Đề cương cho các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề quản lý và chống thất thu thuế, cụ thể là thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp tại địa bàn chi cục thuế Quận Tân Phú với việc nêu ra thực trạng thất thu thuế và gợi ý các chính sách để hạn chế tình trạng này
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
Mã số chuyên ngành :
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ
Tp Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2017
Trang 3I Đặt vấn đề nghiên cứu
Thuế là một trong những công cụ kinh tế quan trọng nhất của các quốc gia, gắn liềnvới Nhà nước theo suốt chiều dài lịch sử phát triển của loài người Thuế không chỉ đơnthuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước mà thuế còn là công cụ tàichính hết sức quan trọng để quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, điều hoà thu nhập,góp phần thực hiện công bằng xã hội, kiểm soát và giám sát mọi hoạt động của nềnkinh tế Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, việc phát triển kinh tế, xây dựng cơ
sở hạ tầng hiện đại cũng như nâng cao chất lượng phúc lợi xã hội đòi hỏi mỗi quốc giacần phải tăng chi tiêu ngân sách để mở rộng đầu tư, tạo đòn bẩy thúc đẩy sự tăngtrưởng cho đất nước Do đó, bảo đảm nguồn thu thuế thông qua việc cải cách và hoànthiện các chính sách thuế trên cơ sở vừa tạo nguồn thu cho ngân sách nhưng vừa tạođược sự công bằng xã hội là một trong những nhiệm vụ hàng đầu mà chính phủ mỗiquốc gia cần quan tâm thực hiện Nhìn chung trong quá trình cải cách hệ thống thuếcủa nước ta, nhà nước đã chú trọng xác lập đúng đắn mối quan hệ giữa các loại thuế,xác định hợp lý các đối tượng chịu thuế, thuế suất và chế độ miễn giảm cho nên hệthống thuế hiện hành đã phát huy tác dụng trong việc đóng góp phần lớn vào nguồnthu ngân sách, điều chỉnh được một số quan hệ xã hội nhất định cũng như khuyếnkhích đầu tư, phát triển những ngành sản xuất kinh doanh có lợi cho nền kinh tế,hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng, thu hút thêm các nguồn vốn đầu tư nước ngoàinhưng vẫn đảm bảo bảo vệ và phát triển sản xuất hàng hóa trong nước và tạo điều kiệncho hàng hóa trong nước thâm nhập, cạnh tranh được với thị trường thế giới Cụ thể làtrong những năm qua Luật thuế được ban hành, liên tục sửa đổi và bổ sung, đặc biệt làthuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đang từng bướcđược hoàn thiện và phù hợp với xu thế hiện nay cũng như phù hợp với từng thànhphần tham gia kinh tế, đảm bảo vai trò là những nguồn thu thuế lớn nhất của nhà nước.Tuy nhiên với một nền kinh tế thị trường đa dạng và nhiều thành phần tham gia nhưhiện nay, việc quản lý kinh tế dưới góc độ thuế thật sự gặp rất nhiều khó khăn, do đóviệc thất thu thuế là một trong những thực trạng nổi cổm vẫn còn tồn tại và tiếp diễn ởkhắp cả nước, đặc biệt ở các tỉnh, thành phố lớn và là các trọng điểm về kinh tế như
Hồ Chí Minh, Hà Nội hay Đồng Nai…
