1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tình trạng nghèo của người già ở thành phố đà nẵng yếu tố tác động và vai trò của chương trình hỗ trợ bằng tiền

149 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, việc nghiên cứu về “Tình trạng nghèo của người già ở thành phố Đà Nẵng: Yếu tố tác động và vai trò của chương trình hỗ trợ bằng tiền” là thật 2 Đánh giá tình trạng nghèo

Trang 2

CỦA CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ BẰNG TIỀN

Ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 62.31.01.05 Ngành cũ: Kinh tế công nghiệp

Mã số: 62.31.09.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hiệp

PGS TS Giang Thanh Long

ĐÀ NẴNG – 2017

Trang 3

i

CAM ĐOAN CỦA NGHIÊN CỨU SINH

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi

với sự hướng dẫn của TS Nguyễn Hiệp (Đại học Đà Nẵng) và PGS.TS

Giang Thanh Long (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) Các thông tin, số

liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực Các tài liệu tham khảo trích dẫn

trong luận án đều được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch Những kết

quả nghiên cứu của luận án chưa từng được công bố trong bất cứ công trình

nghiên cứu nào

Đà Nẵng, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Huỳnh Văn Thắng

Trang 4

MỤC LỤC

CAM ĐOAN CỦA NGHIÊN CỨU SINH i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

5.1 Phương pháp rà soát, hồi cứu thông tin 5

5.2 Phương pháp phân tích, đánh giá định lượng và định tính 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 6

7 Kết cấu của luận án 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

1.1 Những vấn đề chung về nghèo 8

1.1.1 Quan niệm về nghèo 8

1.1.2 Chuẩn nghèo 11

1.2 Quan niệm về người cao tuổi và già hoá dân số 15

1.2.1 Người cao tuổi 15

1.2.2 Già hoá dân số 15

1.3 Nghèo của người cao tuổi 16

1.4 Các yếu tố tác động đến nghèo của người cao tuổi 18

1.4.1 Về đặc trưng cá nhân và hộ gia đình NCT 18

1.4.2 Về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 21

Trang 5

1.5 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan 27

1.5.1 Các nghiên cứu về nghèo và tác động của trợ giúp bằng tiền tới giảm nghèo cho NCT ở một số nước đang phát triển 27

1.5.2 Các nghiên cứu về nghèo và tác động của trợ giúp bằng tiền tới giảm nghèo cho NCT Việt Nam 31

1.6 Khung nghiên cứu 40

1.6.1 Đánh giá các yếu tố tác động đến nghèo 40

1.6.2 Đánh giá tác động của chương trình hỗ trợ bằng tiền 41

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2.1 Nghiên cứu định lượng 43

2.1.1 Dữ liệu nghiên cứu 43

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 45

2.2 Nghiên cứu định tính 52

2.2.1 Phương pháp khảo sát 52

2.2.2 Bộ công cụ khảo sát 55

2.2.3 Phân tích thông tin 55

2.2.4 Đạo đức nghiên cứu 55

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH 57

3.1 Tình trạng nghèo của NCT và chương trình hỗ trợ bằng tiền cho người cao tuổi ở Đà Nẵng 57

3.1.1 Tổng quan về đặc điểm tự nhiên, KT-XH của Đà Nẵng 57

3.1.2 Tổng quan về dân số cao tuổi ở Đà Nẵng 59

3.1.3 Thực trạng nghèo của hộ gia đình có NCT ở Đà Nẵng 64

3.1.4 Chương trình hỗ trợ bằng tiền cho NCT ở Đà Nẵng 67

3.1.5 Hạn chế, tồn tại của công tác giảm nghèo cho NCT 82

3.2 Các yếu tố tác động đến nghèo của hộ gia đình có NCT 85

3.3 Tác động của chương trình hỗ trợ bằng tiền 90

Trang 6

3.3.1 Kết quả nghiên cứu định lượng 90

3.3.2 Kết quả nghiên cứu định tính 92

CHƯƠNG 4: CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH 98

4.1 Bối cảnh công tác giảm nghèo cho NCT ở Đà Nẵng 98

4.3 Các hàm ý chính sách 103

KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN CỦA TÁC GIẢ PHỤ LỤC

Trang 7

Đà Nẵng Thành phố Đà Nẵng

HAI Tổ chức hỗ trợ người cao tuổi quốc tế

MoLISA Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

TCDS & KHHGĐ Tổng cục Dân số-Kế hoạch hóa gia đình

UBQG NCT Ủy ban Quốc gia về Người cao tuổi

UNESCAP Uỷ ban Kinh tế và Xã hội của Liên Hợp Quốc khu

vực Châu Á-Thái Bình Dương VHLSS Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1-1 Chuẩn nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn 13

Bảng 2-1 Cỡ mẫu dân số cao tuổi trong VHLSS cho cả nước và Đà Nẵng44 Bảng 2-2 Chuẩn nghèo các năm theo VHLSS và Đà Nẵng 45

Bảng 2-3 Danh sách các địa bàn khảo sát 53

Bảng 2-4 Số lượng NCT tham gia TLN và PVS 54

Bảng 3-1 Tỷ lệ dân cư thuần ở Đà Nẵng, 2013-2014 60

Bảng 3-2 Bốn phương án dự báo dân số Đà Nẵng, 2009-2034 60

Bảng 3-3 Dân số phân theo tuổi ở Đà Nẵng giai đoạn 2010-2015 61

Bảng 3-4 Dự báo các chỉ tiêu chủ yếu của Đà Nẵng 62

Bảng 3-5 Tỷ số phụ nữ/nam giới cao tuổi ở Đà Nẵng, 2009-2034 64

Bảng 3-6 Tỷ lệ nghèo của NCT giai đoạn 2006-2014 (%) 64

Bảng 3-7 Phân bố dân số cao tuổi Đà Nẵng giai đoạn 2006-2014 65

Bảng 3-8 Tình hình hộ nghèo có NCT phân theo địa bàn 83

Bảng 3-9 Kết quả thực hiện các đề án giảm nghèo ở Đà Nẵng 70

Bảng 3-10 Kinh phí hỗ trợ cho hộ gia đình có NCT giai 2013-2016 75

Bảng 3-11 Kết quả chăm sóc sức khỏe và đời sống cho NCT ở Đà Nẵng 2015 77

Bảng 3-12 Mức chi chúc thọ mừng thọ cho NCT Đà Nẵng… 76

Bảng 3-13 Kết quả ước lượng các yếu tố tác động đến nghèo của người cao tuổi ở Đà Nẵng 2010-2014 79

Bảng 3-14 Ước lượng tác động biên của các yếu tố quyết định tới tình trạng nghèo của hộ gia đình có người cao tuổi, giai đoạn 2010-2014 81

Bảng 4-1 Chi phí cho các chương trình trợ cấp tiền phổ cập theo tuổi cho người cao tuổi ở Đà Nẵng, 2014-2034 93

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1-1 Khung lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng tình trạng nghèo của NCT 41Hình 1-2 Khung nghiên cứu tác động của chương trình hỗ trợ bằng tiền tới giảm nghèo của NCT 42Hình 3-1 Biến đổi cơ cấu tuổi dân số ở Đà Nẵng, 2009-2034 63Hình 4-1 Dự báo dân số theo tuổi của Đà Nẵng, 2014-2034 101

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đói nghèo là vấn đề vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội và có những tác động tiêu cực tới sự phát triển của bản thân người nghèo, cộng đồng người nghèo và toàn xã hội Đói nghèo tạo ra một “vòng luẩn quẩn” về thu nhập thấp, trình độ giáo dục thấp, cơ hội việc làm ít hoặc công việc có thu nhập thấp và cuối cùng là nghèo Theo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, “Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao, khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư còn lớn Tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở vùng sâu, vùng xa, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao Một số chính sách về

an sinh xã hội, giảm nghèo còn chồng chéo, chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao và chưa khuyến khích người nghèo vươn lên thoát nghèo Tỉ lệ bao phủ và chất lượng dịch vụ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp còn thấp Quỹ BHXH chưa bền vững” [23, tr.256] Cùng là mối quan tâm chung của cả nước, vấn đề nghèo đói đang được Đà Nẵng đặc biệt quan tâm với nhiều chính sách và giải pháp giảm nghèo Trong những năm qua, số lượng hộ nghèo ở Đà Nẵng đã giảm đáng kể Theo báo cáo số 21-BC/VPTU ngày 16/02/2016 của Thành ủy Đà Nẵng, số hộ nghèo giảm từ 32.796 hộ (chiếm 19,26% tổng số hộ) vào năm 2009 xuống còn 22.045 hộ (chiếm 9,10% tổng số hộ) vào năm 2013 và 23.276 hộ (chiếm 9,15%) vào đầu năm 2016 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hộ nghèo kinh niên và nguy cơ tái nghèo còn cao Trong số đối tượng nghèo, NCT là nhóm dễ bị nghèo và dễ tổn thương

Theo báo cáo của Tổng Cục Dân số- Kế hoạch hoá gia đình (2015), các nước trên thế giới phải qua hàng thập niên mới bước tiếp đến giai đoạn già hóa dân số, trong khi chúng ta chỉ mất 6 năm để bước từ giai đoạn dân số trẻ sang giai đoạn già hóa dân số Từ già hóa dân số sang giai đoạn cơ cấu dân số già các

Trang 11

nước cùng phải trải qua hàng thập niên, thậm chí hàng thế kỷ nhưng Việt Nam chỉ mất 16 đến 18 năm đã bước sang giai đoạn dân số già

Cơ cấu tuổi trong dân số ở Việt Nam hiện nay đang thay đổi lớn và mạnh

mẽ Tỷ suất sinh và chết đều giảm, tuổi thọ bình quân tăng, dẫn tới sự tăng nhanh dân số già (cao tuổi) cả về số lượng và tỉ lệ so với tổng dân số Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2016) đã phân tích quá trình già hóa dân

số và đã chỉ ra được nhiều thách thức của quá trình già hóa dân số ở Việt Nam Đầu năm 2016, số dân từ 65 tuổi trở lên của Việt Nam mới là 6,5 triệu người, nhưng con số này được dự báo là sẽ tăng gấp ba lần, đạt 18,4 triệu vào năm

