Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu lí luận về thích ứng và thực trạng thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp
Trang 1HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
NGUYỄN VĂN VIÊN
THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG GIỮ GÌN TRẬT TỰ GIAO THÔNG CỦA THANH NIÊN XUNG PHONG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÍ HỌC CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ: 62 31 04 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN QUỐC THÀNH
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
NGUYỄN VĂN VIÊN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THÍCH ỨNG VÀ THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG GIỮ GÌN TRẬT TỰ GIAO THÔNG CỦA THANH NIÊN XUNG PHONG 9
1.1 Các công trình nghiên cứu về thích ứng 9
1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của Thanh niên xung phong 20
Chương 2 CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG 31
2.1 Khái quát chung về thích ứng 31
2.2 Hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của Thanh niên xung phong 36
2.3 Thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của Thanh niên xung phong 46
2.4 Tiêu chí và mức độ đánh giá 54
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của Thanh niên xung phong 59
Chương 3 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 66
3.1 Khách thể nghiên cứu 66
3.3 Phương pháp nghiên cứu 75
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG GIỮ GÌN TRẬT TỰ GIAO THÔNG CỦA THANH NIÊN XUNG PHONG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 87
4.1 Đánh giá chung thực trạng thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của Thanh niên xung phong Thành phố Hồ Chí Minh 87
4.2 Các biểu hiện cụ thể về thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của Thanh niên xung phong 93
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của Thanh niên xung phong 111
4.4 Kết quả thực nghiệm tác động 125
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 133
1 Kết luận 133
2 Kiến nghị 135
2.1 Với lãnh đạo Lực lượng Thanh niên xung phong 135
2.2 Với Lực lượng thanh niên xung phong 136
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 137
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
PHỤ LỤC 146
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3 1 Thông tin chung về khách thể nghiên cứu 71
Bảng 4 1 Mức độ thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP 87
Bảng 4 2 Sự khác biệt giữa nam và nữ trong thích ứng 90
Bảng 4 3 Sự khác biệt giữa nhân viên và Cán bộ quản lí trong thích ứng 90
Bảng 4 4 So sánh TNXP Tp Hồ Chí Minh với TNXP các tỉnh, thành khác 91
Bảng 4 5 So sánh theo thâm niên làm việc của TNXP 93
Bảng 4 6 Thay đổi nhận thức về vai trò giữ gìn trật tự giao thông 93
Bảng 4 7 Thay đổi nhận thức về nhiệm vụ giữ gìn trật tự giao thông 94
Bảng 4 8 Thay đổi nhận thức về cách điều khiển giao thông 95
Bảng 4 9 Thay đổi nhận thức về các kĩ năng giữ gìn trật tự giao thông 96
Bảng 4 10 Thay đổi hiểu biết về Luật giao thông đường bộ 97
Bảng 4 11 Biểu hiện thích ứng về mặt nhận thức của TNXP 100
Bảng 4 12 Thái độ đối với việc tìm hiểu, nghiên cứu luật giao thông đường bộ 101
Bảng 4 13 Thái độ đối với công tác tuần tra giao thông 102
Bảng 4 14 Thái độ trong việc giải quyết ùn tắc giao thông 102
Bảng 4 15 Thái độ đối với học tập, hình thành kĩ năng giữ gìn trật tự giao thông 103
Bảng 4 16 Biểu hiện thích ứng về mặt thái độ của TNXP 104
Bảng 4 17 Thay đổi hành vi đối với việc điều khiển giao thông 106
Bảng 4 18 Thay đổi hành vi đối với việc tuần tra giao thông 107
Bảng 4 19 Thay đổi hành vi ứng xử đối với người tham gia giao thông 107
Bảng 4 20 Thay đổi hành vi trong việc phối hợp với đồng nghiệp, Cảnh sát giao thông 108 Bảng 4 21 Biểu hiện thích ứng về mặt hành động của TNXP 109
Bảng 4 22 Kinh nghiệm công tác của TNXP 112
Bảng 4 23 Hứng thú của Thanh niên xung phong 113
Bảng 4 24 Ý thức tự rèn luyện của Thanh niên xung phong 115
Bảng 4 25 Cơ sở hạ tầng giao thông và môi trường 118
Bảng 4 26 Người tham gia giao thông 119
Bảng 4 27 Sự phối hợp với đồng nghiệp và sự hỗ trợ của Cảnh sát giao thông 121
Bảng 4 28 Chế độ chính sách đối với TNXP 121
Bảng 4 29 Công tác quản lí hoạt động giữ gìn trật tự giao thông 122
Bảng 4 30 Đánh giá chung các yếu tố ảnh hưởng 124
Bảng 4 31 Thay đổi về mặt thái độ ở thời điểm trước và sau thực nghiệm 127
Bảng 4 32 Thay đổi về mặt hành vi ở thời điểm trước và sau thực nghiệm 129
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4 1 Tương quan giữa các mặt của thích ứng 88
