Nghiên cứu 112 bệnh nhân carcinôm tuyến dạ dày, tuổi trung bình 55,3 ± 11,3, được phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt dạ dày và nạo hạch triệt để, chúng tôi rút ra những kết luận sau: 1. Tỉ lệ thành công của PTNS cắt dạ dày và nạo hạch điều trị ung thư dạ dày là 94,6%. 2. Tỉ lệ tai biến trong mổ là 1,8%, biến chứng chung sau mổ là 11,6% và tử vong trong vòng 30 ngày sau mổ là 0,9%. Yếu tố phương pháp phẫu thuật (cắt bán phần dưới hay cắt toàn bộ dạ dày) có liên quan đến tỉ lệ tai biến trong mổ và biến chứng sau mổ. 3. Thời gian sống còn trung bình sau PTNS cắt dạ dày và nạo hạch điều trị ung thư dạ dày là 58,9 ± 2,5 tháng. Tỉ lệ sống còn toàn bộ chung sau 1, 3 và 5 năm lần lượt là 94,6%, 88,1% và 73,5%. Tỉ lệ sống còn không bệnh chung sau 1, 3 và 5 năm lần lượt là 93,6%, 82,8% và 74,5%. Tỉ lệ sống còn toàn bộ và không bệnh của giai đoạn I sau 1 và 3 năm là 100%. Tỉ lệ sống còn toàn bộ của giai đoạn II sau 1 và 3 năm lần lượt là 94,4% và 88,5%. Tỉ lệ sống còn không bệnh của giai đoạn II sau 1 và 3 năm lần lượt là 92,1% và 88,5%. Tỉ lệ sống còn toàn bộ của giai đoạn III sau 1 và 3 năm lần lượt là 65,2% và 48,1%. Tỉ lệ sống còn không bệnh của giai đoạn III sau 1 và 3 năm lần lượt là 56,5% và 37%. Các yếu tố giai đoạn bệnh chung và có di căn hạch có liên quan đến thời gian sống còn sau PTNS cắt dạ dày và nạo hạch điều trị ung thư dạ dày. Các yếu tố độ biệt hóa tế bào, kích thước thương tổn, giai đoạn thương tổn và nhóm tuổi (≤ 40 và > 40) không liên quan đến thời gian sống còn. PTNS cắt dạ dày và nạo hạch điều trị ung thư dạ dày khả thi, an toàn và chấp nhận được về mặt ung thư học.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VÕ DUY LONG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI
ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY THEO GIAI ĐOẠN I, II, III
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
TP HỒ CHÍ MINH - 2017
Trang 2MỞ ĐẦU
Ung thư dạ dày là bệnh thường gặp ở Việt Nam Theo điều tra quần thể tạithành phố Hồ Chí Minh năm 1997 của Bệnh viện Ung bướu, ung thư dạ dày có tầnsuất 10,4% trên 100 000 dân, thuộc 10 vị trí ung thư thường gặp nhất, đứng hàngthứ ba ở nam giới và thứ tư ở nữ giới [13] Theo tài liệu của Bệnh viện K năm 2000,ung thư dạ dày đứng hàng thứ hai ở nam giới sau ung thư phổi và hàng thứ ba ở nữgiới sau ung thư vú và ung thư cổ tử cung [1] Theo số liệu của Strong [118] năm
2009, hơn 22 000 trường hợp ung thư dạ dày mới mắc mỗi năm và trên 14 000trường hợp tử vong, là nguyên nhân tử vong hàng thứ tư do ung thư ở Mỹ
Phần lớn người bệnh ung thư dạ dày tại Việt Nam được phát hiện ở giai đoạntiến triển Theo Nguyễn Quang Thái [17], khoảng 1/3 bệnh nhân (31%) ung thư cònkhu trú trong thành dạ dày (giai đoạn T1, T2), số còn lại ở giai đoạn tiến xa: di cănhạch lympho hay di căn xa Tương tự như vậy, theo Nguyễn Minh Hải [8] bệnhnhân ung thư dạ dày còn được phẫu thuật triệt căn ở giai đoạn I là 22,5% (trong đógiai đoạn IA chỉ chiếm 2,4%), 17,8% ở giai đoạn II, 46,4% giai đoạn III và 13,1% ởgiai đoạn IV
Trước đây, mổ mở cắt dạ dày kèm nạo hạch lympho là phương pháp điều trịtiêu chuẩn được lựa chọn, cải thiện thời gian sống còn cho người bệnh [8],[12],[25],[39],[42]
Phẫu thuật nội soi cắt dạ dày được Kitano thực hiện lần đầu vào năm 1994tại Nhật Bản [66] Sau đó, nhiều tác giả khác đã ứng dụng và báo cáo kết quả banđầu về điều trị ung thư dạ dày [38],[67],[122] Tuy nhiên, vẫn còn những tranh cãi
về đường cong huấn luyện, tính khả thi về mặt kỹ thuật như: khả năng nạo hạchlympho hay những đặc điểm khác về phương diện ung thư trong PTNS so với mổmở
Đối với ung thư dạ dày giai đoạn sớm, nhiều báo cáo riêng lẻ cũng như cácphân tích gộp đã chứng minh PTNS có hiệu quả như mổ mở [43],[67],[70],[98] Tuy
Trang 3nhiên, số lượng bệnh nhân của từng báo cáo còn ít.
Đối với ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển, vai trò của PTNS vẫn còn tranhcãi Nhiều tác giả Nhật Bản và Hàn Quốc cho thấy một số lợi ích của PTNS Kếtquả phân tích gộp cũng cho thấy PTNS tương đương mổ mở về mặt ung thư học và
có nhiều lợi ích hơn như biến chứng ít hơn, giảm mất máu, hồi phục nhanh… [32],[62],[63] Ngược lại, các tác giả Châu Âu và Mỹ chưa nghiên cứu nhiều và cỡ mẫukhông lớn [27],[28],[59],[104],[118] Đặc biệt, số bệnh nhân ung thư dạ dày thươngtổn giai đoạn T4a trong các nghiên cứu còn ít Vì vậy, chưa có nhiều báo cáo đề cậpđến kết quả sống còn theo từng giai đoạn bệnh và chỉ định cụ thể của PTNS trongđiều trị ung thư dạ dày
Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, PTNS phát triển mạnh, được ứng dụngcho nhiều loại phẫu thuật Đối với ung thư dạ dày, đã có nhiều báo cáo của cáctác giả Nguyễn Hoàng Bắc [2],[3] (năm 2001, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố
Hồ Chí Minh), Nguyễn Minh Hải [9] (năm 2006, Bệnh viện Chợ Rẫy), Phạm NhưHiệp [10] (năm 2008, Bệnh viện Trung ương Huế), Triệu Triều Dương [6] (năm
2008, Bệnh viện 108), Đỗ Văn Tráng [21],[22],[23] (năm 2009, Bệnh viện ViệtĐức), Lê Mạnh Hà [7] (năm 2013, Bệnh viện Trung ương Huế) và Đỗ Trường Sơn[15] (năm
2014, Bệnh viện Việt Đức)… về tính khả thi và hiệu quả của PTNS trong cắt dạ dày.Bước đầu các nghiên cứu cho thấy PTNS có các ưu điểm như an toàn, giảm đausau mổ, hồi phục nhanh … Tuy nhiên, cỡ mẫu trong các nghiên cứu còn ít, một sốchưa đề cập kết quả sống còn, chưa đánh giá kết quả theo từng giai đoạn bệnh và sốbệnh nhân ung thư thương tổn giai đoạn T4a còn ít
Vì vậy, vấn đề được đặt ra của PTNS cắt dạ dày và nạo hạch lympho điều trịung thư dạ dày là:
- Về mặt kỹ thuật: có phải đây là một phẫu thuật khó, đòi hỏi kỹ năng cao
về PTNS, tỉ lệ thành công ra sao?
- Về mặt an toàn: đây có phải là kỹ thuật an toàn, tỉ lệ tai biến trong mổ,biến chứng và tử vong sớm sau mổ như thế nào?
Trang 4- Về mặt ung thư học: khả năng nạo hạch lympho, tỉ lệ sống còn sau mổtheo từng giai đoạn như thế nào?
