nhưng chủ yếu là ngoài khía cạnh kiến thức đơn thuần, nhà trường trước hết phải tập trung cố gắng dạy cho học sinh sử dụng kiến thức của mình vào những tình huống có ý nghĩa đối với học sinh; tóm lại, chúng ta nói rằng nhà trường cần phát triển những năng lực ở học sinh" [35;11]
Trong công trình nghiên cứu "Hình thành các kĩ năng và kĩ xảo sư phạm cho sinh viên trong điều kiện nền giáo dục đại học", xuất bản năm 1976,
Trang 9kĩ năng cần thiết để thiết kế bài giảng nhằm phát triển năng lực cho người học [36;13]
M.B Kôrôkôva Stuđennhikin (1999) trong cuốn Phương pháp dạy học Lịch
sử qua sơ đồ, bảng biểu và hình vẽ định hướng đến các năng lực của học sinh dựa
trên các mục tiêu dạy học: năng lực tái hiện và tái tạo lại các biểu tượng lịch sử; năng lực phân tích, xử lí các nguồn thông tin; năng lực tư duy logic, tư duy niên đại với các nguồn tư liệu lịch sử; năng lực sơ đồ hóa; năng lực đánh giá sự kiện, hiện tượng lịch sử [6;16]
Nhà giáo dục Edgar Morin đã cho rằng "Đào tạo những con người đủ năng lực tổ chức các tri thức chứ không phải tích lũy các hiểu biết theo kiểu chất đầy kho; giáo dục về hoàn cảnh con người, làm cho mỗi người có ý thức sâu sắc thế nào là một con người; học cách sống, chuẩn bị cho thế hệ trẻ đối mặt với những khó khăn, bất trắc và những vấn đề tồn tại con người, xây dựng lại trường học
và tư cách công dân, giúp thanh niên có năng lực đối thoại khoan dung trong một thế giới đa dạng" giáo dục cho HS phải học như thế nào để phát huy được các năng
lực bản thân [36;13-14]
2.2 Tài liệu trong nước
Trong các giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” xuất bản năm 1976,
1980, 1992 NXB Giáo dục (Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị chủ biên) đều đề cập vấn đề “nhận thức lịch sử không chỉ biết mà phải hiểu để rút ra bài học kinh nghiệm cho hoạt động thực tiển” “Việc phát triển năng lực nhận thức và hành động cho học sinh trong quá trình học tập lịch sử không chỉ làm cho học sinh hiểu biết sâu sắc hơn, mà còn luyện tập cho các em trở thành người có tư duy độc lập, chủ động tích cực trong suy nghĩ và hành động” [21; 96]
Trong cuốn "Lịch sử giáo dục học thế giới" của hai tác giả Hà Nhật Thăng
- Đào Thanh Tâm có viết: "J.J Ruxo - nhà giáo dục người Pháp cũng đề cao cá tính
và năng lực độc lập của học sinh trong quá trình dạy học Ông phê phán gay gắt lối học chỉ nhằm vào thi cử, phản đối việc thi cử chỉ nhằm mục đích kiểm tra trí nhớ của người học về những điều họ đã ghi được theo lời thầy giảng trên lớp, trên
cơ sở đó định hướng cho người học phương pháp đánh giá vào năng lực của học sinh" [33;106]
Trong cuốn "Lí luận dạy học hiện đại" của trường Đại học Sư phạm Hà Nội
và trường Đại học Postdam - Đức phối hợp xuất bản năm 2009 có đề cập đến dạy
học theo hướng phát triển năng lực [4; 65]
Tác giả Nguyễn Hữu Chí trong bài viết "Những đặc trưng cơ bản của chương trình hiện đại" đăng trên tạp chí phát triển giáo dục số 4/2004 có nói cần
phải chuyển từ cách dạy tập trung vào kiến thức sang tập trung vào năng lực Ông
cho rằng "Hiện tượng quá tải về kiến thức, giảng dạy theo lối truyền thụ một chiều hạn chế tính năng động, tự chủ sáng tạo của người học, kiến thức về lý thuyết, chú trọng tính hàn lâm, không đáp ứng nhu cầu, các tình huống sống và làm việc của người học" Từ đó, tác giả cho rằng "thay vì quá chú trọng truyền thụ kiến thức, cần quan tâm đặc biệt đến phát triển năng lực của người học, tạo cho người học
có khả năng tự chiếm lĩnh tri thức, có thể tự phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống”.[12;23-24]
Trang 10Trên báo Giáo dục và Thời đại tác giả Nguyễn Minh Đức với bài viết "Xu hướng đánh giá : Dựa trên năng lực học sinh" đã đề cập đến khái niệm năng lực
Bài viết "Năng lực xã hội học tập'' của tác giả Vũ Tuấn Anh đăng trên báo
Giáo dục Việt Nam có liệt kê ra 5 năng lực cần phát triển cho 1 xã hội học tập và được áp dụng vào giáo dục Việt Nam bao gồm: 1 - Năng lực tiếp nhận và chọn lọc thông tin; 2 - Năng lực lưu trữ thông tin trong xã hội; 3 - Năng lực xử lí và phản biện thông tin trong xã hội; 4 - Năng lực kết nối và sáng tạo thông tin; 5 - Năng lực chia sẻ thông tin Khi xác định được các năng lực của xã hội học tập sẽ dễ dàng triển khai các hoạt động trong xã hội.[36;16]
Tài liệu tập huấn giáo viên Dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức
kĩ năng trong chương trình giáo dục phổ thông môn Lịch sử cấp THPT của Bộ Giáo
dục và Đào tạo năm 2010 nêu mục đích của việc đổi mới phương pháp ở trường phổ thông thay đổi dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực” nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo Học là một quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khám phá phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin tự hình thành tri thức, có năng lực và phẩm chất của con người mới tự tin năng động sáng tạo trong cuộc sống [9;11]
Trong cuốn “Lí luận dạy học hiện đại cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp”, của Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường xuất bản năm 2014 viết:
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Giáo dục định hướng năng lực nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức [4; 64]
Tài liệu tập huấn “ Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Lịch sử cấp THPT ” của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2014 đã xác
định các năng lực chung cốt lõi và năng lực chuyên biệt của môn Lịch sử [10; 46 – 47]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước và trong nước đều đề cập đến những vấn đề dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh Dạy học định hướng phát triển năng lực là xu hướng của đổi mới giáo dục mà nước ta phải hướng đến Nên các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích định hướng giúp chúng tôi nghiên cứu và thực hiện các nhiệm vụ mà đề tài đặt ra
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tổ chức dạy học phần lịch sử Việt Nam (1858-1918) theo định hướng phát triển năng lực học sinh lớp 11 ở một số trường THPT trên địa bàn huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh
Trang 11Dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THPT góp phần nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới của chương trình giáo dục hiện nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THPT
- Nghiên cứu nội dung, chương trình, sách giáo khoa lịch sử Việt Nam lớp
11 - chương trình cơ bản để cho việc xây dựng các giáo án dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
- Khảo sát thực tiễn: thực trạng dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh hiện nay
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận của đề tài
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo
Phân tích, tổng hợp tài liệu từ các công trình cuả các nhà giáo dục, các nhà giáo dục lịch sử, các nhà nghiên cứu lịch sử, các đề tài nghiên cứu phương pháp dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường THPT
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về tâm lí học, giáo dục học, phương pháp giảng dạy của các nhà giáo dục và giáo dục lịch sử về vấn đề này
- Nghiên cứu nội dung chương tŕnh lịch sử Việt Nam (1858-1918) , SGK lớp 11 – cơ bản
- Điều tra khảo sát thực tiễn việc xây dựng giáo án môn lịch sử ở trường THPT thông qua quan sát, dự giờ và thực hiện phiếu điều tra
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm và sử dụng toán học thống kê để tính kết quả khảo sát, thực nghiệm
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
Nhận thức được cơ sở khoa học của quan điểm phát triển năng lực học sinh trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng, làm cơ sở cho việc vận dụng dạy học lịch sử trong thực tiễn
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đối với Giáo viên: Vận dụng các phương pháp mới trong việc dạy học định
hướng năng lực cho học sinh, giúp giáo viên nhận thức đúng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của mình để điều chỉnh viêc giảng dạy đạt kết quả có chất lượng cao hơn
- Đối với học sinh: Sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong
học tập và biết vận dụng các kiến thức trong nhà trường vào cuộc sống, qua đó hình thành năng lực riêng của mình để hoàn thiện bản thân
7 Giả thuyết khoa học
Nếu đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh theo những phương pháp mới trong đề tài sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT, cũng góp phần với yêu cầu của việc đổi mới giáo dục
Trang 128 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài góp một phần làm phong phú thêm lí luận về phương pháp dạy học lịch
sử nói chung và dạy học lịch sử định hướng phát triển năng lực nói riêng Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm giúp các giáo viên giảng dạy lịch sử ở trường trung học phổ thông có thể tham khảo để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử
9 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phụ lục luận văn gồm 2 chương:
Chương một: Tổ chức dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng
lực học sinh ở trường THPT – cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương hai: một số biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực học sinh trong tổ chức dạy học lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918, ở lớp 11, trường
THPT
CHƯƠNG 1
TỔ CHỨC DẠY HỌC LỊCH SỬ
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Ở TRƯỜNG THPT - LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
* Về khái niệm năng lực:
Năng lực có rất nhiều định nghĩa, thường được hiểu theo nhiều cách khác
nhau Theo nghĩa chung nhất năng lực (capacity/ Ability) là khả năng (hoặc tiềm
năng) mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định [36; 24] Ví dụ khả năng giải toán, khả năng ca hát, khả năng nói tiếng Anh,
thường được đánh giá bằng các trắc nghiệm trí tuệ (ability tests); năng lực (compentence)
thường gắn với hành động là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/ một hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng,
kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí Nó chính là các khả năng và kĩ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được để giải quyết các vấn đề đặt ra trong
Trang 13cuộc sống Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp trong những tình huống thay đổi Năng lực của học sinh là sự kết hợp kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề
Năng lực là một cấu trúc động (trừu tượng) có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, thái độ mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những điều kiện thực tế, hoàn cảnh thay đổi
Như vậy, có thể thấy bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lí các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống nhất định) Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kĩ năng trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không ở tiếp thu lượng tri thức rời rạc
Từ cách hiểu trên, theo chúng tôi "năng lực của học sinh là khả năng làm chủ hệ thống những kiến thức, kĩ năng, thái độ… phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập hoặc giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống"
Có 3 dấu hiệu thể hiện năng lực của học sinh:
Chỉ là khả năng tái hiện trí thức, thông hiểu tri thức, kĩ năng học được mà
quan trọng là khả năng hành động, ứng dụng/ vận dụng tri thức, kĩ năng này để giải quyết những vấn đề của chính cuộc sống đang đặt ra với các em
Chỉ là vốn kiến thức, kĩ năng, thái độ sống phù hợp với lứa tuổi mà là sự kết
hợp hài hòa của cả ba yếu tố này thể hiện ở khả năng hành động (thực hiện) hiệu quả, muốn hành động và sẵn sàng hành động (gồm động cơ, ý chí, tự tin, trách nhiệm
xã hội)
Chỉ một phổ từ năng lực bậc thấp như tái hiện/ biết, thông hiểu kiến thức,
có kỹ năng (biết làm) đến năng lực bậc cao như phân tích, khái quát tổng hợp, đánh
giá, sáng tạo Nó được hình thành và phát triển trong suốt quá trình học tập và rèn luyện của mỗi học sinh trong những điều kiện / bối cảnh cụ thể
Các dấu hiệu của năng lực này được hình thành, phát triển ở trong và ngoài
nhà trường Nhà trường được coi là môi trường giáo dục chính thống giúp HS hình thành những năng lực chung, cần thiết, song đó không phải là nơi duy nhất Những môi trường khác nhau cũng góp phần bổ sung và hoàn thiện các năng lực
Trang 14của các em Cho nên, năng lực của HS bao gồm năng lực chung và năng lực
chuyên biệt Để thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển
năng lực HS sau năm 2015, Bộ GD&ĐT đã đề xuất 9 năng lực chung được xem là chuẩn đầu ra cho HS phổ thông (1 Năng lực tự học 2 Năng lực giải quyết vấn đề 3.Năng lực tư duy 4.Năng lực tự quản lý 5.Năng lực giao tiếp 6.Năng lực hợp tác 7.Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông 8 Năng lực sử dụng ngôn ngữ 9 Năng lực tính toán) [10; 23-24]
Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ
sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động nói chung, hoạt động học tập nói riêng như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Lịch sử
* Dạy học theo định hướng nội dung
Trong khoa học giáo dục, chương trình dạy học mang tính “hàn lâm, kinh
viện” còn được gọi là giáo dục ”định hướng nội dung” dạy học hay ”định hướng đầu vào” (điều khiển đầu vào) Chương trình định hướng nội dung tồn tại phổ biến
trên thế giới cho đến cuối thế kỷ 20 và ngày nay vẫn còn ở nhiều nước Đặc điểm
cơ bản của chương trình giáo dục định hướng nội dung là chú trọng việc truyền thụ
hệ thống tri thức khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình dạy học Những nội dung của các môn học này dựa trên các khoa học chuyên ngành tương ứng Người ta chú trọng việc trang bị cho HS hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên chương trình giáo dục định hướng nội dung chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn Mục tiêu dạy học trong chương trình định hướng nội dung thường được đưa ra một cách chung chung, không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được một cách cụ thể nên không đảm bảo rõ ràng về việc đạt được chất lượng dạy học theo mục tiêu đã đề ra Việc quản lý chất lượng giáo dục ở đây tập trung vào ”điều khiển đầu vào” là nội dung dạy học Ưu điểm của chương trình dạy học định hướng nội dung là việc truyền thụ cho HS một hệ thống tri thức khoa học và hệ thống Tuy nhiên ngày nay chương trình dạy học định hướng nội dung không còn thích hợp, do những nguyên nhân sau:
- Ngày nay, tri thức thay đổi và bị lạc hậu nhanh chóng, việc quy định cứng nhắc những nội dung chi tiết trong chương trình dạy học dẫn đến tình trạng nội
Trang 15dung chương trình dạy học nhanh bị lạc hậu so với tri thức hiện đại Ngoài ra những tri thức tiếp thu trong nhà trường cũng nhanh bị lạc hậu Do đó việc rèn luyện phương pháp học tập ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị cho con người có khả năng học tập suốt đời
- Chương trình dạy học định hướng nội dung dẫn đến xu hướng việc kiểm tra đánh giá chủ yếu dựa trên việc kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà ít định hướng vào khả năng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn
- Do phương pháp dạy học mang tính thụ động và ít chú ý đến khả năng ứng dụng nên sản phẩm giáo dục là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động Do đó chương trình này không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và thị trường lao động đối với người lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo và tính năng động.[4; 64]
* Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Để khắc phục những nhược điểm của chương trình định hướng nội dung, dạy học định hướng năng lực (định hướng phát triển năng lực) còn gọi là định hướng kết quả đầu ra được bàn nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX và ngày nay trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Dạy học định hướng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học Chương trình dạy học định hướng năng tập trung vào việc mô tả năng lực đầu ra, có thể coi là "sản phẩm cuối cùng" của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc "điều khiển đầu vào" sang "điều khiển đầu ra", tức là kết quả học tập của học sinh
Chương trình dạy học định hướng năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình đào tạo, trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học, tức là đạt kết quả đầu ra mong muốn Trong chương trình định hướng năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được
mô tả thông qua hệ thống các năng lực Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được Học sinh cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra
Bảng so sánh những đặc trưng của chương trình định hướng nội dung với chương trình định hướng năng lực:
Chương trình định hướng nội dung
Chương trình định hướng kết quả đầu ra
Trang 16Mục tiêu Mục tiêu dạy học được mô tả
không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được
Kết quả học tập cần đạt được
mô tả chi tiết và có thể quan sát đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của học sinh một cách liên tục
Nội dung Việc lựa chọn nội dung dựa
vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiễn Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình
Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết
Giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức Chú trọng
sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp,…
Đánh giá Tiêu chí đánh giá được xây
dựng chủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và tái hiện nội dung đã học
Tiêu chí đánh giá dựa vào kết quả đầu ra, có tính đến sự tiến
bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn
[4;66] Dạy học định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức.[4; 64]
1.1.2 Chủ trương đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển năng lực
Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục trung học nói riêng được thể hiện trong nhiều văn bản, đặc biệt là các văn bản sau:
- Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 quy định: "Phương pháp giáo
Trang 17dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm vuệc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vậng dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"
- Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI "Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học, phương pháp thi kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo,
kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội"
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới kiến thức, kỹ năng phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạng ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông vào dạy và học"
- Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ – TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: " Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học"
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI xác định: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học"
- Nghị quyết số 44/NQ – CP, ngày 09/6/2014 Ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29 – NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm
2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế xác ðịnh " Ðổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học; kết hợp đánh giá cả quá trình với đánh giá cuối học kỳ, cuối năm học theo mô hình của các nước có nền
Trang 18giáo dục phát triển"… [10; 12-13]
Những quan điểm, định hướng trên tạo cơ sở thuận lợi cho việc đổi mới giáo dục giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học
1.1.3 Ý nghĩa của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Dạy học nói chung đặc biệt là dạy học theo định hướng phát triển năng lực
có ý nghĩa trong việc góp phần phát triển năng lực toàn diện ở học sinh trên cả ba mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ
Về nhận thức: Giúp học sinh biết được những kiến thức mới, khắc sâu và
củng cố những kiến thức cơ bản, làm giàu thêm vốn tri thức cho học sinh.Ví dụ
như "Em hãy trình bày diễn biến cuộc khởi nghĩa Hương Khê." Để trình bày
được diễn biến cuộc khởi nghĩa này học sinh phải biết được những sự kiện, ngày tháng cụ thể và người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, qua đó để bổ sung và làm phong phú thêm những kiến thức cho mình
Về thái độ: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực hình thành những
phẩm chất tốt đẹp cho học sinh là tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong học tập, có tháy độ đúng đắn, giúp học sinh hiểu rõ hơn những giá trị mà lịch sử đã để lại và
thông qua đó cho các em lòng tin, tình yêu, lòng tự hào dân tộc Ví dụ: " Em hãy đánh giá việc để mất nước ta vào tay của thực dân Pháp và trách nhiệm của nhà Nguyễn." không chỉ nhớ được sự kiện mà còn phải bày tỏ được những cảm xúc, thái
độ của mình khi nói về việc nhà Nguyễn để nước ta rơi vào tay TD Pháp
Về kĩ năng: Giúp cho học sinh phát triển được năng lực nhận thức và hành động
cho học sinh hiểu được bản chất của những sự kiện, hiện tượng lịch sử trên cơ sở hình thành khái niệm, rút ra quy luật và học kinh nghiệm giá trị, giúp cho học sinh phát triển
kỹ năng tư duy lịch sử (so sánh, phân tích, đánh giá, tổng hợp …) và khả năng đánh giá thực tiễn cuộc sống.Ví dụ như " Em hãy phân tích sự giống và khác nhau giữa hai xu hướng bạo động và cải cách đầu thế kỷ XX" Để để trình bày được vấn đề
này học sinh trước hết phải nhớ được các sự kiện tiêu biểu của hai xu hướng bạo động và cải lương sau đó sẽ phải rút ra được những đặc điểm giống và khác nhau
về chủ trương và phương pháp, nếu học sinh chỉ biết sự kiện thôi thì chưa đủ mà
sẽ phải hiểu được bản chất của hai xu hướng yêu nước vào đầu thế kỷ XX
1.2 Cơ sở thực tiễn
Dạy học nói chung, dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông hiện nay bên cạnh những ưu điểm vẫn còn tồn tại
Trang 19những khó khăn, hạn chế Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn và phát phiếu điều tra giáo viên và học sinh tại một số trường trung học phổ thông của huyện Càng Long, tinh Trà Vinh, bằng phương pháp định lượng chúng tôi đã thu lại được các kết quả khá trung thực, khách quan và đáng tin cậy
Nội dung điều tra đối với giáo viên tập trung vào các vấn đề: Hiểu biết quan niệm về năng lực, phát triển năng lực trong dạy học lịch sử cho học sinh, những biện pháp dạy học nào có ưu thế trong việc phát triển năng lực học sinh, khó khăn của giáo viên khi thực hiện các biện pháp sư phạm để phát triển năng lực học sinh
Đối với HS, nội dung điều tra tập trung vào vấn đề quan niệm về việc học tập lịch sử, hứng thú của các em thông qua việc giáo viên thường sử dụng những phương pháp để phát triển năng lực cho học sinh
Tổng hợp kết quả điều tra, chúng tôi rút ra kết luận sau:
* Về phía giáo viên: Để tìm hiểu quan niệm về năng lực và phát triển năng
lực trong dạy học lịch sử cho học sinh ở trường trung học phổ thông, chúng tôi phát phiếu cho 10 giáo viên ở 3 trường trong huyện Càng Long là các trường trung học phổ thông Hồ Thị Nhâm, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Hai và thu được kết quả như sau:
Câu hỏi: " Quan niệm thầy (cô)về năng lực, và phát triển năng lực trong dạy học lịch sử cho học sinh", trong tổng số 10 giáo viên được hỏi, có 7 giáo viên
(chiếm 70%) cho rằng năng lực là kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức giữa kiến thức, kỹ năng với tháy độ nhằm hoàn thành hiệu quả một nhiệm vụ hoặc giải quyết một vấn đề đặt ra trong cuộc sống, vấn đề phát triển năng lực trong dạy học lịch sử cho học sinh được giáo viên rất quan tâm, dạy học phát triển năng lực là không chỉ chú trọng những tri thức, kĩ năng, thái độ của học sinh mà chú trọng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Điều đó chứng tỏ đa số đã có những nhận thức đúng Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có 3 giáo viên (chiếm 30%) chưa hiểu rõ vấn đề phát triển năng lực trong dạy học lịch sử cho học sinh, xem là bình thường chỉ cung cấp kiến thức, ghi nhớ kiến thức không chú trọng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Đối với câu hỏi: có thể phát triển những năng lực gì cho học sinh trong dạy học lịch sử thì đa số giáo viên xác định được những năng lực hình thành trong dạy học lịch sử ( tái hiện, thực hành, giải quyết các vấn đề, so sánh, nhận xét,…)
Khi hỏi về các biện pháp sư phạm nào có ưu thế để phát triển năng lực học sinh đa số giáo viên lựa chọn sử dụng kết hợp các phương pháp như dạy học nhóm, dạy học nêu vấn đề để gây hứng thú, phát huy tính tích cực học tập của
Trang 20học sinh (chiếm 90%), số giáo viên còn lại thì chưa quan tâm đến sử dụng phương pháp mới để phát triển năng lực học sinh (chiếm 10%)
Qua sự tìm hiểu trên chứng tỏ giáo viên ở các trường trung học phổ thông vẫn còn sử dụng các phương pháp truyền thống, dễ nhàm chán, chưa phát huy được các năng lực học tập của học sinh, đặc biệt là năng lực ngôn ngữ, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo
Để có cái nhìn sâu sắc hơn về thực trạng dạy học định hướng phát triển
năng lực học sinh, chúng tôi đặt ra câu hỏi "Thầy (cô) thường gặp khó khăn gì khi thực hiện các biện pháp sư phạm để phát triển năng lực học tập lịch sử của học sinh?" thì câu trả lời chủ yếu là mất nhiều thời gian, công sức, khó khăn trong
việc quản lý học sinh Vì vậy cần phải được trang bị đầy đủ lý luận và trang thiết
bị cần thiết về dạy học định hướng phát triển năng lực học tập học sinh đạt hiệu quả
* Về phía học sinh: Để nghiên cứu cụ thể về thực trạng việc dạy học theo
định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông, chúng tôi
đã tiến hành điều tra 50 học sinh ở trường THPT Hồ Thị Nhâm, huyện Càng
Long, tỉnh Trà Vinh kết quả thu được như sau: Với câu hỏi: " Em có thích học lịch
sử không?" có 52% ý kiến là " rất thích"; có 28% là " thích"; 18% là " bình thường";
có 2% " không thích" vì nhiều sự kiện khó nhớ, là môn học phụ
Với câu hỏi quan niệm về năng lực thì đa số học sinh chưa hiểu rõ chỉ nêu
"khả năng làm một công việc của mỗi cá nhân" Tiếp theo, chúng tôi đưa ra câu hỏi: "Môn lịch sử có thể phát triển được những năng lực gì cho học sinh?" phần lớn ý kiến học sinh trả lời là "năng lực ghi nhớ sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử; năng lực nhận xét, đánh giá " Đối với câu hỏi " Trong học tập lịch sử,các em
đã được tạo điều kiện để phát triển năng lực chưa? Kết quả có 76% học sinh trả lời "được" ở mức độ " thường xuyên", còn lại 24% là "chưa" Tiếp đó là câu hỏi:
"Trong học tập lịch sử, thầy (cô)thường sử dụng phương pháp và biện pháp nào
để phát triển năng lực cho các em?", đa số học sinh trả lời là " dạy học nhóm" hay " chia nhóm" nhưng ở mức độ "thường xuyên" Như vậy, thông qua kết quả