2040 Theo dự báo của Liên hợp quốc (2015), dân số nước ta tăng dần trong giai đoạn từ nay đến năm 2060 và giảm dần từ 2060 đến 2100 Cụ thể, dân số Việt Nam sẽ là 98,15 triệu người vào năm 2020; 109,925 triệu người vào năm 2040; 113,233 triệu người vào năm 2060; 109,677 triệu người vào 2080; và 105,076 triệu người vào 2100 Các con số trên cho thấy nước ta sẽ đối mặt với nguy cơ

“già trước khi giàu” khi tốc độ già hóa dân số tiếp tục tăng cao nhưng thu nhập bình quân đầu người mới chỉ đạt ở mức trung bình thấp, khoảng 1.300 đô-la Mỹ/người vào năm 2011, 2.000 đô-la Mỹ/người vào năm 2014 và 2.300 đô-la Mỹ/người vào năm 2015 (Tổng cục Thống kê, 2016) Đây thực sự là một thách thức rất lớn cho các nhà hoạch định chính sách

Cùng với xu hướng chung của cả nước, Đà Nẵng đang đối mặt với già hóa dân số và có tốc độ tăng rất nhanh so với cả nước Theo số liệu dự báo của Tổng Cục Thống kê (2011), NCT ở Đà Nẵng chiếm tỉ lệ 7,9% tổng dân số vào năm

2014 và sẽ tăng lên 16,8% vào năm 2034 Già hóa dân số đặt ra vấn đề cấp thiết

về an sinh xã hội đối với NCT Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng, đặc biệt là giải quyết vấn đề nghèo của NCT khi độ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội còn ở mức thấp

Nghiên cứu về tình trạng nghèo nói chung ở trong và ngoài nước hết sức phong phú, đa dạng và ở nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu

Trang 12

về thực trạng nghèo đói ở nhóm dân số già còn rất ít Một số báo cáo có tính thống kê mô tả (như Quỹ dân số Liên Hợp Quốc-UNFPA, 2011 hay Ngân hàng Thế giới-WB, 2010), trong khi cũng có một số nghiên cứu định lượng (như Evans và cộng sự, 2007; Giang & Pfau, 2009a) đã chỉ ra các yếu tố tác động nghèo của NCT Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ sử dụng dữ liệu Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2004 nên kết quả có thể có ít nhiều thay đổi tính đến thời điểm này Các nguyên nhân nghèo của NCT và vai trò của các chương trình hỗ trợ bằng tiền trong việc giảm nghèo cho NCT, đặc biệt là ở Đà Nẵng, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu Chính vì

vậy, việc nghiên cứu về “Tình trạng nghèo của người già ở thành phố Đà

Nẵng: Yếu tố tác động và vai trò của chương trình hỗ trợ bằng tiền” là thật

2) Đánh giá tình trạng nghèo của hộ gia đình có NCT và nêu lên một số

Trang 13

vấn đề trong chính sách hỗ trợ bằng tiền cho NCT ở Đà Nẵng;

3) Phân tích, đánh giá nguyên nhân nghèo của NCT ở Đà Nẵng thông qua việc phân tích tác động của một số nhân tố ảnh hưởng tới xác suất bị nghèo của

3 Đối tượng nghiên cứu

Luận án này tập trung chủ yếu vào các đối tượng nghiên cứu sau:

1) Thực trạng nghèo của hộ gia đình có NCT ở Đà Nẵng

2) Các yếu tố tác động chủ yếu đến khả năng bị nghèo của hộ gia đình có NCT

3) Đánh giá tác động của chương trình hỗ trợ bằng tiền đối với giảm nghèo cho hộ gia đình có NCT ở Đà Nẵng

 Phạm vi không gian nghiên cứu:

Địa bàn Thành phố Đà Nẵng

Trang 14

 Phạm vi thời gian nghiên cứu:

+ Nghiên cứu thực trạng nghèo và các yếu tố tác động được giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2014 trở về trước và các số liệu dự báo đến năm 2034

+ Phân tích vai trò của chương trình hỗ trợ bằng tiền trong các viễn cảnh

từ năm 2015 trở về sau

+ Các hàm ý chính sách đề xuất dựa trên dự báo môi trường chính sách ở tương lai trung và dài hạn (từ 2015)

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp rà soát, hồi cứu thông tin

Luận án sử dụng các dữ liệu của Đà Nẵng từ dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2011), Điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) năm 2006, 2010,

2014 cho cả nước và Đà Nẵng; các báo cáo của cơ quan, đoàn thể làm công tác NCT các cấp ở Đà Nẵng; bộ số liệu Điều tra NCT Việt Nam (VNAS) năm 2011… để phân tích thực trạng nghèo cũng như một số yếu tố có thể liên quan, tác động đến nghèo của hộ gia đình có NCT

5.2 Phương pháp phân tích, đánh giá định lượng và định tính

Luận án sẽ sử dụng và kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Phương pháp mô tả thống kê:

Được sử dụng phổ biến trong việc mô tả tổng thể nghiên cứu và thực trạng nghèo của NCT ở Đà Nẵng Các chỉ tiêu thống kê chủ yếu được sử dụng là quy

mô, mức trung bình, tần suất, tỷ trọng và tốc độ thay đổi theo thời gian

Phương pháp hồi quy:

Để đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của

hộ gia đình NCT, luận án áp dụng phương pháp hồi quy đa biến với mô hình xác suất probit có biến phụ thuộc là tình trạng nghèo của hộ gia đình NCT ở Đà Nẵng và các biến giải thích gồm có các biến thể hiện đặc trưng cá nhân (như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, công việc ) và đặc trưng gia đình (như nơi sinh sống, giới tính và trình độ của chủ hộ gia đình, số lượng NCT trong hộ gia

Trang 15

đình )

Phương pháp mô phỏng vi mô (đánh giá sự khác biệt trước và sau khi

có một chương trình/chính sách tác động theo giả định):

Trong đánh giá tác động của chương trình trợ cấp bằng tiền, luận án sử dụng phương pháp mô phỏng vi mô để xem tác động giảm nghèo cho hộ gia đình có NCT được hưởng trợ cấp như thế nào bằng cách so sánh tỉ lệ nghèo trước khi và sau khi nhận được hỗ trợ Bên cạnh đó, để đưa ra các khuyến nghị chính sách cụ thể, luận án cũng dự báo chi phí để mở rộng chính sách trợ cấp bằng tiền tới các đối tượng NCT khác nhau cũng như hướng tới một hệ thống phổ cập cho toàn bộ NCT ở Đà Nẵng

Phương pháp phân tích dữ liệu định tính dựa trên điều tra thực địa:

Để minh họa cụ thể hơn cho các nhận định từ các phương pháp định lượng, luận án bổ sung cơ sở cho các lập luận đó bằng khai thác thông tin từ các cuộc điều tra thực địa (phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm) tại một số địa điểm của TP Đà Nẵng (cấp thành phố, cấp huyện và cấp xã) với đối tượng được khảo sát (gồm có NCT được hưởng và không được hưởng trợ cấp và các cán bộ lãnh đạo cơ quan, đoàn thể ở địa phương)

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Với những dự kiến về nội dung, luận án dự kiến sẽ có những đóng góp sau:

Về mặt thực tiễn:

Trang 16

 Cung cấp cho các bên hữu quan các thông tin và đánh giá xác thực về tình trạng nghèo, xác định được những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại hiện nay đến tình trạng nghèo của NCT ở Đà Nẵng, đề xuất xây dựng chính sách cho NCT, định hướng các giải pháp, mà trọng tâm là chương trình hỗ trợ bằng tiền

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận án gồm bốn chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Trong Chương này, Luận án sẽ hệ thống hóa các quan điểm, định nghĩa liên quan Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến nghèo của NCT, các yếu tố tác động và chương trình hỗ trợ bằng tiền cho NCT

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Trong Chương này, luận án mô tả phương pháp tính toán và mô hình kinh

tế lượng cùng với dữ liệu thứ cấp Cùng đó, Luận án mô tả cách triển khai điều tra thực địa bổ sung thông tin cho các phân tích định lượng

Chương 3: Kết quả và phân tích

Chương này cung cấp phân tích kết quả định lượng về thực trạng, các yếu

tố có thể tác động đến tình trạng nghèo của hộ gia đình NCT ở Đà Nẵng; phân tích định lượng và định tính tác động của chương trình hỗ trợ bằng tiền đến tình trạng nghèo của NCT ở Đà Nẵng cũng như một số tác động có liên quan khác

Chương 4: Các hàm ý chính sách

Dựa vào kết quả phân tích từ Chương 3, Chương này sẽ bàn luận và đề xuất một số chính sách liên quan nhằm giảm nghèo cho hộ gia đình có NCT một cách bền vững hơn, cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Những vấn đề chung về nghèo

1.1.1 Quan niệm về nghèo

Một trong những vấn đề nổi lên hàng đầu hiện nay và được cả thế giới quan tâm đó là nghèo Nghèo đã và đang diễn ra trên khắp thế giới và gây nên nhiều hậu quả lớn Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến những người rơi vào cảnh khốn khó mà còn ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế, xã hội, môi trường sinh thái và sự phồn vinh của quốc gia Chính vì thế mà giảm nghèo đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của cả cộng đồng quốc tế, là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia Tuy nhiên, muốn giảm nghèo thì phải hiểu rõ về bản chất của nghèo và những vấn đề liên quan đến nghèo đã được cả thế giới mổ xẻ trong nhiều thập niên qua

Có khá nhiều khái niệm khác nhau về nghèo, tùy thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà có những quan niệm khác nhau về nghèo

Trước đây người ta thường lấy thu nhập để làm tiêu chí đánh giá tình trạng nghèo của con người Người nghèo được xem là người có mức thu nhập thấp Quan niệm này tuy có ưu điểm là dễ dàng xác định được số người nghèo, nhưng

nó chưa thể phản ánh hết được các khía cạnh của nghèo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội của Liên hợp quốc tại Châu Á-Thái Bình Dương (UNESCAP, 1993) định nghĩa

“Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán của từng địa phương” [13,tr.14-15] Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo và được nhiều nước trên thế giới sử dụng, trong đó có Việt Nam

Để đánh giá đúng mức độ của nghèo, người ta chia thành hai loại là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư

Trang 18

không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét Nghèo tương đối biểu hiện khoảng cách giàu, nghèo càng ngày càng xa [13,tr.16]

Để đánh giá mức nghèo của một nước hay một địa phương, có nhiều chỉ tiêu được áp dụng, trong đó có chỉ số nghèo của con người (Human Poverty Index – HPI) và hệ số GINI Chỉ số HPI bao gồm: tỉ lệ người sống thọ dưới 40 tuổi; tỉ lệ người lớn mù chữ; tỉ lệ người không được tiếp cận nước sạch, dịch vụ

y tế và tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng; mức chênh lệch về thu nhập hoặc về chi tiêu giữa 20% dân cư giàu nhất với 20% dân cư nghèo nhất Hệ số GINI là hệ số đo lường mức bất bình đẳng về thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp dân cư [13,tr.17]

Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP, 1997) đã đưa ra những định nghĩa về nghèo với ba yếu tố, gồm có: sự nghèo khổ của con người (đó là thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ); sự nghèo khổ về tiền (tức là thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu); và sự nghèo khổ chung (tức là mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác)

Ngoài ra, nghèo còn được xác định theo tình trạng đời sống, tức là ngoài khía cạnh thu nhập thì nghèo còn được chú ý đến các khía cạnh khác như mức sống, cơ hội được học tập, quyền tự quyết định, khả năng ảnh hưởng đến những quyết định chính trị và nhiều khía cạnh khác Trong “Báo cáo Phát triển Thế giới năm 2000”, Ngân hàng Thế giới (1999) đã đưa ra bên cạnh các yếu tố quyết định khách quan cho sự nghèo là những yếu tố chủ quan như phẩm chất và tự trọng

Hiện nay, quan điểm về nghèo đã được hiểu rộng hơn, sâu hơn và có thể có

Trang 19

nhiều cách tiếp cận khác nhau Ngân hàng Thế giới (2013) quan niệm nghèo là một khái niệm đa chiều chứ không chỉ là túng thiếu về vật chất nên nghèo không chỉ bao gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực

Như vậy, nghèo đói là khái niệm mang tính chất tương đối cả về không gian và thời gian Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ảnh tình trạng một bộ phận dân

cư không được thoả mãn những nhu cầu tối thiểu của con người như ăn, mặc, ở, đi lại… Nhu cầu này cũng có sự thay đổi và khác biệt đối với từng quốc gia khác nhau Còn nghèo tương đối phản ánh sự chênh lệch mức sống của một bộ phận dân cư so với mức trung bình chung của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định Vì thế, người ta cho rằng nghèo tuyệt đối thì có thể xoá được, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội Vấn đề là phải làm thế nào để rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong một quốc gia và giảm tỉ lệ nghèo tương đối đến mức thấp nhất có thể

Tại Việt Nam, dựa trên các khái niệm nghèo đói của các tổ chức trên thế giới, chính phủ và giới học thuật Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể hơn ở các cấp độ cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Về khái niệm nghèo, Việt Nam thừa nhận khái niệm nghèo đói theo UNESCAP (1993) đã trình bày ở trên, nhưng bên cạnh đó thì Việt Nam còn có một số khái niệm liên quan như sau:

- Hộ nghèo: Theo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH), hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người/tháng bằng hoặc thấp hơn chuẩn nghèo

- Xã nghèo: Là xã có tỉ lệ nghèo cao (chiếm hơn 40% số hộ của xã), không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch và trình độ dân trí thấp, tỉ lệ mù chữ cao

- Vùng nghèo: Là địa bàn tương đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỉ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao

Trang 20

Tóm lại, nghèo đói là một khái niệm mang tính tương đối Tính chất và đặc trưng của nghèo đói tuỳ thuộc vào đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán của từng vùng, quốc gia, khu vực khác nhau Đây là vấn đề cần được chú trọng trong công tác giảm nghèo hiện nay

1.1.2 Chuẩn nghèo

Nhằm phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo, người ta đưa ra tiêu chí là chuẩn nghèo Các tổ chức khác nhau thì sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá giàu nghèo

Ngân hàng Thế giới (2012) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu, nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với hai cách tính, gồm có (i) Phương pháp Atlas tính theo

tỷ giá hối đoái và tính theo đô-la Mỹ và (ii) Phương pháp ngang bằng sức mua (PPP – Purchasing Power Parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương

và cũng tính bằng đô-la Mỹ Theo cách tính PPP, Ngân hàng Thế giới (2012)

muốn tìm ra mức chuẩn nghèo đói chung cho toàn thế giới Trên cơ sở điều tra thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình và giá cả hàng hóa, thực hiện phương pháp tính “rổ hàng hóa” sức mua tương đương để tính được mức thu nhập dân cư giữa các quốc gia có thể so sánh Ngân hàng Thế giới (2012) đã tính mức năng lượng tối thiểu cần thiết cho một người để sống là 2.100 calo/ngày Với mức giá chung của thế giới để đảm bảo mức năng lượng đó cần khoảng 01 đô la Mỹ/người/ngày Với chuẩn nghèo này thì ước tính có khoảng 1,2 tỷ người nghèo trên toàn thế giới vào thời điểm đó

Tuy nhiên, do đặc điểm kinh tế và xã hội khác nhau cũng như sức mua của mỗi đồng tiền ở các quốc gia khác nhau nên chuẩn nghèo theo thu nhập (tính theo đô-la Mỹ) cũng khác nhau ở mỗi quốc gia Chẳng hạn, theo tiêu chuẩn của

Mỹ, một người trưởng thành độc thân được coi là nghèo nếu thu nhập trước thuế hàng năm dưới 10.991 đô-la Mỹ, trong khi đó thu nhập năm của gia đình có hai người là dưới 14.051 đô-la Mỹ và của gia đình có ba người là dưới 17.163 đô-la

Trang 21

Mỹ Còn đối với một gia đình có bốn thành viên thì ngưỡng nghèo là 24.008

đô-la Mỹ Trong năm những năm gần đây, số người nghèo ở Mỹ đã tăng nhanh Theo báo cáo thường niên công bố ngày 16/9/2015 của Cơ quan Thống kê Liên bang Mỹ cho biết, năm 2014 có tới 46,7 triệu người Mỹ thuộc diện nghèo và mức này tăng cao so với những năm trước Tỉ lệ người nghèo tại nền kinh tế số một thế giới này là 14,8% và đây là mức cao nhất kể từ năm 1994 Tương tự, chuẩn nghèo ở Nhật là 22.000 đô la Mỹ một năm/hộ gia đình có 4 người và có gần 1/6 dân số Nhật (tức khoảng 20 triệu người, chiếm 15,7% tổng dân số) đang sống dưới ngưỡng nghèo này

Chỉ tiêu thu nhập quốc dân tính theo đầu người là chỉ tiêu chính mà hiện nay nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế đang dùng để xác định mức độ giàu, nghèo Tuy vậy, nghèo không chỉ chịu tác động của thu nhập mà còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội… Trong thực tế, nhiều nước phát triển có thu nhập bình quân theo đầu người cao nhưng vẫn chưa đạt được sự phát triển toàn diện, trong đó thất nghiệp, nghèo đói, thiếu việc làm, ô nhiễm môi trường và những bất công khác vẫn còn phổ biến, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng lên Qua đó, có thể thấy rằng nghèo không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp mà cũng là kết quả của phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội Như vậy, để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc dân bình quân, UNDP còn đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI) bao gồm: chỉ số tuổi thọ, chỉ số học vấn, chỉ số thu nhập bình quân đầu người trong năm Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận các nước giàu nghèo tương đối chính xác và khách quan

Để làm căn cứ tính toán mức nghèo đói người ta đều thống nhất dựa vào hai loại chỉ tiêu sau: (i) chỉ tiêu chính, gồm có thu nhập bình quân người/tháng hoặc năm và được đo bằng chỉ tiêu giá trị hoặc hiện vật quy đổi; và (ii) chỉ tiêu

phụ, gồm có dinh dưỡng bữa ăn, nhà ở, mặc, y tế, giáo dục và điều kiện đi lại

Trang 22

Trong những năm qua, Việt Nam đã sử dụng hai căn cứ để xác định chuẩn nghèo: (i) chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ LĐ-TB&XH công bố và (ii) chuẩn nghèo do Tổng cục Thống kê và Ngân Hàng Thế giới ước tính từ các cuộc điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam Hiện nay, phần lớn các báo cáo kinh tế và xã hội

sử dụng chuẩn nghèo do Bộ LĐ-TB&XH đưa ra Chuẩn nghèo này được tính toán dựa vào nhu cầu chi tiêu cơ bản của lương thực, thực phẩm (nhu cầu ăn hàng ngày) và nhu cầu chi tiêu phi lương thực, thực phẩm (mặc, nhà ở, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại, giao tiếp xã hội)

Từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã qua sau lần điều chỉnh chuẩn nghèo đói của từng giai đoạn Các hộ thuộc diện nghèo của từng giai đoạn cụ thể như trong Bảng 1-1

Bảng 1-1 Chuẩn nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn

Giai đoạn

Mức thu nhập bình quân người/tháng

Thành thị

Nông thôn Miền núi,

hải đảo

Đồng bằng, trung du

- Dưới 15kg (55.000 đồng)

Dưới 20kg (70.000 đồng) 2001-2005 (Mức thu nhập

tính bằng tiền) Dưới 150.000 đồng

Dưới 80.000 đồng

Dưới 100.000 đồng 2006-2010 (Mức thu nhập

tính bằng tiền) Dưới 260.000 đồng Dưới 200.000 đồng

900.000-thiếu hụt 03 chỉ số

Từ 700.000-1.000.000 đồng và thiếu

hụt 03 chỉ số

Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo của Bộ LĐ TB&XH

Ưu điểm của phương pháp này là đảm bảo từng bước thỏa mãn nhu cầu của con người (ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hóa ) và mức chuẩn được điều