Để trả lời những câu hỏi này, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá kết quả
phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày theo giai đoạn I, II, III” nhằm
đánh giá tính khả thi, tính an toàn và hiệu quả về mặt ung thư học theo từng giaiđoạn của PTNS trong điều trị ung thư dạ dày điều kiện ở Việt Nam
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Xác định tỉ lệ thành công của PTNS cắt dạ dày và nạo hạch lympho điều trịung thư dạ dày
2 Xác định tỉ lệ tai biến, biến chứng và tử vong trong vòng 30 ngày sau mổ củaPTNS cắt dạ dày và nạo hạch lympho điều trị ung thư dạ dày
3 Xác định tỉ lệ sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ chung sau 1, 3 và 5năm và tỉ lệ sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ theo từng giai đoạn I,
II, III sau 1 và 3 năm của PTNS cắt dạ dày và nạo hạch lympho điều trị ungthư dạ dày
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ PHẪU THUẬT CẮT DẠ DÀY
Ung thư dạ dày đã được nghiên cứu từ hàng trăm năm qua Các phương phápđiều trị khác nhau đã được đề cập đến như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, liệu pháp miễndịch trị… Tuy nhiên mỗi phương pháp đều có những hạn chế nhất định Nhưng,phẫu thuật vẫn được xem là phương pháp điều trị tối ưu nhất và là lựa chọn đầu tiêncho quyết định điều trị
Avicenna (980 – 1037) là người báo cáo đầu tiên về ung thư dạ dày Tuy nhiên,năm 1761, Morgagni là người đầu tiên mô tả chi tiết về tổn thương ác tính của dạdày
Năm 1879, Péan là người đầu tiên mổ cắt dạ dày cho một bệnh nhân ung thư dạdày nhưng bệnh nhân đã tử vong sau mổ 5 ngày
Năm 1881, Billroth là người đầu tiên mổ cắt dạ dày thành công trên người.Phẫu thuật cắt dạ dày theo Billroth I đã mang tên ông cho đến bây giờ
Năm 1885, sau khi cắt bỏ phần xa dạ dày của bệnh nhân bị ung thư, Billrothđóng mỏm tá tràng và mặt cắt của dạ dày Để lưu thông dạ dày, ông thựchiện miệng nối dạ dày - ruột non bằng cách nối ruột non vào mặt sau mỏm dạdày Từ đó, phẫu thuật này được gọi là phẫu thuật Billroth II
Năm 1888, Von Eiselsberg là người đầu tiên thay đổi kiểu nối Billroth II bằngcách khâu bớt phần trên của mỏm cắt dạ dày rồi nối phần dưới còn lại của mỏm dạdày với hỗng tràng kiểu tận – bên Nhưng đến năm 1889 Hofmester và năm 1919Finsterer mới công bố phẫu thuật đó, vì vậy ngày nay phẫu thuật này mang tênHofmester – Finsterer
Năm 1897, Schlatter là người đầu tiên trên thế giới thực hiện thành công ca cắttoàn bộ dạ dày điều trị ung thư
Năm 1899, Braun tạo thêm một miệng nối giữa quai đến và quai đi kiểu bên –bên để lưu thông quai đến dễ dàng hơn Sau này miệng nối này được gọi là miệngnối Braun
Trang 6Năm 1906, Cuneo là người đầu tiên mô tả dẫn lưu bạch huyết của dạ dày vàảnh hưởng đến mức độ cắt dạ dày trong ung thư.
Năm 1907, Roux cắt dạ dày toàn bộ và tái lập lưu thông tiêu hóa theo kiểu chữY
Năm 1911, Polya cải tiến phương pháp phẫu thuật Billroth II là để nguyên mỏmcắt dạ dày và nối tận – bên vào quai hỗng tràng, được gọi là miệng nối Polya
Năm 1951, Mc Neer là người đầu tiên đề cập đến kỹ thuật nạo vét hạch rộng rãitrong điều trị ung thư dạ dày sau khi phẫu tích 92 mẫu tử thi sau cắt dạ dày do ungthư Không lâu sau đó, năm 1953 Sunderland mô tả chi tiết hệ thống bạch huyếtquanh dạ dày
Về phẫu thuật nội soi điều trị ung thư dạ dày, năm 1994 Kitano báo cáo trườnghợp đầu tiên trên thế giới [66],[71]
1.2 NHẮC LẠI GIẢI PHẪU DẠ DÀY ỨNG DỤNG TRONG PHẪU THUẬT CẮT DẠ DÀY VÀ NẠO HẠCH
Dạ dày là phần rộng nhất của ống tiêu hóa, nối giữa thực quản và tá tràng,nằm ở phần bụng trên, dưới cơ hoành, kéo dài từ hạ sườn trái xuống dưới và quaphải Đây là cơ quan di động, nên vị trí của nó phụ thuộc vào tư thế của cơ thể, mức
độ đầy của dạ dày, mức độ đầy của ruột, trương lực cơ thành bụng và thể trạng củabệnh nhân Thể tích trung bình của dạ dày tăng từ 30 ml lúc mới sinh, đến 1000 ml
ở tuổi dậy thì và 1500 ml ở người lớn
1.2.1 Hình thể ngoài của dạ dày
Về mặt ứng dụng phẫu thuật, theo Hiệp hội nghiên cứu ung thư dạ dày NhậtBản [55], để xác định vị trí thương tổn dạ dày theo chiều dọc, dạ dày được chialàm 3 vùng bằng cách nối giữa các điểm chia đều 3 phần ở hai bờ cong lớn vànhỏ, theo ký hiệu như sau: 1/3 trên (U: upper), 1/3 giữa (M: middle) và 1/3 dưới (L:
lower) (hình 1.1)
Trang 7E: Esophagus (thực quản)U: Upper (1/3 trên) M: Middle (1/3 giữa)L: Lower (1/3 dưới)D: Duodenum (tá tràng)
Hình 1.1 Phân chia hình thể ngoài của dạ dày
Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011" [55]
Để xác định vị trí thương tổn theo thiết diện chu vi, dạ dày được chia làm 4phần: bờ cong lớn, bờ cong nhỏ, thành trước và thành sau Tùy vị trí thương tổn màchúng ta có thể xác định được các cơ quan có thể bị xâm lấn cũng như khả năng di
căn hạch (Hình 1.2)
Thành trước
Thành sau
Hình 1.2 Phân chia theo thiết diện chu vi dạ dày
Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011" [55]
Trang 8Mạc nối lớn: trong phẫu thuật cắt dạ dày điều trị ung thư, mạc nối lớn
thường được cắt bỏ toàn bộ hoặc một phần Mạc nối lớn là do một phần của mạctreo vị sau bị trĩu xuống bởi sự phát triển xuống dưới của ngách gan ruột Hai láphúc mạc của mạc treo vị dính vào nhau dọc theo bờ cong lớn của dạ dày, chạyxuống dưới tỏa ra như một tấm khăn dài và dày rồi quặt ngược lên bám vào đạitràng ngang và mạc treo đại tràng ngang, sau đó 2 lá lại tách ra để bao phủ tá tràng
và mặt trước tụy rồi tiếp tục chạy lên tới cơ hoành Như vậy, mạc nối lớn bao gồm
4 lá Ứng dụng trong phẫu thuật cắt dạ dày triệt căn là phải lấy luôn cả lá phúcmạc mặt trước mạc treo đại tràng ngang và tụy
Mạc nối nhỏ: là màng gồm 2 lá phúc mạc nối từ gan vào bờ cong nhỏ dạ
dày và vào tá tràng Nó chạy ở mặt dưới gan theo rãnh ngang liên quan với cuốngan và lên dính vào bờ phải thực quản, dọc xuống bờ cong nhỏ dạ dày và phần trên
tá tràng D1 Bờ phải của mạc nối nhỏ là dây chằng gan tá tràng chứa cuốn gan gồm
ĐM gan riêng, TM cửa và các ống mật ngoài gan
1.2.2 Các mạch máu nuôi dạ dày
1.2.2.1 Động mạch (hình 1.3)
Các ĐM chính cấp máu cho dạ dày đều có nguồn gốc từ ĐM thân tạng ĐM
vị trái, ĐM lách và ĐM gan chung xuất phát trực tiếp từ ĐM thân tạng ĐM láchchia các nhánh ĐM vị ngắn, ĐM vị sau và ĐM vị mạc nối trái ĐM gan chung chianhánh ĐM gan riêng và ĐM vị tá tràng ĐM gan riêng chia nhánh ĐM vị phải và
ĐM trên tá tràng ĐM vị tá tràng chia nhánh ĐM dưới môn vị và ĐM vị mạc nốiphải
Các ĐM này được nối với nhau thành 2 vòng ĐM quanh dạ dày là vòngmạch ở bờ cong nhỏ và vòng mạch ở bờ cong lớn
Vòng ĐM bờ cong nhỏ: được tạo bởi ĐM vị trái và ĐM vị phải
- ĐM vị trái: là nhánh nhỏ nhất của ĐM thân tạng, đi lên qua trái đường
giữa và nằm trong mạc nối nhỏ đến dưới trụ hoành trái
Biến đổi giải phẫu của ĐM vị trái: 90% xuất phát từ ĐM thân tạng, 4% từthân chung vị lách, 3% trực tiếp từ ĐM chủ bụng, 2% từ thân chung vị gan [52]
Trang 9Theo Lê Văn Cường [5], ĐM vị trái của người Việt Nam có nguyên ủy: từ
ĐM thân tạng (74,1%), từ ĐM chủ bụng (16,1%), từ thân chung vị lách (6,4%) và
từ thân chung gan vị (3,2%)
Hình 1.3 Các ĐM cung cấp máu cho dạ dày
Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011 [55]
- ĐM vị phải: là nhánh nhỏ xuất phát từ ĐM gan riêng và đi đến phần dưới
của bờ cong nhỏ Nó cho một hoặc nhiều nhánh trên môn vị, đồng thời đi dọctheo bờ cong nhỏ của dạ dày và nối với động mạch vị trái
Biến đổi giải phẫu của ĐM vị phải: 50 - 68% xuất phát từ ĐM gan riêng,28,8 - 40,5% từ ĐM gan trái và 3,2% từ ĐM gan chung [52]
Vòng ĐM bờ cong lớn: được tạo bởi ĐM vị mạc nối phải và ĐM vị mạc
nối trái
- ĐM vị mạc nối phải: xuất phát từ ĐM vị tá tràng ở bờ dưới tá tràng D1 rồi
đi trong mạc nối vị đại tràng song song với bờ cong lớn lên trên
- ĐM vị mạc nối trái: là một nhánh lớn của ĐM lách, nó đi đến dạ dày trong
mạc vị đại tràng tại vị trí giữa và dọc theo bờ cong lớn
Các ĐM vị ngắn
Trang 10Khoảng 5-7 ĐM vị ngắn xuất phát từ các nhánh tận của ĐM lách hoặc từ
ĐM lách Các ĐM này đi đến phần trên thân vị và phình vị Trong phẫu thuậtcắt bán phần dưới và nạo hạch D2, các ĐM này được bảo tồn và cung cấp máucho phần dạ dày còn lại
Hiểu biết về giải phẫu của ĐM vị sau giúp tránh biến chứng chảy máu khinạo hạch nhóm 10, 11p và 11d
Tuần hoàn ĐM trong thành dạ dày (hình 1.4)
Dạ dày là một trong những cơ quan được tưới máu tốt nhất, không chỉ đượccấp máu bởi nhiều ĐM mà còn có hệ thống mạng mạch nối phong phú bên ngoài và
cả trong thành dạ dày Dạ dày vẫn có thể tồn tại nếu chúng ta thắt tất cả các ĐM chỉtrừ một trong các ĐM của nó Vì vậy trong phẫu thuật cắt dạ dày, cần phải cầmmáu kỹ các mặt cắt để tránh chảy máu sau mổ
1.2.2.2 Tĩnh mạch: các TM cùng tên với ĐM và đổ trực tiếp vào TM cửa
hoặc vào TM lách rồi về TM cửa và dẫn máu về gan
- TM vị trái (hay TM vành vị) (hình 1.6): đổ trực tiếp vào TM cửa hoặc
TM lách Có 3 vị trí đổ của TM vị trái và tỉ lệ như ở hình 1.5 [102].