Trang 4Với vai trò là đầu tàu về kinh tế của cả nước, trong những năm qua thành phố Hồ ChíMinh luôn là đơn vị đóng góp nguồn thu thuế và thu ngân sách lớn nhất cả nước Theobáo cáo của chính quyền thành phố Hồ Chí Minh, tổng thu ngân sách cả năm 2016 củathành phố vượt 2,7% dự toán và tăng 12,06% so với năm 2015, đạt 306.336 tỷ đồng,gấp đôi số thu ngân sách của thành phố Hà Nội Để đạt được điều này, đòi hỏi sự nỗlực làm việc của 24 chi cục thuế trên địa bàn thành phố, trong đó cần phải nhắc đến sựđóng góp của Quận Tân Phú, dù mới được tách ra từ Quận Tân Bình từ năm 2003nhưng đến nay Quận đã có nhiều thành tựu đáng kể và ngày càng khẳng định vai tròcủa mình trong việc phát triển kinh tế của thành phố Năm 2013, tổng thu ngân sáchcủa Quận Tân Phú tăng 5,64 lần so với lúc mới thành lập, đạt 1.146,02 tỷ đồng, chothấy được vai trò quan trọng cũng như sự tích cực của cán bộ công nhân viên tại chicục Thuế quận Tân Phú trong việc bảo đảm và phát huy nguồn thu ngân sách chothành phố qua các năm Tuy nhiên, cũng giống như thực trạng chung của cả nước đãphân tích ở trên, việc thất thu thuế vẫn còn tồn tại trong việc thu thuế các doanhnghiệp tại địa bàn Quận Tân Phú, đặc biệt là hai loại thuế GTGT và TNDN Bên cạnh
đó, hiện nay vẫn chưa có một bài nghiên cứu nào tìm hiểu về thực trạng thu thuếGTGT và TNDN của các doanh nghiệp thuộc Quận Tân Phú, do đó tôi đã lựa chọn đềtài “Hoàn thiện công tác chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanhnghiệp đối với các doanh nghiệp tại địa bàn Quận Tân Phú giai đoạn 2010-2016” làm
đề tài nghiên cứu nhằm trả lời các vấn đề liên quan đến thực trạng thất thu thuế GTGT
và TNDN của Quận Tân Phú
II Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài đánh giá việc thất thu thuế GTGT và TNDN của các doanh nghiệp tại địa bànQuận Tân Phú giai đoạn 2010-2016 với các mục tiêu cụ thể như sau
-Thứ nhất, trình bày được thực trạng thu thuế GTGT và TNDN của các doanh nghiệp
tại địa bàn Quận Tân Phú giai đoạn 2010-2016
-Thứ hai, phân tích được nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất thu thuế GTGT và
TNDN của các doanh nghiệp tại địa bàn Quận Tân Phú giai đoạn 2010-2016
-Cuối cùng, gợi ý các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác chống thất thu thuế GTGT
và TNDN của các doanh nghiệp tại địa bàn Quận Tân Phú giai đoạn 2010-2016
III Câu hỏi nghiên cứu
Trang 5Để có thể đạt được các mục tiêu trên, đề tài đưa ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
-Thứ nhất, những lý thuyết nào làm cơ sở lý thuyết nền tảng cho các khái niệm liên
quan của đề tài?
-Thứ hai, thực trạng thu thuế GTGT và TNDN của các doanh nghiệp tại địa bàn Quận
Tân Phú giai đoạn 2010-2016 như thế nào?
-Thứ ba, nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất thu thuế GTGT và TNDN của các
doanh nghiệp tại địa bàn Quận Tân Phú giai đoạn 2010-2016 là gì?
-Cuối cùng, từ những phân tích và đánh giá của đề tài, có thể đưa ra những hàm ý
chính sách nào cho Chi cục thuế Quận Tận Phú nhằm hoàn thiện công tác chống thấtthu thuế GTGT và TNDN của các doanh nghiệp tại địa bàn Quận Tân Phú giai đoạn2010-2016?