Trang 23

chỉnh gắn với tăng trưởng kinh tế, mức độ cải thiện điều kiện sống của người dân, tình hình thay đổi cơ cấu chi tiêu, thu nhập của người dân Mặt khác, phương pháp này cũng tạo điều kiện cho cơ sở triển khai được việc lập danh sách hộ nghèo và xác định các hỗ trợ cần thiết Với chuẩn nghèo được ban hành trong giai đoạn 2011-2015 theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ, tỉ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm từ trên 14,2% (năm 2010) xuống còn 11,76% (năm 2011); 9,7% (năm 2012); 7,8% (năm 2013); 5,97% (năm 2014); 4,2% (năm 2015) và đạt mục tiêu giảm nghèo theo Nghị quyết Quốc hội đề ra

Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận này có hạn chế là chưa tính toán đầy đủ nhu cầu tiêu dùng (vì chỉ chú ý một số nhu cầu lương thực, thực phẩm và một số nhu cầu phi lương thực, thực phẩm), có độ tin cậy chưa cao do không có điều kiện điều tra diện rộng, thu thập thông tin về thu nhập của người dân nông thôn và miền núi rất khó chính xác Việc áp dụng duy nhất tiêu chí thu nhập để xác định đối tượng hộ nghèo, cận nghèo đã dẫn đến sự phân loại đối tượng, đánh giá mức độ và nguyên nhân nghèo đói chưa thực sự chính xác vì chuẩn nghèo hiện hành chưa phản ánh được đầy đủ các nhu cầu cơ bản cũng như thực trạng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, lại được duy trì trong cả giai đoạn trong điều kiện chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hàng năm đều tăng, dẫn đến giá trị chuẩn nghèo không còn phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu đảm bảo mức sống tối thiểu của người dân Với cách tính chuẩn nghèo cũ đã không còn phù hợp với tình hình hiện nay nên Chính phủ đã ban hành chuẩn nghèo mới cho giai đoạn mới 2016-

2020 để tiếp cận nghèo đa chiều, giúp người dân được thụ hưởng, tiếp cận với đầy đủ các dịch vụ xã hội (Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015)

Phương pháp đo lường nghèo đa chiều được nghiên cứu, áp dụng sẽ khắc phục những hạn chế nói trên của phương pháp đo lường nghèo bằng thu nhập Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế-xã hội thay đổi, đô thị hóa và di cư tăng nhanh

Trang 24

tạo ra một bộ phận lớn người dân thuộc nhóm cận nghèo thu nhập hoặc chưa được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ xã hội cơ bản, đang đối mặt với nhiều rủi ro khiến họ có thể rơi vào tình trạng nghèo, đói

1.2 Quan niệm về người cao tuổi và già hoá dân số

1.2.1 Người cao tuổi

Người cao tuổi (hay người già) là một thuật ngữ dùng để chỉ những người nhìn chung đã có nhiều tuổi Lâu nay các nước trên thế giới người ta vẫn hay dùng khái niệm “người già” Theo Từ điển Việt Nam, già tức là “ở vào tuổi có những hiện tượng sinh lý suy yếu dần trong giai đoạn cuối của quá trình sống tự nhiên” [12,tr.14] Như vậy, về mặt thuật ngữ, “người già” hay “người cao tuổi” cũng chỉ là hai cách nói khác nhau mang cùng một nội dung chỉ “người đã rất nhiều tuổi so với tuổi đời trung bình” Vì thế, hai thuật ngữ “người già” và

“người cao tuổi” là giống nhau

Trong luận án này, tác giả sử dụng thuật ngữ “người cao tuổi” theo Điều 2, Luật Người cao tuổi năm 2009, đó là: “Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ

đủ 60 tuổi trở lên” Tuy nhiên, trong một số phân tích so sánh với các nước về biến đổi nhân khẩu học cũng như hàm ý chính sách, luận án sử dụng định nghĩa NCT là người từ 65 tuổi trở lên

1.2.2 Già hoá dân số

Theo UNFPA (2010) và Tổ chức Hỗ trợ NCT Quốc tế (2012), già hóa dân

số là một trong những xu hướng có ý nghĩa nhất của thế kỷ XXI, có tác động đến toàn bộ các khía cạnh của đời sống xã hội của thế giới và từng quốc gia Dân số già nghĩa là tuổi thọ dân cư tăng lên và đó là hệ quả tích cực của phát triển kinh

tế, chăm sóc y tế và phúc lợi xã hội

Khái niệm già hóa dân số chỉ quá trình già của dân số, khi trong cơ cấu dân số có NCT chiếm tỉ lệ ngày càng tăng lên Tuy nhiên, tỉ lệ NCT trong tổng dân số đến “ngưỡng” nào thì dân số được coi là già hóa, hiện vẫn có sự khác

Trang 25

biệt Ví dụ, theo Cowgill và Holmes (1970) (theo trích dẫn của UNFPA, 2011), khi số người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% tổng dân số thì dân số đó được coi là “bắt đầu già”, trong khi một số tổ chức quốc tế lại định nghĩa “dân số bắt đầu già” khi tỉ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm 10% trong tổng dân số Còn khái niệm “dân số già” là khi tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 14% tổng dân số hoặc khi tỉ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 20% tổng dân số Ngoài ra, còn

có khái niệm dân số “rất già” và “siêu già”… để chỉ mức độ già của dân số

Có thể thấy, dù tỉ lệ có khác nhau nhưng “già hóa” là chỉ “quá trình”, còn

“dân số già” là chỉ “thời điểm” Quá trình chuyển từ già hóa dân số sang dân số già ở các nước khá khác nhau: chẳng hạn ở Pháp kéo dài 115 năm, ở Thụy Điển quá trình này dài 85 năm, Hoa Kỳ 70 năm, Nhật Bản 26 năm… Mặt khác, tuổi

để tính dân số già hóa hoặc già thường là 60 hoặc 65 tuổi trở lên Ở Hàn Quốc, năm 2010 tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm 11% dân số; năm 2016 là 18,1% và theo dự báo thì đến năm 2030 đã tăng lên 24,3%; 2040 tăng lên 32,5% - tức là Hàn Quốc đã trở thành quốc gia “già” từ năm 2016

1.3 Nghèo của người cao tuổi

Tổ chức y tế Thế giới (WHO, 2008) cho rằng NCT trên khắp thế giới đang đối mặt với nguy cơ nghèo Khả năng tạo thu nhập giảm và nguy cơ ốm đau tăng lên làm tăng khả năng tổn thương của NCT trước nghèo, bất kể tình trạng kinh tế ban đầu của họ Dù có hoặc không có việc làm thì NCT vẫn phải phụ thuộc vào gia đình của họ để được chăm sóc, hỗ trợ ngay cả những nhu cầu

cơ bản, như thức ăn, quần áo, chỗ ở Tuy nhiên, các thế hệ trẻ hơn thường không thể cung cấp đủ cho người thân cao tuổi của mình do sự nghèo đói đặc thù Dưới các điều kiện của nghèo đói kinh niên và đặc thù, nhiều NCT sống với gia đình của họ trong sự khốn khổ về vật chất và thờ ơ về tình cảm Các nghiên cứu chỉ ra rằng, sự hỗ trợ của người trẻ đối với người già có thể phụ thuộc vào khả năng của NCT trong việc đóng góp vào nguồn lực - nền tảng của người trẻ - thông qua đầu tư vào giáo dục, việc làm và các tài sản được truyền qua các thế hệ

Trang 26

Sự già hóa không chỉ đi kèm là các vấn đề về nghèo đói ở nhóm người có thu nhập thấp mà còn có thể đẩy các nhóm không nghèo vào nghèo đói Lương hưu thấp và ít thay đổi có thể không đủ để theo kịp sinh hoạt phí, chi phí chăm sóc sức khỏe tăng nhanh và nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc có trả phí trong

số các nhu cầu khác của tuổi già

Nghèo đói ở tuổi già cũng có thể là hậu quả của các quá trình xã hội theo cùng với sự chuyển dịch nhân khẩu học và sự hội nhập của các quốc gia vào thị trường toàn cầu Đối với các cặp vợ chồng đã ít con hơn, chi phí nuôi dạy con đã tăng lên, do việc đầu tư vào giáo dục và phát triển các kỹ năng, và trong việc tìm kiếm các công việc khan hiếm Đầu tư cho giáo dục thế hệ trẻ thường lấy từ nguồn tài chính từ đi vay chứ ít phải tiền tiết kiệm và tài sản của cha mẹ Tuy nhiên, rất ít việc làm từ các vùng nông thôn, dẫn đến sự di cư từ nông thôn đến thành thị của người trẻ với quy mô lớn nhằm tìm kế sinh nhai NCT thường bị bỏ lại đằng sau, không có phương tiện nuôi sống bản thân trừ việc dựa vào khả năng kiếm sống của con cái của họ Khi thế hệ trẻ không thể cung cấp tài chính đủ và đều đặn để nuôi cha mẹ hoặc họ hàng cao tuổi của mình, cha mẹ hoặc họ hàng cao tuổi của họ dần dần bị đẩy vào đói nghèo

Về yếu tố gia đình, NCT nghèo là NCT sống trong hộ nghèo và họ chịu nhiều tác động của các yếu tố có thể khiến họ nghèo như các hành vi cá nhân, yếu tố về an sinh xã hội, yếu tố môi trường sống, dịch vụ y tế… Mặt khác, cũng

có trường hợp NCT không sống trong hộ nghèo về kinh tế nhưng thực chất họ lại rất nghèo về tinh thần, tình cảm, thông tin, chăm sóc sức khỏe…

Trong luận án này, NCT nghèo được định nghĩa là NCT sống trong hộ nghèo Luận án sẽ phân tích định lượng yếu tố có thể tác động đến nghèo của NCT như yếu tố cá nhân (tuổi, giới, tình trạng hôn nhân, tình trạng làm việc…) và yếu tố gia đình (như khu vực sống, tỉ lệ người trong tuổi lao động, quy mô hộ…), trong khi phân tích định tính sẽ bổ sung thêm các thông tin không quan sát, phân tích được trong phân tích định lượng