TM vị trái thường không đi kèm sát với ĐM vị trái nên trong phẫu thuậtchúng ta phải phẫu tích và thắt riêng biệt
Trang 11101 0
Hình 1.4 Tuần hoàn bàng hệ trong thành dạ dày
Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011 [55]
TM cửa
TM lách
TM mạc treo
Hình 1.5 Các vị trí dẫn lưu của TM vị trái
Nguồn: Rebibo, 2012 [102]
Trang 12Hình 1.6 Các mạch máu bờ trên tụy
Bệnh án số 31: bệnh nhân Võ Lệ H., 56 tuổi, số hồ sơ: 11-0030173
- TM vị phải: là một TM nhỏ đổ trực tiếp vào TM cửa ở rốn gan [110].
- TM vị mạc nối trái: đổ vào TM lách hoặc vào một trong các nhánh tận của
TM lách TM vị mạc nối trái thường đi kèm sát với ĐM vị mạc nối trái nên trongphẫu thuật chúng ta có thể thắt chung với nhau
- TM vị mạc nối phải: đổ vào TM mạc treo tràng trên qua thân TM vị đại
tràng (còn gọi là thân Henle: hợp bởi 3 TM là TM vị mạc nối phải, TM đại tràngphải trên và TM trước dưới tá tụy, TM này hiện diện trong 70% các trường hợp) [5],[52]
16 nhóm và 4 chặng Đến năm 2011, bảng phân chia này đã được tái bản lần thứ 3
Trang 13và bổ sung nhiều chi tiết rõ ràng và cụ thể hơn [55] (hình 1.7) và phụ lục 3.
Hình 1.7 Sơ đồ vị trí các nhóm hạch quanh dạ dày
Nguồn: Japanese Gastric Cancer Association, 2011 [55],[108]
Trang 141.3 CẬP NHẬT GIẢI PHẪU BỆNH UNG THƯ DẠ DÀY
(phụ lục 4)
1.3.2 Vi thể
- Năm 2011, Hiệp hội ung thư Nhật Bản đưa ra bảng phân loại chi tiết, bao gồm
phân chia các type thường gặp thành các subtype chi tiết [55] (phụ lục 4).
1.3.3 Phân chia giai đoạn trong ung thư dạ dày
1.3.3.1 Phân chia giai đoạn ung thư dạ dày theo TMN (bảng 1.1)
Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ (NCCN) [94] năm 2010 và Hiệp hội ung thưNhật Bản năm 2011 [55] thống nhất bảng phân chia đánh giá giai đoạn ung thư dạ
dày theo TNM (phụ lục 5) mới nhất như sau:
Bảng 1.1 Phân chia giai đoạn ung thư dạ dày [55]
T1a (M), T1b (SM) IA IB IIA IIB
T3 (SS)
T4a (SE)
IIAIIB
IIBIIIA
IIIAIIIB
IIIBIIIC
Trang 151.3.3.2 Vai trò của chụp cắt lớp điện toán trong chẩn đoán giai đoạn trước
mổ ung thư dạ dày
Việc chẩn đoán giai đoạn trước mổ ung thư dạ dày rất quan trọng trongquyết định điều trị
Chụp cắt lớp điện toán được coi là phưong tiện chính dùng dể đánh giá giaiđoạn carcinôm tuyến dạ dày Ngày nay, các tiến bộ trong kỹ thuật như chụp cắtlớp đa dãy dầu thu cho lát cắt mỏng trong thời gian ngắn; phần mềm tái tạo đamặt phẳng có tính đẳng hướng giúp lựa chọn mặt phẳng tối ưu để đánh giáxâm lấn thành dạ dày và mỡ quanh dạ dày, hạn chế ảnh giả do hiệu ứng thể tíchbán phần; hình ảnh ba chiều và khả năng lưu trữ đã tạo nhiều tiến bộ trong chụpcắt lớp điện toán dạ dày
Ngoài đánh giá giai đoạn, chụp cắt lớp điện toán còn có vai trò định
vị thương tổn Trước đây, chụp dạ dày cản quang được sử dụng cho mục đíchnày Ngày nay, chụp cắt lớp điện toán là phương tiện có thể thay thế vì cho hìnhảnh chi tiết và cung cấp nhiều thông tin hơn, ít thời gian hơn, không thêm liều tia X
Tác giả Đỗ Thị Ngọc Hiếu [11] nghiên cứu 133 trường hợp chụp cắt lớp điệntoán chẩn đoán giai đoạn ung thư dạ dày tại bệnh viện Đại học Y Dược thành phố
Hồ Chí Minh và cho kết quả như sau:
Khả năng chẩn đoán đúng chung 78%; độ nhạy và đặc hiệu của giaiđoạn T1 lần lượt là 100% và 100%, T2-3 là 57% và 98%, T4a là 71% và 86%, vàT4b là 89% và 77% Độ nhạy thấp nhất với thương tổn giai đoạn T2-3.Trong chẩnđoán xâm lấn thanh mạc, độ nhạy 97%, độ đặc hiệu 63%
Chẩn đoán hạch di căn dựa vào kích thước cho thấy ngưỡnghạch càng lớn thì độ nhạy càng giảm, độ đặc hiệu càng tăng Hạch đường kính trụcngang
8 mm và 10 mm có cùng độ chính xác 70%, độ nhạy 81,5% và 61%, độ đặc hiệu74% và 84% Hình dạng hạch tua gai có độ đặc hiệu cao 92%, độ nhạy thấp 31,5%
Chẩn đoán di căn gieo rắc phúc mạc có độ nhạy, độ đặc hiệu, giátrị tiên đoán dương và giá trị tiên đoán âm lần lượt là 50%, 97%, 83% và 87%
Trang 16Từ kết quả đó, chúng tôi thực hiện chụp cắt lớp điện toán thường quy trước
mổ cho tất cả các bệnh nhân ung thư dạ dày để đánh giá giai đoạn trước khi đưa raquyết định điều trị cho bệnh nhân
1.4 VAI TRÒ CỦA NẠO HẠCH TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY
1.4.1 Tỉ lệ di căn hạch trong ung thư dạ dày
Trong ung thư dạ dày, di căn hạch xảy ra khá sớm, kể cả hạch ở gần và ở xathương tổn [25],[69],[121] Khả năng di căn hạch của những thương tổn còn ở lớpniêm mạc từ 3 – 5%, ở lớp dưới niêm từ 16 – 25% [103] Tuy nhiên, thương tổn ởgiai đoạn T2 thì di căn hạch đến 50%, còn ở giai đoạn III hay IV thì khả năng dicăn hạch lên đến 80 – 90% [4],[8],[16],[25],[89]
Maruyama [87] nghiên cứu 1931 bệnh nhân ung thư dạ dày tiến triển từ năm
1972 đến năm 1986 cho thấy tỉ lệ di căn hạch là 74% Các nhóm hạch số 1 – 6 dicăn từ 9 – 53% và cao hơn ở nhóm 7, 9, 11 Tỉ lệ di căn các nhóm hạch ổ bụngngoài nhóm hạch từ 1 – 16 là 0,8% Mức độ xâm lấn của thương tổn theo thành
dạ dày liên quan có ý nghĩa đến tỉ lệ di căn hạch
Tác giả Feng [44] nghiên cứu trên 163 bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạntiến triển được phẫu thuật cắt dạ dày kèm nạo hạch D2 và nạo cả nhóm hạch 12p và12b Tỉ lệ di căn nhóm hạch 12p là 9,2% và di căn đồng thời ở cả hai nhóm 12p và12b là 3,1% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ sống còn giữa nhóm bệnhnhân có và không di căn hạch 12p và 12b, với tỉ lệ sống còn sau 5 năm lần lượt là13,3% và 35,1%, p = 0,022
Tỉ lệ di căn nhóm hạch 12 là 7,8% khi phân tích 1008 trường hợp ung thư dạdày được phẫu thuật R0 [82]
Theo Đỗ Đình Công [4], 50% bệnh nhân có xâm nhập hạch lympho
Tác giả Nguyễn Minh Hải [8] báo cáo tỉ lệ di căn hạch trong ung thư dạ dày
là 70,2% Tuy nhiên, nếu giai đoạn sớm, tỉ lệ này là 33,3%
Trịnh Hồng Sơn [16] nghiên cứu 306 bệnh nhân ung thư biểu mô dạ dày
Trang 17được phẫu thuật tại Bệnh viện Việt Đức từ 1995-1997 Tác giả ghi nhận di căn hạchchiếm 81%, số lượng hạch nạo vét trung bình là 17 hạch Càng nạo vét thì càng lấyđược nhiều hạch và càng thấy nhiều hạch bị di căn.