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là tình trạng thất thu thuế GTG và TNDN của các doanhnghiệp
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: các doanh nghiệp trên địa bàn Quận Tân Phú
+ Về thời gian: Đề tài lựa chọn thời gian nghiên cứu từ năm 2010-2016 để xem xétđược đầy đủ mối thực trạng thất thu thuế và công tác chống thất thu thuế tại Chi cụcthuế Quận Tân Phú
+ Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng thất thu thuế GTGT và TNDNcủa các doanh nghiệp trên địa bàn Quận Tân Phú giai đoạn 2010-2016, đồng thời phântích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, từ đó đưa ra một số kết luận và đề xuấtgiải pháp nhằm hoàn thiện công tác chống thất thu thuế GTGT và TNDN của QuậnTân Phú trong thời gian tới
V Kết cấu dự kiến của luận văn
Đề tài được cấu trúc thành 5 chương (không tính phụ lục và tài liệu tham khảo), cụ thểnhư sau:
Trang 6Chương một trình bày tổng quan chung về nội dung của đề tài, bao gồm: đặt vấn đề
nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phươngpháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của bài nghiên cứu
Chương hai trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan các tài liệu có liên quan đến thuế
giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, thất thu thuế và công tác chống thất thuthuế
Chương ba trình bày tổng quát về Chi cục thuế Quận Tân Phú Trên cơ sở đó, trình
bày thực trạng thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanhnghiệp tại địa bàn Quận Tân Phú giai đoạn 2010-2016 Từ đó, phân tích các nguyênnhân dẫn đến thực trạng này
Chương bốn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác chống thất thu thuế giá
trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp tại địa bàn Quận TânPhú thời gian tới
Chương năm trình bày tóm tắt kết quả đề tài đồng thời nêu lên những điểm mới,
những hạn chế nghiên cứu và đề nghị hướng nghiên cứu tiếp theo
VI Ý nghĩa của nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với mục tiêu đánh giá thực trạng thất thu thuế giá trị gia tăng vàthuế thu nhập doanh nghiệp Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu này có những đóng góphữu ích cho các nghiên cứu về chống thất thu thuế cũng như có ý nghĩa về mặt thựctiễn đối với các chi cục thuế, cụ thể như sau:
-Đề tài đóng góp vào kho tàng nghiên cứu về thuế và thất thu thuế, cụ thể là thuế giátrị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, đặc biệt là trong việc áp dụng thực tiễncác loại thuế này
-Đề tài đưa ra một số gợi ý và giải pháp cho Chi cục thuế Quận Tân Phú tham khảo và
áp dụng để hoàn thiện công tác chống thất thu thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhậpdoanh nghiệp trên địa bàn trong thời gian tới Bên cạnh đó, các chi cục thuế khác trên
cả nước cũng có thể học hỏi những kinh nghiệm và giải pháp được nêu ra trong đề tàinày nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu thuế trên địa bàn mình
VII Tổng quan lý thuyết
Trang 71 Thuế Giá trị gia tăng
1.1 Khái niệm và lịch sử hình thành thuế GTGT
1.1.1 Khái niệm
Thuế GTGT là loại thuế gián thu dựa trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phátsinh trong quán trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Thuế GTGT có nguồn gốc từthuế doanh thu, được nghiên cứu và áp dụng nhằm khắc phục những hạn chế của thuếdoanh thu Đây là một luật thuế thu vào mỗi giai đoạn của sản xuất, lưu thông sảnphẩm, hàng hoá, đi từ khâu nguyên liệu đến khâu sản phẩm hoàn thành và cuối cùng làtiêu dùng Do đó thuế GTGT còn được xem là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế phảinộp ở giai đoạn trước đó
1.1.2. Nguồn gốc ra đời của thuế GTGT
Năm 1918, một người Đức tên là Carl Friendrich Von Siemens, là thành viên gia đình
sáng lập tập đoàn Siemens A-G, tập đoàn sản xuất hàng kim khí điện máy lớn nhấtnước Đức, đưa ra khái niệm về thuế GTGT và đề xuất với nhà nước Đức thay thế loạithuế thương vụ đa bậc