Trang 27

1.4 Các yếu tố tác động đến nghèo của người cao tuổi

1.4.1 Về đặc trưng cá nhân và hộ gia đình NCT

 Quy mô và cơ cấu hộ gia đình

Đây được xem là một trong những nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng nghèo đói Các chính sách giảm nghèo của quốc gia nên chú ý đến nhân tố này để trợ giúp cho các hộ nghèo Một điểm đặc biệt dễ nhận thấy ở những hộ nghèo đó là quy mô hộ tương đối lớn Phần đông các gia đình đều có từ ba con trở lên Điều này cũng dễ lý giải bởi đa phần các hộ nghèo trong cả nước thì hộ sống ở khu vực nông thôn chiếm tỉ lệ cao nhất Các gia đình làm ruộng, trồng lúa thường sinh nhiều con vì cần nhân lực cho sản xuất Thêm vào đó, quan niệm trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại trong tư tưởng nhiều gia đình nên họ phải đẻ đến lúc nào có con trai mới chịu dừng lại Vì đông con nên thu nhập thấp không

đủ trang trải cho nhu cầu sống hàng ngày của gia đình như quần áo, lương thực, thuốc men… Làm được đồng nào tiêu đồng đó nên không có khoản tiết kiệm dự trữ phòng khi bất trắc rủi ro Chính vì vậy, đã nghèo lại càng nghèo hơn, đặc biệt khi có các cú sốc về mùa màng hoặc sức khỏe

Thông thường, các hộ nghèo ở Việt Nam là những hộ có số người sống phụ thuộc cao Đó là những gia đình chỉ có bố hoặc mẹ đi làm việc để nuôi nhiều con cùng bố mẹ già yếu và không có lương hưu Gánh nặng đè lên vai những người lao động chính trong gia đình Cùng với việc sinh nhiều con, tỉ lệ người sống phụ thuộc cũng tạo ra cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói Vì một người làm việc phải nuôi 3, 4 người khác nên làm không đủ ăn dẫn đến con cái họ không được hưởng đầy đủ các nhu cầu thiết yếu về y tế, giáo dục

 Tỉ lệ người sống phụ thuộc

Có thể thấy tình trạng hộ nghèo có số người sống phụ thuộc cao là rất phổ biến và xảy ra ở hầu hết các địa phương Đây là một nhân tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn, thậm chí có tính chất quyết định đến tình trạng nghèo của NCT Cùng với mức sinh cao, tỉ lệ người sống phụ thuộc cũng đã tạo nên một vòng

Trang 28

luẩn quẩn của đói nghèo đó là do sinh nhiều con nên lao động thiếu, số người phụ thuộc cao, gánh nặng đè lên vai những người lao động chính, một người làm phải nuôi nhiều người nên làm không đủ ăn và vì thế mà các thành viên trong gia đình, trong đó có NCT, không được hưởng một cách đầy đủ những nhu cầu thiết yếu như y tế, giáo dục… dẫn đến lại càng rơi vào cảnh nghèo đói

 Giới tính

Nhân tố về giới tính cũng quyết định lớn đến mức độ nghèo cao của hộ gia đình NCT Thường những hộ gia đình có NCT là nữ thì dễ rơi vào cảnh nghèo hơn và mức độ nghèo cũng trầm trọng hơn các hộ có NCT là nam giới So với NCT là nam giới, phụ nữ cao tuổi có đặc điểm chung là mức độ học vấn thấp, tham gia thị trường lao động thường sớm hơn và làm các công việc có thu nhập thấp và bất ổn định hơn Bên cạnh đó, người phụ nữ còn phải lo toan công việc gia đình nên không thể dành hết thời gian và công sức cho việc tạo thêm thu nhập Đó là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng các hộ nghèo có NCT là phụ nữ có cuộc sống khó khăn hơn hộ nghèo có NCT là nam giới

 Trình độ học vấn

Học vấn thấp là một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên nghèo đói

Đa số người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp do cơ hội việc làm ít hoặc khó kiếm được các công việc tốt mang lại thu nhập cao Học vấn thấp cũng ảnh hưởng đến các quyết định về giáo dục, y tế, sinh con đẻ cái Nó không chỉ ảnh hưởng đến thế hệ hiện tại mà còn ảnh hưởng đến cả thế hệ tương lai Cũng

do trình độ học vấn thấp nên người nghèo khó khăn trong việc tiếp cận các kỹ thuật mới trong làm ăn, sản xuất vì họ chỉ biết dựa vào kinh nghiệm bản thân hoặc những người đi trước để sản xuất chứ chưa biết ứng dụng kỹ thuật tiên tiến

để giảm nhẹ bớt gánh nặng nghề nghiệp và mang lại năng suất lao động cao Vì vậy, để thực hiện giảm nghèo có hiệu quả, cần nâng cao trình độ học vấn cho người nghèo

 Tình trạng việc làm

Trang 29

Nghề nghiệp là một trong những nhân tố ảnh hưởng nhất định đến sự nghèo đói của người dân Nó tác động đến mức thu nhập cũng như tính ổn định của thu nhập Những hộ có khả năng nghèo nhiều hơn là những hộ mà các thành viên không có việc làm hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, mức độ rủi

ro cao Phân tích nghèo của Ngân hàng Thế giới (2013) cho thấy các hộ nghèo ở Việt Nam chủ yếu là các hộ nông dân mà trong đó các hộ thuần nông chiếm tỉ lệ cao Nông nghiệp là nghề phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết, nếu năm nào

có nhiều lũ lụt, hạn hán xảy ra thì nguy cơ mất trắng rất cao Với những gia đình thuần nông, họ chỉ trông chờ vào cây lúa là nguồn thu nhập chính thì khi gặp sự

cố nguy cơ đói nghèo là khó tránh khỏi Vì thế, cần phải đa dạng hóa ngành nghề

để giảm bớt nghèo đói Với những hộ nông dân, ngoài các vụ chính trong năm cần xen canh tăng vụ, hoặc làm thêm các nghề phụ như đan lát, thêu, làm gạch, chăn nuôi… để cải thiện thu nhập và có tiết kiệm

Một vấn đề khác cũng đang đặt ra đối với người nghèo đó là tình trạng thất nghiệp Như đã phân tích ở trên, người nghèo là những người không được học hành đến nơi đến chốn nên khi công ty phá sản hay nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng thì họ sẽ dễ lâm vào tình trạng thất nghiệp Mất thu nhập, lại không tìm được việc làm mới để nuôi sống gia đình là nguyên nhân dẫn họ đến đói

nghèo

 Thực trạng sở hữu phương tiện sản xuất

Một nhân tố nữa liên quan đến các hộ nghèo đó là nguồn vốn Muốn vươn lên thoát nghèo, các hộ nghèo phải có vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh Nhưng hiện nay, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các hộ nghèo chưa nhiều Và việc

sử dụng nguồn vốn vay của họ chưa có hiệu quả Những hộ nghèo khi vay vốn thường gặp phải khó khăn về vấn đề thủ tục, về số vốn được vay… Cái khó của người nghèo là họ chưa biết sử dụng vốn vay của mình một cách hợp lý Họ không có một kế hoạch hay phương án làm giàu cụ thể, rõ ràng Nhiều hộ gia đình còn sử dụng nguồn vay bất hợp lý như vay tiền về để mua sắm đồ đạc tiện nghi

Trang 30

trong nhà (xe máy, ti vi) chứ chưa biết sử dụng số tiền đó đầu tư phục vụ cho công việc Một thực tế hiện nay là các hộ nông dân thường ngại đầu tư vào những cái mới để cải thiện năng suất cây trồng vật nuôi Họ chỉ làm theo truyền thống vì sợ rủi ro nên kết quả thu được không đủ để cải thiện cuộc sống, nhiều khi gặp rủi ro bất trắc còn không đủ tiền để trả vốn vay dẫn đến nợ nần Đôi khi họ còn đi vay của tư nhân vì dễ dàng hơn và nếu không có tiền trả họ phải bán lúa non để trả Cứ như thế lãi mẹ đẻ lãi con, nợ cũ không trả được lại phát sinh nợ mới, đói nghèo lại hoàn đói nghèo

 Sức khỏe bản thân

Nhiều gia đình rơi vào cảnh nghèo khó là do sức khỏe kém, mắc các bệnh hiểm nghèo hoặc do bị tàn tật bẩm sinh không có khả năng làm việc Vì thế, họ không tạo ra thu nhập để có thể tự nuôi sống bản thân Các đối tượng này chỉ còn biết trông chờ vào sự nuôi dưỡng của những người trong gia đình và trợ cấp từ nhà nước cũng như sự hỗ trợ từ cộng đồng

1.4.2 Về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

 Điều kiện tự nhiên

So với các vùng đồng bằng, các vùng sâu, vùng cao thường có tỉ lệ hộ nghèo cao hơn vì ở những vùng này đường giao thông không thuận lợi, dễ bị cô lập, tách biệt, khó tiếp cận được các nguồn lực của phát triển như khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, thị trường… Điều này làm cho cuộc sống của họ lạc hậu, khó phát triển và kinh tế chủ yếu là tự cung tự cấp

Vấn đề địa hình cũng có tác động đáng kể đến cuộc sống của người dân

Ở những vùng đất cằn cỗi, sỏi đá nhiều không thuận lợi cho canh tác, năng suất cây trồng thấp kéo theo thu nhập của nông dân thấp Việc tích lũy và tái sản xuất

mở rộng cũng bị hạn chế Hiện nay việc thiếu đất sản xuất nông nghiệp ở nước ta ngày càng trầm trọng Nguyên do là vì đất thì không tự mở rộng ra được trong khi đó dân số nông thôn ngày càng tăng lên Rồi các dự án lấy đất nông nghiệp

để xây dựng nhà máy, khu công nghiệp lại càng làm cho diện tích sản xuất nông

Trang 31

nghiệp ngày càng bị thu hẹp Với các hộ vùng biển, diện tích đất trồng cây lương thực cũng hạn chế, họ sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt Mà công việc đánh bắt thì thu nhập bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết Đó là nguyên nhân làm cho các hộ đã nghèo lại càng nghèo hơn Bởi vậy, đối với những hộ dân ở vùng này tuy không thể cung cấp đất canh tác cho họ nhưng chính quyền địa phương nên có những phương án khác để hỗ trợ họ thoát nghèo như thành lập các xưởng sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ, lấy nguyên liệu từ biển, khôi phục nghề làm chiếu cói, nuôi trồng thủy sản…