1.4.2 Các mức độ nạo hạch trong điều trị ung thư dạ
dày
Vào những năm 1980, các báo cáo cho thấy tỉ lệ sống còn 5 năm ở từng giaiđoạn ung thư dạ dày của Nhật Bản cao hơn ở Mỹ, cụ thể là: giai đoạn I: 91% so với50%, giai đoạn II: 71% so với 28%, giai đoạn III: 44% so với 13%, giai đoạn IV:9% so với 3% Một trong những nguyên nhân của sự khác nhau này được cho là cóliên quan đến mức độ nạo hạch Và từ đó, các nghiên cứu ngẫu nhiên về mức
độ nạo hạch được thực hiện [29],[40],[109]
Sự tranh cãi về có nạo hạch rộng rãi hay không và mức độ nạo hạch như thếnào vẫn chưa được thống nhất trên thế giới và còn đang tranh cãi từ hàng thập
kỷ qua [133]
Ở các nước Châu Á, đặc biệt là Nhật Bản và Hàn Quốc, nơi có tỉ lệ ung thư
dạ dày cao nhất thế giới, phẫu thuật nạo hạch D2 được thực hiện thường quy với tỉ
lệ biến chứng và tử vong thấp trong nhiều nghiên cứu [69],[74],[121]
Tương tự Nhật Bản, tại Hàn Quốc thử nghiệm phẫu thuật D2 so với D1 thìkhông được xem là vấn đề y đức Tại bệnh viện quốc gia Seoul, Hàn Quốc, nơi thựchiện hơn 100 phẫu thuật ung thư dạ dày mỗi năm, báo cáo cho thấy tỉ lệ biến chứngcủa phẫu thuật nạo hạch D2 là 17,4% và tỉ lệ tử vong là 0,6% [69]
Ngược lại, điều trị triệt căn ung thư dạ dày bằng phẫu thuật cắt dạ dày kèmnạo hạch D2 thường quy vẫn còn chưa rõ ràng ở phần còn lại của thế giới
Cho đến nay, có nhiều nghiên cứu ngẫu nhiên đánh giá mức độ nạo hạchtrong điều trị ung thư dạ dày Ở các nước phương Tây, có 2 nghiên cứu lớn của Anhvới 400 bệnh nhân và của Hà Lan với 711 bệnh nhân [69],[121]
Nghiên cứu ở Anh so sánh ngẫu nhiên 200 bệnh nhân được phẫu thuậtnạo hạch D1 với 200 bệnh nhân phẫu thuật nạo hạch D2, cho thấy không có sự khácbiệt về tỉ lệ sống còn sau 5 năm giữa 2 nhóm (với 35% ở D1 và 33% ở D2) Tuynhiên, tỉ lệ biến chứng ở phẫu thuật nạo hạch D2 (46%) cao hơn so với D1(28%, p =
Trang 180,001) và tỉ lệ tử vong cũng cao ở phẫu thuật nạo hạch D2 (p = 0,04).
Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu ngẫu nhiên này là tỉ lệ cắt thân đuôi tụy
và lách xảy ra ở 56% với phẫu thuật nạo hạch D2 và 6% với phẫu thuật nạo hạchD1
Nghiên cứu ở Hà Lan so sánh 380 bệnh nhân được phẫu thuật nạo hạch D1với 381 bệnh nhân phẫu thuật nạo hạch D2 trong thời gian theo dõi trung bình
11 năm Kết quả cho thấy tỉ lệ biến chứng cao hơn có ý nghĩa thống kê ở phẫuthuật nạo hạch D2 (43%) so với phẫu thuật nạo hạch D1 (25%) với p < 0,001.Tương tự, tỉ lệ tử vong sau mổ ở nạo hạch D2 cũng cao hơn có ý nghĩa so với nạohạch D1 ( tỉ lệ lần lượt là 10% và 4%, p < 0,04) Nhưng không có sự khác biệt về tỉ
lệ sống còn toàn bộ giữa hai nhóm (với 45% ở D1 và 47% ở D2, p = 0,53)
Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu trong thời điểm này là gần 50% bệnhnhân nhóm nạo hạch D2 không được nạo đầy đủ các nhóm hạch mà lẽ ra phải nạo,
và 6% bệnh nhân nhóm nạo hạch D1 nạo nhiều hơn các nhóm hạch cần nạo
Như vậy, có sự khác nhau về kết quả giữa nạo hạch D1 và nạo hạch rộng rãihơn (D2, D2+) ở các nước phương Tây và các nước châu Á
Ngày nay, nạo hạch rộng rãi có khả năng thực hiện an toàn ở các nước Châu
Âu hay không?
Gần đây các phẫu thuật viên phương Tây được đào tạo bài bản về phẫuthuật cắt dạ dày và nạo hạch D2, có vài nghiên cứu ở các trung tâm lớn cho kếtquả tốt hơn về nạo hạch D2
Một nghiên cứu ngẫu nhiên khác được thực hiện ở Italia với 133 bệnh nhânđược phẫu thuật cắt dạ dày kèm nạo hạch D1 và 134 bệnh nhân nạo hạch D2.Không có sự khác biệt về tỉ lệ tử vong (D1: 3,0% so với D2: 2,2%, p = 0,722) vàbiến chứng sau mổ (D1: 12,0% so với D2: 17,9%, p = 0,178) Nghiên cứu này chưaghi nhận kết quả sống còn sau mổ Nghiên cứu khác ở Tây Ban Nha cũng chothấy tỉ lệ sống còn sau 5 năm ở nhóm nạo hạch D2 cao hơn có ý nghĩa so với nhómD1 (50,6% so với 41,4%, p = 0,03), nhưng tỉ lệ tử vong thấp hơn (với 0% nhómD2 và
2,3% nhóm D1, p = 0,295) Kết luận của nghiên cứu này là ở trung tâm có kinh
Trang 19nghiệm, phẫu thuật viên được đào tạo tốt, tỉ lệ tử vong và biến chứng của phẫuthuật
cắt dạ dày và nạo hạch D2 thấp như phẫu thuật nạo hạch D1 [108],
Vậy tóm lại, hiện nay phẫu thuật cắt dạ dày kèm nạo hạch D2 là phẫu thuật tiêu chuẩn trong điều trị ung thư dạ dày.
Nạo hạch rộng rãi hơn D2 có lợi không?
Tại Nhật Bản, phẫu thuật cắt dạ dày kèm nạo hạch rộng rãi hơn D2 (D2+) đãđược thực hiện từ những năm 1980 tại các trung tâm chuyên sâu về ung thư dạ dàynhằm cải thiện tỉ lệ sống còn của ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển Tần suất di cănnhóm hạch dọc động mạch chủ bụng (nhóm 16) khi nạo hạch D3 từ 6 đến 33% và tỉ
lệ sống còn sau 5 năm từ 12 đến 23% [107],[121]
Một nghiên cứu ngẫu nhiên được thực hiện ở Nhật Bản vào giữa năm 1995đến năm 2001 về phẫu thuật cắt dạ dày kèm nạo hạch D2 so với phẫu thuật nạohạch rộng rãi dọc động mạch chủ (D2+) ở 523 bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạnT2b, T3 và T4 (phân chia ngẫu nhiên cho 263 bệnh nhân được phẫu thuật nạo hạchD2 và 260 bệnh nhân D2+) Kết quả cho thấy tỉ lệ biến chứng cao hơn ở nhóm nạohạch D2+ (28,1%) so với nhóm nạo hạch D2 (20,9%), nhưng sự khác biệt nàykhông có ý nghĩa thống kê (p = 0,067) Nhưng, tỉ lệ tử vong như nhau ở hai nhóm0,8% (p = 0,99) Ngoài ra, không có sự khác nhau giữa hai nhóm về tỉ lệ xì miệngnối, rò tụy, áp xe tồn lưu ổ bụng và viêm phổi Tỉ lệ sống còn sau 5 năm tương tựnhau giữa hai nhóm lần lượt là 69,2% (D2) và 70.3% (D2+) với p = 0,85 Tỉ suấtnguy cơ tử vong giữa nhóm nạo hạch D2+ so với D2 là 1,03 Mặc khác, thời gian
mổ kéo dài hơn ở nhóm phẫu thuật D2+ và lượng máu mất cũng nhiều hơn Nghiêncứu này kết luận rằng nạo hạch D2+ dự phòng không nên thực hiện thường quy ở
Trang 20những trường hợp ung thư dạ dày còn khả năng cắt bỏ được [69].