Năm 1920, thuế doanh thu được áp dụng cho tất cả các khâu trong quá trình lưu thônghàng hóa, dịch vụ tại Pháp Cách tính thuế này đã tạo ra nguồn thu lớn cho NSNNPháp, nhưng đồng thời đã làm phát sinh tình trạng “thuế chồng thuế” Năm 1938, Phápcải tiến thuế doanh thu chỉ đánh một lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sảnxuất Năm 1948, thuế doanh thu tiếp tục được hoàn thiện đánh vào từng công đoạn củaquá trình sản xuất
Đến năm 1954, ông Maurice Laure, một viên chức thuế Pháp đã hoàn chỉnh đạo luậtthuế GTGT, thuế GTGT chính thức ra đời vào ngày 10/04/1954 Tại Việt Nam, chínhquyền Sài Gòn đã áp dụng thuế GTGT vào năm 1973 sau khi áp dụng và sửa đổi một
số sắc thuế như thuế Khiêm ước, thuế Song Hành Đến năm 1975, khi miền Nam hoàntoàn giải phóng, luật thuế này đã được bãi bỏ Năm 1993, thuế GTGT áp dụng thí điểmcho 19 doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp ngành mía đường và doanh nghiệpquốc doanh) nhưng chương trình thí điểm đã bị thất bại Trước nhu cầu bức bách củahội nhập nền kinh tế, ngày 01/01/1999 thuế GTGT được áp dụng tại Việt Nam sau mộtthời gian nghiên cứu, hoc hỏi kinh nghiệm từ các nước trong khu vực và thế giới
Do những ưu điểm vốn có của thuế GTGT so với các loại thuế gián thu đánh vào tiêudùng, thuế GTGT sau đó được áp dụng phổ biến ở các nước liên minh Châu Âu, Châu
Trang 8Mỹ La Tinh, Châu Phi và Châu Á Tính đến nay đã có hơn 130 quốc gia áp dụng sắcthuế này.
1.2. Bản chất và cơ chế vận hành thuế GTGT
Thuế GTGT chỉ thu vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ theo phân đoạn trongquá trình sản xuất lưu thông hàng hóa từ khâu đầu tiên tới người tiêu dùng, tổng sốthuế thu được ở phân đoạn sẽ khớp với số thuế tính trên giá bán hàng hóa hoặc dịch vụcho người tiêu dùng Do đó thuế GTGT tránh được hiện tượng đánh thuế trùng lắp.Thuế GTGT mang tính chất động viên và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội, sảnphẩm quốc dân, nguồn tài chính tiền tệ khác do các tổ chức kinh doanh, tổ chức kinh
tế và các thành viên trong xã hội tạo ra nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà Nước đểđáp ứng nhu cầu chi tiêu của xã hội
Trong những năm qua, thuế mang lại nguồn thu ổn định thường xuyên cho NSNN Sứcđộng viên của thuế ngày càng cao trên tổng thu của NSNN Điều này càng chứng tỏ sựquan trọng của thuế trong quản lý vi mô và vĩ mô Đối với Nhà nước thuế là đòn bẩythúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo đúng định hướng XHCN
1.3. Vai trò của thuế GTGT
Thuế GTGT tạo nên môi trường công bằng, qua đó góp phần thúc đẩy sản xuất, mởrộng lưu thông hàng hoá, dịch vụ
Thuế doanh thu với sự trùng lắp đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và lưu thônghàng hoá Trong khi đó, thuế GTGT lại có ưu điểm là chỉ thu vào phần giá trị gia tăngcủa hàng hoá, dịch vụ qua các khâu từ quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá cho đếntiêu dùng, hoàn toàn không thu thuế trên toàn bộ doanh thu như mô hình thuế doanhthu Việc áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu không ảnh hưởng tới giá cả sảnphẩm tiêu dùng, không gây khó khăn, trở ngại cho các khâu từ sản xuất lưu thông hànghoá và tiêu dùng cuối cùng
Thuế GTGT không có hiện tượng thuế trùng thuế, giúp cho giá cả hàng hoá, dịch vụđược xác định hợp lý và chính xác hơn, góp phần ổn định giá cả, khuyến khích và thúcđẩy sản xuất, lưu thông hàng hoá
Thuế GTGT động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng vào NSNN, góp phầnhình thành khoản thu lớn vào ổn định cho NSNN Với phạm vi áp dụng rộng rãi trongnhiều ngành nghề, lĩnh vực, đối tượng nộp thuế và chịu thuế đều dễ dàng chấp nhận,
Trang 9tính tập trung của thuế, các yếu tố trên tạo tiền đề để thuế GTGT thực hiện vai trò nàymột cách rõ rệt trên thực tế.