điều tra cho thấy việc phát triển năng lực trong học tập lịch sử của học sinh còn nhiều hạn chế Lịch sử là một môn học có tính giáo dục cao song thực tế hiện nay đang trở thành một sự "sợ hãi" đối với học sinh, môn lịch sử mà các em làm trên lớp
đã khiến các em bị một cảm giác nặng nề khi học Nguyên nhân là do:
- Những giáo viên giảng dạy bộ môn lịch sử: Một suy nghĩ mang tính truyền
thống từ trước tới nay đó là môn lịch sử chỉ là bộ môn phụ, một số giáo viên dạy học
Trang 21theo lối đọc – chép, chỉ tập trung vào việc truyền thụ kiến thức Cũng có những giáo viên có tinh thần, trách nhiệm với bộ môn, với học sinh đã tự tìm tòi thay đổi phương pháp mới cho mình, cho học sinh Tuy nhiên, đó chỉ là một bộ phận nhỏ còn đa số thì vẫn chậm chạp trong việc tiếp thu cái mới và điều chỉnh lại quá trình dạy học của mình Bên cạnh đó thì nhận thức về sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học và ý thức thực hiện đổi mới của một bộ phận giáo viên còn chưa cao Năng lực giáo viên đặc biệt là ở vùng nông thôn, về vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong dạy học còn hạn chế
- Về phía học sinh: Do tác động của dư luận xã hội, gia đình, nhà trường và nhiều khi từ chính thầy cô giáo bộ môn lịch sử còn tự ti chưa đề cao môn học mình
đã ảnh hưởng đến tâm lí của học sinh Quan niệm môn lịch sử là môn phụ nên nhiều em cho rằng chỉ cần học những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa sẽ được điểm cao Đây là cách học thụ động, thiếu sự tìm tòi đọc tài liệu, thu thập lĩnh hội kiến thức dẫn đến tư duy chống đối trong việc học tập
- Những nhà quản lí giáo dục, Ban giám hiệu các trường trung học phổ thông chưa phát huy được vai trò thúc đẩy của đổi mới phương pháp dạy học, coi nhẹ việc dạy và học môn lịch sử nên chưa khuyến khích sự tích cực đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hướng đến phát triển năng lực học sinh đòi hỏi các cấp quản lí giáo dục và ban giám hiệu các trường phải có những thay đổi về nhận thức môn học làm cơ sở cho những chuyển biến trong dạy học Việc phát triển năng lực cho học sinh phải là một quá trình lâu dài và được thực hiện
từ dưới lên trên, phải có điểm xuất phát, phải theo thứ tự các cấp phổ thông, học sinh phải có sự tích lũy, hiểu biết và hình thành các năng lực từ thấp lên cao thì mới đạt kết quả đầu ra
Ngoài ra các chương trình tập huấn, giáo dục cho giáo viên còn thực hiện chưa thống nhất Các văn bản, các quyết sách cần thực hiện thì vẫn còn ưu tiên cho các tỉnh, thành phố lớn còn các tỉnh nhỏ hay vùng nông thôn thì các văn bản đổi mới này còn hết sức xa vời Ban giám hiệu các trường ở nhiều nơi vẫn còn chưa nhận thức rõ được sự quan trọng của việc dạy học theo định hướng năng lực nên những chỉ đạo theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học như thế nào thì vẫn hết sức
mơ hồ Nguồn lực phục vụ cho quá trình đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường như cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, hạ tầng công nghệ thông tin - truyền thông vừa thiếu, vừa chưa đồng bộ, làm hạn chế việc áp dụng các phương pháp dạy
Trang 22- Năng lực tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử: Tái hiện sự kiện,
hiện tượng, nhân vật lịch sử quá khứ tiêu biểu có ảnh hưởng đến lịch sử thế giới và dân tộc
- Năng lực thực hành bộ môn lịch sử: Quan sát, đọc và trình bày diễn biến
trên bản đồ, lược đồ như lược đồ cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam kỳ, lược đồ địa bàn hoạt động của nghĩa quân Bãi Sậy…; Lập bảng niên biểu các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, các cuộc chiến tranh, các thành tựu về kinh tế văn hóa…; Khai thác nội dung lịch sử cần thiết thông qua lược đồ, bản đồ, tranh ảnh, phim tư liệu, hiện vật…
- Năng lực xác định và giải quyết mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động giữa các
sự kiện, hiện tượng lịch sử với nhau: Xác định và giải được mối liên hệ, ảnh hưởng,
tác động giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử với nhau, thông qua đó lý giải được mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử như chỉ ra mối quan hệ của các sự kiện, hiện tượng với hoàn cảnh lịch, với tình hình, chính trị kinh tế, xã hội trong và ngoài nước; những tác động tích cực hoạch tiêu cực của tình hình thế giới đối với Việt Nam… Qua đó lý giải nguồn gốc, bản chất của mối quan hệ và tác động qua lại giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử đó
- Năng lực so sánh, phân tích, phản biện, khái quát hóa: So sánh nhân vật, sự
kiện, giai đoạn, thời kỳ lịch sử; phân tích một nhân vật hay một sự kiện lịch sử; phản biện các nhận định, luận điểm lịch sử; khái quát một giai đoạn hay một thời kỳ lịch sử… Từ đó thấy được tác động, ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của lịch sử
- Nhận xét, đánh giá rút ra bài học lịch sử từ những sự kiện hiện tượng, vấn
đề lịch sử, nhân vật lịch sử: Nhận xét, đánh giá các vấn đề lịch sử: các phong trào
yêu nước theo những khuynh hướng khác nhau, những hoạt động của các cá nhân tiêu biểu, các phong trào cách mạng, các hiệp định, các hoạt động quân sự, chính trị, ngoại giao… Rút ra bài học lịch sử từ công cuộc dựng nước giữ nước của ông cha
ta và các bài học lịch sử khác
Trang 23- Vận dụng, liên hệ kiến thức lịch sử đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặc ra: Biết vận dụng những kiến thức lịch sử và liên hệ với thực tiễn để giải
quyết những vấn đề cuộc sống hiện nay: ô nhiễm môi trường, xung đột trên biên giới, tranh chấp biên giới, biển đảo, xu thế toàn cầu hóa…
- Thông qua sử dụng ngôn ngữ lịch sử thể hiện chính kiến của mình về các vấn
đề lịch sử: Biết sử dụng ngôn ngữ lịch sử qua các thời kỳ để trình bày, lập luận các
vấn đề lịch sử qua đó thể hiện chính kiến của mình về các vấn đề đó, như lập luận khẳng định hoặc phủ định của các nhận định, nhận xét về một sự kiện, hiện tượng, vấn đề hay nhân vật lịch sử [10; 47-48 ]
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ BIỆN PHÁP SƯ PHẠM
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
TRONG TỔ CHỨC DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
mẽ, và là lúc mà những tư tưởng yêu nước ở Việt Nam vẫn đang còn trong giai đoạn khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo Những bài học về con đường cứu nước, phương pháp hành động, sẽ đặt nền móng cho con đường cứu nước đúng đắn về sau
2.1.2 Mục tiêu
Mục tiêu của chương trình lịch sử Việt Nam lớp 11 đó là cung cấp những
Trang 24kiến thức ban đầu về quá trình xâm lược của Thực dân Pháp, những nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc thực dân Pháp xâm lược và những nguyên nhân khiến nhà Nguyễn không còn khả năng tự vệ để lãnh đạo nhân dân đấu tranh Chương trình lịch sử lớp 11 giai đoạn 1858 đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất là khoảng thời gian mà trên đất nước ta khủng hoảng về mọi mặt, đặc biệt là về đường lối lãnh đạo cách mạng, mục tiêu cơ bản là làm nền tảng cho phần lịch sử hiện đại sau này của lớp 12 khi học cụ thể về các con đường đấu tranh đúng đắn và mang lại độc lập cho dân tộc
Trong chương lịch sử lịch sử lớp 11 THPT, phần lịch sử Việt Nam bắt đầu
từ khi Pháp xâm lược nước ta năm 1918 cho đến năm 1918, chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc Sau khi học xong phần lịch sử này học sinh có khả năng:
- Hiểu được nguyên nhân sâu xa và trực tiếp phong trào Cần Vương Trình
bày được diễn biến những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như: Bãi Sậy, Hương Khê và cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế
- Trình bày được những biểu hiện của sự chuyển biến về kinh tế Việt Nam đầu thế kỉ XX, những chuyển biến về xã hội với sự ra đời của các giai cấp, tầng lớp mới
- Giải thích được nguyên nhân của sự chuyển biến về kinh tế, xã hội
- Giải thích nguyên nhân xuất hiện của những phong trào yêu nước đầu thế
kỉ XX, nguyên nhân thất bại
Về thái độ
- Giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, lòng biết ơn tổ tiên, các vị anh hùng dân tộc đã chiến đấu đến cùng để xây dụng và bảo vệ Tổ quốc
- Giáo dục tinh thần yêu nước
- Nâng cao lòng yêu thích, say mê với môn Lịch sử, ý thức quyết tâm vươn lên trong học tập
Lịch sử Việt Nam từ khi Pháp bắt đầu xâm lược nước ta từ năm 1858 đến kết thúc chiến tranh thế giới thứ nhất 1918 trong chương trình Lịch sử lớp 11
Về kỹ năng
- Phân tích, đánh giá tổng họp, hệ thống hóa sự kiện lịch sử, so sánh đặc
Trang 25điểm, đánh giá tính chất, ý nghĩa các sự kiện quan trọng, biết rút ra các nhận xét, kết luận
- Kỹ năng quan sát và sử dụng tranh ảnh, lược đồ, bẳn đồ
- Kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm, thuyết trình và sử dụng phương tiện hỗ trợ hiệu quả việc học tập
THPT được chia làm 4 phần với những nội dung chính sau đây:
Lịch sử Việt Nam giữa thể kỉ XIX - đến trước cuộc xâm lược của tư bản Pháp
Chế độ phong kiến bước vào thời kì khủng hoảng suy yếu (về chính trị, kinh tế)
Yêu cầu đặt ra lúc này thực hiện cải cách duy tân đất nước, thúc đẩy sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng để đối phó có hiệu quả với âm mưu xâm nhập và xâm lược từ bên ngoài