Một nghiên cứu pha III khác tại Ba Lan so sánh giữa phẫu thuật D2 với phẫuthuật D2 + hạch dọc ĐM chủ bụng ở 275 bệnh nhân ung thư dạ dày Trong sốnày,
141 bệnh nhân chỉ được cắt dạ dày kèm nạo hạch D2 và 134 bệnh nhân được phẫuthuật D2 + Tỉ lệ biến chứng khác nhau không có ý nghĩa giữa hai nhóm với 27,7%
ở nhóm D2 và 21,6% ở nhóm D2+ (p = 0,248) Tương tự, tỉ lệ tử vong sau mổ cũngkhác biệt không có ý nghĩa giữa hai nhóm với 4,9% ở D2 và 2,2% ở D2+ (p =0,375) Như vậy, ở nghiên cứu này cho thấy nạo hạch D2 + không làm tăng thêm tỉ
lệ biến chứng và tử vong so với nạo hạch D2 đơn thuần Tuy nhiên, nghiên cứunày chưa phân tích các lợi ích về tỉ lệ sống còn
Vào giữa những năm 1995 đến năm 2002, một nghiên cứu đa trung tâm tạiNhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan thực hiện trên 269 bệnh nhân cũng cho kết quảtương tự là tỉ lệ biến chứng sau mổ cao hơn có ý nghĩa ở nhóm phẫu thuật nạo hạchD2 + (39%) so với nhóm chỉ phẫu thuật nạo hạch D2 đơn thuần (26%) với p =0,023 Tỉ lệ tử vong sau mổ cũng cao hơn ở nhóm D2 + (3,7%) so với nhóm D2 đơnthuần (0,7%), nhưng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,107) Tuy nhiên, tỉ lệ sốngcòn toàn bộ sau 5 năm chưa cải thiện ở nhóm nạo hạch D2 + (55,4%) so với nhómnạo hạch D2 đơn thuần (52,6%) với p = 0,801
Vậy tóm lại, phẫu thuật nạo hạch rộng rãi hơn D2 tuy có an toàn nhưng tỉ lệsống còn chưa chứng minh được là có cải thiện, vì vậy chưa được khuyến cáo thựchiện thường quy trong điều trị ung thư dạ dày
1.4.3 Cắt lách, đuôi tụy có cần thiết
không?
Trước đây các tác giả thường cắt đuôi tụy và lách kèm theo thường quy đểnạo các nhóm hạch số 11 và 10 trong các trường hợp ung thư 1/3 trên dạ dày [68].Tuy nhiên, tỉ lệ biến chứng và tử vong cao ở hai nghiên cứu phương Tây (Hà Lan vàAnh) và tỉ lệ sống còn không cải thiện hơn ở nghiên cứu Nhật Bản Gần đây, một sốnghiên cứu cho rằng cắt đuôi tụy chỉ thực hiện khi thương tổn nguyên phát hayhạch di căn xâm lấn tụy rõ ràng nhưng không được thực hiện thường quy mangtính chất
Trang 21202 0
dự phòng
Trái lại, cắt lách để nạo nhóm hạch vùng rốn lách (nhóm số 10) vẫn còn đangbàn cãi Theo kinh nghiệm của các tác giả Nhật Bản, việc nạo hạch vùng rốnlách với cắt lách kèm theo thì tần suất di căn hạch nhóm này khoảng từ 0 – 2%đối với ung thư ở 1/3 dưới và 1/3 giữa dạ dày, 15% đối với ung thư 1/3 trên dạ dày
và 21% đối với ung thư xâm lấn toàn bộ dạ dày Khoảng 20 – 25% bệnh nhân
có di căn hạch vùng này mà kèm theo nạo hạch và cắt lách sống sau 5 năm Tuynhiên, không có bằng chứng của di căn hạch rốn lách ở ung thư dạ dày giai đoạnsớm trong nhiều nghiên cứu [121]
Có hai nghiên cứu ngẫu nhiên cắt toàn bộ dạ dày và nạo hạch kèm theo
có hoặc không cắt lách được thực hiện ở Chile và Hàn Quốc, cho thấy tỉ lệ sốngsau 5 năm tốt hơn ở nhóm cắt lách nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Vì vậy, cắt lách để nạo hạch rốn lách trong điều trị ung thư 1/3 trên dạ dày chưađược thực hiện thường quy [121]
Trong hướng dẫn điều trị ung thư dạ dày của Hiệp hội Ung thư dạ dày NhậtBản, việc cắt lách để nạo hoàn toàn nhóm hạch số 10 trong những trường hợpthương tổn giai đoạn T2 – T4 ở bờ cong lớn phần ba trên dạ dày nên được thựchiện
1.5 CÁC PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY
1.5.1 Phác đồ điều trị ung thư dạ dày
Theo Hiệp hội Ung thư Nhật Bản [56], phác đồ thực hành lâm sàng về điều
trị ung thư dạ dày như ở biểu đồ 1.1.
1.5.2 Các nguyên tắc phẫu thuật điều trị ung thư dạ dày [56],[94]
Cho đến nay, phương pháp điều trị tối ưu nhất đối với ung thư dạ dày vẫn làphẫu thuật cắt dạ dày Các phương pháp khác như hóa trị, xạ trị hay liệu pháp miễndịch trúng đích chỉ mang tính hỗ trợ cho phẫu thuật hoặc cho các trường hợp khôngcòn khả năng phẫu thuật [112],[132]
Trang 22Biểu đồ 1.1 Phác đồ điều trị ung thư dạ dày [56]
Phẫu thuật triệt căn điều trị ung thư dạ dày được chỉ định cho những trườnghợp thương tổn còn khả năng cắt bỏ được và không có di căn xa Mặc khác, cắt dạdày triệt căn là một phẫu thuật lớn, nên tình trạng thể trạng bệnh nhân phải còn tốt,
có thể chịu đựng được cuộc mổ lớn Nguyên tắc phẫu thuật như sau:
Cắt bỏ hết mạc nối lớn và mạc nối nhỏ
Nạo vét hạch hệ thống thành một khối tùy theo phương pháp phẫu thuật
Bờ cắt dưới dưới môn vị # 2 cm Ung thư dạ dày rất hiếm khi ăn xuống
tá tràng quá giới hạn này
Bờ cắt trên cách thương tổn ít nhất là 5 cm
Trang 23 Với thương tổn giai đoạn T4b thì phải cắt thành khối cùng với cơ quan
1.5.3 Định nghĩa phẫu thuật điều trị ung thư dạ dày
[56]
1.5.3.1 Phẫu thuật triệt căn:
Phẫu thuật cắt dạ dày tiêu chuẩn: là phẫu thuật cắt dạ dày triệt căn (cắt ítnhất 2/3 dạ dày) cùng với nạo hạch D2
Phẫu thuật cắt dạ dày không theo tiêu chuẩn: mức độ cắt dạ dày và/ hoặcnạo hạch thay đổi tùy theo đặc điểm thương
1.5.3.2 Phẫu thuật không triệt căn
Áp dụng trong các trường hợp ung thư giai đoạn tiến triển, không còn khảnăng phẫu thuật cắt bỏ được và bệnh nhân có biến chứng như chảy máu, hẹp môn
Trang 241.5.4 Các phương pháp phẫu thuật cắt dạ dày
Các phương pháp cắt dạ dày điều trị ung thư dạ dày như sau:
Là phẫu thuật cắt bỏ phần lớn đoạn dưới dạ dày cùng với thương tổn, môn vị
và mạc nối lớn Phẫu thuật này áp dụng cho những trường hợp thương tổn ở 1/3dưới dạ dày hoặc 1/3 giữa dạ dày mà khoảng cách từ bờ trên thương tổn đến tâm vịtrên 5 cm Mặt cắt tá tràng được đóng lại bằng khâu tay hoặc dùng máy cắt nốithẳng Phục hồi lưu thông tiêu hóa bằng cách nối mỏm cắt dạ dày với tá tràng hoặchỗng tràng theo phương pháp Billroth I hoặc Billroth II hay Roux en Y
Trang 25bộ dạ dày Phục hồi lưu thông tiêu hóa bằng cách nối thực quản bụng với hỗngtràng theo phương pháp Roux en Y hoặc kiểu Omega.
1.5.4.4 Cắt dạ dày kèm theo cơ quan khác (cắt dạ dày mở rộng)
Là phẫu thuật cắt bỏ 1 phần hay toàn bộ dạ dày cùng với cơ quan bị xâm lấn.Các phẫu thuật này có thể là:
Cắt dạ dày + cắt lách
Cắt dạ dày + cắt đuôi tụy và lách
Cắt dạ dày + cắt đoạn đại tràng ngang
Cắt dạ dày + cắt thùy gan trái
Cắt dạ dày + cắt khối tá tụy
1.5.5 Các mức độ nạo hạch trong điều trị ung thư dạ dày
Theo quan điểm cũ, các định nghĩa nạo hạch như sau:
Nạo hạch D1: nạo hạch giới hạn ở các hạch quanh dạ dày (nhóm 1 – 6).Nạo hạch D2: nạo toàn bộ các hạch dọc theo động mạch gan, động mạch vịtrái, động mạch thân tạng và động mạch lách cũng như rốn lách (nhóm 1 – 12)
Nạo hạch D3: nạo hạch rộng rãi, bao gồm nạo hạch D2 cộng thêm các nhómhạch dọc động mạch chủ
Thuật ngữ nạo hạch D1, D2, D3 bắt nguồn từ Hiệp hội Ung thư dạ dày NhậtBản và được dùng rộng rãi trên thế giới để mô tả mức độ nạo vét hạch cùng với cắt
dạ dày do ung thư Tuy nhiên, theo nghĩa hẹp nó không phải luôn luôn chính xác.Nhìn chung, các tác giả ngoài Nhật Bản cho rằng chặng hạch đầu tiên là những hạchquanh dạ dày và chặng thứ hai là những hạch dọc theo động mạch thân tạng và cácnhánh của nó, và hiển nhiên việc phẫu tích các nhóm hạch ở các chặng này đượcgọi là nạo hạch D1, D2
Tuy nhiên, tùy theo vị trí thương tổn nguyên phát mà các nhóm hạch thuộccác chặng khác nhau Do đó, định nghĩa rõ ràng các chặng hạch 1 - 3 và nạohạch D1 - 3 là phức tạp hơn Ví dụ như hạch bên trái tâm vị (nhóm số 2) thì đượcxếp vào
Trang 26chặng 1 trong ung thư ở 1/3 trên dạ dày nhưng lại là chặng 3 trong ung thư 1/3 giữahoặc dưới hoặc cho là di căn xa (giai đoạn M) đối với thương tổn chỉ ở vùng mônvị…
Công việc định nghĩa các chặng hạch khá phức tạp và khó áp dụng vì lý doxác định chính xác vị trí thương tổn nguyên phát không dễ dàng ngay cả đối vớiBác sĩ phẫu thuật và các nhà giải phẫu bệnh Vì vậy, trong hướng dẫn mới nhất củaHiệp hội này, định nghĩa các chặng hạch và nạo hạch là D1, D1+ và D2 là đơn giảnhơn tùy thuộc vào phương pháp phẫu thuật cắt bán phần hoặc toàn bộ dạ dày bất
kể vị trí thương tổn nguyên phát
Trước đây, nhóm hạch số 7 (dọc theo động mạch vị trái) được xếp vào chặnghạch số 2 đối với thương tổn bất kỳ vị trí nào, thì bây giờ nạo hạch nhóm này đượcxem là D1 cho bất kỳ phương pháp cắt dạ dạy nào [107]
Tóm tắt các nhóm hạch cần nạo tùy theo mức độ nạo hạch và phụ thuộc vào
các phương pháp cắt dạ dày như sau (Bảng 1.2):
Bảng 1.2 Mức độ nạo hạch trong điều trị ung thư dạ dày [107],[109],[127]
Bán phần trên 1, 2, 3a, 4sa, 4sb,
7 D1 _ 8a, 9, 11p Không
Trang 27Di căn hạch nhóm 13 được xem như là di căn xa, tuy nhiên nạo hạchD2 + nhóm 13 là một lựa chọn trong điều trị triệt căn trường hợp thương tổn xâmlấn tá tràng.