Thuế GTGT áp dụng thuế suất 0% đối với hàng xuất khẩu và được khấu trừ hoặc hoànlại toàn bộ số thuế GTGT của các yếu tố mua vào nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giáthành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng hoá xuất khẩu có thểcạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế
Đối với hàng nhập khẩu, thuế GTGT cùng với thuế nhập khẩu làm tăng chi phí cho cácnhà nhập khẩu Nếu thuế nhập khẩu là hàng rào thuế quan thứ nhất bảo hộ mậu dịchthì thuế GTGT ở khâu nhập khẩu cũng có thể xem là hàng rào thuế quan thứ hai gópphần bảo hộ mậu dịch dù mức độ bảo hộ có thấp hơn thuế nhập khẩu
Thuế GTGT góp phần tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc muabán hàng hoá có hoá đơn chứng từ Kỹ thuật tính thuế GTGT đầu ra và thuế GTGTđầu vào là biện pháp kinh tế góp phần thúc đẩy người mua và người bán thực hiện tốthơn chế độ hoá đơn, chứng từ Góp phần thực hiện hệ thống chính sách thuế ở nước taphù hợp với sự vận động và tăng trưởng của nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện mởrộng hợp tác kinh tế với các nước khác trên thế giới
1.4. Ưu, nhược điểm của thuế GTGT
1.4.1. Ưu điểm
Ưu điểm quan trọng nhất của thuế GTGT là khắc phục được tính trùng lắp của thuếdoanh thu bởi lẽ khi tính thuế GTGT ở mỗi giai đoạn của quy trình sản xuất, kinhdoanh sẽ được khấu trừ số thuế GTGT ở giai đoạn trước Trong khi đó thuế doanh thutính lên cả số thuế doanh thu ở khâu đã nộp
Ưu điểm thứ hai của thuế GTGT lá góp phần tăng cường công tác hạch toán, thúc đẩyviệc mua bán có hoá đơn, chứng từ Bởi vì thếu GTGT yêu cầu nếu muốn được khấutrừ thuế của các khâu trước cần thiết phải có đẩy đủ hoá đơn GTGT đầu ra và đầu vào
Ưu điểm thứ ba của thuế GTGT chính là sự đơn giản của nó trong công tác quản lý thuthuế Người nộp thuế có thể tự mình xác định số thuế phải nộp và trực tiếp nộp cho cơquan thuế, cơ quan thuế chỉ thực hiện công tác kiểm tra sổ sách kế toán của doanhnghiệp
Ưu điểm thứ tư của thuế GTGT là đối tượng và phạm vi chịu thuế GTGT rất rộng Ưuđiểm này cho phép Chính phủ có thể vận dụng để khuyến khích hoạt động xuất khẩu,
Trang 10cũng như áp dụng thuế suất vừa phải, hợp lý hơn là tăng thuế suất, một biện pháp dễ bịphê phán.
