1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiến trình vận động của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX - từ ý thức nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác

223 996 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài 1.1. Từ đầu thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX, văn học trung đại Việt Nam ghi nhận sự xuất hiện của nhiều hiện tượng đặc biệt. Trên phương diện sáng tác, văn học dân tộc đã đạt đến trình độ cổ điển với thành tựu ở nhiều thể loại từ thơ, phú, ngâm khúc, truyện thơ đến hát nói,v.v. Nhiều tác giả như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ,... bộc lộ cá tính sáng tạo độc đáo. Trên phương diện lý luận phê bình, những bàn luận, tranh luận về văn chương phản ánh sự va chạm, giằng co giữa ý thức sáng tác, ý thức tiếp nhận cũ và mới. Các bài tựa, bạt của Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Chú, Ngô Thế Lân, Cao Bá Quát,v.v., thư từ qua lại giữa các tác giả như Thư gửi Trần Đức Anh (Nguyễn Văn Siêu), Thư gửi Ngô Huy Phan (Nguyễn Văn Siêu), Thư gửi bạn bàn về văn thơ (Nguyễn Miên Trinh), Thư gửi Trọng Cung bàn về từ khúc (Nguyễn Miên Trinh)..., ý kiến khen – chê xung quanh Truyện Kiều, tất cả đều cho thấy văn học đang vận động. Từ thế kỷ XV – XVII chuyển sang thế kỷ XVIII – XIX, cái mới phi chính thống chiếm lĩnh đời sống văn học. Mọi mặt của văn học biến đổi một cách sâu sắc. Điều đó đặt ra câu hỏi về sự vận động của ý thức nghệ thuật ở bề sâu văn học, đồng thời chứng tỏ rằng ý thức nghệ thuật là một vấn đề có tầm quan trọng đối với việc nghiên cứu tiến trình vận động của văn học. 1.2. Xác định ý thức nghệ thuật của một giai đoạn văn học là vấn đề hết sức khó giải quyết. Với văn học trung đại Việt Nam nói chung, văn học giai đoạn hậu kỳ trung đại (thế kỷ XVIII – XIX) nói riêng, độ khó lại càng gia tăng vì tác giả thời kỳ này ít chú trọng đến việc xây dựng một hệ thống lý luận chặt chẽ theo kiểu phương Tây. Mối liên hệ giữa lý luận phê bình và thực tiễn sáng tác có lúc rất mờ nhạt, gây khó khăn cho việc khảo sát. Tuy nhiên, nếu vượt qua khó khăn, chúng ta có thể chạm đến những vấn đề liên quan đến bản chất và quy luật vận động của văn học giai đoạn. Chính vì thế, đây là hướng tiếp cận được giới nghiên cứu quan tâm từ lâu và cho đến nay, cũng chưa phải là đã cũ. Đối với một giai đoạn văn học phức

Trang 1

Mục lục

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 22

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23

5 Phương pháp nghiên cứu 23

6 Đóng góp của luận án 24

7 Cấu trúc luận án 25

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG 26

1.1 Ý thức nghệ thuật và sự vận động của ý thức nghệ thuật 26

1.1.1 Khái niệm ý thức nghệ thuật 26

1.1.2 Những phương diện biểu hiện của ý thức nghệ thuật 31

1.1.2.1 Ý thức về chức năng nghệ thuật của văn học 31

1.1.2.2 Ý thức về chất liệu nghệ thuật của văn học 32

1.1.2.3 Ý thức về cấu trúc nghệ thuật của văn học 33

1.1.3 Sự vận động của ý thức nghệ thuật và sự vận động của văn học 33

1.2 Các tác nhân của sự vận động ý thức nghệ thuật trong văn học thế kỷ XVIII – XIX 37

1.2.1 Bối cảnh lịch sử – xã hội 37

1.2.2 Bối cảnh văn hoá 40

1.2.3 Bối cảnh tư tưởng 49

1.2.4 Sự ảnh hưởng của văn học Trung Quốc 58

1.3 Tính khả thủ và triển vọng của việc nghiên cứu đối tượng 63

Trang 2

CHƯƠNG 2 SỰ VẬN ĐỘNG TRONG Ý THỨC

VỀ CHỨC NĂNG NGHỆ THUẬT CỦA VĂN HỌC 66

2.1 Sự vận động trong ý thức về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực 66

2.1.1 Ý thức về “đạo” và “tình” 66

2.1.1.1 Ý thức về “đạo” 66

2.1.1.2 Ý thức về “tình” 69

2.1.2 Ý thức về “thực” và “hư” 74

2.1.2.1 Ý thức về “thực” 74

2.1.2.2 Ý thức về “hư” 78

2.2 Sự vận động trong ý thức về mối quan hệ giữa tác giả, tác phẩm và người đọc 84

2.2.1 Ý thức về cái tôi cá tính trong quá trình sáng tác 84

2.2.2 Ý thức về cách đọc “hướng tình” trong quá trình tiếp nhận 95

2.3 Sự vận động trong ý thức về các chức năng nghệ thuật 104

2.3.1 Chức năng “tải đạo” 104

2.3.2 Chức năng “ngôn tình” 110

Tiểu kết chương 2 122

CHƯƠNG 3 SỰ VẬN ĐỘNG VỀ CHẤT LIỆU VÀ CẤU TRÚC NGHỆ THUẬT TRONG THỰC TIỄN SÁNG TÁC VĂN HỌC 124

3.1 Sự biến đổi về ngôn ngữ nghệ thuật 124

3.1.1 Sự biến đổi trong cấu trúc song thể ngữ 124

3.1.2 Từ ngôn ngữ cao nhã đến ngôn ngữ có tính thế tục 129

3.2 Sự biến đổi về hình tượng nghệ thuật 134

3.2.1 Hình tượng nghệ thuật với tính “duy tình” 134

3.2.2 Hình tượng nghệ thuật với tính “duy mỹ” 142

3.2.3 Hình tượng nghệ thuật với tính “dị biệt” 149

Trang 3

3.3.2.1 Chủ thể phát ngôn trong những vai mới 160

3.3.2.2 Sự mở rộng và biến đổi của kết cấu trần thuật 170

Tiểu kết chương 3 179

KẾT LUẬN 181

NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 187

TÀI LIỆU THAM KHẢO 188 PHỤ LỤC

Trang 4

Bảng 3.2 Đào hoa mộng ký 177

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

1.1 Từ đầu thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX, văn học trung đại Việt Nam ghi nhận sự xuất hiện của nhiều hiện tượng đặc biệt Trên phương diện sáng tác, văn học dân tộc đã đạt đến trình độ cổ điển với thành tựu ở nhiều thể loại từ thơ, phú, ngâm khúc, truyện thơ đến hát nói,v.v Nhiều tác giả như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, bộc lộ cá tính sáng tạo độc đáo Trên phương diện lý luận phê bình, những bàn luận, tranh luận về văn chương phản

ánh sự va chạm, giằng co giữa ý thức sáng tác, ý thức tiếp nhận cũ và mới Các bài

tựa, bạt của Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Chú, Ngô Thế Lân, Cao Bá

Quát,v.v., thư từ qua lại giữa các tác giả như Thư gửi Trần Đức Anh (Nguyễn Văn Siêu), Thư gửi Ngô Huy Phan (Nguyễn Văn Siêu), Thư gửi bạn bàn về văn thơ (Nguyễn Miên Trinh), Thư gửi Trọng Cung bàn về từ khúc (Nguyễn Miên Trinh) ,

ý kiến khen – chê xung quanh Truyện Kiều, tất cả đều cho thấy văn học đang vận

động Từ thế kỷ XV – XVII chuyển sang thế kỷ XVIII – XIX, cái mới phi chính thống chiếm lĩnh đời sống văn học Mọi mặt của văn học biến đổi một cách sâu sắc Điều đó đặt ra câu hỏi về sự vận động của ý thức nghệ thuật ở bề sâu văn học, đồng thời chứng tỏ rằng ý thức nghệ thuật là một vấn đề có tầm quan trọng đối với việc nghiên cứu tiến trình vận động của văn học

1.2 Xác định ý thức nghệ thuật của một giai đoạn văn học là vấn đề hết sức khó giải quyết Với văn học trung đại Việt Nam nói chung, văn học giai đoạn hậu

kỳ trung đại (thế kỷ XVIII – XIX) nói riêng, độ khó lại càng gia tăng vì tác giả thời

kỳ này ít chú trọng đến việc xây dựng một hệ thống lý luận chặt chẽ theo kiểu phương Tây Mối liên hệ giữa lý luận phê bình và thực tiễn sáng tác có lúc rất mờ nhạt, gây khó khăn cho việc khảo sát Tuy nhiên, nếu vượt qua khó khăn, chúng ta

có thể chạm đến những vấn đề liên quan đến bản chất và quy luật vận động của văn học giai đoạn Chính vì thế, đây là hướng tiếp cận được giới nghiên cứu quan tâm từ lâu và cho đến nay, cũng chưa phải là đã cũ Đối với một giai đoạn văn học phức

Trang 6

tạp, tồn tại nhiều khuynh hướng đan xen như văn học giai đoạn hậu kỳ, vẫn còn nhiều phương diện của ý thức nghệ thuật cần được làm sáng tỏ

1.3 Trả lại giá trị cho di sản lý luận của ông cha, đồng thời lý giải văn học trung đại từ chính ý thức của người trung đại là nhiệm vụ quan trọng mà nhiều nhà nghiên cứu đã và đang theo đuổi Chúng tôi hy vọng đóng góp một phần sức lực vào công việc có ý nghĩa ấy bằng cách tập trung khảo sát ý thức nghệ thuật của văn học giai đoạn hậu kỳ Được thúc đẩy bởi những lý do như trên, chúng tôi mạnh dạn

lựa chọn đề tài Tiến trình vận động của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX: từ ý thức nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác Qua luận án, chúng tôi mong

muốn khảo sát một cách hệ thống các phương diện biểu hiện của ý thức nghệ thuật,

từ đó phân tích, giải thích những vấn đề cốt lõi, đồng thời chỉ ra quy luật vận động của một giai đoạn văn học vừa sinh động vừa bề bộn Thiết nghĩa đề tài này thật sự cần thiết, có thể phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tranh luận về ''tính văn học'' là cuộc tranh luận phức tạp kéo dài trong lịch sử Từ phương Tây đến phương Đông, từ cổ đại đến hiện đại từng xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về cái gọi là bản chất của văn học, về ranh giới phân biệt giữa văn bản văn học và các loại văn bản khác Mỗi cộng đồng tùy theo giai đoạn, thời đại, hoàn cảnh sở hữu những định nghĩa bất đồng về khái niệm "văn học" Như vậy, tiến trình văn học có thể hiểu là quá trình vận động của ý thức về bản chất, chức năng của văn học, của ý thức sáng tạo và tiếp nhận Và những khác biệt từ trong ý thức tác giả sẽ được cụ thể hóa thành phương thức tổ chức tác phẩm Đây chính là định hướng mà chúng tôi sử dụng để nhìn lại văn học trung đại Việt Nam

từ đầu thế kỷ XVIII đến cuối XIX

Từ trước đến nay, giới nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách nhìn nhận về văn học thế kỷ XVIII – XIX Qua việc áp dụng những tiêu chí phân kỳ khác nhau, các nhà nghiên cứu cho thấy quan niệm của mình về diễn tiến và đặc trưng của văn học

trung đại trong hai thế kỷ cuối cùng Việt Nam văn học sử yếu (1943) của Dương

Trang 7

Quảng Hàm tách văn học thế kỷ XVIII – XIX thành hai giai đoạn Ông gọi văn học thế kỷ XVII – XVIII là văn học Nam Bắc phân tranh và văn học thế kỷ XIX là văn học cận kim Ông đã dùng các yếu tố như yếu tố tôn giáo – tư tưởng, yếu tố văn tự, yếu tố nội dung, yếu tố chính trị, yếu tố học thuật… làm căn cứ cho việc xác lập ranh giới giữa các giai đoạn văn học Cuối những năm 50 của thế kỷ XX, ở miền

Bắc, việc viết văn học sử được quan tâm nhiều hơn Bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quí Đôn phân chia văn học thế kỷ XVIII – XIX thành các

giai đoạn như sau: văn học thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, văn học đầu XIX đến

giữa XIX, văn học từ 1858 đến 1930 Bộ Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam của Ban

Văn Sử Địa xem văn học thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX là một giai đoạn Bộ

sách dừng lại ở đó Bộ Lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX

(xuất bản năm 1979) do nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương, Nguyễn Lộc – cán bộ giảng dạy của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội biên soạn – đưa ra một quan điểm phân kỳ mà về sau quan điểm này trở nên phổ biến trong giới trung đại Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương nghiên cứu văn học từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII thành một giai đoạn, lấy mốc là những năm thịnh đạt cuối cùng của triều Lê sơ và sự bùng nổ của phong trào khởi nghĩa nông dân vào những năm 40 của thế kỷ XVIII Nguyễn Lộc biên soạn phần còn lại gồm hai giai đoạn gồm văn học nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX và văn học nửa cuối thế kỷ XIX với cột mốc quan trọng là cuộc xâm lược của thực dân Pháp năm 1858 Ở các bộ sách trên, diễn tiến của văn học tương đồng với diễn tiến lịch sử, xã hội Sau các biến cố lịch sử - chính trị, các phương diện của văn học như lực lượng sáng tác, công chúng văn học, điều kiện sáng tác văn học thay đổi, từ đó, nội dung và hình thức văn học có bước phát triển mới

Từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, những cách tiếp cận khác đối với văn học thế kỷ XVIII – XIX vẫn tiếp tục được đề xuất Để trình bày về tư tưởng văn

học Việt Nam, tác giả Lê Trí Viễn trong Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam

(Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996) chia văn học trung đại Việt Nam thành hai giai đoạn lớn là: thượng kỳ trung đại (thế kỷ X – XV) và hạ kỳ trung đại (thế kỷ

Trang 8

XVI – XIX) Lã Nhâm Thìn trong bài viết mở đầu sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 10 (Nxb Giáo dục, 2006) quan niệm văn học trung đại có hai giai đoạn lớn, trong đó giai đoạn thứ nhất từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII và giai đoạn hai từ thế kỷ XVIII

đến hết thế kỷ XIX Trần Nho Thìn trong giáo trình Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (Nxb Giáo dục, 2012) cũng có cách phân kỳ tương tự nhằm chỉ

ra sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người Đoàn Lê Giang trong Luận

án tiến sĩ Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam (2001) theo dõi sự phát triển của tư

tưởng văn học trung đại Việt Nam theo ba giai đoạn, trong đó văn học thế kỷ XVIII – XIX là một giai đoạn (giai đoạn hậu kỳ)

Mỗi cách phân kỳ đều dựa trên tiêu chí riêng và có cơ sở khoa học Việc lựa chọn một cách phân chia nào đó tùy thuộc vào mục đích và đối tượng nghiên cứu của người đứng ra phân kỳ Trong luận án này, chúng tôi nhìn văn học thế kỷ XVIII – XIX từ góc độ ý thức nghệ thuật, nghĩa là xem xét sự thay đổi về mặt ý thức của tác giả đối với chức năng và đặc trưng văn học và tương ứng với nó là những thay đổi về thi pháp, thể loại, ngôn ngữ kéo dài từ đầu thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX

Vì lý do đó, chúng tôi lựa chọn khảo sát văn học của hai thế kỷ này như một tiến trình

2.2 Công tác sưu tầm và dịch thuật tài liệu có ý nghĩa rất lớn đối với việc

nghiên cứu ý thức của tác giả trung đại về văn học, bao gồm văn học thế kỷ XVIII -

XIX Năm 1963, trên Tạp chí Văn học số 12, nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Vân đã dịch và công bố Quan niệm văn học của một số nhà nho Việt Nam Từ năm 1968

đến 1984, những bài dịch lời bạt, lời tựa, thư từ trao đổi giữa các nhà thơ, nhà văn

xuất hiện rải rác trên Tạp chí Văn học Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh giới

thiệu về Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Sĩ; Hoàng Lê về Ninh Tốn, Phạm Thị Tú về Nguyễn Văn Siêu, Ngô Thì Chí; Trần Lê Sáng về Lê Thúc Hoạch; Chương Thâu về Cao Xuân Dực; Hồ Sĩ Hiệp về Miên Trinh, v.v Công việc khó khăn ấy vẫn đang

được tiếp nối Cuốn Từ trong di sản (những ý kiến về văn học từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX ở nước ta) do Nguyễn Minh Tấn chủ biên (Nxb Thế giới mới, năm 1981)

và cuốn Người xưa bàn về văn chương (Tập 1) của Đỗ Văn Hỷ (Nxb Khoa học xã

Trang 9

hội, năm 1993) đã tập hợp nhiều ý kiến bàn luận về văn chương thời trung đại Đây

là hai tập tư liệu quý giá cho bất kỳ nhà khoa học nào muốn nghiên cứu về ý thức nghệ thuật trong văn học trung đại Việt Nam Năm 2007, nhóm tác giả Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn một lần nữa sưu tầm, tuyển chọn, sắp xếp và giới thiệu các bài tựa, bạt, thư từ trao đổi của các tác giả từ thế kỷ X đến

đầu thế kỷ XX trong cuốn 10 thế kỷ bàn luận về văn chương (tập 1, Nxb Giáo dục)

Khác với hai bộ sách trước, công trình ngoài giá trị về mặt tư liệu, còn có giá trị về mặt nghiên cứu Sau phần giới thiệu các lời tựa, bạt là phần nhận xét, bình luận của người biên soạn nhằm chỉ ra những biểu hiện mới của ý thức nghệ thuật Đó mới là cái xác định sự vận động của văn học qua các giai đoạn Thành tựu của công tác sưu tầm, dịch thuật đã cung cấp những bằng chứng thuyết phục nhất về sự tồn tại của một nền lý luận cổ điển trong văn học trung đại Việt Nam, cung cấp cho giới nghiên cứu tư liệu để nhìn nhận, đánh giá chính xác hơn về ý thức nghệ thuật của người xưa

Quan niệm văn học, quan niệm thẩm mỹ từng xuất hiện vào thế kỷ XVIII – XIX là những vấn đề được quan tâm trong nhiều công trình nghiên cứu, từ các bài báo đến các bộ văn học sử, giáo trình, chuyên luận, luận văn, luận án Nội dung nghiên cứu có thể giới hạn trong phạm vi một tác gia, một giai đoạn, hoặc một thể

loại Trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 4, năm 1960, Trần Thanh Mại viết bài

“Tìm hiểu quan điểm văn học của Lê Quý Đôn” Thời gian sau, Trần Nghĩa viết bài

“Góp phần tìm hiểu quan niệm “Văn dĩ tải đạo” trong văn học cổ Việt Nam” (Tạp

chí Văn học (TCVH) số 2/1970), Vũ Đình Liên viết bài “Từ nhân sinh quan đến

thẩm mỹ quan của Nguyễn Đình Chiểu” (TCVH số 1/1972), Trần Lê Sáng viết về

“Thi ngôn chí” (TCVH số 1/1973), Đỗ Đức Dục viết bài “Tuyên ngôn sáng tác của Nguyễn Du” (TCVH số 2/1984), v.v Về công trình nghiên cứu, năm 1964, giáo

trình Văn học cổ Việt Nam của Đinh Gia Khánh có viết một phần về quan niệm

“Văn dĩ tải đạo” Năm 1970, công trình Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Lê

Đình Kỵ được xuất bản, trong đó đặt ra vấn đề về quan niệm nghệ thuật và lý tưởng

thẩm mỹ của Nguyễn Du Nguyễn Lộc trong bộ sách Văn học Việt Nam nửa cuối

Trang 10

thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX gồm 2 tập do Nxb Đại học Trung học chuyên

nghiệp xuất bản lần đầu năm 1976, 1978 (khi Nxb Giáo dục xuất bản lại, được in

chung với bộ Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX và lấy nhan đề Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX)) đã xác định rõ đặc trưng cơ bản của

văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX là “sự khám phá ra con người và khẳng định những giá trị chân chính của con người” [122, tr.46] Ông nhấn mạnh:

“Đối với văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, nói đặc trưng cơ bản có tính lịch sử của nó là khám phá ra con người, khẳng định những giá trị chân chính của con người, có nghĩa là nói đến giai đoạn này con người với tất

cả sự phong phú của nó mới trở thành đối tượng chủ yếu, hàng đầu trong nhận thức của văn học, và điều đó đem lại cho văn học sự đổi mới về nhiều mặt” [122, tr.47]

Đây là một ý kiến quan trọng xác lập sự khác biệt về chất giữa văn học thế

kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX với văn học các giai đoạn khác Cũng qua bộ sách này, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc đã phân tích quan điểm sáng tác của nhiều tác giả thuộc văn học thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX như Ngô Thì Vị, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Bùi Dương Lịch Ông viết:

“Nếu tìm hiểu kỹ quan điểm văn học của các tác giả đương thời cũng có thể thấy được chừng mực nào sự chuyển biến trong quan niệm của họ Khá nhiều nhà thơ trong giai đoạn này hay nói đến quan niệm "người cùng thì thơ mới hay”” [122, tr.85]

Nhà nghiên cứu chỉ ra đề cao tình cảm là một biểu hiện độc đáo trong quan điểm sáng tác của nhiều nhà thơ:

“Một quan điểm nữa cũng được các nhà thơ giai đoạn này nói đến là thơ phải biểu hiện tình cảm, phải có cảm xúc” [122, tr.86]

“Lê Quý Đôn chủ trương làm thơ phải chú trọng đến ba phương diện là "tình,

cảnh và sự" […] Có thể nói quan niệm này về thực chất trái với quan niệm thi ngôn chí của Nho giáo” [122, tr.87]

Trang 11

“Cao Bá Quát không phải chỉ làm nhiều thơ mà còn phát biểu nhiều suy nghĩ của mình về thơ nữa […]

Ông quan niệm thơ có quy củ của nó, nhưng cơ sở của sáng tác thơ bao giờ cũng là tình cảm, là cảm xúc Có tình cảm chân thực, có cảm xúc dồi dào, thơ mới hay, chứ bắt chước người khác, cảm xúc giả tạo thì dù có công phu đến mấy cũng không thể làm thơ hay được” [122, tr.543 - 544]

Năm 1980, trong công trình Cao Bá Quát – con người và tư tưởng (Nxb

Khoa học xã hội), Nguyễn Tài Thư cũng đã chú ý đến quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Điểm chung ở các công trình nghiên cứu được triển khai theo lí luận Marxist là đều nhìn nhận tiến trình văn học như sự thay thế của các phương pháp sáng tác nghệ thuật Quan niệm văn học, quan niệm thẩm mỹ là cơ sở để lý giải sự xuất hiện của phương pháp sáng tác mới, tiến bộ, vì thế, chúng gắn với nhân dân lao động, với chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo Chẳng hạn, Lê Đình Kỵ nhận xét về Nguyễn Du như sau:

“Mỹ học xưa lấy “văn dĩ tải đạo” làm mục đích và phương châm sáng tác

Truyện Kiều cũng làm cái việc tải đến cho người đọc cái đạo của nó, đó là cái đạo lý

làm người, con người sống thực với những thăng trầm, vinh nhục trần thế [ ] Trong giới hạn của thời đại mình, và với những ràng buộc không tránh khỏi của mỹ học đương thời, Nguyễn Du dám nhìn thẳng vào thực tế và từ cái dòng đời có trong

có đục, đã dũng cảm, trung thực làm việc gạn đục khơi trong, làm toát lên cái đẹp sinh động về cuộc sống và con người” [106, tr.112]

Năm 1982, Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội nghị khoa học nhân kỷ niệm 160 năm ngày sinh của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu Thu hút gần 120 bài tham luận, hội thảo đánh dấu một bước tiến mới đối với việc nghiên cứu hệ thống, toàn diện cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Trong hội nghị, Mai Cao Chương qua bài viết “Tìm hiểu quan điểm văn học của Nguyễn Đình Chiểu và sự vận dụng quan điểm đó vào thực tiễn sáng tác của ông” khẳng định mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức của nhà thơ và thực tiễn

Trang 12

sáng tác, đồng thời đánh giá cao tính chiến đấu và tính nhân dân trong quan niệm

“Văn dĩ tải đạo” của Đồ Chiểu:

“Có thể kết luận rằng quan niệm “đạo” trong thơ văn yêu nước chống Pháp của Nguyễn Đình Chiểu thực chất là yêu nước thương dân” [254, tr.312]

“Quan điểm “chở đạo” của Nguyễn Đình Chiểu gắn rất chặt với thực tiễn sáng tác của ông, và được khái quát lên từ thực tiễn sáng tác ấy Nhưng thực tiễn sáng tác lại không phải là cái gì đó tồn tại độc lập Trái lại, nó có quan hệ chặt chẽ với nhà thơ, nó là sản phẩm tinh thần của người cầm bút” [254, tr.312]

Lê Trí Viễn trong chuyên luận Nguyễn Đình Chiểu: Ngôi sao càng nhìn càng sáng (Nxb TP Hồ Chí Minh, 1982) cũng đưa ra nhận định tương tự Phương pháp

xã hội học đã giúp chỉ ra những khía cạnh tiến bộ về lịch sử và nhân sinh trong quan niệm văn học, quan niệm thẩm mỹ thuộc giai đoạn văn học hậu kỳ Các nhà nghiên cứu theo phương pháp này thống nhất với nhau ở chỗ là đều sử dụng mô hình đồng nhất diễn tiến văn học với diễn tiến của các hình thái xã hội, các cuộc đấu tranh giai

cấp Trên tạp chí Nghiên cứu Văn – Sử – Địa số 11/1955, Nguyễn Đổng Chi, tác giả

cuốn Việt Nam cổ văn học sử (1942), đã viết:

“Văn học sử là những thiên lịch sử ghi lại những phong trào văn học phản ánh quá trình đấu tranh của con người Văn học sử là lịch sử của cả nhân loại hay của riêng một dân tộc về phương diện văn học Nó đòi hỏi người viết phải có một

quan điểm duy vật lịch sử và đứng trên lập trường giai cấp vô sản” [265, tr.403]