Trang 281.6 HÓA TRỊ TRONG UNG THƯ DẠ DÀY
Mặc dù những tiến bộ gần đây trong hóa trị liệu làm giảm đáng kể kíchthước thương tổn trong những trường hợp ung thư dạ dày tái phát hoặc không cắt bỏđược, nhưng vẫn chưa điều trị triệt căn được Mục đích của hóa trị trong nhữngtrường hợp này là điều trị triệu chứng và kéo dài thời gian sống còn Hiệu quả kéodài thời gian sống còn của hóa trị trong ung thư dạ dày thường chỉ định trong nhữngtrường hợp thương tổn tái phát, không cắt bỏ được hay còn tế bào bờ mặt cắt sau
mổ (R2) với điều kiện là tổng trạng bệnh nhân và chức năng các cơ quan khác còntốt
Hóa miễn dịch để phát hiện thụ thể HER 2 trong ung thư dạ dày được sửdụng thường quy để điều trị nhắm trúng đích trong những trường hợp ung thư dạdày không còn cắt bỏ được hay đã di căn
Hóa trị hỗ trợ sau mổ
Hóa trị hỗ trợ sau mổ nhằm mục đích giảm tái phát do những tế bào còn sótlại sau mổ triệt căn Hóa trị hỗ trợ sau mổ cải thiện tỉ lệ sống còn Theo Hiệp hộiung thư dạ dày Nhật Bản, hóa trị sau mổ được chỉ định trong những trường hợp ungthư dạ dày giai đoạn II và III
Các phác đồ thường được dùng ngay nay là:
Trường hợp HER 2 âm tính:
S-1 + cisplatin
Capecitabine + cisplatin
S-1 + docetaxel
5FU + cisplatin + docetaxel
Trường hợp HER 2 dương tính:
Trastuzumab, cisplatin + capecitabine hoặc 5FU
Trastuzumab + S-1 mỗi 3 tuần + cisplatin
Trang 291.7 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỈ LỆ SỐNG CÒN CỦA BỆNH NHÂN SAU MỔ CẮT DẠ DÀY
Mặc dù, đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong chẩn đoán và điều trị ung thư dạdày, nhưng tiên lượng sống còn sau điều trị ung thư dạ dày vẫn còn xấu Tiên lượngung thư dạ dày thường phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Độ xâm lấn của thương tổn
Theo Nguyễn Xuân Kiên [14] cho thấy kích thước thương tổn, độ xâm lấn,phạm vi di căn hạch, số lượng hạch di căn liên quan có ý nghĩa với thời gian sốngthêm sau mổ Độ biệt hóa càng kém và type đại thể từ càng lớn thì tiên lượng sốngthêm sau 5 năm càng giảm
Tác giả Siewert [113] nghiên cứu 1654 bệnh nhân ung thư dạ dày được phẫuthuật cho thấy, các yếu tố tiên lượng độc lập là tỉ lệ số hạch di căn, độ xâm lấn củathương tổn, biến chứng sau mổ (xì miệng nối và biến chứng bệnh tim, phổi)
Trên 577 bệnh nhân ung thư dạ dày trong nghiên cứu của tác giả Nakagawa[92] cho thấy vị trí, kích thước, độ xâm lấn của thương tổn, số hạch di căn có liênquan đến tiên lượng bệnh
Li [80] nghiên cứu 94 trường hợp ung thư dạ dày T4 được phẫu thuật, chothấy độ mô học và mức độ di căn hạch có liên quan đến tiên lượng sống
Trang 301.8 TỔNG QUAN VỀ MỔ MỞ CẮT DẠ DÀY TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY
Theo y văn đã có nhiều báo cáo về kết quả của mổ mở cắt dạ dày kèm nạohạch trong điều trị ung thư dạ dày Tỉ lệ biến chứng còn cao, đặc biệt là các biếnchứng về hô hấp, tim mạch
1.8.1 Biến chứng và tử vong sau mổ
Tỉ lệ biến chứng chung sau mổ mở cắt dạ dày thay đổi từ 14,4 – 40,6% [16],[20],[31],[42],[45],[49],[57],[70],[80],[105],[106],[126] Trong đó, biến chứng chảymáu sau mổ từ 0,5 – 4,8%, xì miệng nối từ 1 - 7,8%, áp xe tồn lưu từ 1,6 -3,7%, tắc ruột sau mổ từ 0,6 - 1,5% và bung thành bụng từ 0,5 - 1,2%
Tỉ lệ các biến chứng về tim mạch và hô hấp trong các nghiên cứu này cũngcòn cao, từ 3,9 – 18%
Các biến chứng cần phải mổ lại từ 0,8 – 9,8%
Tỉ lệ tử vong trong vòng 30 ngày sau mổ từ 1 – 13%
Jiang [57] nghiên cứu trên 751 bệnh nhân được cắt dạ dày kèm nạo hạch D2
từ năm 2002 đến năm 2006 Tác giả cho thấy lượng máu mất trong mổ (≥ 200 ml)xảy ra ở 413 bệnh nhân (55%)
Sah BK [105] cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về biến chứng giữacắt bán phần dưới và cắt toàn bộ dạ dày kèm nạo hạch triệt căn
Heemskerk [49] nhận xét thấy nhóm bệnh nhân có bệnh kèm theo trước mổ
có nguy cơ biến chứng cao hơn (42%) so với không có bệnh kèm theo (37%)
Tỉ lệ các biến chứng và tử vong sau mổ của các tác giả theo y văn như ở
bảng 1.3.
1.8.2 Thời gian nằm viện
Thời gian nằm viện thay đổi tùy theo các tác giả Theo Heemskerk [49] thờigian nằm viện trung bình là 13,7 ngày (dài nhất 126 ngày) Bệnh nhân có bệnh kèm
Trang 31303 0
theo, thời gian nằm viện dài hơn trung bình 3 ngày
ngày)
Tác giả Lamb [70] thì cho kết quả năm viện ngắn hơn là 10 ngày (dài nhất 75
Bảng 1.3 Tỉ lệ biến chứng và tử vong trong mổ mở cắt dạ dày
Tác giả n
Biến chứngchung
Tửvong
Xìmiệngnối
Chảymáusau mổ
Áp xe tồn lưu
Timmạch,
hô hấp(%) (%) (%) (%) (%) (%)
Tác giả Li [80] báo cáo tỉ lệ sống còn sau phẫu thuật R0 của ung thư dạ dày
Trang 32giai đoạn T4 là 1 năm (56,4%), 3 năm (22,9%) và 5 năm (13,8%).