Thiên tai, bão lụt, hạn hán cũng là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến đói nghèo Chỉ một đợt lũ, cả miền trung có thể chìm trong biển nước, không chỉ thiệt hại về người mà thiệt hại về tài sản lên đến hàng nghìn tỷ đồng Sẽ phải mất rất nhiều thời gian để những người dân ở vùng này có thể trở lại cuộc sống như trước đây Nếu không có sự chung tay góp sức, ủng hộ kịp thời của nhà nước, các doanh nghiệp, các cơ quan chức năng và những tấm lòng hảo tâm trong cả nước thì tình trạng nghèo đói không biết bao giờ mới khắc phục được

 Điều kiện kinh tế

Quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cũng tác động không nhỏ đến công tác giảm nghèo bởi nếu quy mô nền kinh tế nhỏ, cơ cấu kinh tế lạc hậu, tốc độ tăng trưởng chậm, thu nhập dân cư thấp sẽ là điều kiện bất lợi cho việc huy động nguồn lực vật chất để xoá đói giảm nghèo Ngược lại, một quốc gia có quy mô nền kinh tế lớn, tốc độ tăng trưởng cao và bền vững sẽ làm tăng các nguồn thu và tích luỹ cho đất nước, nhờ đó việc đầu tư tái sản xuất sẽ được mở rộng, sẽ tiếp tục tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập cho người dân Nguồn tài chính cho công tác giảm nghèo cũng được tăng lên

Khả năng huy động nguồn lực vật chất, tài chính là yếu tố rất quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại khi thực hiện các mục tiêu xoá đói, giảm nghèo Để thực hiện các mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên quy mô rộng và đạt được kết quả nhanh thì Nhà nước và bản thân các hộ nghèo đều phải có nguồn

Trang 32

lực Nhà nước có nguồn lực đủ mạnh để hình thành và thực hiện các chương trình hỗ trợ như xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho xã nghèo, vùng nghèo; hỗ trợ cho các doanh nghiệp để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá để từ đó tạo nhiều việc làm cho người lao động; hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo về đời sống khi gặp rủi ro, thiên tai và hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chương trình khuyến nông, đào tạo Nguồn lực của nhà nước phụ thuộc vào quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, tỉ

lệ tích lũy và chính sách chi tiêu của chính phủ, khả năng vay nợ của nước ngoài

Về phía hộ gia đình nghèo, để phấn đấu thoát nghèo, họ cũng cần có nguồn lực để tự mình phấn đấu vươn lên thoát nghèo Nguồn lực họ có thể có được là từ các nguồn hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng dân cư, vốn vay tín dụng và khả năng tích lũy của bản thân họ Muốn giảm nghèo bền vững thì Nhà nước và cá nhân của các hộ nghèo, cộng đồng nghèo phải dựa vào nguồn tích lũy của chính mình, hạn chế đến mức tối thiểu vốn vay Kinh nghiệm của các nước công nghiệp mới đã thành công trong việc chuyển từ nền kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế phát triển, giảm được tỉ lệ hộ nghèo đói là đã duy trì tích lũy trên 30% tổng thu nhập quốc dân

Mức thu nhập dân cư thấp và sự phân hoá thu nhập không đồng đều giữa các vùng trong cả nước, giữa các nhóm dân cư cũng là nguyên nhân gây nghèo đói và cản trở trong việc xoá đói giảm nghèo Gần đây, khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch thu nhập giữa các nhóm có xu hướng gia tăng Theo kết quả Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2012, nếu chia hộ dân cư thành năm nhóm theo chi tiêu bình quân đầu người/tháng thì bình quân đầu người của nhóm hộ giàu nhất (4,8 triệu đồng) cao gấp 9,4 lần thu nhập của nhóm nghèo nhất (0,51 triệu đồng) Tỉ lệ này cao hơn các năm trước (năm 2010 là 9,2 lần; năm

2008 là 8,9 lần; năm 2006 là 8,4 lần; năm 2005 là 8,3 lần; năm 2002 là 8,1 lần và năm 1993 là 5,0 lần) Mức sống tăng và tỉ lệ nghèo giảm là kết quả khích lệ,

Trang 33

nhưng cần hạn chế sự gia tăng chênh lệch giàu nghèo

Sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo sẽ làm cho tình trạng nghèo tương đối trở nên gay gắt hơn, việc thực hiện các giải pháp để giảm nghèo sẽ càng khó khăn hơn Hầu hết các hộ nghèo đều ở nông thôn Do nguồn thu nhập thấp và bấp bênh, khả năng tích lũy kém nên các hộ nghèo ít có khả năng tái đầu tư sản xuất mở rộng và chống chọi với những biến cố xảy ra như: mất mùa, mất việc làm, mất sức khỏe Mặt khác, rủi ro trong sản xuất kinh doanh đối với người nghèo cũng rất cao, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, do họ thiếu kinh nghiệm làm ăn, trình độ tay nghề thấp, thiếu thông tin… Vì vậy, thu nhập của người nghèo đã thấp rồi nhưng khả năng để tăng thu nhập của họ cũng rất khó khăn và đây là một trở ngại lớn đối với công tác giảm nghèo

Một vấn đề nữa đó là môi trường kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng của địa phương Người nghèo ở nước ta chủ yếu tập trung ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa… mà những nơi này cơ sở hạ tầng thấp kém, không thuận lợi cho việc phát triển kinh tế Các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, đường sá… tốt hơn cho nông thôn giúp người dân đi lại dễ dàng, trao đổi hàng hoá được thuận lợi, kích thích phát triển các hoạt động sản xuất, từng bước đưa hộ nghèo hoà nhập với nền kinh tế thị trường Hệ thống trường học, trạm xá và bệnh viện được đầu tư xây dựng sẽ giúp người nghèo tiếp cận được với nền giáo dục có chất lượng cao hơn, có điều kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn

Khủng hoảng kinh tế cũng là một nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Người nghèo là những người có nguy cơ dễ bị tổn thương nhất khi khủng hoảng xảy ra Khủng hoảng kéo theo sự đình đốn về sản xuất, các xí nghiệp, nhà xưởng thi nhau đóng cửa, giảm biên, người lao động mất việc làm, thu nhập giảm không

đủ trang trải cho cuộc sống đã nghèo nay càng nghèo thêm

 Điều kiện xã hội:

Những nhân tố xã hội tác động đến nghèo đói và việc giảm nghèo như dân

số, lao động, trình độ dân trí, giáo dục, y tế, phong tục tập quán, vấn đề cán bộ

Trang 34

và bộ máy tổ chức điều hành

Tốc độ gia tăng dân số nhanh cũng là một nguyên nhân của nghèo đói Dân số tăng nhanh thì mức gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người sẽ giảm

Ở những nước đông dân, dân số tăng nhanh thì người dân nói riêng và quốc gia nói chung phải dành phần lớn thu nhập cho nhu cầu tiêu dùng nên khó có điều kiện tích luỹ để mở rộng sản xuất, cho nên nguồn lực để thực hiện giảm nghèo lại càng khó khăn hơn Thêm vào đó, việc sinh đẻ nhiều dẫn đến nhiều nguyên nhân khác như làm suy giảm sức khỏe của người mẹ và như thế tác động đến những đứa trẻ khi được sinh ra, đẻ nhiều cũng làm mất nhiều thời gian chăm sóc con cái, làm giảm thu nhập của hộ gia đình, nguy cơ nghèo đói sẽ gia tăng

Quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng nguồn lao động cũng là yếu tố quan trọng tác động tới khả năng bị nghèo Thực tế cho thấy, tỉ lệ giữa số người lao động và số người ăn theo trong gia đình là yếu tố ảnh hưởng đến sự giàu, nghèo của hộ gia đình Đối với hộ nghèo thì tỉ lệ người ăn theo trên một lao động chính thường cao nên khả năng tích lũy rất thấp Thêm vào đó, nếu cơ cấu lao động phân bố chủ yếu vào khu vực nông nghiệp, ít tập trung vào khu vực công nghiệp và dịch vụ thì đó là bất lợi lớn cho việc tăng nhanh mức thu nhập bình quân đầu người dẫn đến tỉ lệ tích lũy thấp, gây khó khăn cho việc xây dựng và phát triển các quỹ xóa đói giảm nghèo

Chất lượng nguồn lao động ở Việt Nam hiện nay còn rất nhiều hạn chế

Đó là sự hạn chế về mặt thể lực, sức khỏe, hạn chế về việc đào tạo qua trường lớp, trình độ tay nghề thấp…Trong điều kiện khoa học kỹ thuật như hiện nay, phải có một đội ngũ lao động có đủ trình độ để tiếp cận, áp dụng những thành tựu khoa học mới vào sản xuất thì mới có hy vọng tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động Chất lượng nguồn lao động gắn liền với việc nâng cao trình độ dân trí và chiến lược phát triển giáo dục Tài sản chủ yếu của người nghèo là thời gian lao động và giáo dục góp phần tăng năng suất của tài sản này và từ đó tăng thu nhập cho họ

Trang 35

Trình độ văn hoá, giáo dục: Đa số những người nghèo, vùng nghèo của Việt Nam là những nơi có trình độ dân trí thấp Cùng với tác động của thu nhập thấp nên việc đầu tư chăm lo cho con cái học hành của các hộ gia đình nghèo và vùng nghèo ít được quan tâm hơn, ít được học vấn, ít được đào tạo nghề nên ít có

cơ hội tìm kiếm việc làm có thu nhập cao Tỉ lệ đi học trong độ tuổi ở các vùng này sẽ thấp và như vậy, nguy cơ nghèo về tri thức dẫn đến nghèo đói về mọi mặt

sẽ gia tăng

Trình độ và điều kiện chăm sóc sức khỏe: Người nghèo thường sinh sống trong nhà cửa tạm bợ, thiếu nước sạch và ăn thiếu dinh dưỡng nên dễ mắc bệnh Khi mắc bệnh họ lại không có tiền đi bệnh viện để chữa trị nên bệnh càng nặng hơn và có nguy cơ lây nhiễm cao Không đủ trang trải viện phí nên họ lại phải đi vay nên ốm đau làm cho cuộc sống của họ ngày càng khốn cùng hơn