Quan điểm này chi phối cách đánh giá, phân loại mọi hiện tượng văn học và

có lúc trở nên rất cực đoan Những thay đổi ở lực lượng sáng tác chỉ được hình dung là sự thay đổi vị trí giữa các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Tuy nhiên, ngoài phương pháp và mô hình trên, còn có những phương pháp và mô hình nghiên cứu

khả thủ khác Ở miền Nam, Phạm Thế Ngũ soạn bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (3 tập, Quốc học tùng thư xuất bản, 1961 - 1965), trong đó phần “Văn học

lịch triều” được chia thành hai bộ phận Hán văn và Việt văn Với cách chia như vậy, Phạm Thế Ngũ đã chứng tỏ với người đọc rằng văn học chữ Hán và chữ Nôm có sự phát triển riêng Để lý giải sự phát triển ấy, nhà nghiên cứu cần dựa trên nhiều yếu

Trang 13

tố từ văn chương đến văn hóa, tư tưởng, học thuật…Trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Nxb Trình bày, 1967), Thanh Lãng áp dụng mô hình thế hệ nhà văn

Tiêu chí phân biệt các thế hệ, tiêu chí chọn thế hệ nào làm đại diện cho một giai đoạn văn học có thể chưa thật ổn [30, tr.958 - 993] nhưng đây là một mô hình mới, góp phần khẳng định văn học cũng trải qua quá trình “động đạt”, “thăng trầm”, không phải chỉ phát triển theo đường thẳng Sự nỗ lực của các nhà nghiên cứu như Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ cho thấy sự vận động của văn học rất phức tạp và cần được soi chiếu từ nhiều góc nhìn

Năm 1985, cuộc thảo luận về phân kì văn học đưa ra nhận thức mới về tiến trình vận động của văn học, “hạn chế tình trạng xã hội học dung tục, giản đơn, nhằm quán triệt sâu sắc hơn đặc trưng bản chất của văn học” (Đỗ Đức Hiểu) [76,

tr.52] Trần Đình Hượu trong bài viết Vấn đề chọn năm mốc trong việc phân kỳ lịch

sử văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đã chứng minh rằng chưa thể xem nửa cuối thế

kỷ XIX là thời kỳ mới chỉ vì sự đổi mới của nội dung tư tưởng mà cần phải xét đến tính độc lập của văn học Cái mới thật sự phải gắn với quan niệm văn học và hệ thống thể loại Mối quan hệ giữa hệ tư tưởng và văn học được Trần Đình Hượu giải quyết một cách thấu đáo và thỏa đáng hơn trước Hệ tư tưởng như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo tác động đến văn học khi nó hình thành nên ở tác giả quan niệm văn học, quan niệm cái đẹp Trong bài viết “Nho giáo và văn học nghệ thuật” (1981), Trần Đình Hượu nhiều lần nhấn mạnh nghiên cứu quan niệm văn học, quan niệm cái đẹp để chỉ ra sự vận động của văn học là một nhiệm vụ cấp thiết: “Văn nghệ hiện đại gián đoạn với văn chương vì được viết theo quan niệm văn học khác, hệ thống thể loại khác, tiêu chuẩn cái đẹp khác” [88, tr.40] “ Chứng tích ảnh hưởng của Nho giáo trong văn học không chỉ ở mô típ nội dung, hình ảnh, từ ngữ mà sâu

xa hơn là ở quan niệm văn học, quan niệm cái đẹp” [88, tr.40]

Qua các công trình của mình, Trần Đình Hượu đã đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa định hướng, làm thay đổi cách tiếp cận đối với văn học trung đại Việt Nam

Từ sự phát triển của Trần Đình Hượu, “nhà nho tài tử” trở thành một khái niệm có tính công cụ giúp giải thích sự vận động của văn học Trước Trần Đình Hượu, nhà

Trang 14

nghiên cứu Nguyễn Bách Khoa – Trương Tửu trong công trình Tâm lí và tư tưởng Nguyễn Công Trứ (Tạp chí Văn mới, Hà Nội, 1944) đã sớm dùng khái niệm “người

tài tử”, “nhà nho tài tử” Ông viết:

“Quan niệm “cầm kỳ thi tửu” là một quan niệm tài tử Bằng danh từ này

người ta thường chỉ thị hạng nho sĩ lơ đãng với công việc kinh bang tế thế (hành đạo) mà thiên trọng về văn học, về sự vui sống cầu kỳ (hành lạc) Đỗ Phủ, Lý Bạch, Lưu Linh… là những nhà nho tài tử vậy Họ không sống cho Tổ quốc, không sống

vì đạo lý Họ sống cho họ, sống vì nghệ thuật, sống vì đẹp Suốt đời họ chỉ tìm cái đẹp Cái ý vị của cuộc sống, theo quan niệm tài tử, không phải ở chỗ phụng sự mà

là ở chỗ hưởng thụ, ở uống rượu, ở làm thơ, ở gẩy đàn, ở đánh cờ, ở giăng gió, ở sông núi Nếu không biết thưởng thức những trò chơi ấy một cách mỹ thuật thì dù

có sống đến nghìn tuổi cũng như là chết non mà thôi (thiên tuế diệc vi thương)”

[189, tr.621 - 622]

Đến lượt mình, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu phát triển và đưa ra những nhận định sâu sắc, có tính “chiến lược” (chữ dùng của Trần Nho Thìn) về nhà nho

tài tử Trong công trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại (Nxb Văn hóa

Thông tin, 1995), ông xác định nhà nho tài tử là một trong ba mẫu nhà nho: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử Ông nhận định:

“Xét về mặt tác giả văn học hình như có một sự khác biệt rõ rệt giữa ba mẫu nhà nho: người hành đạo, người ẩn dật và người tài tử Người hành đạo và người ẩn dật là con sinh đôi, thay thế nhau xuất hiện trong những tình thế khác nhau của xã hội nông thôn – cung đình cố hữu Còn người tài tử ra đời chậm, gắn chặt với sự phát triển eo hẹp của đô thị Nhà nho tài tử đối lập Tài và Đức, Tình và Tính, coi trọng thích thú cá nhân, đòi tự do, phóng khoáng và hưởng thụ lạc thú trần tục Chính họ là chủ nhân của nền văn học có mầm mống chống Nho giáo, có xu hướng nhân đạo chủ nghĩa như ngâm khúc, truyện Nôm (chỉ tính các truyện tình yêu tài tử

- giai nhân) và hát nói” [88, tr.39]

Như vậy, Trần Đình Hượu đã dùng các phạm trù Tài và Đức, Tình và Tính

để phân loại nhà nho Và từ những khái niệm này, người đi sau có cơ sở để nhìn

Trang 15

nhận lại sự phát triển của văn học thế kỷ XVIII – XIX trên các phạm trù mỹ học Trần Nho Thìn trong “Một số quan điểm nghiên cứu văn học của Trần Đình Hượu” khẳng định: “Đây rõ ràng là một cách nhìn mới, soi rọi một ánh sáng mới vào thực

tế văn học vốn như đã được nhiều người cùng thời ông phân tích cạn kiệt” [88, tr.758]

Khái niệm “nhà nho tài tử” tiếp tục được Trần Ngọc Vương, Nguyễn Đức Mậu…, những nhà nghiên cứu thuộc thế hệ học trò của Trần Đình Hượu vận dụng, phát triển, đào sâu Trần Ngọc Vương đã kế thừa và làm rõ hơn quan niệm của thầy

Trần Đình Hượu trong luận án Tiến sĩ, sau đó xuất bản thành sách chuyên luận Loại hình học tác giả văn học nhà nho tài tử và văn học Việt Nam (Nxb Giáo dục, 1995)

Ông nghiên cứu sự hình thành và phát triển của loại hình nhà nho tài tử trong “xã hội phi cổ truyền” [273, tr.68], dưới “sự hậu thuẫn của nền kinh tế đô thị tuy còn yếu ớt nhưng đã được hình thành và dần lớn mạnh” [273, tr.103] Ông phân tích cặn

kẽ vấn đề này như sau:

“Chính sự khác biệt từ cơ sở kinh tế này đã tạo nên tính đặc thù của loại hình nhà nho tài tử Và theo Phan Ngọc, những con người tài tử lại là những người học đạo thánh hiền nhưng suy nghĩ theo lối thị dân Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao

Bá Quát đều tự xưng là tài tử Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đều tự xưng là tài tử Con người tài tử là điển hình của thời đại mới Con người quân tử bị chế giễu, đạo đức sống khắc kỉ phục lễ bị mạt sát Một trào lưu tư tưởng mới manh nha trong những chàng trai tài giỏi nhất thời đại” [273, tr.103]

Bên cạnh khái niệm “nhà nho tài tử”, Trần Đình Hượu trong Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại cũng đã phân tích một cách khoa học, thấu đáo về quan

niệm văn học và quan niệm cái đẹp của Nho giáo:

“Nho giáo ảnh hưởng tới văn học (kể cả văn học Việt Nam) với tư cách là một học thuyết tức là một hệ thống các quan điểm về thế giới, về xã hội, về con

người, về lý tưởng,… cho nên cũng có một cách quan niệm văn học riêng Với quan

niệm đó, người ta hiểu thực chất văn học là gì? Những cái gì được xếp vào văn học? Thế nào là văn chương? Theo quan niệm văn học của Nho giáo, văn học có một

Trang 16

nguồn gốc linh thiêng, một chức năng xã hội cao cả, tổ chức, hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội” [88, tr.36]

“Quan niệm cái đẹp, cái hay của Nho giáo cũng chi phối ngòi bút Văn chương phải để giáo hóa, có quan hệ đến thế đạo, nhân tâm, có tác dụng di dưỡng tính tình nên phải có nội dung đạo lý Không những về nội dung không được nói cái

vô đạo, cái thiếu trang nhã mà về hình thức biểu đạt cũng phải thấm nhuần tinh thần khoan thứ, nhân nghĩa” [88, tr.38]

Tiếp thu những nhận định trên của Trần Đình Hượu và các thế hệ nhà nghiên cứu học trò của Trần Đình Hượu, chúng tôi nhận thức được rằng sự biến đổi của văn học trung đại gắn chặt với sự xuất hiện của con người tài tử, đồng thời muốn cắt nghĩa được văn học trung đại Việt Nam thì không thể không tìm hiểu quan niệm văn học, quan niệm cái đẹp của Nho giáo

Từ cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, trong không khí học thuật cởi mở hơn, việc nghiên cứu quan niệm nghệ thuật trung đạt được thành tựu mới Giới nghiên cứu khảo sát quan niệm văn học trung đại từ nhiều góc độ, nỗ lực thay đổi cái nhìn

xã hội học đang dần trở nên cực đoan Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 thi pháp học và những thành tựu của M.Bakhtin được giới thiệu ở Việt Nam, sau đó công

trình cơ bản của các nhà Hình thức luận (Formalism) như R.Jakobson,

B.Eikhenbaum, V.Shklovski, J.Tynianov… được chuyển ngữ Khi ứng dụng thi

pháp học vào nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam, Trần Đình Sử trong Mấy vấn

đề về thi pháp văn học trung đại Việt Nam (Nxb Giáo dục, 1999) quan niệm tiến

trình văn học là “tiến trình tự ý thức của con người trong văn học” [193, tr.49] Thi pháp học trên cấp độ vĩ mô sẽ nghiên cứu “những nguyên tắc nghệ thuật – thẩm mỹ lớn chi phối sáng tạo văn học và hiện diện trong văn học” [193, tr.24] Trên cấp độ này, “quan niệm nghệ thuật là phạm trù có tầm quan trọng trung tâm, có tác dụng chi phối các bình diện hình thức nghệ thuật khác” [193, tr.25] Không chỉ vậy, “ý thức về hình thức văn học cũng là một vấn đề hết sức quan trọng, bao gồm ý thức thể loại, ý thức ngôn ngữ và nói chung, ý thức về bản thân văn học” [193, tr.29]

Trang 17

Trên cơ sở vận dụng thi pháp học để phân tích trường hợp tác phẩm của một tác giả cụ thể, Nguyễn Huệ Chi qua bài viết “Trường hợp Nguyễn Khuyến – dấu

hiệu chuyển mình của tư duy thơ dân tộc” (in lần đầu trong phần “Dẫn luận” Thi hào Nguyễn Khuyến – đời và thơ, Nxb Giáo dục, 1994) đi đến khái quát sự vận

động trong tư tưởng nghệ thuật của nhà thơ: “ từ những đổi thay chưa thật tự giác

và hệ thống trong hệ tư tưởng, trong quan điểm xã hội, nhân sinh, trực giác thiên tài

đã sớm dẫn dắt ông đến những đổi thay trong tư tưởng nghệ thuật, góp phần hình thành nên ở ông những nhận thức vô ngôn về một phương thức tư duy nghệ thuật mới” [31, tr.1066]