Cuộc xâm lực của tư bản Pháp tới gần đòi hỏi phải tăng cường đoàn kết, tỉnh táo để không sa vào cạm bẫy của kẻ thù
Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam và cuộc kháng chiến của nhân dân ta
Cuộc xâm lược Việt Nam của Pháp bắt đầu từ ngày 1 - 9 - 1858, được thực hiện từng bước:
Từ năm 1858 đến năm 1862, tấn công Đà Nẵng, đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì
Từ năm 1863 đến năm 1867, Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kì
Từ năm 1867 đến năm 1873, Pháp chuẩn bị và đánh chiếm Bắc Kì lần thứ nhất
Từ năm 1874 đến năm 1883, Pháp chuẩn bị và đánh chiếm Bắc Kì lần thứ hai
Từ năm 1883 đến năm 1884, Pháp hoàn thành việc xâm lược toàn bộ Việt Nam
Cuộc kháng chiến chống quân Pháp của nhân dân ta nổ ra ngay từ khi Pháp bắt đầu xâm lược
Từ năm 1858 đến năm 1884: phong trào nổ ra mạnh mẽ, khiến thực dân Pháp mất 30 năm mới tạm thời áp đặt nền bảo hộ lên đất nước ta
Từ 1885 đến cuối thế kỉ XIX, phong trào yêu nước nhằm khôi phục chủ quyền dân tộc được các văn thân, sĩ phu lãnh đạo dưới khẩu hiệu cần Vương, các phong trào đấu tranh tự phát của nông dân
Sự thất bại của phong trào đấu tranh vũ trang cuối thế kỉ XIX đặt ra yêu cầu
Trang 26khách quan là phải tìm kiếm phương thức và con đường cứu nước mới
Những chuyển biển trong đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam đầu thế ki XX
Từ năm 1897, sau khi cơ bản dập tắt các cuộc khởi nghĩa vũ trang của nhân dân ta, thực dân Pháp bắt tay vào cuộc khai thác quy mô trên toàn lãnh thổ Đông Dương
Cuộc khai thác của Pháp đã phần nào tạo ra những nhân tố mới cho sự phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX: xuất hiện thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa; bộ mặt thành thị và nông thôn có những biến đổi, những lực lượng xã hội mới ra đời (công nhân, tư bản, tiểu tư sản )
Trong những năm 1914 - 1918, do bận chiến tranh ở Châu Âu, thực dân Pháp nới lỏng độc quyền ở Đông Dương Đây là cơ hội làm ăn tốt của giai cấp tư sản và tiểu tư sản Việt Nam Giai cấp công nhân nước ta theo đó cũng có những bước phát triển mới
Phong trào yêu nước và cách mạng (trong những năm đầu thể ki XX đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất)
Các nhân tố tác động đến phong trào:
Sự chuyển biến kinh tế, xã hội (xuất hiện các lực lượng xã hội mới, các thành phần kinh tế mới)
Tác động của các luồng tư tưởng bên ngoài vào
Kết quả: đều thất bại
Nhận xét: tuy có nhiều nét tiến bộ, song phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX vẫn chưa khắc phục được những hạn chế về điều kiện lịch sử, giai cấp, xã hội, do
đó vẫn chưa thể giành được thắng lợi
Trước sự bế tắc về đường lối cứu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước mới cho dân tộc
2.1.3 Nội dung cơ bản chương trình Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến
1918 ở trường THPT
Nội dung cơ bản của phần lịch sử Việt Nam lớp 11 (chương trình chuẩn) gồm hai chương:
- Chương 1: Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX
- Chương 2: Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất
(1918)
Nội dung cụ thể của hai chương này tập trung vào những vấn đề:
Những kiến thức cơ bản, cần thiết về quá trình xâm lược Việt Nam của thực
Trang 27dân Pháp ở cuối thế kỉ XIX Cụ thể: Âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân
Pháp đã có từ rất lâu và được xúc tiến mạnh mẽ từ giữa thế kỷ XIX Tháng 9 -
1858, quân Pháp chính thức nổ súng vào bán đảo Sơn Trà - Đà Nẵng mở màn cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.Sau một thời gian thực dân Pháp đã buộc triều đình nhà Nguyễn phải ký các hiệp ước bất bình đẳng có lợi cho Pháp, và cuối cùng với hiệp ước Hác-Măng và Pa-tơ-nốt thì đất nước đã hoàn toàn trở thành thuộc địa của Pháp
Những chuyển biến của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX về mọi mặt Đây là thời kì khủng hoảng nghiêm trọng
của phong kiến Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực Chính trị thì khủng hoảng, vua qua ăn chơi hưởng lạc, không chú ý đến đời sống của quần chúng nhân dân, không chăm lo đến sự phát triển kinh tế khiến cho đất nước nghèo túng, xã hội rối loạn, mâu thuẫn trong xã hội hết sức gay gắt dẫn đến sức đề kháng của cả dân tộc ở trong tình trạng yếu kém càng làm cho thực dân Pháp xâm lược Việt Nam một cách
tranh sôi nổi trên khắp cả nước và trên nhiều lĩnh vực
2.2 Một số biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918 ở trường THPT
2.2.1 Phát triển năng lực học sinh trong dạy học truyền thống
2.2.1.1 Dạy học nội khoá
Những bài học, những hoạt động được ghi cụ thể trong chương trình, trong
kế hoạch gọi là hoạt động nội khoá Có tính chất bắt buộc đối với học sinh Nhiệm
vụ là thực hiện một phần chương trình , sách giáo khoa, góp phần hoàn thành mục tiêu của môn học, cấp học Đó là hình thức cơ bản của quá trình thống nhất giữa giảng dạy và học tập: giáo viên tiến hành các công việc truyền đạt kiến thức, giáo dục và phát triển học sinh; tổ chức, hướng dẫn học sinh tích cực hoạt động nhận thức để lĩnh hội kiến thức, bồi dưỡng tư tưởng nhận thức, rèn luyện kỹ năng…
Trang 28Hoạt động giảng dạy của giáo viên trước hết là cung cấp tri thức hướng dẫn học sinh tiếp thu kiến thức cần cho học tập Có hai loại kiến thức cần cung cấp cho học sinh trong dạy học lịch sử:
- Thứ nhất, củng cố, bổ sung những kiến thức đã tiếp nhận Đó là cơ sở để các em lĩnh hội kiến thức mới, song kiến thức đã học chưa toàn diện, chưa sâu, nên trong bài học mới cần giúp cho học sinh hiểu sâu sắc, phong phú hơn
-Thứ hai, cung cấp kiến thức mới Đối với loại kiến thức này, giáo viên trình bày trên lớp hoặc hướng dẫn học sinh tự tìm (trong sách giáo khoa và tài liệu tham khảo) [25; 91]
Mỗi bài học có một nhiệm vụ riêng trong quá trình dạy học, ảnh hưởng đến chất lượng bộ môn Các nhà nghiên cứu phương pháp đã phân ra các loại bài học:
* Bài nghiên cứu kiến thức mới: Nội dung là những kiến thức cơ bản mà
học sinh cần phải nắm vững để hiểu rõ lịch sử dân tộc hay lịch sử thế giới trong một giai đoạn nhất định, trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội: đấu tranh giai cấp, hoạt động kinh tế, đời sống chính trị, văn hóa…Loại bài này được xây dựng trên cơ sở kết hợp trình bày của giáo viên với hỏi và trả lời giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau và những hoạt động độc lập của học sinh khi tiếp nhận nguồn kiến thức Khi tiến hành bài nghiên cứu kiến thức mới,
có thể sử dụng nhiều phương pháp đa dạng, phong phú, nhằm hình thành kiến thức, giáo dục tư tưởng tình cảm đạo đức, phát triển tư duy cho học sinh (25; 92) Bài nghiên cứu kiến thức mới tiến hành qua các công việc cụ thể:
- Kiểm tra kiến thức đã học có liên quan đến bài học mới, giáo viên cần có một thời gian kiểm tra bài cũ, rồi chuyển sang bài học mới (tìm hiểu quan hệ kiến thức bài học cũ và bài mới)
- Chuẩn bị cho học sinh trước khi nghiên cứu kiến thức mới, để gây hứng thú, chú ý cho học sinh với các vấn đề sẽ học tập cần đặt ra các câu hỏi liên quan tới vấn đề: xác định nguyên nhân, ý nghĩa, của hiện tượng lịch sử đang nghiên cứu, nêu nội dung, diễn biến các sự kiện, rút ra kết luận, đánh giá sự kiện, hiện
tượng lịch sử…Ví dụ trước khi học bài Chiến sự lan rộng ra cả nước cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ năm 1873 đến năm 1884 Nhà Nguyễn đầu hàng giáo viên đặt câu hỏi: Hãy nhận xét phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Nam kỳ từ sau hiệp ước 1862? Với câu hỏi nhận thức như vậy làm cho các em chú ý nghe giảng để tìm hiểu vấn đề, Ví dụ như bài Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX giáo viên đặt câu hỏi: Phong trào Cần Vương bùng nổ trong hoàn cảnh nào? Em hiểu thế nào là "Cần
Trang 29Vương"? Xuống chiếu Cần Vương nhằm mục tiêu gì? Các giai đoạn phát triển của phong trào Cần Vương như thế nào? Những câu như vậy gợi ra nhiều vấn đề
suy nghĩ khi học bài mới
- Nghiên cứu kiến thức mới, giáo viên phải giải quyết hai nhiệm vụ: thông báo kiến thức khoa học, phong phú và tổ chức hoạt động nhận thức, tích cực, độc lập của học sinh, trên cơ sơ mục tiêu đề ra Khi trình bày kiến thức mới, giáo viên kết hợp lời nói với các phương tiện trực quan và các nguồn kiến thức khác giúp học sinh nhớ nhanh và nhớ lâu kiến thức Sử dụng bảng đen tạo thuận lợi cho học
sinh học tập: theo dõi bài giảng, ghi vào vở, trả lời câu hỏi Ví dụ bài Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (từ năm 1858 đến trước 1873) giáo viên đặt câu hỏi: Trình bày chiến sự ở Đà Nẵng 1858 Vì sao Pháp chọ
Đà Nẵng làm mục tiêu tấn công nước ta đầu tiên? Giáo viên kết hợp lời giảng với
lược đồ, tranh ảnh… để giúp cho học sinh nhớ kiến thức Khi trình bày kiến thức mới, giáo viên đặt câu hỏi và hướng dẫn học sinh trả lời, thảo luận Các câu hỏi đặt ra cần tập trung giúp học sinh tìm ra các ý để trả lời những vấn đề đã đặt ra đầu giờ