Tồn tại nhiều hóa đơn khác nhau: hóa đơn bán hàng thông thường, hóa đơn GTGT vàhóa đơn thu mua hàng hóa trực tiếp của người không có hóa đơn Gây khó khăn choviệc kiểm tra, xác minh của cơ quan thuế
Thuế suất chỉ có ba nhóm : 0%, 5%, 10% nhưng không có tiêu thức rõ ràng để xácđịnh một mặt hàng hoặc dịch vụ thuộc nhóm nào Thuế suất áp dụng chưa thực sự phùhợp với nhiều ngành nghề Do đó thường điều chỉnh hoặc miễn giảm nên chưa thểhiện tính ổn định
Người tiêu dùng Việt Nam chưa thực sự có lợi ích khi mua hàng hóa, dịch vụ tiêudùng khi có hóa đơn nên gây thất thu thuế không nhỏ cho NSNN
Số lượng văn bản có liên quan đến thuế GTGT đã ban hành quá nhiều gây lúng túngcho NNT cũng như các cơ quan chức năng trong quá trình quản lý và điều hành
Từ khi áp dụng luật thuế GTGT thì các hành vi trốn thuế của doanh nghiệp cũng tinh
vi hơn nhằm thu tiền của Nhà nước thông qua việc hoàn thuế GTGT
Cơ cấu thu NS giữa trung ương và NS địa phương có sự thay đổi Trước đây thuếdoanh thu được phân chia giữa NS trung ương và NS địa phương Nhưng hiện nay,nguồn thu thuế GTGT ở khâu nhập khẩu tập trung toàn bộ vào NS trung ương, thuếGTGT ở khâu còn lại sẽ được phân chia giữa hai đơn vị trên Thu thuế GTGT từ khâunhập khẩu có giá trị lớn trong khi số thu thuế GTGT trong nước lại giảm so với thuếdoanh thu cho nên phần phân chia ngân sách của địa phương không còn như trước đây
1.5. Nội dung cơ bản của thuế GTGT tai Việt Nam
Ở Việt Nam Luật thuế GTGT được Quốc hội khoá IX thông qua vào ngày 19/05/1997
Có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 Tiếp đến là Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luậtthuế GTGT QH khoá XI thông qua ngày 17/06/2003, có hiệu lực từ ngày 01/01/2004
Trang 11Quốc hội khoá XII kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật thuế GTGT ngày 03/06/2008 thaythế cho Luật thuế GTGT 1997 và Luật thuế GTGT sửa đổi, bổ sung năm 2003 và
2005 Có thể khái quát nội dung luật thuế như sau:
1.5.1. Đối tượng chịu thuế GTGT
Đối tượng chịu thuế GTGT là tất cả hàng hóa dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh
và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ 29 nhóm đối tượng hàng hoá, dịch vụ không chịu thuếquy định tại Điều 5 của Luật thuế GTGT
1.5.2. Đối tượng nộp thuế GTGT
Các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuếGTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh (gọichung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT(gọi chung là người nhập khẩu)
Tất cả các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hoá, mua dịch vụ từ nước ngoài hoặc đượcxem như nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài nếu các hàng hoá, dịch vụ này thuộc diệnchịu thuế GTGT ở Việt Nam thì các nhà nhập khẩu này cũng là đối tượng nộp thuếGTGT
1.5.3. Căn cứ tính thuế
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất
Giá tính thuế: Giá tính thuế được quy định như sau:
Đối với hàng hoá, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuếGTGT Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêuthụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng
Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếucó), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theoquy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu
Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho là giá tínhthuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểmphát sinh các hoạt động này
Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền cho thuê chưa có thuế giá trị gia tăng.Trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê chomột thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả trước cho thờihạn thuê chưa có thuế giá trị gia tăng
Trang 12Trường hợp thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải của nước ngoài loại trongnước chưa sản xuất được để cho thuê lại, giá tính thuế được trừ giá thuê phải trả chonước ngoài.
Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá bán trảmột lần chưa có thuế giá trị gia tăng của hàng hoá đó, không bao gồm khoản lãi trảgóp, lãi trả chậm
Đối với gia công hàng hoá là giá gia công chưa có thuế giá trị gia tăng Đối với hoạtđộng xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việcthực hiện bàn giao chưa có thuế giá trị gia tăng Trường hợp xây dựng, lắp đặt khôngbao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặtkhông bao gồm giá trị nguyên vật liệu và máy móc, thiết bị
Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có thuế giá trịgia tăng, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp ngân sách nhànước
Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hoá và dịch vụ hưởng hoa hồng làtiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế giá trị gia tăng
Đối với hàng hoá, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh toán là giá
đã có thuế giá trị gia tăng thì giá tính thuế được xác định theo công thức sau:
Giá chưa có thuế Giá thanh toán
giá trị gia tăng =
1 + thuế suất của hàng hoá, dịch vụ (%)
Giá tính thuế đối với hàng hoá, dịch vụ quy định tại khoản 1 bao gồm cả khoản phụthu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng
Giá tính thuế được xác định bằng đồng Việt Nam Trường hợp người nộp thuế códoanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình
quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công
bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế
Trang 13 Thuế suất thuế GTGT: Thuế suất thuế GTGT đối với hàng hóa, dich vụ được áp
dụng như sau:
Thuế suất 0%:
Áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu bao gồm cả hàng hóa gia công xuất khẩu, hoạtđộng xây dựng, lắp đặt các công trình ở nước ngoài, hàng hóa bán cho cửa hàng miễnthuế, dịch vụ tín dụng, đầu tư tài chính, đầu tư chứng khoán ra nước ngoài, và cáchàng hóa dịch vụ không chịu thuế GTGT tại Điều 5 của Luật thuế GTGT khi xuấtkhẩu, trừ các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% sau:
Tái bảo hiểm ra nước ngoài, chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trítuệ ra nước ngoài, chuyển nhượng vốn cấp tín dụng, đầu tư chứng khoán ra nướcngoài, dịch vụ tài chính phái sinh, dịch vụ bưu chính viễn thông chiều đi ra nướcngoài, sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chế biến, chưa chế biếnthành sản phẩm khác, hàng hoá dịch vụ cung cấp cho cá nhân không đăng kí kinhdoanh trong khu phi thuế quan, trừ các trường hợp khác theo quy định của Thủ tướngChính phủ
Thuế suất 5%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ sau đây:
Phân bón, quặng để sản xuất phân bón, kích thích tăng trưởng vật nuôi, cây trồng
Nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt
Đào đắp, nạo vét kênh phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi, trồng, chăm sóc, phòng trừsâu bệnh cho cây trồng, thu, hái, sơ chế, bảo quản sản phẩm nông nghiệp
Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản nuôi trồng, đánh bắt chưa qua chếbiến, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật thuế GTGT
Máy móc thiết bị dùng cho sản xuất nông nghiệp: máy cày, bừa, máy thu hoạch sảnphẩm nông nghiệp, máy hoặc bình bơm thuốc trừ sâu
Đường, phụ phẩm trong sản xuất đường, gồm gỉ đường, bã mía, bã đường
Sản phẩm bằng đay, cói, tre, song mây, nứa, lá là các loại sản phẩm được sản xuất, chếbiến từ nguyên liệu chính là đay, cói, tre, song, mây, nứa
Thiết bị, máy móc và các dụng cụ chuyên dùng trong y tế như: máy soi, máy chụpdùng trong khám và điều trị bệnh, xe cứu thương, bơm kim tiêm, truyền máu, dụng
cụ phòng tránh thai, bông, băng, gạc y tế và băng vệ sinh dùng trong y tế
Thuốc chữa bệnh, phòng bệnh cho người và vật nuôi
Giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập, dụng cụ chuyên dùng cho giảng dạy, nghiêncứu, thí nghiệm khoa học
Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, biểu diễn nghệ thuật, nhập khẩu, phát hành vàchiếu phim
Trang 14Đồ chơi trẻ em, sách các loại (trừ sách quy định tại khoản 15 Điều 5 của luật thuếGTGT).
Thuế suất 10%: áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không được quy định tại mức
Đối với hàng hóa chịu thuế TTĐB ở khâu sản xuất trong nước và dịch vụ chịu thuếTTĐB ở khâu kinh doanh trong nước thì giá tính thuế GTGT là giá bán bao gồm cảthuế TTĐB nhưng chưa bao gồm thuế GTGT
Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp thì giá tính thế được tính theo giá báncủa sản phẩm được tính trả một lần chưa bao gồm thuế GTGT không bao gồm lãi trảgóp
Thuế GTGT
Giá tính thuế của hàng hóa dịch vụ chịu thuế bán ra