Với Hình thức luận, sự tiến triển của văn học được quan niệm như là một

quá trình chống lại sự “tự động hóa” Mỗi hệ thống được hợp thành bởi nhiều thể loại văn học, vận động theo quy luật chuyển các thể loại từ ngoại vi vào trung tâm Chịu ảnh hưởng từ thi pháp thể loại của M.Bakhtin, Nguyễn Phạm Hùng trong

quyển Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ XX) (Nxb ĐH Quốc gia Hà Nội, 1999) dùng mô hình thể loại để nghiên cứu tiến trình vận động của văn học:

“Những sự xuất hiện, biến đổi, phát triển của thể loại văn học, của các phương thức nghệ thuật trong các thời kỳ lịch sử khác nhau chính là biểu hiện sự phát triển của lịch sử văn học” [83, tr.6]

Từ góc độ văn hóa, trong công trình Văn học trung đại Việt Nam: dưới góc nhìn văn hóa (Nxb Giáo dục, 2013), ông cho rằng “miêu tả lịch sử biến chuyển,

vận động của văn học cần dựa vào khung hệ thống khái niệm hình thành trong giai đoạn đầu tiên của chính nền văn học đã được viết chứ không phải là những khái niệm do chúng ta ngày nay nghĩ ra” [213, tr.65] Tiến trình văn học có tính hệ thống,

vì thế phải được xác lập thông qua một hệ thống khái niệm tương ứng Nhiệm vụ của nhà văn học sử phải là phân tích hệ thống khái niệm đó qua tác phẩm văn học

và “theo dõi chúng biến đổi qua thời gian như thế nào, đi tìm những căn cứ lịch sử

xã hội để giải thích sự biến đổi ấy” [213, tr.66] Bộ sách này tập hợp các bài viết có giá trị của nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn Trong bài viết “Trường hợp Nguyễn Du: Văn học trung đại từ chủ nghĩa dân bản đến chủ nghĩa nhân bản (Về ý nghĩa hiện

Trang 18

đại của Nguyễn Du)” (đã in trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12/2005, tr.36-44),

ông phân tích sự thay đổi trong ý thức của Nguyễn Du về con người:

“Nhận thức về con người là một vấn đề có tính lịch sử Nhận thức này đã diễn ra trong văn học trung đại như là một quá trình quan sát con người, lúc đầu từ góc độ con người “thần dân”, như là đối tượng thuần túy của nhà chính trị, cuối cùng đi đến chỗ nhìn nhận con người như là một đối tượng của chủ nghĩa nhân bản, con người “tự nó”, con người nhìn từ bản thể luận Nguyễn Du là trường hợp điển hình nhất cho chặng cuối, là người đánh dấu sự hoàn thiện của ý thức về con người nhân bản” [213, tr.265]

Trên cơ sở này, tác giả khẳng định “thành công của Nguyễn Du bắt nguồn từ chủ nghĩa nhân bản sâu sắc của ông” [213, tr.274]

Trong bài viết “Trào lưu chủ tình của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII đầu

thế kỷ XIX và dấu vết ảnh hưởng của sách Thế thuyết tân ngữ” (đã in trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 1/2007, tr.78-104), Trần Nho Thìn đã khảo sát, phân tích,

biện luận một cách công phu về khái niệm “tình” Theo tác giả, ở Việt Nam thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX xuất hiện trào lưu chủ tình Theo ông, “hai đặc điểm về lối sống của danh sĩ phong lưu Ngụy Tấn là lấy rượu để đạt được cảnh giới lưỡng vật ngã vong và sống theo tình, theo cảm hứng chống lại danh giáo, chống lại cái duy lý của Nho học đã ảnh hưởng khá mạnh đến văn học Việt Nam thế kỷ XVIII đầu thế

kỷ XIX, góp phần tạo nên một trào lưu chủ tình đặc sắc” [213, tr.541] Về trào lưu chủ tình, ông định nghĩa:

“Trào lưu chủ tình” trong văn học thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX là một khái niệm chúng tôi sử dụng theo một nghĩa ước lệ, nhằm định danh một xu hướng văn học chiếm vị trí nổi bật nhất, làm nên thành tựu quan trọng nhất của văn học giai đoạn này: trào lưu văn học đề cao tình (emotions), tức thiên về xúc cảm thay vì lí trí tỉnh táo của nhà nho truyền thống” [213, tr.548]

Xem “tình” là khái niệm cơ bản của văn học giai đoạn, nhà nghiên cứu xem xét sự tác động của “tình” đến mọi mặt của văn học:

Trang 19

“Các nhà thơ thế kỷ XVIII và XIX trân trọng tình cảm con người trên triết lý căn bản xem con người là giống có tình, là “nòi tình” (tình chủng), “giống hữu tình” chứ không phải là cỏ cây, gỗ đá” [213, tr.543]

“Có thể mô tả trào lưu này từ nhiều góc độ khác nhau Trên phương diện quan niệm về con người (nhân vật), ta thấy mẫu nhân vật sống chủ tình, “việt danh giáo nhiệm tự nhiên rất rõ nét” [213, tr.548]

“Về phương diện thể loại, những thể loại quan trọng của giai đoạn văn học này như ngâm khúc, truyện thơ, hát nói đều chuyên chở nội dung đề cao tình cảm con người tự nhiên, trần thế” [213, tr.548]

“Về phương diện quan niệm văn học, Lê Quý Đôn viết về vai trò của tình trong thơ (theo ông, thơ có ba yếu tố căn bản: tình, cảnh, sự) Cao Bá Quát nhắc đến

“tính linh” (khái niệm của Viên Mai dùng trong Tùy Viên thi thoại) để chỉ về tình

cảm chân thật trong thơ” [213, tr.549]

Đi sâu hơn lý luận cổ điển là hướng nghiên cứu ngày càng được chú ý bởi tính cấp thiết của nó Một loạt bài viết, công trình ra đời Nguyễn Ngọc Quận viết

“Quan niệm của Cao Bá Quát về văn học” (Tập san Khoa học Xã hội và Nhân văn,

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, số 6/1999) Nguyễn Đăng Na viết

“Hoa Nguyên thi thảo và lời bình của thi hào Nguyễn Du” (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 3/2005) Nguyễn Thanh Tùng viết “Nhìn lại quan niệm về thơ của học giả

Lê Quý Đôn trong Vân Đài loại ngữ” (Tạp chí Khoa học ĐHSP Hà Nội, số 2/2006),

“Tìm hiểu quan niệm thi học của Cao Bá Quát” (Kỉ yếu Hội thảo Khoa học Cán bộ trẻ Trường ĐHSP Hà Nội, 2010), thực hiện thành công luận án tiến sĩ đề tài Sự phát triển tư tưởng Thi học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2010) Nguyễn Đình Phức viết “Về bài Tự tự Tĩnh phố thi tập của Miên Trinh” (Tạp chí Hán Nôm, số 3/2006), “Nguyễn Miên Thẩm dữ thần vận thi

học” (Ngoại vực Hán tịch nghiên cứu tập san, Đệ nhất tập, Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh, 2006), “Luận thi thi, một hình thức phê bình trong văn học Việt Nam cần

được chú ý khai thác” (Tạp chí Hán Nôm, số 5(96)/2009) Trần Đình Sử viết bài

“Đôi điều về quan niệm văn học của Cao Bá Quát” (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số

Trang 20

11/2008) Phạm Văn Ánh viết bài “Quan niệm từ học của Miên Trinh” (Tạp chí

Nghiên cứu văn học, số 12/2011) Hoàng Ngọc Cương giới thiệu và phân tích bài tựa Ninh Tĩnh thi tập tự qua bài viết “Quận vương Vĩnh Tường:Vị hoàng tử hay thơ qua bài tựa của Quảng Khê Trương Đăng Quế” (Tạp chí Sông Hương, số

331/2016)

Theo một định hướng khác, tư duy hiện đại và các khái niệm lý luận hiện đại như “tâm lý sáng tạo”, “quy luật sáng tạo nghệ thuật”, “bản chất thẩm mỹ”,v.v được vận dụng để lý giải về quan niệm văn học trung đại Năm 1996, Phạm Quang

Trung hoàn thành luận án tiến sĩ đề tài Tìm hiểu quan niệm thơ cổ Việt Nam

(Trường Đại học Sư phạm T.P Hồ Chí Minh), sau đó xuất bản những công trình

khảo cứu như Văn chương với Lê Quý Đôn (Nxb Giáo dục, 1994), Thơ trong con mắt người xưa (Nxb Hội nhà văn, 1999), Quan niệm văn chương cổ Việt Nam – từ một góc nhìn (Nxb Khoa học xã hội, 2011)…

Có thể thấy, ngoài quan niệm văn học nói chung, quan niệm từ học, thi học của nhiều tác giả, nhất là những tác giả để lại sự nghiệp văn chương hoặc sự nghiệp

lý luận, phê bình phong phú, có giá trị cao như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Lê Quý Đôn, Miên Thẩm, Miên Trinh,v.v., ngày càng được chú ý Mỗi công trình nghiên cứu là một mảnh ghép dần hợp thành một bức tranh rộng lớn hơn, làm phát lộ ra sự vận động trong quan niệm văn học ở từng tác giả hoặc từng nhóm tác giả thuộc thế

kỷ XVIII – XIX

Nhìn chung, quan niệm văn học của thế kỷ XVIII – XIX thường được đề cập

đến như một bộ phận trong mười thế kỷ văn học trung đại Tác phẩm Góp phần xác lập hệ thống quan niệm của văn học trung đại Việt Nam (Nxb Giáo dục, 1997) của

Phương Lựu là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống các quan niệm từng xuất hiện trong văn học trung đại Việt Nam Quan niệm văn học, theo lý giải của nhà nghiên cứu, “là hoạt động văn học bước đầu được ý thức một cách tổng

quát trên bình diện lý thuyết” [125, tr.88] Các quan niệm văn học được ông trình

bày theo hai hệ thống như sau:

Phần 1: Hệ thống những quan niệm văn học cơ bản

Trang 21

- Quan niệm văn học yêu nước và tự hào dân tộc

- Quan niệm văn học truyền thụ đạo lý phong kiến (trong thời hưng thịnh và trong giai đoạn trung suy)

- Quan niệm “Văn dĩ tải đạo” của vua quan triều Nguyễn

- Quan niệm văn học hiện thực và nhân dân trong thời phong kiến suy thoái Phần 2: Hệ thống quan niệm về các chỉnh thể chủ yếu của văn học:

kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII) Vua quan triều Nguyễn thì “hoàn toàn rập khuôn theo công thức “Văn dĩ tải đạo” của Tống Nho” [125, tr.141] Quan niệm văn học hiện thực và nhân dân hình thành rõ nét từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, “đối trọng lại với quan niệm văn học phong kiến chính thống đương thời” [125, tr.182] Cấu trúc trên, như chính tác giả lý giải, tương ứng với hai phần của “khoa lý luận văn học ngày

nay”, phần một ứng với phần Nguyên lý tổng quát và phần hai là các chỉnh thể của văn học như Nhà văn, Tác phẩm, Thể loại [125, tr.79] Do đó, công trình của

Phương Lựu giúp người đọc có được cái nhìn khái quát về những vấn đề chung của văn học trung đại hơn là sự vận động của từng giai đoạn Ngoài ra, với văn học thế

kỷ XVIII – XIX, quan niệm “Văn dĩ tải đạo” và quan niệm văn học hiện thực và nhân dân mà tác giả phân tích nghiêng về hướng xã hội học nên những vấn đề về mỹ học, về lý luận văn học của giai đoạn này chưa thật sự được làm rõ

Bổ sung cho những khoảng trống còn chưa được khai phá, luận án tiến sĩ Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam (2001) của Lê Giang đã dùng góc nhìn lịch đại

để giải quyết vấn đề về tiến trình vận động của tư tưởng văn học trung đại Việt Nam Theo tác giả, tiến trình tư tưởng văn học trải qua ba thời kỳ, được sắp xếp như sau:

Trang 22

- Tư tưởng lý luận văn học sơ kỳ trung đại

- Tư tưởng lý luận văn học trung kỳ trung đại

- Tư tưởng lý luận văn học hậu kỳ trung đại: khuynh hướng chính thống

- Tư tưởng lý luận văn học hậu kỳ trung đại: khuynh hướng tài tử

Luận án tiếp cận văn học từ phía lịch sử tư tưởng Từ các phạm trù của văn

học cổ như văn, tình, khí, thần, công trình phục dựng lại quá trình ra đời, phát triển

tư tưởng lý luận văn học Việt Nam thời kỳ trung đại, đồng thời chỉ ra rằng quan

niệm văn học của người xưa không chỉ gói gọn ở hai mệnh đề “Văn dĩ tải đạo” và

“Thi dĩ ngôn chí” Riêng với văn học giai đoạn hậu kỳ, nhà nghiên cứu đi sâu khai

thác tư tưởng của kiểu tác giả tài tử đối lập với kiểu tác giả chính thống Các phạm trù, khái niệm văn học được theo dõi trên bình diện lịch sử, qua cách cắt nghĩa của các tác giả trung đại thuộc những nhóm loại hình khác nhau:

“Trong sáng tác văn học, họ đề cao tài, tình và cá tính, điều này rất khác với các nhà nho chính thống đề cao chí, tâm, đạo Chí, tâm, đạo là vấn đề của con

người phận vị, còn tài, tình và cá tính là vấn đề của con người cá nhân” [60, tr.112]

Trần Đình Hượu là người đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu loại hình tác giả Văn sĩ, theo Trần Đình Hượu, tập hợp thành “vùng loại hình”, chia sẻ cùng quan niệm văn học và những tiêu chuẩn về cái đẹp nghệ thuật [88, tr.15] Sự phân nhóm tác giả chủ yếu phải xét trên ý thức của họ về văn học, không thể chỉ tập

trung ở lập trường chính trị – xã hội Phát triển định hướng này, luận án tiến sĩ của

Lê Giang đã xây dựng thành công mô hình nghiên cứu dựa trên loại hình tác giả và các phạm trù mỹ học, dùng chính ý thức của người trung đại để hiểu văn học trung đại Ông nhấn mạnh:

“Rõ ràng là đến Hậu kỳ trung đại trên văn đàn đã xuất hiện một loại tác gia văn chương mới – nhà nho tài tử Họ đã đem đến văn chương trung đại một loại chất khác, mới mẻ, mang đậm tính chất văn nghệ Chính loại tác gia này đã tạo nên những thành tựu rực rỡ nhất cho văn chương cổ Việt Nam” [60, tr.106]

Trang 23

Đây là hướng nghiên cứu hứa hẹn nhiều triển vọng vì nó chạm đến những vấn đề thuộc về bản chất của văn học trung đại, đồng thời khơi dậy mối quan tâm đối với việc nghiên cứu nền lý luận của cha ông

Nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn trong công trình Văn học Việt Nam từ thế kỷ

X đến hết thế kỷ XIX (Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012) dành hẳn một chương “Quan

niệm văn học Việt Nam thời trung đại” [tr.217 – 268] để phân tích về sự vận động của quan niệm văn học trong tiến trình văn học trung đại Ông quan sát sự thay đổi của quan niệm “văn” trong hệ thống “đạo – thánh – văn” và quan niệm “văn” vượt

ra ngoài hệ thống “đạo – thánh – văn” Với phần quan niệm “văn” trong hệ thống

“đạo – thánh – văn”, ông chỉ ra như sau:

“Nguyễn Trãi đã trình bày một quan niệm rất điển hình về bản chất, chức năng của văn học chính thống qua đoạn thơ sau:

Văn chương chép lấy đòi câu thánh,

Sự nghiệp tua gìn giữ đạo trung

Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược,

“Thế kỷ XV có nhiều luận văn bàn về thi nhạc thể hiện rõ tinh thần nhân cách lý tưởng và mỹ học trung hòa” [215, tr.227]

“Thánh hiền coi trọng chức năng thẩm mỹ của văn nhưng dừng lại ở mức cần và đủ để chuyển tải, diễn đạt đạo lý ấy chứ không cần theo cái đẹp cầu kỳ, hoa mỹ” [215, tr.233]

“Mối quan hệ giữa văn và đạo hiểu theo tinh thần đạo là chủ, văn là phụ họa trên được nhiều tác giả trung đại thừa nhận, cho mãi đến thế kỷ XIX [ ] Văn là hiện hình của tâm, mà tâm nói đây là tâm đạo Văn chương chỉ cốt thể hiện tâm đạo

Trang 24

đó, là sự tràn ra của đạo chất chứa bên trong dưới hình thức ngữ ngôn chứ không là thứ văn chương hoa mỹ, cầu kỳ Đạo (chứa trong tâm) quyết định văn từ (hiển hiện

ra bên ngoài của đạo)” [215, tr.234]

Với phần quan niệm “văn” trong hệ thống “đạo – thánh – văn”, tác giả đã khảo sát công phu từ các “phát biểu có tính chất lý thuyết về văn học nghệ thuật” [215, tr.217] đến thực tiễn sáng tác văn học để đưa ra những nhận định tinh tế về sự biến đổi của mô hình “đạo – thánh – văn” trong văn học trung đại và đặc biệt, trong văn học từ thế kỷ XVIII trở đi Ông đã viết:

“Theo sự biến chuyển của thời thế, sang thế kỷ XVIII, văn luận nho gia Việt Nam dần thay đổi, tuy là các thay đổi này khá tế vi, cần chú ý quan sát mới thấy được” [215, tr.238]

“Các tác giả đã đề cập đến một vấn đề khác về nguyên tắc so với văn luận kinh học khi nhấn mạnh chủ thể sáng tác và nội dung tâm lý, cảm xúc của những

“điều phụ”, “khuê phụ”, những “ky thần trục khách”, những người bị vùi dập uất ức, phẫn uất lo buồn Bàn về nghệ thuật, họ đã không quan tâm đến mảng sáng tác của các bậc vương giả, quan lại thành đạt nữa: chủ thể sáng tác của những tác phẩm đáng luận bàn đã mở rộng sang tác giả phụ nữ, nhà nho không thành đạt Không những là đề cao tính chân thực của cảm xúc mà còn là sự khẳng định con người đời thường, con người riêng tư – chứ không phải con người cộng đồng, cũng không phải con người công lợi – mới làm nên giá trị lâu dài của văn học, đây chính là nét mới nổi bật của văn luận giai đoạn thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX” [215, tr.245]

Ông phân tích phạm trù “tài tình”:

“Tất nhiên, nghĩa của phạm trù “tài tình” vốn là một triết lý sống, một quan niệm giá trị nhân bản rộng hơn nghĩa chữ tình, chỉ cảm xúc Tuy vậy, giữa hai khái niệm cũng có điểm gặp gỡ Đó là hàm nghĩa về sự chân thực của cảm xúc trong thi

ca, nghệ thuật như là một giá trị cần theo đuổi, cần khẳng định, đề cao Chúng hướng về tự do, cá tính, về giải phóng con người khỏi sự ràng buộc của lý tính đạo đức nho giáo khô khan, nhiều khi là giả dối” [215, tr.248]

Ông cũng lưu ý đến sự khác biệt giữa thi học Đàng Ngoài và Đàng Trong:

Trang 25

“Điều cần lưu ý là sự vận động không đồng bộ của thi học ở Đàng Trong và Đàng Ngoài Trên vùng đất mới phía Nam, tại vùng cai quản của chúa Nguyễn, nơi Nho giáo đang bước đi những bước đầu tiên, nơi giới trí thức vẫn hy vọng vào vai trò của Nho giáo trong sự nghiệp tổ chức, xây dựng xã hội, thiết lập quan hệ tốt đẹp giữa người và người – một niềm hy vọng sẽ kéo dài mãi đến Nguyễn Đình Chiểu thì thi luận kinh học vẫn có cơ sở vững chắc” [215, tr.249]

Sau khi phân tích, so sánh, đối chiếu tỉ mỉ quan niệm “văn” ở nhiều tác giả, nhiều giai đoạn, từ lý luận phê bình đến thực tế sáng tác, nhà nghiên cứu đi đến kết luận:

“Nhìn chung, văn luận Việt Nam thời trung đại một mặt hướng đến những tư tưởng kinh điển, thể hiện lý tưởng xã hội và lý tưởng nhân cách của thánh nhân, quân tử nên có những đặc trưng của kinh học, lấy chuẩn mực từ tư tưởng, đạo đức,

chính trị, thẩm mỹ của Tứ thư, Ngũ kinh Mặt khác, do văn luận còn là sự phản ánh

và tổng kết thực tiễn văn học, còn văn học lại vận động, thay đổi theo sự vận động của lịch sử dân tộc nên xu hướng đi ra ngoài văn luận kinh học cũng là một xu hướng thực tế Hai xu hướng đó – văn luận kinh học và văn luận phi kinh học – tạo nên bức tranh văn luận đặc sắc của văn học trung đại Việt Nam” [215, tr.257]

Tóm lại, công việc nghiên cứu ý thức văn học trung đại nói chung, ý thức văn học giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX nói riêng đã được thực hiện trong thời gian dài và đạt được nhiều thành tựu Các công trình dù viết riêng về từng tác giả hoặc nghiên cứu chung cả một thời kỳ trung đại thì đều khẳng định đến thế kỷ XVIII – XIX, văn học chứng kiến sự vận động có tính hệ thống trong ý thức nhà văn, nhà thơ Sự vận động này diễn ra một cách mạnh mẽ với nhiều khía cạnh ngổn ngang, chính vì thế một công trình nghiên cứu chuyên sâu về ý thức nghệ thuật trong văn học giai đoạn hậu kỳ vẫn là hết sức cần thiết

Tuy khó lòng bao quát hết toàn bộ tài liệu nhưng chúng ta vẫn quan sát được tình hình nghiên cứu trên đại thể Các góc độ tiếp cận ngày càng mở rộng từ xã hội học đến mỹ học, từ đồng đại đến lịch đại, từ việc vận dụng các khái niệm của lý luận hiện đại trong nghiên cứu đến tìm hiểu, khôi phục lại ý nghĩa các phạm trù,

Trang 26

khái niệm theo tư tưởng người xưa Đó là cơ sở gợi ý cho chúng tôi cố gắng suy nghĩ tiếp về những biến đổi trong ý thức sáng tác và tiếp nhận, về các nguyên tắc trong sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật của văn học giai đoạn Việc xây dựng một cái nhìn tổng thể về sự di chuyển, cụ thể hóa của ý thức nghệ thuật vào tác phẩm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Nó sẽ giúp lý giải một cách thấu đáo hơn nguyên nhân phía sau sự xuất hiện của những hiện tượng mới trong vận học, nhờ đó làm cho diện mạo và quy luật vận động của văn học giai đoạn được nhận thức rõ ràng hơn

Kế thừa các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi theo đuổi định hướng nghiên cứu tiến trình vận động của văn học thế kỷ XVIII – XIX từ ý thức nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác Bằng cách kết hợp lý luận phương Tây và lý luận phương Đông, chúng tôi hy vọng có thể vận dụng một mô hình lý thuyết khác để nghiên cứu tiến trình vận động của văn học trung đại Trên cơ sở tìm hiểu ý thức nghệ thuật và sự vận động của ý thức nghệ thuật từ giai đoạn trung kỳ sang hậu kỳ, chúng tôi sẽ cố gắng soi chiếu và khám phá sâu hơn những phương diện cơ bản làm nên đặc trưng của văn học giai đoạn

3 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện những phương diện biểu hiện của ý thức nghệ thuật trong văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX trong tương quan với văn học giai đoạn trước Cụ thể là chúng tôi sẽ tập trung vào các mục đích chủ yếu sau đây:

- Dẫn nhập khái niệm ý thức nghệ thuật, mối quan hệ giữa sự vận động của ý thức nghệ thuật và sự vận động của văn học, phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự vận động của ý thức nghệ thuật

- Sưu tầm, tổng hợp, phân loại tư liệu, lấy đó làm cơ sở khảo sát sự vận động của ý thức nghệ thuật trên một số phương diện cốt yếu

- Làm rõ sự thể hiện của ý thức nghệ thuật trong thực tiễn sáng tác

- Cuối cùng đi đến chỉ ra quy luật vận động của văn học giai đoạn

Trang 27

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu về ý thức nghệ thuật thực chất là khảo sát biểu hiện của ý thức nghệ thuật trong lý luận phê bình và thực tiễn sáng tác, trên các phương diện chức năng nghệ thuật, chất liệu nghệ thuật và cấu trúc nghệ thuật

4.2 Phạm vi tư liệu phục vụ cho công việc nghiên cứu chỉ thuộc lĩnh vực văn học, không bao gồm tư liệu thuộc các loại hình nghệ thuật khác như tuồng, chèo,v.v

Phạm vi tư liệu đa dạng, gồm có:

Các tác phẩm lý luận, phê bình, nghiên cứu (theo kiểu trung đại) như bộ Vân đài loại ngữ (Lê Quý Đôn), Mân hành thi thoại (Lý Văn Phức), Thương Sơn thi thoại (Tùng Thiện Vương Miên Thẩm)

Các bài tựa, bạt, lời bình, các cuộc nói chuyện thơ, thư từ trao đổi về các vấn

đề văn học

Các bài thơ, phú, lời dẫn trước tác phẩm, các bài ký, văn bia

Những bài thơ luận về thơ (luận thi thi)

Thực tiễn sáng tác thế kỷ XVIII – XIX

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ yêu cầu của bản thân đối tượng nghiên cứu và theo mục đích của luận án, chúng tôi lựa chọn vận dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành

- Phương pháp lịch sử - cụ thể: hướng đến việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử xã hội, môi trường văn hóa, tư tưởng chung của thời đại, mối liên hệ giữa chúng với những đặc điểm mới của ý thức nghệ thuật trong văn học giai đoạn hậu kỳ

- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: giúp nhìn văn học thế kỷ XVIII – XIX như một chỉnh thể thống nhất giữa ý thức nghệ thuật và thực tiễn sáng tác, từ đó phân tích, lý giải mối liên hệ giữa chúng

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: giúp đưa ra những căn cứ, nhận định xác thực để đi đến kết luận về sự vận động của ý thức nghệ thuật