- Kiểm tra hoạch động nhận thức của học sinh thường tiến hành vào cuối giờ học, giúp giáo viên hiểu rõ kết quả giữa hỏi và trả lời trong quá trình dạy học
Có tác dụng củng cố và kiểm tra hoạt động nhận thức của học sinh, giáo viên có thể đặt câu hỏi mới khái quát hơn để các em trả lời Kiểm tra để giúp học sinh lĩnh hội vững chắc kiến thức cơ bản, để có cơ sơ hiểu những kiến thức khác
- Bài tập về nhà, thường được nêu vào cuối giờ học, hướng vào những vấn
đề quan trọng của bài học để học sinh hiểu rõ vấn đề, rút ra những gì cần nhớ, cần suy nghĩ độc lập, rèn luyện kỹ năng thực hành Trong phạm vi một bài học trên lớp có nhiều dạng bài tập: Bài tập dưới dạng một câu hỏi tổng hợp, bài tập này thường nêu ra khi học sinh nghiên cứu một số bài, hoặc chương giúp củng cố kiến thức hiểu sâu kiến thức và nâng lên trình độ khái quát; Bài tập rèn luyện kỹ năng thực hành, hệ thống hóa kiến thức và vận dụng kiến thức, như lập niên biểu giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức, vẽ lược đồ, bản đồ khắc sâu kiến thức, xác định không gian, thời gian của sự kiện; Bài tập vẽ sơ đồ, đồ thị phát huy trình độ tư duy của học sinh trong học tập lịch sử
* Bài học ôn tập, tổng kết: bài này được sử dụng khi hoàn thành nghiên cứu
một giai đoạn, một thời kỳ, một khóa trình lịch sử Nhiệm vụ của bài ôn tập, tổng kết là củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo Trên cơ sở đó cung cấp cho học sinh một bức tranh toàn diện về các hiện tượng hoặc quá trình lịch sử đã học
Trang 30và hệ thống hóa khái quát hóa những kiến thức đã tiếp thu [25; 99] Ví dụ bài: Sơ kết lịch sử Việt Nam (1858-1918) giáo viên phải làm cho học sinh hiểu biết được
nét chính của tiến trình xâm lược của Pháp đối với nước ta; biết được những nét chính về các cuộc đấu tranh chống xâm lược của nhân dân ta, những nguyên nhân thất bại của các cuộc đấu tranh đó; thấy được sự chuyển biến của phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX Trên cơ sở nắm kiến thức lịch sử Việt Nam ở giai đoạn này, cần lưu ý học sinh nắm được tình hình chung của thế giới và khu vực vào cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Bài ôn tập, tổng kết kiến thức cần phát triển tư duy, rèn luyện kỹ năng thực hành bộ môn của học sinh Tổ chức tốt bài ôn tập, tổng kết là điệu kiện nâng cao chất lượng kiến thức của học sinh, hình thành cho các em những hiểu biết khoa học về lịch sử và tính quy luật của sự phát triển xã hội, bồi dưỡng và rèn luyện các kỹ năng được quy định trong chương trình lịch sử ở trường phổ thông
* Bài kiểm tra: Bài kiểm tra nhằm xem xét kết quả thu nhận kiến thức của
học sinh, hoàn thiện tri thức, hình thành thế giới quan, phát triển ngôn ngữ, giáo dục lòng yêu lao động cho học sinh trong học tập Bài kiểm tra đòi hỏi học sinh suy nghĩ, nhớ lại kiến thức đã học và tự đánh giá kết quả học tập của mình.[25;100]
Bài kiểm tra giúp giáo viên xem xét lại việc giảng dạy của mình: khối lượng kiến thức, phương pháp giảng dạy, việc tạo điều kiện để phát huy trí thông minh, nhận thức sáng tạo của học sinh trong học tập Đồng thời giáo viên hiểu được tình hình học tập của từng học sinh để kịp thời giúp đỡ các em Thông thường có hai hình thức kiểm tra:
- Kiểm tra miệng: được tiến hành thường xuyên trong các bài học chủ yếu
là trước khi tiến hành bài nghiên cứu kiến thức mới Để đạt hiệu quả của kiểm tra miệng, phụ thuộc vào việc lựa chọn đúng nội dung kiến thức cần kiểm tra, các cách kiểm tra thích hợp, vừa phát huy trí thông minh, vừa đánh giá đúng trình độ học sinh
- Kiểm tra viết: giúp giáo viên thấy rõ trình độ kiến thức học sinh, việc chuẩn bị của từng em và những điều cần sửa chữa, bổ sung, giảng giải sâu hơn cho các em Kiểm tra viết là cơ sở đánh giá toàn diện các bài học trước đó Đồng thời cũng rèn luyện cho học sinh các viết văn, diễn đạt rõ ràng, đúng ngữ pháp, trong sáng…
* Bài học tại thực địa, trong nhà bảo tàng lịch sử - cách mạng: Loại bài
học này được thực hiện theo nội dung quy định trong chương trình học, nó có thể
Trang 31là nghiên cứu kiến thức mới, hoặc ôn tập, sơ kết, tổng kết Bài học tại thực địa hay ở nhà bảo tàng lịch sử, bảo tàng cách mạng, nhà truyền thống, là những bài học nội khóa, một mắt xích trong toàn bộ khóa trình, có liên quan tới các bài lịch
sử khác Việc học tập những bài học này là bắt buộc đối với toàn bộ học sinh
Bài học tại thực địa có ý nghĩa rất lớn đối với việc giáo dưỡng, giáo dục
học sinh, giúp các em phát triển tư duy tưởng tượng, đa dạng hóa các hoạt động nhận thức, gây hứng thú trong học tập lịch sử Tiến hành bài học thực địa là phương thức thực hiện dạy học gắn với đời sống, có tác dụng nâng cao hiểu biết
về kiến thức lịch sử, văn hóa giáo dục, lòng yêu quê hương đất nước, óc thẩm mỹ cho các em [25;102]
Bài học tại thực địa, nhà bảo tàng, nhà truyền thống không thể tổ chức nhiều lần trong năm học vì phải chuẩn bị công phu, tổ chức khó khăn nên công việc này chưa được chú ý Đây là một trong những lý do làm cho việc dạy học lịch sử không gây được hứng thú cho học sinh, không nâng cao hiệu quả bài học
Trong dạy học nội khóa, những hoạt động trên lớp có tính chất tập thể dưới
sự quản lý tổ chức của giáo viên, đảm bảo cho học sinh tiếp nhận đồng đều những tri thức chính xác, có hệ thống Mặt khác từng học sinh cũng có điều kiện đóng góp vào kết quả chung của lớp học, rèn luyện phương pháp làm việc, ý thức tập thể Song cũng có những hạn chế nhất định, như giáo viên khó chú ý đến từng học sinh, tốc độ hoạt động và trình độ nhận thức của mỗi em có sự khác nhau Vì vậy không kích thích được tất cả học sinh trong lớp tích cực hăng hái học tập học tập,
tự học
2.2.1.2 Dạy học ngoại khoá
Chúng ta đã nhận thức rõ vị trí ý nghĩa của bài học lịch sử, một hình thức giáo dục nội khóa rất quan trọng Bài học nội khóa càng có tác dụng khi được hỗ trợ bằng các hoạt động ngoại khóa lịch sử-một hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông Trong công tác ngoại khóa, hoạt động của thầy và trò được tiến hành ngoài giờ học trên lớp, nhưng nội dung và chủ đề hoạt động phải đạt được mục đích giáo dưỡng, giáo dục, phát triển như ở bài học nội khóa, nhưng được thực hiện trên cơ sở và phương tiện khác Nhiệm vụ của hoạt động ngoại khóa mang tính tổng hợp, làm sâu sắc và phong phú kiến thức của học sinh về các mặt khác nhau của cuộc sống xă hội, góp phần gây hứng thú trong học tập lịch sử
Vì vậy, tuy là hoạt động ngoài lớp, nhung công tác ngoại khóa vẫn có tác dụng như một bài nội khóa trong việc giáo dưỡng, giáo dục và phát triển học sinh Một cách cụ thể,hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử chú ý đến việc làm
Trang 32phong phú kiến thức, giáo dục tình cảm,đạo đức phẩm chất của học sinh, giáo dục tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng trách nhiệm, yêu thích lao động, rèn luyện tính
kỷ luật và tinh thần tương thân tương ái
Hoạt động ngoại khóa còn có tác dụng giáo dục lớn đối với học sinh Trong hoạt động ngoại khóa, những cá tính, phẩm chất, ý thức khuynh hướng của học sinh bộc lộ rõ ràng Bởi vì những hoạt động ngoại khóa trong học tập lịch sử ở trường phổ thông được thực hiện phù hợp với những đặc điểm tâm lý lứa tuổi, trình độ của học sinh, với nhiều hình thức phong phú, bổ ích Những hình thức này được tiến hành với các loại: trò chơi, các câu đố lịch sử, “đóng vai”, diễn các câu chuyện lịch sử…Ở các lớp THPT, hoạt động ngoại khóa được nâng lên cao hơn như tự tìm tòi, nghiên cứu, thu thập, xử lý tài liệu lịch sử, viết các câu chuyện, báo cáo nhỏ về một chủ đề lịch sử
Hoạt động ngoại khóa còn góp phần phát triển năng lực học sinh Nếu bài nội khóa là hình thức bắt buộc của việc học tập, tuân thủ nghiêm ngặt chương trình đã quy định về thời gian, nội dung… Hoạt động ngoại khóa lại mở ra một khả năng rộng lớn để hình thành các thói quen, kỹ năng về trí tuệ và thực hành cho học sinh trong học tập lịch sử Các em có thể tự chọn và tham gia một công tác hợp với sở thích và trình độ của mình Tính chất tự nguyện trong việc tham gia hoạt động ngoại khóa đã phát huy năng lực nhận thức độc lập, làm nảy sinh
và phát triển hứng thú học tập của học sinh
Nội dung của hoạt động ngoại khóa trước hết do nhiệm vụ chung của trường phổ thông quy định: đào tạo thế hệ trẻ thành những người lao động có ý thức làm chủ, có tri thức, thành thạo nghề nghiệp, có thái độ lao động tích cực, sáng tạo Vì vậy khi lựa chọn ngoại khóa, phải thể hiện được tính cấp thiết, phản ánh những
sự kiện quan trọng trong lịch sử quá khứ và hiện tại trên thế giới và trong nước, giúp học sinh tiếp tục hoàn thiện kiến thức, củng cố niềm tin và khả năng hoạt động thực tế
Do hoạt động ngoại khoá mang tính chất tự nguyện, nên nội dung và hình thức tiến hành lại cần phải linh hoạt theo 2 hướng chính:
- Làm phong phú, sâu sắc những kiến thức lịch sử mà học sinh đã thu thập trong nội khóa, nhất là những vấn đề cơ bản của khóa trình lịch sử Đó là:
+ Những sự kiện lớn tiêu biểu, trở thành những kiến thức cơ bản của khóa trình Ví dụ: Sự kiện Pháp xâm lược nước ta 1858; Nhà Nguyễn ký với Pháp hiệp ước 1883 và 1884; Sự kiện vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương 1885; Năm
1897 thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất…
Trang 33+ Cuộc đời và sự nghiệp các nhân vật lịch sử phản ánh sự phát triển của
xã hôị Ví dụ như cuộc đời và những chủ trương hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh vào đầu thế kỷ XX
+ Những thành tựu lớn về văn hóa, khoa học, văn học, nghệ thuật, về lao động sản xuất…
- Những vấn đề về lịch sử địa phương và công tác công ích xã hội
Trong trường hợp tiến hành bài học tại thực thì việc giảng dạy nội khóa kết hợp với những hoạt động ngoại khóa Song cũng có thể tổ chức các hoạt đông ngoại khóa dựa vào tài liệu lịch sử địa phương để làm phong phú bài lịch sử dân tộc, khơi dậy lòng tự hào, yêu quý quê hương
Những công tác công ích xã hội nhằm vận dung kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, vào thực tiễn lại làm phong phú, củng cố kiến thức đã học Nội dung các hoạt động ngoại khóa theo hai hướng trên không chỉ có tác dụng thiết thực trong việc củng cố bổ sung kiến thức, giáo dục tư tưởng chính trị, phẩm chât đạo đức, mà còn hình thành ở học sinh ý thức công dân, góp phần giáo dục thẩm mĩ, thế giới quan khoa học [21; 230]
Nội dung được xác định như trên mang tính định hướng, giúp chúng ta khai thác, phong phú của công tác ngoại khóa lịch sử, để xác định đúng các hình thức tổ chức và cách tiến hành có hiệu quả cao
Một số hình thức dạy học ngoại khóa ở trường phổ thông hiện nay
* Đọc sách: Đây là hình thức có hiệu quả nhằm cung cấp thêm kiến thức
cho học sinh trong giờ nội khóa, song chủ yếu trong hoạt động ngoại khóa Nó góp phần rèn luyện cho học sinh về mặt tư tưởng, phẩm chất đạo đức, kĩ năng, thói quên hứng thú và phương pháp làm việc với sách Đó là hình thứ đơn giản,
dễ làm song lại có hiệu quả cao về mặt giáo dưỡng, giáo dục và phát triển Trong công việc này, cần khắc phục những quan niệm không đúng, thường có trong học sinh như thích đọc tiểu thuyết võ hiệp lịch sử, tài liệu gốc, bị thu hút vào những chi tiết li kì hấp dẫn mà không chú ý đến những kiến thức khoa học Trước tiên giáo viên giúp học sinh lập danh mục sách cần đọc cho mỗi khóa trình trong năm học Trong danh mục nên có phần “ tối đa” và phần “ tối thiểu”, tức là những loại sách cần đọc và loại sách đọc thêm nếu có thời gian
Tiếp đó, để khơi dậy tính tích cực, hứng thú, sự hiếu kì và lòng ham hiểu biết cái mới của học sinh, giáo viên tóm tắt sơ lược nội dung của một cuốn sách Cách giới thiệu đặc biệt có hiệu quả, là dẫn ra một vài chi tiết, những đoạn nhỏ hấp dẫn để khơi dậy ở học sinh hứng thú tìm đọc tiếp
Trang 34Việc hướng dẫn của giáo viên đối với học sinh trong chọn sách và phương pháp thích hợp, có hiệu qua là yêu cầu quan trọng cho việc đọc sách không tản mạn chệch hướng
Trong chương trình lịch sử việt Nam từ thời kì dựng nước đến nay có rất nhiều loại sách,không chỉ phù hợp với nội dung các bài nội khóa, mà còn có thể
sử dụng cho ngoại khóa Khi lựa chọn, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tập trung vào các loại sau đây:
Thứ nhất, những tài liệu văn kiện của đảng, của Chủ Tịch Hồ Chí Minh viết
Thứ ba, các hồi kí, ký sự Đây là một loại sách phản ánh các sự kiện mà thanh thiếu niên rất ưa thích
Thứ tư, các tác phẩm văn học có liên quan đến lịch sử dân tộc, bao gồm thơ văn yêu nước, các tác phẩm văn học hiên thực qua các thời kì, những truyện kí tiểu thuyết lịch sử.[21; 233]
Có hai hình thức đọc sách dưa lại hiệu quả tốt: Cá nhân tự đọc và đọc chung
ở lớp ,ở tổ Hai hình thức này đều phải tiến hành đối với mỗi học sinh, tùy theo
kế hoạch, điều kiện tổ chức
Cá nhân tự học là hình thức phổ biến thuận lợi, quan trọng nhát trong hình thức đọc sách ngoại khóa Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách tự đọc thường xuyên ở nhà
Đọc chung ở lớp những quyển sách hiếm, những đoạn hay để gây hứng thú và bổ sung, củng cố kiến thức Trên lớp chỉ giới thiệu nội dung sách, thảo luận
và tranh luận những vấn đề có liên quan , học sinh về nhà tìm đọc toàn bộ sách, suy nghĩ sâu hơn Hình thức này chỉ được tổ chức trong một vài lần trong năm học
Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh gặp các tác giả sách, những nhà nghiên cứu để họ trình bày cảm nghĩ,quá trình biên soạn của mình, giới thiệu những vấn đề hay, lý thú trong nội dung cuốn sách Trong buổi gặp gỡ, học sinh
có thể phát biểu ý kiến, nêu thắc mắc, trao đổi Đây là hình thức có tác dụng giáo dục và gây hứng thú đọc sách cho học sinh, song khó tổ chức Hình thức phổ biến
Trang 35nhất là học sinh tổ chức các buổi sinh hoạt với sự giúp đỡ, chỉ đạo của giáo viên
Các em trình bày những hiểu biết của mình về tác giả, về sách, phát biểu cảm
nghĩ, kể lại nội dung hoặc trích đọc, dẫn ra những đoạn hay, ý đẹp trong sách…Ở
đây, việc nhận thức lịch sử đan xen vói những cảm thụ văn học Trong một tác
phẩm văn học, ký, hồi ức lịch sử, học sinh khó phân biệt “lịch sử bắt đầu từ đâu
và văn học kết thúc chỗ nào” Vì vậy, học sinh say mê, hứng thú ðọc các loai hồi
ký cách mạng, truyện danh nhân lịch sử…
Đọc sách không phải để giải trí, mà cần biết ghi chép theo mẫu sau đây:
-Những vấn đề rút ra sau khi đọc sách (những vấn đề liên quan đến bài
học, vấn đề thích nhất, những thắc mắc cần giải quyết, ý định sử dụng kiến thức
đã thu nhận được sau khi đọc…)[21; 234]
Giáo viên cần xây dựng cho học sinh nền nếp, thói quen khi đọc sách ở nhà
phải có chủ đích, có hiệu quả, tránh tùy tiện
* Kể chuyện lịch sử: Đây là hình thức ngoại khóa hấp dẫn , dễ làm và có
tác dụng giáo dục cao Nội dung kể chuyện lịch sử là việc phổ biến kiến thức lịch
sử một cách khoa học, chứ không phải những chuyện hư cấu Do đó, nội dung câu
chuyện kể phải có chủ đề-một sự kiện, một nhân vật – dựa vào một tài liệu chính
xác Có nhiều cách kể chuyện: kể lại nội dung một cuốn sách hay đã đọc, một câu
chuyện được ghi chép tài liệu, hay của chính người tham gia, chứng kiến sự kiện
thuật lại
Nội dung câu chuyện phải liên quan đến các sự kiện cơ bản trong bài học,
chân xác, tránh li kì không có giá trị khoa học, không phù hợp với yêu cầu học
tập
Kể chuyện phải làm cho người nghe xúc động, như được sống lại sự kiện
ấy, như câu chuyện các nhân chứng lịch sử hay việc trình bày của học sinh đã
“nhập thân” với sự kiện
Kể chuyện khác với thông báo.Như đã nói, thông báo cung cấp cho người
nghe một số tri thức nhất định, ngắn gọn, khô khan, còn kể chuyện bao giờ cũng
có chủ đề và có tình tiết Ví dụ, khi thông báo các sự kiện về thời niên thiếu của
Bác Hồ, người nghe chỉ nắm được những nét chính (quê hương, gia đình, tên lúc
Trang 36nhỏ ) Kể chuyện về thời thiếu thời của Bác với nhiều tình tiết sinh động nhằm khôi phục bức tranh lịch sử về quê hương, gia đình, về tuổi thơ ấu của Bác… Nội dung bài kể chuyện không chỉ có khối lượng sự kiện, tri thức được cung cấp, mà còn bao gồm cả việc phân tích, nêu lên bản chất sự vật, hiện tượng Nếu logích của câu chuyện kể được xây dựng trên cơ sở những sự kiện, tri thức chính xác thì nó có ý nghĩa giáo dục rất lớn Thông thường một câu chuyện kể bao gồm những yếu tố sau đây:
-Giới thiệu vấn đề
-Tình huống đặt ra
-Diễn biến sự kiện
-Câu chuyện kết thúc
-Sự phát triển của tình tiết đến cao độ
Một câu chuyện được bố cục như vậy mang kịch tính cao, dẫn dắt người nghe qua các sự kiện, làm cho họ ngày càng hứng thú (kể cả căng thẳng và suy nghĩ) Người nghe hứng thú lắng nghe không phải chỉ vì được cung cấp các sự kiện, chi tiết hay, hấp dẫn mà còn vì nội dung của câu chuyện có sức giáo dục mạnh mẽ
* Nói chuyện lịch sử: Nói chuyện lịch sử có nội dung, yêu cầu cao hơn kể
chuyện lịch sử Kể chuyện chủ yếu là việc trình bày các sự kiện cụ thể nâng lên trình độ tư duy khái quát, còn nói chuyên lịch sử chủ yếu là làm cho người nghe nhận thứ một cách khái quát, được minh họa, dẫn chứng bằng các sự kiện cụ thể theo một chủ đề nào đấy Ví dụ, kể chuyện về một cuộc đấu tranh chống Pháp của Nguyễn Trung Trực trên sông Vàm Cỏ với nhiều tài liệu-sự kiện cụ thể làm người nghe như được chứng kiến sự kiện này
Nói chuyện lịch sử phải có chủ đề rõ ràng, chủ đề phải phù hợp với nội dung chương trình nội khóa, với nhiệm vụ chính trị trước mắt Vì vậy, nói chuyện lịch sử không thể tổ chức thường xuyên và ở bất cứ nơi nào như kể chuyện lịch
sử Nó thường được tổ chức nhân ngày kỉ niệm một sự kiện lịch sử quan trọng, một danh nhân, lãnh tụ cách mạng…, những đợt sinh hoạt chính trị, bồi dưỡng về văn hóa, nghiên cứu lịch sử địa phương Người nói chuyện phải là người am hiểu sâu sắc vấn đề trình bày Do đó, người nói chuyện thường là giáo viên, cán bộ nghiên cứu cán bộ giảng dạy ở các trường đại học, cán bộ làm công tác tuyên huấn Trong một số trường hợp đặc biệt, giáo viên có thể bồi dưỡng cho một học sinh giỏi để nói chuyện lịch sử với lớp, hay một học sinh lớp trên nói chuyện với các học sinh lớp dưới
Trang 37* Trao đổi, thảo luận: Đây là hình thức ngoại khóa nhằm giúp học sinh bày