Ở trong nước, các nghiên cứu báo cáo thời gian sống còn sau mổ còn ít TheoNguyễn Minh Hải [8], tỉ lệ sống còn sau 2 năm là 83% Tác giả Nguyễn CườngThịnh [20] cho thấy sống còn sau 5 năm 41,6%
Theo Trịnh Hồng Sơn [16], thời gian sống còn trung bình của nhóm phẫuthuật D1 không triệt căn và triệt căn lần lượt là 8 tháng và 27 tháng, của nhóm phẫuthuật D2 không triệt căn và triệt căn lần lượt là 9 tháng và 32,5 tháng và của nhómphẫu thuật D3 không triệt căn và triệt căn lần lượt là 9,6 tháng và 41,4 tháng
1.9 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VỀ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY
Phẫu thuật nội soi cắt bán phần dưới dạ dày điều trị ung thư dạ dày giai đoạnsớm được thực hiện đầu tiên bởi tác giả Kitano (Nhật Bản) năm 1994 Từ đó, tạiNhật Bản và Hàn Quốc, phẫu thuật này đã phát triển đáng kể, đặc biệt đối với ungthư dạ dày giai đoạn sớm Trên thế giới cũng đã phát triển kỹ thuật này
Đối với ung thư dạ dày giai đoạn sớm, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện.Tại Nhật Bản, đây được xem là phương pháp chủ yếu điều trị ung thư dạ dày
Kitano S [67] báo cáo kết quả của 1294 bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạnsớm (với 1212 (93,7%) giai đoạn IA, 75 (5,8%) giai đoạn IB và 7 (0,5%) giai đoạnII) được PTNS cắt dạ dày nội soi kèm nạo hạch D1 + β và D2 tại 16 trung tâm củaNhật Bản Tỉ lệ chuyển mổ mở 1,1% (14 trường hợp), nguyên nhân chủ yếu dochảy máu từ động mạch vị trái, các động mạch vị ngắn và lách Tỉ lệ biến chứng
và tử vong chung là 14,8 và 0%, trong đó chảy máu sau mổ ở 14 (1,1%) trườnghợp, xì miệng nối ở 28 trường hợp (2,2%) Tỉ lệ sống còn không bệnh sau 5 nămcủa ung thư ở giai đoạn IA là 99,8%, giai đoạn IB là 98,7% và giai đoạn II85,7% Tuy nhiên, tác giả không chỉ định với những trường hợp có kèm ung thư ở
cơ quan khác, tiền sử có mổ mở vùng bụng trên và bệnh nhân có nguy cơ timmạch, hô hấp (ASA
> 3)
Nghiên cứu phân tích gộp của Peng [98] thực hiện trên 6 nghiên cứu ngẫu
Trang 33nhiên với 218 bệnh nhân, so sánh PTNS cắt dạ dày so với mổ mở ở ung thư dạ dàygiai đoạn sớm Thời gian mổ ở nhóm PTNS dài hơn có ý nghĩa so với nhóm mổ mở(WMD: 58,71; 95% CI: 52,69: 64,74; p < 0,001) Lượng máu mất ở nhóm PTNS íthơn có ý nghĩa so với nhóm mổ mở (WMD: 121,86; 95% CI: 145,61 - 98,11; p <0,001) Tỉ lệ biến chứng không khác nhau giữa 2 nhóm (OR: 0,57; 95% CI: 0,31 -1,03; p = 0,006) Số lượng hạch nạo vét được ở nhóm PTNS ít hơn có ý nghĩa sovới nhóm mổ mở (WMD: 3,64; 95% CI: 5,80 – 1,47; p = 0,001) Tuy nhiên, trongnghiên cứu này, cỡ mẫu còn nhỏ, chưa theo dõi thời gian lâu dài, chưa báo cáo tỉ lệsống còn sau mổ.
Lee [72] tổng kết các nghiên cứu so sánh giữa PTNS cắt dạ dày với mổ mở trênnhững bệnh nhân ung thư dạ dày T1 và T2 Theo tác giả tỉ lệ biến chứng và tử vongsau mổ không khác biệt giữa hai nhóm với tỉ lệ biến chứng ở nhóm PTNS là 10,5%
và mổ mở là 14,7% (p = 0,137); tỉ lệ tử vong sau mổ cũng lần lượt là 1,1% và 0%(p = 0,497)
Ở các nước Phương Tây, tác giả Rosin [104] thực hiện PTNS cắt dạ dày trên 20bệnh nhân ung thư dạ dày T1 – T3 Không có trường hợp nào chuyển mổ mở Có
ba trường hợp xì miệng nối sau mổ, bốn trường hợp phải mổ lại Không có tử vongsau mổ Phân tích theo Kaplan Meier, tỉ lệ sống còn tích lũy sau 5 năm là 79%.Đối với ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển, cũng đã có nhiều nghiên cứu vàtổng quan về PTNS cắt dạ dày [93],[97],[114],[116]
Năm 2015, Hur và cs [54] đang tiến hành nghiên cứu tại Hàn Quốc so sánhngẫu nhiên giữa PTNS cắt dạ dày và nạo hạch D2 so với mổ mở trên những bệnhnhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển tại chỗ với giai đoạn từ cT2 – cT4a Kếtquả của các tác giả nhằm so sánh về tỉ lệ biến chứng, tử vong sau mổ và tỉ lệ sốngcòn tái phát sau 3 năm Hiện nay các tác giả Hàn Quốc đang chờ đợi kết quả nghiêncứu này
Theo Uyama [124], tỉ lệ biến chứng, tử vong và sống còn sau mổ tương tự nhaugiữa PTNS so với mổ mở, với biến chứng (PTNS: 24,2% so với mổ mở: 28,5%,
Trang 34p = 0,402), tử vong (PTNS: 1,1% so với mổ mở: 0%, p = 0,519) và sống còn khôngbệnh 5 năm sau mổ (PTNS: 65,8% so với mổ mở: 62%, p = 0,737).
Tại Mỹ, Higgins [50] nghiên cứu 391 trường hợp được PTNS cắt dạ dày so với
3725 trường hợp được mổ mở Tác giả cho thấy mặc dù tỉ lệ tử vong (2%) và biếnchứng (21%) của nhóm PTNS còn cao nhưng không khác biệt có ý nghĩa so với mổ
mở Tuy nhiên, tác giả chưa báo cáo giai đoạn bệnh và kết quả sống còn
Chen [32] phân tích gộp 13 nghiên cứu quan sát và 2 nghiên cứu so sánh ngẫunhiên với 2519 bệnh nhân ung thư dạ dày giai đoạn tiến triển Kết quả cho thấy thờigian mổ trung bình ở nhóm PTNS dài hơn 48,7 phút so với mổ mở ( WMD = 48,67min, 95% CI 34,09 đến 63,26, p < 0,001) Lượng máu mất trong mổ ở nhóm PTNS
ít hơn (WMD = −139,01 ml, 95% CI −174,57 đến −103,44, p < 0,001) Số lượnghạch nạo vét được không khác nhau có ý nghĩa giữa hai nhóm (WMD = −0,07, 95%
CI −1,03 đến 0,89, p = 0,88) Tỉ lệ tử vong được mô tả ở bảy nghiên cứu và chothấy không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa hai nhóm (RR = 0,78, 95% CI 0,30 đến2,04, p = 0,61) Tỉ lệ biến chứng sau mổ thấp hơn ở nhóm PTNS (RR = 0,74, 95%
CI 0,61 đến 0,90, p = 0,003) Tỉ lệ sống còn toàn bộ và sống còn không bệnh khôngkhác nhau giữa hai nhóm, với 1 năm (RR = 1,01, 95% CI 0,96 đến 1,05, p = 0,79);
3 năm (RR = 1,08, 95% CI 0,99 đến 1,17, p = 0,07); 5 năm (RR = 1,03, 95% CI0,96 đến 1,11, p = 0,39) Tuy nhiên, những giới hạn trong các nghiên cứu nàynhư:
1) độ xâm lấn của thương tổn và tình trạng hạch là yếu tố nguy cơ của tái phátsau mổ Tỉ lệ sống còn sau mổ được báo cáo tốt hơn ở giai đoạn pT2 so với các giaiđoạn khác, nhưng có hai nghiên cứu có ít bệnh nhân giai đoạn pT2 hơn
2) hóa trị hỗ trợ sau mổ cho thấy tỉ lệ sống còn cao hơn so với chỉ phẫu thuậtđơn thuần, tuy nhiên vài nghiên cứu không cung cấp thông tin về hóa trị
3) mức độ đồng nhất của các nghiên cứu chưa cao do một số nghiên cứu là hồicứu và các nghiên cứu ở các nước khác nhau nên trình độ phẫu thuật viên cũng khácnhau
4) phân tích gộp này chưa đưa ra tỉ lệ các giai đoạn của thương tổn, đặc biệt là
Trang 35giai đoạn T.