- Phương pháp so sánh: giúp làm rõ ý thức nghệ thuật trong văn học giai đoạn hậu kỳ đã thay đổi như thế nào so với văn học các giai đoạn trước Khi cần tìm

Trang 28

hiểu sâu hơn về quy luật vận động của ý thức nghệ thuật, chúng tôi có thể đối chiếu văn học Việt Nam với văn học nước ngoài

- Hướng nghiên cứu mĩ học, lý thuyết tiếp nhận, ngôn ngữ học xã hội, phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng kết hợp giúp khám phá trọn vẹn các phương diện của ý thức nghệ thuật Mĩ học giúp lý giải quan niệm về cái đẹp Lý thuyết tiếp nhận giúp nghiên cứu cách đọc Phân tích diễn ngôn chỉ ra sự biến đổi

của cấu trúc thể loại Các khái niệm của ngôn ngữ học xã hội như song thể ngữ, dạng thức ngôn ngữ cho thấy sự vận động của ngôn ngữ văn học trong mối liên hệ

với văn hóa, các nhóm xã hội

- Thao tác thống kê, phân loại

6 Đóng góp của luận án

Luận án vận dụng kết hợp lý thuyết phương Tây và lý luận phương Đông để khảo sát một cách hệ thống các phương diện của ý thức nghệ thuật, từ đó góp phần khái quát đặc điểm của một giai đoạn văn học phức tạp như giai đoạn hậu kỳ Luận

án cũng góp phần lý giải sự vận động của văn học trung đại Việt Nam từ giai đoạn trung kỳ sang hậu kỳ Cụ thể, luận án giải quyết được một số vấn đề sau đây:

Luận án phân tích bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, tư tưởng, những nhân tố tác động đến sự vận động ý thức nghệ thuật

Luận án nghiên cứu các phương diện biểu hiện của ý thức nghệ thuật trong văn học thế kỷ XVIII – XIX từ lý luận phê bình đến thực tiễn sáng tác Các phương diện này bao gồm: chức năng nghệ thuật, chất liệu nghệ thuật và cấu trúc nghệ thuật Các vấn đề liên quan đến ba phương diện trên như sự vận động của ý thức về hiện thực trong văn học, ý thức mới về sáng tác và tiếp nhận văn học cũng được khảo sát, phân tích, lý giải

Luận án bước đầu đã chú ý phân tích ý thức nghệ thuật của văn học trung đại Việt Nam giai đoạn hậu kỳ trong bối cảnh văn học Đông Á

Kết quả của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX

Trang 29

7 Cấu trúc luận án

Ngoài những phần quy định chung, luận án được trình bày thành ba chương, trong đó chương 1 đặt cơ sở cho việc nghiên cứu đối tượng, chương 2 và chương 3

triển khai theo các phương diện biểu hiện của ý thức nghệ thuật:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đối tượng

Chương 1 trình bày khái niệm ý thức nghệ thuật, các phương diện biểu hiện của ý thức nghệ thuật, sự vận động của ý thức nghệ thuật và sự vận động của văn học, khẳng định tính khả thủ và triển vọng của việc nghiên cứu đối tượng Ngoài ra, chương 1 còn phân tích, lý giải các nhân tố thúc đẩy sự vận động của ý thức nghệ

thuật trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn hậu kỳ

Chương 2: Sự vận động trong ý thức về chức năng nghệ thuật của văn học

Chương 2 giải quyết những vấn đề có liên quan đến sự vận động trong ý thức

về chức năng nghệ thuật của văn học giai đoạn hậu kỳ Sự vận động của ý thức về mối quan hệ giữa hiện thực và văn học, ý thức về mối quan hệ tác giả, tác phẩm và độc giả được trình bày như là cơ sở làm cho các chức năng nghệ thuật của văn học thế kỷ XVIII – XIX thay đổi Sự xuất hiện của chức năng nghệ thuật mới gắn liền với khuynh hướng văn học “duy cảm”, “duy tình”

Chương 3: Sự vận động về chất liệu và cấu trúc nghệ thuật trong thực tiễn sáng tác văn học

Chương 3 khảo sát hai phương diện là chất liệu nghệ thuật và cấu trúc nghệ thuật qua thực tiễn sáng tác văn học thế kỷ XVIII – XIX Chất liệu nghệ thuật và cấu trúc nghệ thuật bao gồm rất nhiều vấn đề Chương 3 tập trung vào ba vấn đề

trọng tâm là ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật và thể loại

Trang 30

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG

1.1 Ý thức nghệ thuật và sự vận động của ý thức nghệ thuật

1.1.1 Khái niệm ý thức nghệ thuật

Ý thức nghệ thuật là một khái niệm rộng Mỗi lý thuyết văn học khác nhau sẽ

đề cập đến một hoặc một vài phương diện liên quan đến ý thức nghệ thuật Luận án chỉ giới hạn tìm hiểu khái niệm này trong phạm vi văn học, không mở rộng sang những loại hình nghệ thuật khác

Lý thuyết phản ánh khi tập trung vào mối quan hệ giữa tác phẩm và thực tại đồng thời cũng nhấn mạnh đến quá trình sáng tạo của nhà văn Nghệ thuật được quan niệm “là một trong những dạng của ý thức xã hội và văn hóa tinh thần” [175, tr.7] Hoạt động của nhà văn là hoạt động mang tính ý thức G.N.Pôxpêlôp trong

Những vấn đề lịch sử văn học chỉ ra rằng trong cả ba chủng loại văn học tự sự, trữ tình và kịch đều chứa đựng “sự thống nhất nhận thức của tác giả về “khách thể” tức

là sự phản ánh những bản chất đặc trưng vật chất hay tinh thần của hiện thực và về

“chủ thể” tức là sự hiểu biết và đánh giá mang tính tư tưởng về phía tác giả” [164]

Bằng cách dẫn lại ý kiến của A.A.Sakhốp, G.N.Pôxpêlôp bày tỏ sự tán thành với cách lý giải của nhà nghiên cứu lịch sử văn học người Tây Âu về quá trình ra đời của một quy tắc văn học mới:

“Bất kỳ quy tắc văn học nào thì sự ra đời của nó cũng mang một quá trình tương tự thế này: thoạt đầu thì các quan niệm và tư tưởng mới được nêu lên trong

xã hội đẩy lùi các quan niệm cũ, sau đó các quan niệm chung ấy, thế giới quan mới

đó trở thành nội dung thơ ca; cuối cùng – trên cơ sở các sản phẩm thi ca, lý luận các thủ pháp văn học và kỹ thuật nghệ thuật được xây dựng, các nhà văn theo đó mà đưa đến sự xuất hiện những hình thức khác của đời sống xã hội.” [164]

Tâm lý học hoặc phân tâm học tuy tiếp cận văn học từ góc độ khác xã hội

học nhưng chúng gặp gỡ nhau ở thái độ phủ nhận tính tự trị (autonomous) của tác

Trang 31

phẩm văn chương, xem văn chương như là sự biểu thị những quy tắc bên ngoài nó

có liên quan đến tâm lý, xã hội hoặc thậm chí tư tưởng nhân loại

Với tác giả trung đại, con đường sáng tác bắt đầu từ việc học tập về các quy tắc văn học được cho là mẫu mực Cho nên, ý thức nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ

là một phương diện có ý nghĩa đối với nghiên cứu

Ngược lại, các lý thuyết như thi pháp học, tự sự học, kí hiệu học tập trung vào văn bản với mục đích đi tìm cấu trúc và chức năng của văn bản Tiến trình vận động của văn học được lý giải từ chính bản thân văn học Sự tiến triển của văn học nảy sinh từ cuộc chiến vô tận chống lại sự tự động hóa, chống lại cái được tạo ra từ kinh nghiệm lặp đi lặp lại và trở nên nhạt nhẽo Như vậy, xét đến cùng, phía dưới bề mặt ngôn từ của văn bản vẫn có sự hiện diện của ý thức nghệ thuật I.U.Lotman

nhận định trong tác phẩm văn học có sự hiện diện của các mã Các mã ấy được đặt

vào hệ thống tri giác của độc giả, ảnh hưởng đến việc xác định ý nghĩa của một văn bản nghệ thuật:

“Khi đặt vào tác phẩm nghệ thuật cả một trật tự các mã bổ sung: mã thời đại,

mã thể loại, mã phong cách, hoạt động trong tập thể toàn dân tộc hay nhóm người hẹp hơn (cho đến các cá nhân), chúng ta thu được trong văn bản những tập hợp có nghĩa khác nhau nhất, và tất nhiên một trật tự phức tạp nhất các lớp nghĩa bổ sung

so với văn bản phi nghệ thuật.” (Kí hiệu học văn hóa) [119, tr.365]

Bàn về tiến trình văn học, M.Bakhtin nhấn mạnh vai trò chủ chốt của thể loại:

“Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhận thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là

những nhân vật hạng nhì và hạng ba” (Lý luận và thi pháp tiểu thuyết) [11, tr.28]

Trong các thể loại, tiểu thuyết trở thành chủ đạo bởi vì “đặc điểm phong cách học thứ nhất của tiểu thuyết gắn với tính đa ngữ tích cực của thế giới mới, văn hóa mới

và ý thức sáng tạo văn học mới” [11, tr.33] Các thể loại còn lại sẽ bị thu hút vào

tiểu thuyết: “toàn bộ văn học nhiều phen bị cuốn vào quá trình biến đổi và như nhiễm một thứ tinh thần phê phán thể loại” [11, tr.25] Từ lập luận của M.Bakhtin,

Trang 32

chúng ta hiểu rằng tác phẩm văn học không chỉ phản ánh những quy định, đặc điểm thể loại mà chúng còn làm biến đổi ý thức thể loại Ý thức thể loại được biến đổi trở thành cơ sở cho sự ra đời của tác phẩm kế tiếp, và cứ theo một vòng tròn hình xoắn

ốc như vậy, văn học đi mãi trên con đường tiến hóa của nó

Cũng theo M.Bakhtin, ý thức thể loại không chỉ nằm trên bề mặt văn bản, biểu lộ qua nội dung mà bản thân cấu trúc tác phẩm là cấu trúc mang nghĩa Trong

phạm vi hiểu biết của mình, chúng tôi được biết đến công trình Một ngụ ngôn của hình thức: Sự tự ý thức văn học trong tác phẩm “Mười ngày” (An Allegory of Form: Literary Self-Consciousness in the “Decameron”) của Millicent Joy Marcus Đây là

công trình nghiên cứu lấy quan điểm của M.Bakhtin về thể loại làm cơ sở

M.J.Marcus tin rằng chiến lược kể của G.Boccaccio mang nghĩa Tác giả của cuốn Mười ngày đã cho người đọc thấy tính không ổn định của tiểu thuyết, buộc họ phải

tự kết dính những điều lộn xộn, khó nắm bắt để tìm ra ý nghĩa của tác phẩm Chính cấu trúc tác phẩm chứ không phải nội dung hay những bài học đạo đức mới là yếu

tố làm thay đổi ý thức của người đọc về tiểu thuyết

Lý thuyết tiếp nhận nhấn mạnh vào mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc, quan niệm người đọc là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của văn học Xuất phát từ luận điểm tác phẩm chỉ hình thành khi nó được tiếp nhận bởi người đọc,

H.R.Jauss trong công trình Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học (1970) cho rằng lịch sử văn học phải bao gồm cả lịch sử tiếp nhận của

người đọc Lịch sử văn học không phải dựa trên một số đặc điểm quan trọng vốn được xem là bất biến của tác phẩm mà dựa trên cách người đọc tiếp nhận văn bản,

là lịch sử của những cách đọc Nhưng ngay cả khi tiếp cận văn học từ góc nhìn này,

các nhà nghiên cứu vẫn phải đi tìm đáp án cho câu hỏi điều gì đã chi phối cách đọc

của độc giả Những khái niệm như chân trời đón đợi, khoảng cách thẩm mỹ, cộng đồng diễn giải đều hướng đến việc tìm ra một cách giải thích hợp lý về sự đọc Chân trời đón đợi, còn được dịch là tầm đón đợi, tầm đón nhận, là thuật ngữ được H.R.Jauss tiếp thu từ tác phẩm Con người và xã hội trong thời kỳ xây dựng lại của