Nghèo đói ở nước ta còn do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại Nhất là chất độc da cam mà Mỹ đã rải xuống nước ta đã để lại những vết thương trên đất, nước và cả con người Hơn 4,5 triệu người bị thương tật, trên 300.000 trẻ em

mồ côi và hàng ngàn nạn nhân bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam này Đây là nhóm dân cư bị thiệt thòi và thường gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, dễ rơi vào tình cảnh đói nghèo Để giải quyết những hậu quả do chiến tranh để lại không chỉ một sớm một chiều mà cần phải mất rất nhiều thập kỷ

Phong tục tập quán lạc hậu, nhất là những phong tục của một số vùng dân tộc là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng nghèo đói Những hủ tục lạc hậu trong ma chay, cưới hỏi, lễ tết chi tiêu tốn kém… khiến nhiều hộ rơi vào

Trang 36

giảm nghèo

Để hỗ trợ cho người dân nói chung và người nghèo nói riêng tiếp cận tốt với các dịch vụ hỗ trợ của nhà nước, chuyển tải những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến tận người dân, tổ chức triển khai thực hiện việc chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật, các chương trình, dự án đầu tư cho nông thôn, cho người nghèo Cần có một đội ngũ cán bộ đủ năng lực (đủ số lượng, có chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm, có đạo đức) để thực thi nhiệm vụ trên Thực tế cho thấy, những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi trình độ cán bộ cơ sở xã, thôn rất thấp, nhiều vùng cán bộ xã chưa học hết cấp 2; đọc viết chưa thành thạo, lực lượng cán bộ khuyến nông, lâm của tỉnh, huyện tăng cường tham gia giúp xã thường không đủ mạnh Số cán bộ thiếu về lượng, trình độ chuyên môn hạn chế, chế độ lương thấp Trong lúc lại phải công tác ở vùng khó khăn nên lòng nhiệt tình, hăng hái không cao do đó kết quả các hỗ trợ của nhà nước và của cộng đồng đến với người nghèo bị hạn chế Bên cạnh tăng cường lực lượng cán bộ cho xóa đói giảm nghèo thì vấn đề tổ chức bộ máy quản lý, điều hành thực thi nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo từ Trung ương đến địa phương cũng cần được quan tâm

1.5 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan

1.5.1 Các nghiên cứu về nghèo và tác động của trợ giúp bằng tiền tới

giảm nghèo cho NCT ở một số nước đang phát triển

Nghiên cứu về các nhân tố có thể ảnh hưởng nguy cơ là người nghèo ở nhóm dân số già, Armando Barrientos (2006) sử dụng mô hình xác suất probit với số liệu của 2.117 hộ gia đình của người già ở Brazil và Nam Phi và chỉ ra các yếu tố như quy mô gia đình, thành phần gia đình, tỉ lệ có việc làm của các thành viên, các cú sốc trong chi tiêu… là các nhân tố có ảnh hưởng quan trọng Phân loại theo thành phần gia đình, có ba nhóm: (i) gia đình chỉ có người già, (ii) gia đình có người già sống với con cái của họ, (iii) gia đình với người già sống với người khác, không phải con cái Kết quả cho thấy, nhóm thứ hai và thứ ba phải

Trang 37

đối mặt với nguy cơ nghèo lớn hơn Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra các hộ gia đình sống vùng nông thôn có nguy cơ đối mặt với nghèo đói cao hơn hẳn so với sống ở khu vực thành thị Kết quả tương tự đối với các hộ có và không có người làm việc trong khu vực nhà nước Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả giảm nghèo của chính sách lương hưu và trợ cấp, tác giả đưa vào mô hình các biến số chỉ định người già trong hộ có nhận được hỗ trợ từ chính sách hay không và kết luận rằng hộ gia đình có người già được nhận lương hưu và trợ cấp miễn phí từ chính phủ sẽ có tác động tích cực đến giảm đói nghèo và hạn chế các tổn thương phải đối mặt (giảm xác suất nghèo ở Brazil là 18,2%, trong khi ở Nam Phi là 12,5%) Từ đó, tác giả đề xuất các chính sách của Chính phủ cần hướng đến việc

ổn định thu nhập từ lương hưu cũng như các khoản trợ cấp không cần đóng góp cho các hộ gia đình

Để đánh giá tình trạng nghèo của NCT và tác động của trợ cấp xã hội hàng tháng cho NCT ở một số nước Châu Á (trong đó có Việt Nam) trong việc giảm nghèo cho họ, phân tích của Mujahid và cộng sự (2008) cho thấy khoản trợ cấp đó giảm bớt được gánh nặng chăm sóc sức khỏe cho NCT, góp phần làm tăng chi tiêu của hộ gia đình có NCT Vì thế, các tác giả khuyến nghị rằng cần tạo cơ hội cho NCT và gia đình họ nhận được các khoản trợ cấp để phòng ngừa khả năng rơi vào nghèo đói cũng như giúp hộ gia đình thoát nghèo Sự minh bạch trong thực hiện chính sách trợ cấp xã hội rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách

Bàn về hệ thống trợ cấp xã hội cho toàn bộ NCT và nghiên cứu các nhân

tố tác động, bắt đầu từ năm 2009 của Thái Lan, Worawet và Wesumperuma (2012) cho thấy do nhiều NCT đối mặt với những khó khăn và rủi ro về sức khỏe và kinh tế nên hệ thống trợ cấp theo nhóm đối tượng (targeting) dường như không có hiệu quả và bỏ sót nhiều NCT thực sự khó khăn hoặc đưa nhầm đối tượng NCT không thực sự khó khăn vào diện được hưởng trợ cấp Theo quan điểm của tác giả, sự minh bạch trong quản lý, mức bao phủ rộng và mức hỗ trợ

Trang 38

đủ để NCT duy trì cuộc sống tối thiểu sẽ nâng cao được hiệu quả quản lý của hệ thống và dự liệu được về mặt tài chính Tính toán của các tác giả với số liệu điều tra từ Thái Lan cho thấy trợ cấp bằng tiền có tác động giảm nghèo mạnh hơn khi

áp dụng hệ thống phổ cập (universal) là áp dụng hệ thống theo nhóm đối tượng

Tương tự, bàn về hệ thống trợ cấp cho NCT ở Nepal và Băng-la-đét, Begum và Wesumperuma (2012) và Samson (2012) có cùng kết luận rằng các nước có thu nhập thấp đều có thể xây dựng và thực hiện một hệ thống trợ cấp xã hội phổ cập cho toàn bộ NCT Theo các tác giả, các hệ thống trợ cấp cho NCT ở hai nước này đang có hiệu quả cao, thể hiện ở mức bao phủ tăng lên hàng năm, đặc biệt tỉ lệ NCT nghèo và dễ tổn thương ngày càng lớn; mức sống của NCT được cải thiện và khả năng giảm nghèo tốt hơn mức hưởng được điều chỉnh phù hợp với mức sống và khả năng ngân sách Tuy nhiên, các tác giả cũng khuyến cáo việc cung cấp trợ cấp có thể có nhiều nguy cơ rủi ro khi tất cả các nguồn tiền lớn chỉ do một tổ chức của nhà nước phụ trách Các tác giả đề xuất phải tăng cường giám sát và đánh giá hoạt động thường xuyên hơn

Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của việc hỗ trợ bằng tiền đến tình trạng nghèo của NCT và hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy tác động tích cực rõ rệt, cũng như khả năng làm tăng mức độ bao phủ của hệ thống hưu trí ở những nước đang phát triển (ví dụ, Case và Deaton, 1998; Barrientos và Lloyd-Sherlock, 2003; và HAI, 2006) Bên cạnh đó, tính toán phí cho các chương trình

hỗ trợ này cho thấy một hệ thống trợ cấp tiền mặt cho mọi NCT ở các nước đang phát triển sẽ cao nhất khoảng 2-3% GDP (Willmore, 2007; United Nations, 2007b)

Trong khi các nghiên cứu đánh giá các chương trình đang thực hiện cung cấp những thông tin rất hữu ích về điểm mạnh và điểm yếu của chương trình thì những nghiên cứu đánh giá tiền khả thi của các chương trình tương tự nhưng chưa được áp dụng ở một nơi cụ thể nào đó cũng cho ta thấy được những tác động có thể có theo mục tiêu nhất định Tuy vậy, cho đến nay thì số lượng loại

Trang 39

đánh giá này chưa nhiều và một số nghiên cứu được liệt kê ở dưới đây

Để có cơ sở đánh giá tính khả thi của hỗ trợ tiền mặt cho người nghèo ở

Hy Lạp giúp họ đảm bảo mức sống tối thiểu, Matsaganis và cộng sự (2000) sử dụng Dữ liệu Hộ gia đình và Cộng đồng ở Châu Âu (ECHP) năm 1994 để xem tỉ

lệ nghèo và các chỉ số bất bình đẳng thu nhập sẽ thay đổi thế nào khi chương trình hỗ trợ đã nêu được thực hiện vào năm 2000 Các tác giả đưa ra các kịch bản với mức hưởng và độ rò rỉ khác nhau Kết quả cho thấy tỉ lệ nghèo giảm mạnh với người nghèo Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cảnh báo về những chi phí có thể phát sinh khi thực hiện hệ thống này

Tương tự, Bhorat (2003) nghiên cứu trường hợp của Nam Phi bằng việc

sử dụng số liệu từ Điều tra Chi tiêu và Thu nhập (IES) năm 1999 Tỉ lệ nghèo được đo theo chỉ số Foster-Greer-Thorbecke (FGT), trong đó tiêu dùng của hộ gia đình được tính toán lại dựa trên sắp xếp cuộc sống của hộ gia đình Các kịch bản mô phỏng vi mô được tính toán với các mức hưởng khác nhau Tiếp đó, mô phỏng cũng tính toán đến mức chi phí phải bỏ ra nếu Nam Phi muốn giảm tỉ lệ nghèo xuống một mức cho trước nào đó Tính toán cho thấy chính phủ Nam Phi phải chi một khoản tương đương với 8,3% GDP mới có thể xoá hết được khoảng cách nghèo cho toàn bộ dân số (hay khi đó, tỉ lệ nghèo là 0%)