tỏ ý kiến của mình để củng cố kiến thức đã học, lòng tin sau khi đọc một quyển sách, nghe kể chuyện, nói chuyện lịch sử, hoặc suy nghi về một vấn đề nào đấy
Có nhiều cách tiến hành trao đổi thảo luận Trước hết, có thể tổ chức trao đổi thảo luận trong phạm vi lớp Đối với học sinh THPT, những cuộc trao đổi thảo luận không chỉ để ghi nhớ nội dung một vấn đề, mà chủ yếu là khơi dạy những suy nghĩ độc lập cuẩ các em Chủ đề nêu ra là những vấn đề cơ bản có tính chất tổng hợp, khái quát, những vấn đề mà nhiều người quan tâm, có liên quan đến cuộc sông hiện tại
Trong quá trình trao đổi, giáo viên cần động viên các em đề xuất và giải quyết vấn đề theo suy nghĩ độc lập của mình, đồng thời cũng khiêm tốn học tập
và tôn trọng ý kiến của bạn Giáo viên theo dõi, kịp thời bổ sung những thiếu sót, uốn nắn các lệch lạc; khi kết thúc thảo luận có nhận xét, đánh giá, rút kinh nghiệm Trao đổi, thảo luận được tiến hành trên cơ sở một số chủ đề quan trọng,
có tác động đến việc bổ xung kiến thức đã học Ví dụ, trao đổi, thảo luận về đánh giá vai trò của nhà Nguyễn để nước ta rơi vào tay của thực dân Pháp
Có những hình thức tổ chức trao đổi thảo luận với nội dung phong phú
hơn, như tổ chức các "hộp thư" trao đổi trên báo tường
* Dạ hội lịch sử: Dạ hội lịch sử là một hoạt động ngoại khóa có tính chất
tổng hợp, thu hút tất cả học sinh trong lớp, trường tham dự
Lực lượng tham gia dạ hội lịch sử thương có hai nhóm, một số ít học sinh tham gia biểu diễn và đông đảo học sinh khác là khán giả Đối với cả hai nhóm,
dạ hội lịch sử có tác dụng củng cố, làm sâu sắc, phong phú thêm nhiều tri thức khoa học và nghệ thuật, gợi dậy những xúc cảm làm cơ sở để giáo dục tình cảm bồi dưỡng óc thẩm mĩ, gây hứng thú học tập bộ môn Việc sử dụng tư liệu lịch sử, phân tích các tác phẩm văn học , nghiên cứu cách trình bày, thể hiện nội dung các tác phẩm văn học, lịch sử sân khấu…những bài nói chuyện lịch sử, những tiết mục văn nghệ…không chỉ làm phong phú kiến thức, mà còn rèn luyện khả năng độc lập làm việc, bồi dưỡng năng khiếu biểu diễn và cảm thụ nghệ thuật… cho học sinh
Chủ đề của dạ hội lịch sử rất phong phú
- Chủ đề về lịch sử địa phương là một nội dung khá hấp dẫn trong dạ hội lịch sử, như “Quê hương: quá khứ và hiện tại”…
Trang 38- Các vấn đề về cuộc sống hiện nay trên thế giới và trong nước, như đấu tranh giữ gìn hòa bình thế giới, thành tựu phát triển khoa học-kỹ thuật… Cũng có thể là chủ đề của dạ hội lịch sử
- Các sự kiện,nhân vật lịch sử (Việt Nam và thế giới) được tổ chức kỉ niệm trong năm
Muốn tiến hành dạ hội lịch sử theo các chủ đề như trên có hiệu quả, phải thực hiện các yêu cầu:
Thứ nhất, dạ hội phải có mục đích giáo dưỡng, giáo dục và phát triển rõ rệt, nghĩa là phải phù hợp với chương trình, trình độ và yêu cầu học tập của học sinh Thông qua dạ hội lịch sử, các em phải được bồi dưỡng về lòng tin đối với cách mạng, với quần chúng nhân dân, thắt chặt hơn tình đoàn kết và củng cố thái
độ học tập đúng đắn, rèn luyện năng lực tư duy và hành động
Thứ hai, dạ hội phải thu hút đông đảo học sinh tham gia, phải phát huy năng lực độc lập, tính tích cực chủ động hoạt động và tinh thần tập thể của các
em Dĩ nhiên, việc phân công phải tùy theo yêu cầu, tính chất của công việc, khả năng, trình độ của học sinh
Thứ ba, cần có kế hoạch chuẩn bị công phu Ngay từ đầu năm học, giáo viên xây dựng kế hoạch, tranh thủ ý kiến, sự ủng hộ hợp tác của giáo viên bộ môn, của hội đồng nhà trường và đoàn thanh niên Việc lựa chọn học sinh để luyện tập các tiết mục không được làm ảnh hưởng tới học tập và các công việc khác
Thứ tư, linh hoạt và đa dạng hóa hình thức tổ chức sao cho gọn nhẹ, ít công sức và kinh phí mà hiệu quả lại cao (đối với nhà trường và ảnh hưởng với địa phương)
Tái tạo bức tranh lịch sử, gợi dậy không khí lịch sử có tác dụng giáo dục là những yêu cầu quan trọng của một dạ hội Vì vậy, ngoài các tiết mục văn nghệ, cân thiết tổ chức triển lãm, trang trí nhằm gây hứng thú cho người dự, làm sao cho họ cảm thấy như mình đang sống, hay tham gia, chứng kiến sự kiện đã xảy
ra Triển lãm gồm tranh ảnh, áp phích, minh họa, sách báo, các hiện vật, hay mô hình phục chế…có liên quan đến chủ đề dạ hội, được trưng bày ở một góc hội trường, trên đường vào hội trường, hoặc hai bên sân khấu
Ý nghĩa giáo dục của buổi dạ hội sẽ tăng lên nếu trong buổi dạ hội có sự tham gia của những "nhân chứng" của sự kiện: anh hùng, chiến sĩ cách mạng, những người thân trong gia đình nhân vật lịch sử…
Trang 39Tổ chức tốt các buổi dạ hội không chỉ có tác dụng đối với học sinh trong trường, mà còn có ảnh hưởng lớn tới nhân dân địa phương Nó là một biện pháp
có hiệu quả gắn nhà trường với xã hội
* Tham quan lịch sử: Tham quan có một vị trí quan trọng trong dạy học
lịch sử ở trường phổ thông Những dấu vết của quá khứ, những hiện vật trưng bày trong bảo tàng không chỉ cụ thể hóa kiến thức, mà còn để lại một ấn tượng mạnh
mẽ nâng cao hứng thú học tập và rèn luyện khả năng quan sát, phân tích của học
Thứ hai, những cuộc tham quan có tinh chất một hoạt đông ngoại khóa ở nhà bảo tàng, di tích lịch sử xa trường, cuộc hành quân thăm chiến trường xưa,
“theo bước chân người anh hùng chiến sĩ” Công việc này đòi hỏi nhiều điều kiện khó khăn, phức tạp để tổ chức, nên không thể tiến hành thường xuyên
Sự phân chia hai loại tham quan lịch sử trên chi có tính chất tương đối, vì hai loại này thường được đan xen nhau Bài dạy tại thực địa cũng có phần tham quan Các cuộc tham quan ngoại khóa đều nhằm mục đích bổ sung kiến thức đã học
Tùy nội dung, mục đích hình thức của việc tổ chức tham quan lịch sử (ở nhà bảo tàng, ở nơi xảy ra sự kiện lịch sử, một cuộc hành quân theo dấu vết người xưa) mà ý nghĩa cũng khác nhau:
-Nếu để tạo cho học sinh một biểu tượng trong nội khóa, thì khi tham quan chủ yếu hướng dẫn học sinh quan sát hiện vật đồ trưng bày Hình thức này được tiến hành trước khi nghiên cứu một chương, một phần của chương trình lịch sử
-Việc tham quan kết hợp với việc giảng dạy bài mới sẽ phải tuân thủ những nguyên tắc, phương pháp của bài giảng tại thực địa hay bài giảng ở bảo tàng
-Việc tham quan kết hợp với việc giảng dạy bài mới sẽ phải tuân thủ những nguyên tắc, phương pháp của bài giảng tại thực địa hay bài giảng ở bảo tàng
-Khi tiến hành tham quan để tổng kết, củng cố, nâng cao kiến thức đã học, cần chú ý phát huy năng lực tư duy của học sinh Công việc này được thực hiện sau khi nghiên cứu một chương hay một phần chương trình
Trang 40Việc tham quan lịch sử có thể được tổ chức vào đầu năm học hoặc nhân dịp
kỉ niệm các ngày lễ lớn Để cho việc tổ chức được chu đáo, cần phải có kế hoạch
và phương pháp tiến hành tốt:
-Vào đầu năm học, giáo viên lịch sử đề xuất với nhà trường kế hoạch đi tham quan bảo tàng , nhà truyền thống (ở trung ương, địa phương), hoặc các di tích lịch sử
-Tiếp đó giáo viên liên hệ trước với ban quản lí bảo tàng hoặc di tích, gặp
gỡ trao đổi với cán bộ hướng dẫn trình bày rõ mục đích yêu cầu của buổi tham quan để cùng có kế hoạch phối hợp, tạo điều kiện cho hoạt động đạt kết quả Mặc
dù buổi tham quan ngoại khóa không gắn với nội dung chương trình của bài học lịch sử, song vẫn có tác dụng không nhỏ, trực tiếp với việc bổ sung kiến thức lịch
sử của học sinh Vì vậy, trong kế hoạch tham quan, giáo viên cần xác định rõ những hiện vật, tài liệu nên tập trung tìm hiểu, phù hợp với mục đích yêu cầu đề
ra
- Để thu được kết quả cao, giáo viên cần phổ biến cho học sinh rõ ràng mục đích, yêu cầu của buổi tham quan Đây là một trong các yếu tố đưa đến sự thành công của hình thức hoạt động này Bởi lẽ giáo viên không tổ chức chặt chẽ thì với
số lượng học sinh khá đông, sẽ khó quản lí, khó hướng dẫn các em chấp hành nội quy của bảo tảng hoặc di tích Một trong những yêu cầu quan trọng đối với học sinh trong khi tham quan là các em cần ghi chép những số liệu, tài liệu do người thuyết minh cung cấp,hoặc những ghi chú ở các tư liệu được trình bày
-Giáo viên cần dự kiến thời gian cho buổi tham quan Thông thường, đối với các di tích ở gần trường chỉ nên tiến hành trong khoảng hai tiếng để phù chợp với sức khỏe, trình độ cũng như năng lực nhận thức của học sinh
Kết quả của buổi tham quan được đánh giá thông qua việc giáo viên cho học sinh thảo luận hoặc viết các bài thu hoạch,Vì vậy, giáo viên cần đưa ra các bài tập
và yêu cầu học sinh hoàn thành ở nhà hay trong các giờ nội khóa, hoạt động ngoại khóa
Tổ chức tham quan học tập tại bảo tàng, di tích lịch sử phải được tổ chức chặt chẽ, theo đúng chương trình quy định, tránh việc làm tùy tiện, không có kế hoạch Đối với hình thức này, nội dung chủ yếu của buổi tham quan là nhằm củng
cố kiến thức đã học hoặc chuẩn bị cho việc học bài mới
Kết thúc buổi tham quan học tập tại bảo tàng, di tích lịch sử, giáo viên cần tiến hành kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh Nếu là buổi tham quan củng
cố kiến thức đã học, giáo viên nên giao cho học sinh bài tập dưới dạng câu hỏi