K.Mannheim Ở Việt Nam, khái niệm trên được tiếp thu và vận dụng theo nhiều

Trang 33

cách hiểu Theo sự thống kê của nhà nghiên cứu Phạm Quang Trung trong bài viết

Văn chương, đọc và viết, Phương Lựu hiểu chân trời đón đợi là “những nhu cầu và

trình độ thưởng thức kết tinh từ kinh nghiệm sống, hứng thú, lý tưởng của mỗi người đọc”, Nguyễn Văn Dân hiểu là “trình độ kiến thức văn hóa – văn học của công chúng”, còn Phạm Hùng thì cho rằng khái niệm này “bao gồm cả những hiểu biết về các hình thức biểu hiện văn học khác nhau, những kinh nghiệm nghệ thuật được lưu truyền và những tri thức khác có liên quan đến văn học” [234] Trong nỗ

lực khám phá bản chất hành động đọc của các nhà nghiên cứu, khái niệm chân trời đón đợi dẫn đến khái niệm khoảng cách thẩm mỹ và đồng nhất thẩm mỹ Khái niệm cộng đồng diễn giải do Stanley Fish đề xuất trong cuốn Có một văn bản trong lớp này không? (Is There a Text in This Class?) cho thấy tương quan giữa người đọc cá nhân và năng lực tập thể của sự đọc Cộng đồng diễn giải (interpretive community),

theo quan niệm của Trương Đăng Dung, “không phải hoạt động diễn giải là cái chung mà là cái nền tảng của những quy phạm nằm sau sự diễn giải văn bản Đó là thứ quyền lực của sự cho phép và nghiêm cấm, là hệ thống của những quy tắc chi

phối người đọc” [42] Nhìn chung, lý thuyết tiếp nhận thừa nhận chân trời đón đợi

tồn tại trong văn bản và chân trời ấy chờ đợi sự hồi ứng từ phía người đọc để mở ra một cánh cửa đi vào thế giới tác phẩm

Gần đây, khái niệm hệ hình (paradigm) của Thomas Kuhn đang được sử

dụng rộng rãi trong việc mô tả sự vận động nội tại của văn học Việt Nam Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy, Trần Ngọc Vương hình dung mỗi thời đại văn học tương ứng với một hệ hình Tiến trình vận động của văn học là sự chuyển đổi giữa các hệ hình Trần Ngọc Vương trong bài viết “Vị trí Trần Tế Xương trong lịch sử văn học” [275] xác định những tiêu chí làm nên hệ hình văn học thường thấy là:

1- Hệ thống những tư tưởng thẩm mỹ, quan niệm văn học

2- Hệ thống chủ đề – đề tài đặc thù

3- Hệ thống hình tượng văn học cơ bản

4- Hệ thống thể loại

5- Ngôn ngữ văn học

Trang 34

Trong tất cả các nhân tố hình thành nên hoạt động văn học, hoặc trong các hệ thống tạo nên hệ hình văn học, luôn có sự hiện diện của ý thức nghệ thuật Ý thức nghệ thuật được trình bày, được cụ thể hóa bằng nhiều cách Công trình lý luận, phê bình xây dựng hệ thống các nhận định về văn học Công trình văn học sử cho thấy

sự tri giác văn bản nghệ thuật, logic sắp xếp, phân loại thể loại Tác phẩm văn học cũng là nơi lưu giữ ý thức nghệ thuật Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã viết:

“Sự thật, nền văn học nào cũng có lý luận của nó – cả thứ lý luận không thành văn lẫn thứ lý luận thành văn, thành câu chữ, bài bản, sách vở Tôi muốn gọi

thứ lý luận không (hoặc chưa) thành văn kia là ý thức văn học hình thành (ngầm

chăng?) trong nền văn học đó, trong giới những người làm văn học, trước hết là giới

sáng tác, và sau nữa, cả trong giới công chúng của văn học một thời đại.” (Tư duy lý luận trước ý thức văn học đang phát triển) [7]

Các lý thuyết văn học mở ra những góc độ tiếp cận khác nhau đối với ý thức nghệ thuật Sau khi tham khảo một số lý thuyết và công trình nghiên cứu của người

đi trước, chúng tôi xin mạnh dạn đưa ra cách hiểu của mình về ý thức nghệ thuật (cố nhiên, trong lĩnh vực văn học, không phải mọi loại hình nghệ thuật) Ý thức nghệ thuật, theo chúng tôi, là ý thức tự giác về văn học được thể hiện trong mọi mặt của hoạt động văn học, từ hoạt động lý luận, phê bình đến hoạt động sáng tác, tiếp nhận

Cụ thể hơn, ý thức nghệ thuật đóng vai trò chi phối trong toàn bộ hoạt động sáng tác

và tiếp nhận văn học, được thể hiện trong hệ thống quan niệm văn học qua những phát ngôn của nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình khi bàn về các vấn đề văn học và trong thực tiễn sáng tác thông qua hệ thống hình tượng, ngôn ngữ, cấu trúc nghệ thuật Ở đây, chúng tôi hoàn toàn không có ý phủ nhận khái niệm “quan niệm văn học” Lựa chọn sử dụng khái niệm “ý thức nghệ thuật” chủ yếu vì luận án hướng đến khảo sát sự vận động của văn học Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX trên ba phương diện là chức năng nghệ thuật (là phương diện thể hiện rõ nét mối quan hệ giữa văn học và đời sống), cấu trúc nghệ thuật và chất liệu nghệ thuật trong tổ chức tác phẩm Trên ba phương diện này, ý thức của nhà văn, nhà thơ về văn học, về

những điều hiện tồn, hoặc về vũ trụ (universe) theo cách định nghĩa của

Trang 35

M.H.Abrams, về vị thế của người viết và về người đọc có khi được trình bày thành

lý luận thành văn, có khi chỉ tồn tại ngầm ẩn trong tác phẩm, nhưng tất cả đều sẽ ảnh hưởng đến việc sử dụng các phương thức nghệ thuật để xây dựng tác phẩm Như vậy, ý thức nghệ thuật được thể hiện đồng thời trên cả phương diện sáng tác và tiếp nhận ở bất kì một giai đoạn văn học nào Nghiên cứu ý thức nghệ thuật thực chất là nghiên cứu những đặc trưng có tính hệ thống trong sáng tác và tiếp nhận để nhận thức “khuôn diện” ý thức của một thời đại chi phối sự xuất hiện của những đặc trưng ấy Qua đó, nhìn nhận một cách khoa học hơn văn học của một giai đoạn, một thời kỳ

Thiển nghĩ, khái niệm “ý thức nghệ thuật” là sản phẩm thuộc thế giới tinh thần của chủ thể/loại hình chủ thể sáng tạo và/ hoặc tiếp nhận văn chương Nó không thuần lý mà bao hàm cả yếu tố cảm xúc, gắn với cảm xúc, hứng thú, đam mê, một cái gì không hẳn có trước mà đang sinh thành Trong khi đó “quan niệm văn học” lại gợi một cái gì có trước, thuần lý, chỉ đạo sáng tác/ tiếp nhận văn học, một hệ quy chiếu rạch ròi, hoàn chỉnh Vả chăng, tác giả luận án cũng e ngại rằng,

có thể, nếu sử dụng cụm từ “quan niệm ” (dù là “quan niệm văn chương”), thì dễ gợi liên tưởng đến “quan niệm nghệ thuật ” – một khái niệm mà các nhà nghiên cứu văn học dưới ánh sáng của thi pháp học thường sử dụng – không chuyển tải đúng cái nội hàm mà mình mong xác định Lý do sử dụng khái niệm “ý thức nghệ thuật” chủ yếu là như vậy

1.1.2 Những phương diện biểu hiện của ý thức nghệ thuật

Từ các lý thuyết văn học đã trình bày ở trên, chúng tôi nhận thấy ý thức nghệ thuật có thể được khám phá trên nhiều phương diện Để làm rõ sự vận động của ý thức nghệ thuật từ văn học trung kỳ trung đại sang hậu kỳ trung đại, luận án lựa chọn khảo sát ba phương diện chính, bao gồm: chức năng nghệ thuật, chất liệu nghệ thuật và cấu trúc nghệ thuật của văn học

1.1.2.1 Ý thức về chức năng nghệ thuật của văn học

Chức năng hiểu theo nghĩa rộng là ý thức về mối quan hệ tương tác giữa văn học và đời sống xã hội Nó liên quan đến hiểu biết về thế giới và con người, về giá

Trang 36

trị xã hội của văn học, về mục đích sáng tạo nghệ thuật Giá trị xã hội có thể hiểu dưới góc độ triết học, chính trị, đạo đức hoặc cũng có thể lý giải như một giá trị nhân sinh của chung nhân loại Trong ý nghĩa này, khảo sát chức năng nghệ thuật thực chất là khảo sát ý thức về các vấn đề cơ bản của văn học như ý thức về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, mối quan hệ giữa tác giả, tác phẩm và người đọc

“Nguyên nhân rõ rệt nhất của một tác phẩm nghệ thuật là ở người sáng tạo ra nó” (R.Wellek và A.Warren) [278, tr.122] Tìm hiểu ý thức trong cả hoạt động sáng tác lẫn tiếp nhận văn học sẽ cho thấy rõ hơn nguyên nhân phía sau chi phối sự biến đổi của các chức năng nghệ thuật

Chức năng nghệ thuật vận động theo sự thay đổi của văn học và của đời sống

xã hội Mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn văn học có những yêu cầu khác nhau đối với văn học Theo tiến trình vận động của văn học, các chức năng nghệ thuật được hình thành, biến đổi, bổ sung Tùy những bối cảnh cụ thể, trong các giai đoạn khác nhau

và trong các khuynh hướng nghệ thuật khác nhau, văn học sẽ nhấn mạnh ở một hoặc một nhóm chức năng nào đó Điều đó cho thấy luận án hoàn toàn có thể khảo sát được sự vận động trong ý thức về chức năng nghệ thuật của văn học

1.1.2.2 Ý thức về chất liệu nghệ thuật của văn học

Chất liệu nghệ thuật là yếu tố vật chất cốt yếu nhất để làm nên tác phẩm nghệ thuật Nhờ chất liệu nghệ thuật, người nghệ sĩ mới khách thể hóa được những

ấn tượng, nhận thức, cảm xúc của mình Với văn học, ngôn ngữ là chất liệu cơ bản

Nó vừa là phương tiện vừa là cứu cánh Nhà thơ, nhà văn sáng tạo ngôn ngữ, bằng ngôn ngữ, cho ngôn ngữ Ngôn ngữ nghệ thuật sẽ biến đổi khi ý thức về chức năng nghệ thuật của văn học vận động Các thao tác từ xác định đề tài, chủ đề, đến chọn lựa, tổ chức chi tiết, xây dựng tác phẩm đều gắn bó mật thiết với ý đồ sáng tạo của người viết Ngoài ngôn ngữ, hình tượng cũng là chất liệu quan trọng của văn học Khảo sát chất liệu nghệ thuật của văn học nghĩa không có nghĩa chỉ khảo sát các yếu tố vật chất riêng lẻ mà còn phải tìm hiểu cả những phương thức xây dựng hình tượng nghệ thuật để tạo thành chỉnh thể tác phẩm Vì trong thời kỳ trung đại, những biến đổi về ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng nghệ thuật hầu như không được thể

Trang 37

hiện trực tiếp qua lý luận thành văn nên chúng tôi sẽ tập trung khảo sát các đối tượng này qua thực tiễn sáng tác văn học

1.1.2.3 Ý thức về cấu trúc nghệ thuật của văn học

Ý thức về cấu trúc nghệ thuật biểu hiện rõ nét ở ý thức về hệ thống thể loại

và ý thức về cấu trúc nội tại của từng thể loại Các thể loại tồn tại trong một giai đoạn, một thời kỳ sẽ hợp thành một hệ thống, một cấu trúc với những mối quan hệ tương tác tồn tại đan xen mà từ đó chúng ta nhìn thấy được những nguyên tắc thẩm

mỹ - nghệ thuật lớn chi phối văn học Bản thân mỗi thể loại cũng là một cấu trúc Xuất phát từ quan niệm về bản chất lời nói của thể loại, M.Bakhtin đưa ra một “cấu trúc ba chiều” “nối kết thực tại thẩm mỹ của người phát ngôn, của tác giả – người sáng tác với thực tại ngoài thẩm mỹ của độc giả, người tiếp nhận” [151] Ở mỗi thể loại đều có sự tồn tại của những đặc điểm mang tính quy phạm, và nếu muốn xem xét khung quy phạm này một cách đầy đủ nhất thì không những phải khảo sát nội dung hoặc hình thức nghệ thuật của tác phẩm mà còn cần lưu ý đến vai trò của

người phát ngôn/chủ thể sáng tạo và người đọc/ chủ thể tiếp nhận

Tiến trình thể loại gắn với sự sinh thành, phát triển và tương tác giữa các thể loại Sự vận động của thể loại có thể được xác định dựa trên sự vận động của từng thể loại trong mối quan hệ hữu cơ với hệ thống mà nó thuộc về Nghiên cứu sự vận động của thể loại nghĩa là phải xem xét: 1- hệ thống thể loại với sự xuất hiện của những thể loại mới, sự va chạm, tương tác giữa các thể loại và 2- sự phá vỡ những quy phạm thể loại Và trong sự vận động đó, tác giả đóng vai trò chủ động một cách

có ý thức

1.1.3 Sự vận động của ý thức nghệ thuật và sự vận động của văn học

Tiến trình vận động của văn học bao hàm toàn bộ hoạt động văn học, từ sáng tác đến tiếp nhận, từ sản xuất đến tiêu dùng Văn học vận động khi có sự chuyển biến, thay thế trạng thái văn học này bằng trạng thái văn học khác phân biệt về chất

Sự thay thế các trạng thái văn học không đồng nghĩa với sự tiến bộ mà có thể là sự giảm sút, suy thoái Trong các hướng vận động, nói đến tiến trình là phải nói đến sự vận động đi về phía trước, mới mẻ, tiến bộ Cố nhiên, tiến bộ không có nghĩa là