Gassman và Behrendt (2006) đánh giá tác động cho Senegal và Tanzania với số liệu điều tra hộ gia đình ở hai nước này vào năm 2001 và 2002 Các tác giả xây dựng mô hình đánh giá giảm nghèo dựa trên hai đường chuẩn nghèo - đó là chuẩn nghèo quốc gia (lương thực và các khoản chi tiêu tối thiểu) và chuẩn nghèo quốc tế Nghèo được đo lường bằng chỉ số FGT Kết quả cho thấy việc hỗ trợ tiền cho các đối tượng NCT trong hộ gia đình sẽ làm giảm tỉ lệ nghèo rõ rệt Nghiên cứu cho rằng mở rộng chương trình bao phủ toàn dân sẽ là công cụ giảm nghèo hiệu quả, đặc biệt với NCT và trẻ em Tuy nhiên, các tác giả cũng lưu ý về vấn đề chi phí thực hiện những chương trình có quy mô lớn như vậy vì nó sẽ ảnh hưởng đến cân đối tài khoá quốc gia

Trang 40

Kakwani và Subbarao (2005) tính toán chi phí cho 15 nước Châu Phi bằng việc sử dụng số liệu điều tra hộ gia đình ở các nước này Mục tiêu của họ là xem

tỉ lệ nghèo giảm bao nhiêu nếu các hộ gia đình nghèo nhận thêm hỗ trợ bằng tiền Để tính toán chi tiết, các tác giả phân chia hộ gia đình theo các cách sắp xếp cuộc sống và sau đó là mô phỏng tính toán với các nhóm đối tượng NCT khác nhau Kết quả cho thấy tỉ lệ nghèo nhìn chung giảm, nhưng mức giảm rất khác nhau giữa các nước do có sự khác biệt về cơ cấu dân số, hộ gia đình, thu nhập và tình trạng nghèo

Với phương pháp tương tự, Kakwani, Son và Hinz (2006) tính toán cho Kenya Nghiên cứu cho thấy việc tăng cường hỗ trợ tiền mặt cho NCT sẽ giảm nghèo mạnh với chi phí chấp nhận được với một nước đang phát triển Ví dụ, Kenya chỉ mất gần 2% GDP để có thể hỗ trợ tiền cho tất cả mọi người từ 55 tuổi trở lên với mức hưởng bằng 50% chuẩn nghèo

1.5.2 Các nghiên cứu về nghèo và tác động của trợ giúp bằng tiền tới giảm nghèo cho NCT Việt Nam

Cho đến nay có rất nhiều đề tài nghiên cứu các yếu tố tác động đến nghèo của NCT, trong đó có thể kể đến một số đề tài: Nghiên cứu của Trường Đại học Califonia tài trợ (năm 1999,1992), của Uỷ ban bảo vệ, chăm sóc trẻ em (2001), trong đó có nghiên cứu của nhóm tác giả: Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Oanh, Dương Huy Lương, Khương Anh Tuấn, Nguyễn Thị Thắng và cộng sự, tuy nhiên chỉ mới đi sâu vào việc nghiên cứu các yếu tố tác động do bệnh tật, tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế của NCT; việc chăm sóc sức khỏe cho NCT của gia đình; việc triển khai thực hiện các chính sách chăm sóc sức khỏe cho NCT để cung cấp bằng chứng khoa học cho việc xây dựng chính sách và chiến lược nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống NCT Các nghiên cứu trên chưa đưa ra được những giải pháp để nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe cho NCT cũng như những giải pháp giảm nghèo cho NCT như mục tiêu mà đề tài đã đưa ra

Ngày đăng: 12/07/2017, 16:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006), “Dự báo tài chính quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam”, Vụ BHXH, Bộ LĐ-TB&XH, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo tài chính quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Tuệ Anh
Năm: 2006
[2] Giản Thành Công, Paulette Castel và Giang Thanh Long (2010), Xây dựng mô hình dự báo quỹ hưu trí Việt Nam, (Báo cáo số 1), Dự án ILSSA-WB TF00058179, ILSSA và WB, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình dự báo quỹ hưu trí Việt Nam
Tác giả: Giản Thành Công, Paulette Castel và Giang Thanh Long
Năm: 2010
[3] Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Oanh, Dương Huy Lương, Nguyễn Khánh Phương, Trần Văn Tiến, Vũ Thị Minh Hạnh, Phan Hồng Vân và cộng sự (2007), Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người nghèo tại năm tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên [trực tuyến]: http://www.hspi.org.vn [truy cập: 30/11/2010] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình hình chăm sóc sức khỏe cho người nghèo tại năm tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên
Tác giả: Đàm Viết Cương, Trần Thị Mai Oanh, Dương Huy Lương, Nguyễn Khánh Phương, Trần Văn Tiến, Vũ Thị Minh Hạnh, Phan Hồng Vân và cộng sự
Năm: 2007
[4] Nguyễn Đình Cử và Hà Tuấn Anh (2010), Thay đổi cấu trúc dân số và dự báo giai đoạn cơ cấu dân số “vàng” ở Việt Nam, Tổng cục DS-KHHGĐ, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thay đổi cấu trúc dân số và dự báo giai đoạn cơ cấu dân số “vàng” ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Cử và Hà Tuấn Anh
Năm: 2010
[5] Đàm Hữu Đắc (2010), Chính sách phúc lợi xã hội và phát triển dịch vụ xã hội: Chăm sóc người cao tuổi trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phúc lợi xã hội và phát triển dịch vụ xã hội: Chăm sóc người cao tuổi trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập
Tác giả: Đàm Hữu Đắc
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2010
[7] Lê Quốc Hội và cộng sự (2013), Tác động của tăng trưởng kinh tế đến xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của tăng trưởng kinh tế đến xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Lê Quốc Hội và cộng sự
Năm: 2013
[8] Đinh Thế Huynh và cộng sự (2015), 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt nam
Tác giả: Đinh Thế Huynh và cộng sự
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2015
[9] Nguyễn Thị Lan (2010), Giới thiệu chiến lược đến năm 2015, Tổ chức hỗ trợ người cao tuổi quốc tế (HAI) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu chiến lược đến năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Lan
Năm: 2010
[10] Giang Thanh Long (2010b), “Chuyển đổi hệ thống hưu trí từ PAYG DB sang tài khoản cá nhân tượng trưng (NDC)”, Báo cáo số 3 của Dự án TF058179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi hệ thống hưu trí từ PAYG DB sang tài khoản cá nhân tượng trưng (NDC)
[11] Giang Thanh Long (2011), “Già hóa dân số và người cao tuổi Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách”, đề tài cấp Bộ, HàNội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Già hóa dân số và người cao tuổi Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách
Tác giả: Giang Thanh Long
Năm: 2011
[12] Giang Thanh Long, Nguyễn Thị Nga và Lê Minh Giang (2011), “Rà soát các chính sách hỗ trợ xã hội ở Việt Nam”, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (MoLISA) và Tổ chức Hợp tác Đức (GIZ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rà soát các chính sách hỗ trợ xã hội ở Việt Nam
Tác giả: Giang Thanh Long, Nguyễn Thị Nga và Lê Minh Giang
Năm: 2011
[13] Lê Quốc Lý (2012), Chính sách xóa đói giảm nghèo: thực trạng và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách xóa đói giảm nghèo: thực trạng và giải pháp
Tác giả: Lê Quốc Lý
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2012
[14] Ngân hàng Thế giới (2007), Báo cáo Phát triển Việt Nam 2008: Bảo trợ Xã hội, Ngân hàng Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Phát triển Việt Nam 2008: Bảo trợ Xã hội
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 2007
[16] Trần Thị Mai Oanh (2010), Sức khỏe, chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi và thử nghiệm mô hình can thiệp ở huyện miền núi Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Luận án Tiến sĩ, Đại học Y tế Công cộng (không xuất bản) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe, chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi và thử nghiệm mô hình can thiệp ở huyện miền núi Chí Linh, tỉnh Hải Dương
Tác giả: Trần Thị Mai Oanh
Năm: 2010
[17] Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (2009), “Một số dự báo về quỹ hưu trí Việt Nam”, (bản thảo), Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dự báo về quỹ hưu trí Việt Nam
Tác giả: Bảo hiểm Xã hội Việt Nam
Năm: 2009
[18] Bộ LĐ-TB&XH (2012), “Báo cáo kết quả thực hiện chính sách bảo trợ xã hội” (Tài liệu phục vụ phiên họp toàn thể UBCVĐXH lần thứ 3 của QH Khóa XIII), (không xuất bản), Bộ LĐ-TB&XH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện chính sách bảo trợ xã hội
Tác giả: Bộ LĐ-TB&XH
Năm: 2012
[19] Ngân hàng Thế giới (2010), “Việt Nam: Tăng cường lưới an sinh xã hội đối với giảm nghèo và dễ tổn thương”, (bản thảo), Ngân hàng Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam: Tăng cường lưới an sinh xã hội đối với giảm nghèo và dễ tổn thương
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 2010
[20] Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam (2012), Điều tra về Người cao tuổi Việt Nam (VNAS): Những kết quả chủ yếu, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra về Người cao tuổi Việt Nam (VNAS): Những kết quả chủ yếu
Tác giả: Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2012
[21] Tổng cục Thống kê Việt Nam (2011), Dự báo dân số Việt Nam, 2009-2049, GSO, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo dân số Việt Nam, 2009-2049
Tác giả: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Năm: 2011
[24] VNCA & GIZ (2013), “Đánh giá việc triển khai thực hiện Luật Người cao tuổi, 2010-2012”, VNCA & GIZ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá việc triển khai thực hiện Luật Người cao tuổi, 2010-2012
Tác giả: VNCA & GIZ
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w