Ye [134] cũng phân tích gộp bảy nghiên cứu với 815 bệnh nhân Kết quả chothấy PTNS ít mất máu hơn, ít đau hơn, thời gian trung tiện và nằm viện ngắn hơnnhưng thời gian mổ dài hơn so với mổ mở Tỉ lệ các biến chứng tương tự nhau giữahai nhóm Tuy nhiên PTNS ít viêm phổi sau mổ hơn so với mổ mở (OR = 0,19;95% CI 0,05 đến 0,68; p < 0,05) Không có sự khác biệt về số hạch nạo vét được(WMD = 1,165; 95% CI −2,000 đến 4,311; p > 0,05), tử vong sau mổ (OR = 0,65;95% CI 0,39 đến 1,10; p > 0,05) và tái phát (OR = 0,62; 95% CI 0,33 đến 1,16; p >0,05) Nghiên cứu này không phân tích tỉ lệ sống còn sau mổ và không đưa ra tỉ lệcác giai đoạn bệnh
Các tác giả khác [33],[35],[37],[53],[81],[86],[135] cũng đã phân tích gộp cácnghiên cứu so sánh giữa PTNS và mổ mở, các tác giả cho thấy thời gian mổ củaPTNS dài hơn mổ mở, lượng máu mất trong mổ ở PTNS ít hơn mổ mở, số lượnghạch nạo vét được tương tự nhau giữa hai nhóm, biến chứng sau mổ ít hơn ở nhómPTNS Tỉ lệ sống còn tương tự nhau giữa hai nhóm Tuy nhiên các phân tích gộpnày cũng chưa đánh giá cụ thể giai đoạn T
Đối với PTNS cắt toàn bộ dạ dày, cũng đã có vài nghiên cứu báo cáo về tínhkhả thi [91] Tanimura [122] thực hiện PTNS cắt bán phần trên và toàn bộ dạdày cho 110 bệnh nhân ung thư 1/3 trên dạ dày giai đoạn T1 và T2 Kết quả chothấy thời gian mổ trung bình ở phẫu thuật cắt bán phần trên và cắt toàn bộ lần lượt
là 247 (thay đổi từ 160–325) phút và 285 (thay đổi từ 195–450) phút, lượng máumất trong mổ lần lượt là 207 (thay đổi từ 15–600) ml và 334 (thay đổi từ 26–1300)
ml và số lượng hạch nạo vét được cũng lần lượt là 23 (thay đổi từ 8 – 45) và 34(thay đổi từ 5
– 71) hạch Tác giả chưa phân tích sống còn theo từng giai đoạn bệnh
Tác giả Haverkamp [48] phân tích gộp 8 nghiên cứu so sánh giữa 314 bệnhnhân được PTNS so với 384 bệnh nhân mổ mở cắt toàn bộ dạ dày Lượng máu mấttrong mổ của PTNS là 126,9 ± 15,7 ml so với 354,5 ± 32,0 ml trong mổ mở(p < 0,05) Số lượng bạch cầu trong máu cũng thấp hơn có ý nghĩa ở PTNS sovới mổ mở ở ngày thứ 1, 3, 7 sau mổ Thời gian nằm viện cũng thấp hơn có ýnghĩa ở
Trang 36PTNS 14,1 ± 0,8 ngày so với 18,1 ± 1,2 ngày ở mổ mở (p = 0,002) Tỉ lệ biếnchứng sau mổ của PTNS (9,6%) cũng thấp hơn so với mổ mở (22,3%) (RR =0,51;
95% CI 0,33 – 0,77)
Wang [128],[129] cũng phân tích gộp 8 nghiên cứu với 1498 bệnh nhân,trong đó 559 bệnh nhân được PTNS và 939 bệnh nhân mổ mở cắt toàn bộ dạ dày doung thư Thời gian phẫu thuật của PTNS dài hơn 39,29 phút so với mổ mở (WMD39,29; 95% CI 20,52 - 58,06; p < 0,001) Lượng máu mất của PTNS ít hơn so với
mổ mở là 157,94 ml (WMD -157,94; 95% CI -245,25 đến -70,62; p < 0,001) Sốlượng hạch nạo vét được cũng tương đương nhau giữa hai nhóm (WMD 0,27; 95%
CI 1,43, 1,98; p = 0,752) Thời gian nằm viện thấp hơn 2,6 ngày ở PTNS (WMD 2,69; 95% CI -3,42, -1,97; p < 0,001) Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hainhóm về biến chứng sau mổ của xì miệng nối, liệt ruột, viêm phổi, áp xe tồn lưu vàtắc ruột Tỉ lệ tử vong sau mổ cũng không khác nhau giữa hai nhóm Tuy nhiên tácgiả không phân tích sống còn sau mổ và không đánh giá giai đoạn T
-Như vậy, vần đề còn tồn tại trong các nghiên cứu trên thế giới là các tác giảchỉ chỉ định PTNS đối với các trường hợp ung thư dạ dày thương tổn giai đoạn T4a
và dưới T4a, chưa phân tích cụ thể các yếu tố của bệnh nhân như bệnh đi kèm,BMI, kích thước thương tổn… ảnh hưởng như thế nào đến tỉ lệ tai biến, biến chứng
và sống còn sau mổ Hơn nữa, việc đánh giá kết quả cụ thể theo từng giai đoạn bệnhchưa được nhiều báo cáo đề cập đến và chỉ định cụ thể PTNS trong những trườnghợp ung thư dạ dày nào, đặc biệt là thương tổn giai đoạn T4a cũng chưa được phântích kỹ
1.10 TÌNH HÌNH PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ UNG THƯ DẠ DÀY Ở VIỆT NAM
Tác giả Triệu Triều Dương [6] thực hiện PTNS cắt dạ dày, nạo hạch D2 cho 31bệnh nhân so sánh với 44 trường hợp mổ mở Thời gian mổ trung bình của PTNS và
mổ mở lần lượt là 264 phút và 184 phút (p < 0,05) Số lượng hạch vét được là 37,2trong PTNS và 42,4 trong mổ mở; lượng máu mất trong mổ là 188 ml trong PTNS
và 392 ml trong mổ mở; thời gian nằm viện trong PTNS là 7,7 ngày và trong nhóm
Trang 37mổ mở là 9,4 ngày Không có trường hợp nào tử vong trong mổ Tuy nhiên, cỡ mẫucủa nghiên cứu còn ít và tác giả chưa đưa ra kết quả sống còn sau mổ cũng như tỉ lệgiai đoạn bệnh.
Tác giả Lê Mạnh Hà [7] thực hiện PTNS cắt dạ dày kèm nạo hạch D1 + α vàD1 + β cho 68 trường hợp ung thư dạ dày Tỉ lệ chuyển mổ mở là 21% Thời gian
mổ trung bình 240 phút Tỉ lệ biến chứng chung là 10,1% Tác giả chưa đề cập đếncác kết quả về mặt ung thư học Thương tổn giai đoạn T4 chiếm tỉ lệ 23,5%
Đỗ Văn Tráng [21],[22],[23],[24] nghiên cứu trên 70 trường hợp ung thư vùng1/3 dưới dạ dày được thực hiện PTNS cắt bán phần dưới và nạo hạch D2 Kết quảcho thấy thời gian mổ trung bình là 211 phút Tỉ lệ tai biến trong mổ là 8,6%, trong
đó có một trường hợp thủng đại tràng góc gan Số ngày nằm viện trung bình là 7ngày Có sáu trường hợp biến chứng sau mổ nhưng là biến chứng nhẹ và được điềutrị nội khoa bảo tồn, gồm hai trường hợp nhiễm trùng lỗ trocar và bốn trường hợpsốt sau mổ Kết quả về mặt ung thư học cho thấy số hạch nạo trung bình là 15,3hạch Thời gian sống còn sau 2, 3 và 4 năm lần lượt là 71,7%, 65,8% và 52,6% Tuynhiên, nghiên cứu này không đưa ra tỉ lệ giai đoạn bệnh cụ thể
Đỗ Trường Sơn [15] nghiên cứu 216 trường hợp ung thư dạ dày được PTNS cắt
dạ dày và nạo hạch D2 Tỉ lệ phẫu thuật R0 là 98,6% (213 trường hợp) 70% cáctrường hợp là ung thư giai đoạn I – II Số hạch nạo vét được trung bình là 10,9 ± 2,3hạch Kết quả sống còn sau 1, 3 và 5 năm lần lượt là 81%, 48% và 36% Thươngtổn T4 ở nghiên cứu này chiếm 20,4%
Như vậy, tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về PTNS cắt dạ dày điều trị ungthư dày nhưng chưa đánh giá kỹ về kết quả của từng giai đoạn bệnh Hơn nữa, tỉ lệgiai đoạn bệnh thương tổn T4 còn thấp ở các nghiên cứu Vì vậy chúng tôi thựchiện đề tài này nhằm đưa ra kết quả cụ thể theo từng giai đoạn bệnh của PTNS trongđiều trị ung thư dạ dày, đặc biệt đối với ung thư giai đoạn T4a
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2 Ung thư ở giai đoạn T ≤ T4a và M0 (theo Hiệp hội Ung thư dạ dày Nhật Bản
năm 2011 [56] và NCCN năm 2015 [94]) (theo biểu đồ 2.1)
Biểu đồ 2.1 Phác đồ chọn mẫu nghiên cứu
Trang 39N = Z
Chẩn đoán chính xác giai đoạn dựa vào kết quả giải phẫu bệnh sau mổ
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
1 ASA > 3
2 Bệnh nhân có các bệnh lý về tim mạch, hô hấp, suy gan, rối loạn đông máu,suy thận nặng… chống chỉ định PTNS
3 Ung thư vùng tâm vị
4 Ung thư dạ dày tái phát
5 Có hình ảnh hạch dính thành chùm, khối trên chụp cắt lớp điện toán bụngchậu
6 Bệnh nhân đã được chẩn đoán một bệnh ung thư khác trước đây
7 Bệnh nhân mất dấu không tái khám trong vòng 30 ngày sau mổ
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiền cứu, can thiệp lâm sàng, ứng dụng kỹ thuật mới vớinhóm chứng tự thân
2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu
Được tính theo công thức để ước lượng một tỉ lệ của nghiên cứu mô tả
2 1-α/2* p * (1 – p) / d2với:
Z: trị số phân phối chuẩn Chúng tôi chọn độ tin cậy 95% nên Z = 1,96p: tỉ lệ sống còn sau 1 năm PTNS cắt dạ dày kèm nạo hạch do ung thư Theomột số nghiên cứu tỉ lệ này khoảng 90%, vì vậy chúng tôi chọn p = 0,9 [36],[83]
d: sai số ước lượng Chúng tôi chọn d = 0,06
Tính ra cỡ mẫu tối thiểu là 97 bệnh nhân
Vì có một số bệnh nhân không theo dõi được (mất dấu), do đó cỡ mẫu cầntăng thêm khoảng 10 - 20% Vì vậy, cỡ mẫu cuối cùng của nghiên cứu chúng tôi là
112 bệnh nhân.
Trang 402.2.3 Định nghĩa các biến số nghiên
cứu
Các hồ sơ nghiên cứu được ghi nhận và thu thập chi tiết về các biến số
sau:
Đặc điểm chung bệnh nhân:
Giới: là biến nhị phân, gồm hai giá trị là nam và
dạ dày) Mỗi biến số là biến nhị phân, gồm hai giá trị là có và không
Tiền căn phẫu thuật: là biến định danh, gồm ba giá
trị:
o Phẫu thuật bụng trên rốn: có đường mổ giữa trên rốn hoặc trên và dưới rốn
o Phẫu thuật bụng dưới rốn: có đường mổ dưới rốn
o Không tiền căn phẫu thuật bụng: chưa phẫu thuật ổ bụng
Bệnh lý nội khoa đi kèm: là biến định danh, gồm năm giá