Trang 38

thành tựu của giai đoạn văn học sau phủ định mọi giá trị của giai đoạn trước Sự tiến bộ của văn học phải được xem xét trên một số phương diện nhất định Chức năng nghệ thuật, chất liệu nghệ thuật và cấu trúc nghệ thuật là ba phương diện cơ bản thể hiện tập trung những đặc trưng của một giai đoạn văn học Và phía sau tất

cả những đặc trưng ấy luôn có sự chi phối của ý thức nghệ thuật Mặc dù bàn về

sáng tạo văn học không thể chỉ đề cập đến ý thức con người nhưng chắn chắn rằng

không hề có một tư duy nghệ thuật thuần túy phi ý thức, phi lý tính Do đó, ý thức nghệ thuật chính là cốt lõi để nghiên cứu sự vận động của văn học

Sự vận động của ý thức nghệ thuật diễn ra trên cả hai trục thời gian và không gian Trên trục thời gian, sự vận động này gắn với các giai đoạn, các thời kỳ văn học Mỗi thể loại cũng có những cột mốc riêng đánh dấu con đường sinh thành và phát triển của nó Cột mốc văn học và cột mốc lịch sử không nhất định phải trùng khít với nhau Xung quanh vấn đề phân kỳ văn học còn có rất nhiều ý kiến tranh

luận như chúng tôi đã trình bày ở phần Lịch sử vấn đề Đối với việc phân kỳ văn

học trung đại Việt Nam, từ trước đến nay, xuất phát từ nhiều quan niệm và góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều mô hình Chúng tôi tiếp thu ý kiến

của Đoàn Lê Giang trong Luận án tiến sĩ Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam

(2001), theo đó văn học trung đại Việt Nam được chia thành ba giai đoạn như sau:

1 Tiền kỳ trung đại (thế kỷ X – đầu thế kỷ XV)

2 Trung kỳ trung đại (thế kỷ XV – cuối thế kỷ XVII)

3 Hậu kỳ trung đại (thế kỷ XVIII – cuối thế kỷ XIX)

Việc chúng tôi chọn một cách phân kỳ không có nghĩa là chúng tôi phủ nhận những cách phân kỳ khác vì mỗi cách phân kỳ đều có điểm hợp lý riêng Xin mượn

ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh để nói hộ suy nghĩ của chúng tôi:

"Với một tình hình nghiên cứu khác, một đối tượng nghiên cứu khác, ta có thể phân chia các thời kỳ lịch sử văn học theo một cách khác" [68, tr.135] Chọn cách phân

kỳ trên vì chúng tôi nhận thấy nó phù hợp với việc trình bày sự vận động của ý thức nghệ thuật Trên phương diện lịch sử, thời gian từ đầu thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX có những mốc quan trọng như năm 1778, nhà Tây Sơn thành lập; năm 1802,

Trang 39

nhà Nguyễn thành lập; năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta Văn học cố nhiên chịu tác động từ các biến cố lịch sử Tuy nhiên, tiến trình văn học có tính độc lập tương đối với tiến trình lịch sử Cái mới trong ý thức nghệ thuật đã hình thành từ thế kỷ XVIII vẫn tiếp tục đến cuối thế kỷ XIX Các tác giả từng sống từ trước thời Tây Sơn như Nguyễn Du, Nguyễn Án, Phạm Đình Hổ vẫn tiếp tục sáng tác dưới thời Nguyễn Nguyễn Đình Chiểu là tác giả sáng tác trước và sau khi giặc Pháp xâm lược Mặc dù vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã chú ý rằng, quan niệm sáng tác "trừ bạo,

đâm gian" xuất hiện từ Lục Vân Tiên vẫn được tiếp nối, phát triển ở bộ phận tác

phẩm chống Pháp Nhìn chung, nội dung cụ thể trong tác phẩm của các tác giả tùy theo hoàn cảnh có thể thay đổi nhưng nhìn một cách tổng thể, quan niệm sáng tác của họ không thay đổi Quan niệm “thị tài”, “đa tình” kéo dài mạch chảy từ Nguyễn

Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đến tận Chu Mạnh Trinh, Dương Khuê, Dương Lâm Quá trình di chuyển từ ngôn ngữ ước lệ, cao nhã sang ngôn ngữ đời thường được tiếp nối ở bộ phận văn học chữ Nôm Như vậy, từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX đã có một sự dịch chuyển mang tính hệ thống trong ý thức của nhà văn, nhà thơ

Văn học thế kỷ XVIII – XIX mở đầu với Chinh phụ ngâm của Đặng Trần

Côn Từ Đặng Trần Côn đến Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, ý thức nghệ thuật mới được xác lập, tiếp nối, phát triển Nghiên cứu tiến trình vận động của văn học thế kỷ XVIII – XIX, một mặt chúng tôi khảo sát sự biến đổi của ý thức nghệ thuật từ giai đoạn trung kỳ sang hậu kỳ, một mặt cố gắng phác thảo những nét cơ bản trong diễn tiến của văn học từ đầu thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX qua một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu Để có thể xử

lý khối tư liệu hết sức phong phú, phức tạp, từ đó trừu xuất được đặc trưng văn học giai đoạn trong quan hệ đối sánh với các giai đoạn văn học khác, chúng tôi sẽ nhìn

hệ thống tác phẩm của các tác giả điển hình trên phương diện tổng thể Chẳng hạn, Nguyễn Trãi tuy có viết những vần thơ phong tình nhưng về cơ bản, ông là người xây dựng điển phạm cho văn chương "tải đạo'' trong giai đoạn trung kỳ Nguyễn Du, ngược lại, đại diện cho trào lưu "chủ tình" của giai đoạn hậu kỳ Bên cạnh đó,

Trang 40

không thể phủ nhận rằng ngay cả cùng một giai đoạn, mỗi tác giả vẫn sở hữu cá tính sáng tạo độc đáo Vì vậy, nhiệm vụ của chúng tôi là phải tìm ra điểm chung, yếu tố giúp khẳng định thế kỷ XVIII – XIX là một giai đoạn nhưng đồng thời cũng phải chỉ ra nét riêng ở từng tác giả, cái sẽ cho thấy tính tiến trình của văn học thế kỷ XVIII – XIX

Trên trục không gian, sự vận động của ý thức nghệ thuật diễn ra ở các khu vực văn học khác nhau Thứ nhất, giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn có

sự phân biệt Thành thị và nông thôn sẽ sở hữu những loại hình văn hóa riêng tương ứng Trong tiến trình vận động của văn học, ý thức nghệ thuật mới được sản sinh sẽ gắn với một loại hình văn hóa nhất định Thứ hai, vào thế kỷ XVIII, sự phân biệt Đàng Ngoài và Đàng Trong là một thực tế lịch sử đáng quan tâm Đàng Trong là tên gọi của vùng lãnh thổ Đại Việt dưới quyền cai trị của các chúa Nguyễn được xác định từ phía Nam sông Gianh (tỉnh Quảng Bình) trở vào Nam Văn học Đàng Trong chính thức hình thành năm 1600 khi Nguyễn Hoàng quyết tâm đặt Đàng Trong vào thế đối lập với Đàng Ngoài Về mặt lịch sử, sự phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài chấm dứt vào năm 1786 sau khi Tây Sơn đánh bại chính quyền họ Nguyễn và họ Trịnh Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, nhà Nguyễn tiến hành thống nhất đất nước nhưng việc tạo ra quang cảnh văn học thống nhất từ Bắc chí Nam không đơn giản, càng không thể cưỡng ép bởi áp lực về mặt chính trị Huế được chọn là kinh đô tạo điều kiện chuẩn bị cho sự xuất hiện của một lớp tác giả riêng thuộc vùng đất này, đáng chú ý là những nhà thơ – quý tộc họ Nguyễn Riêng văn học Nam Kỳ Lục Tỉnh(1) trên nhiều phương diện như ý thức về văn học, ý thức thể loại, phong cách ngôn ngữ vẫn tiếp tục phát triển dưới ảnh hưởng của văn học Đàng Trong Vì vậy, trong luận án, chúng tôi tạm dùng danh xưng văn học Đàng Trong

để chỉ bộ phận văn học ra đời trên vùng lãnh thổ phía Nam sông Gianh vào thế kỷ XVIII (phân biệt với văn học Đàng Ngoài) và bộ phận văn học của vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh vào thế kỷ XIX (phân biệt với văn học Trung – Bắc) Văn học mở rộng

1 Năm 1832, sau khi Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng bỏ chức Tổng trấn, chia miền Nam thành 6 tỉnh, gọi chung là Nam kỳ lục tỉnh

Ngày đăng: 13/07/2017, 10:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dư Quan Anh chủ biên (2007), Lịch sử văn học Trung Quốc, 2 tập, Lê Huy Tiêu và nhiều người khác dịch, Tái bản lần thứ 5, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Dư Quan Anh chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
2. Đào Duy Anh (1938), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Bốn phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Bốn phương
Năm: 1938
3. Đào Duy Anh (1975), Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1975
4. Kim Anh (1996), “Bài ký “Hành tại diện đối” của Phạm Đình Hổ”, Hán Nôm, số 4 (29), tr.46-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài ký “Hành tại diện đối” của Phạm Đình Hổ”, "Hán Nôm
Tác giả: Kim Anh
Năm: 1996
5. Thế Anh (2001), “Từ Trung Hoa và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam”, Hán Nôm, số 1 (46), tr.84-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Trung Hoa và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam”, "Hán Nôm
Tác giả: Thế Anh
Năm: 2001
6. Phạm Văn Ánh (2011), “Quan niệm từ học của Miên Trinh”, Nghiên cứu văn học, số 12, tr.61-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm từ học của Miên Trinh”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Phạm Văn Ánh
Năm: 2011
7. Lại Nguyên Ân, “Tư duy lý luận trước ý thức văn học đang phát triển”, nguồn: http://lainguyenan.free.fr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy lý luận trước ý thức văn học đang phát triển
8. Lại Nguyên Ân, “Thử nghĩ về chất văn xuôi”, http://lainguyenan.free.fr 9. Lại Nguyên Ân, “Dương Quảng Hàm và bộ môn văn học sử Việt Nam”,http://lainguyenan.free.fr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghĩ về chất văn xuôi”, http://lainguyenan.free.fr 9. Lại Nguyên Ân, “Dương Quảng Hàm và bộ môn văn học sử Việt Nam
10. Nguyễn Quang Ân (1998), Lịch sử văn hóa Việt Nam – những gương mặt trí thức, Tập 1, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hóa Việt Nam – những gương mặt trí thức
Tác giả: Nguyễn Quang Ân
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 1998
11. Bakhtin, M. (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Phạm Vĩnh Cư dịch, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin, M
Năm: 1992
12. Bakhtin, M. (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: Bakhtin, M
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
13. Barrow, John. (2011), Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà năm 1792 - 1793, Nguyễn Thừa Hỷ dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà năm 1792 -1793
Tác giả: Barrow, John
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2011
14. Phan Kế Bính (1970), Việt Hán văn khảo, Mặc Lâm xb, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Hán văn khảo
Tác giả: Phan Kế Bính
Năm: 1970
15. Phan Kế Bính (2014), Việt Nam phong tục, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2014
16. Borri, Cristophoro. (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị dịch, chú thích, Nxb TP Hồ Chí Minh, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ Đàng Trong năm 1621
Tác giả: Borri, Cristophoro
Nhà XB: Nxb TP Hồ Chí Minh
Năm: 1998
17. Phan Văn Các (chủ biên) (1994), Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 11, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học Việt Nam
Tác giả: Phan Văn Các (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
18. Phan Văn Các (2010), “Thơ trung đại Việt Nam viết về văn miếu – Quốc tử giám Thăng Long – Hà Nội”, Hán Nôm, số 4, tr.30-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trung đại Việt Nam viết về văn miếu – Quốc tử giám Thăng Long – Hà Nội”, "Hán Nôm
Tác giả: Phan Văn Các
Năm: 2010
19. Phan Văn Các (sưu tầm, phiên dịch) (1999), Khúc hát gõ mái chèo (Cổ duệ từ, Bạch Hào Tử), Viện Nghiên cứu Hán Nôm xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khúc hát gõ mái chèo (Cổ duệ từ, Bạch Hào Tử)
Tác giả: Phan Văn Các (sưu tầm, phiên dịch)
Năm: 1999
20. Trương Bá Cần (2002), Nguyễn Trường Tộ – Con người và di thảo, Tái bản lần 1 có sửa chữa, Nxb TP Hồ Chí Minh, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ "–" Con người và di thảo
Tác giả: Trương Bá Cần
Nhà XB: Nxb TP Hồ Chí Minh
Năm: 2002
21. Bùi Hạnh Cẩn (biên soạn) (1996), Tổng tập thơ phú Nôm của Nguyễn Huy Lượng, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập thơ phú Nôm của Nguyễn Huy Lượng
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn (biên soạn)
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Hệ thống thể loại - Tiến trình vận động của văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX - từ ý thức nghệ thuật đến thực tiễn sáng tác
Bảng 3.1. Hệ thống thể loại (Trang 158)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w