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Muốn hoạt động đạt được mục đích, có hiệu quả cao, con người phải thích ứng với hoạt động Nghĩa là con người phải lĩnh hội được các yêu cầu của hoạt động, biến đổi bản thân để đáp ứng được với các yêu cầu của hoạt động, làm cho hoạt động đạt hiệu quả cao nhất Do đó, thích ứng với hoạt động vừa là yêu cầu đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả, vừa là sản phẩm của quá trình hoạt động
Để đạt được những thành quả trong hoạt động, con người phải luôn hướng tới sự thích ứng với hoạt động mình tham gia Sự thích ứng với hoạt động là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong hoạt động của
cá nhân Việc thích ứng với hoạt động không chỉ đơn thuần là làm cho con người phù hợp với công việc, phù hợp với môi trường hoạt động mà còn góp phần hoàn thiện nhân cách con người Mỗi hoạt động đều có những tính chất
và nội dung khác nhau, hướng tới sự thích ứng với hoạt động, con người phải hình thành và rèn luyện những thuộc tính tâm lí cá nhân đảm bảo sự phù hợp với những yêu cầu và đòi hỏi của một hoạt động nhất định Như vậy, trong quá trình thích ứng, con người thu được những tri thức mới, hình thành những
kĩ năng, kĩ xảo mới; những phẩm chất và năng lực quan trọng, đảm bảo cho
con người thành công trong hoạt động
Từ đó có thể thấy: thích ứng có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của con người, giúp con người hoạt động có hiệu quả Thích ứng tạo ra sự thay đổi, giúp con người chủ động, sáng tạo và nâng cao hiệu quả hoạt động mình tham gia Nghiên cứu và áp dụng các tri thức về thích ứng của con người với hoạt động là rất cần thiết Giao thông được ví như mạch máu trong
cơ thể con người, giữ gìn trật tự giao thông đang trở thành vấn đề quan trọng của đời sống xã hội TNXP là lực lượng thanh niên xung kích tham gia giữ
Trang 7gìn trật tự giao thông, duy trì sự ổn định, an toàn cho người tham gia giao thông Tuy nhiên, hoạt động giữ gìn trật tự giao thông ở các thành phố lớn gặp nhiều khó khăn do hạ tầng giao thông chưa phù hợp, mật độ người và phương tiện giao thông cao, ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của người điều khiển phương tiện giao thông, hành khách và người tham gia giao thông chưa nghiêm túc Ngoài tai nạn giao thông đường bộ gây tổn hại về người và tài sản thì vấn nạn “ùn tắc giao thông” làm lãng phí rất lớn thời gian, chúng ta không thể đến nơi làm việc đúng giờ, sự tiêu tốn nhiên liệu, khấu hao phương tiện giao thông và nhất là thời gian làm việc quý giá của cả xã hội
do ùn tắc giao thông gây ra là khó có thể đo lường hết được Có thể nói, cả guồng máy xã hội và cả nền kinh tế quốc gia bị ảnh hưởng tiêu cực mỗi ngày, liên tục từ năm này qua năm khác bởi các vấn nạn ùn tắc giao thông đang có chiều hướng ngày càng gia tăng “Ùn tắc giao thông” vào giờ cao điểm đã trở thành một hiện tượng tâm lí – xã hội trên đường phố, nơi mà lực lượng tham gia giữ gìn trật tự giao thông phải đối mặt với những khó khăn, thách thức như là tình trạng “lộn xộn” của đường phố, trật tự giao thông hỗn loạn do người tham gia giao thông thường xuyên vi phạm quy tắt chung khi lưu thông trên đường, ứng xử - giao tiếp trong giao thông chưa phù hợp… bên cạnh đó
âm thanh từ phương tiện giao thông, khói, bụi, sự ô nhiễm từ môi trường giao thông cũng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, tâm lí lực lượng tham gia giữ gìn trật tự giao thông Việc nghiên cứu thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghề nghiệp của TNXP, đồng thời góp phần giải quyết từng bước vấn nạn ùn tắc giao thông hiện nay tại các thành phố lớn
Môi trường giao thông bao hàm hàng loạt yếu tố, quá trình và điều kiện
từ hạ tầng giao thông với ý nghĩa xã hội và những chuẩn mực hành vi của người tham gia giao thông cho đến các mối quan hệ xúc cảm giữa các thành phần tham gia giao thông Các mối quan hệ xã hội trong hoạt động giữ gìn
Trang 8trật tự giao thông, bằng sự đa dạng, phong phú và tính chất của chúng, là một yếu tố điều chỉnh chủ yếu trong quá trình thích ứng với hoạt động giữ gìn trật
tự giao thông Các mối quan hệ xã hội mà trong đó con người sống và làm việc có thể kích thích, thúc đẩy sự phát triển của cá nhân nhưng cũng có thể kìm hãm nó Sự phát triển của cá nhân bị quy định bởi sự phát triển của tất cả các cá nhân khác mà những cá nhân đó có quan hệ trực tiếp Tham gia giữ gìn trật tự giao thông đặt cá nhân vào một hệ thống các mối quan hệ phức tạp, nhất là về phương diện giao tiếp xã hội Hoạt động giữ gìn trật tự giao thông vừa đòi hỏi giáo dục những kĩ năng nghề nghiệp, vừa đòi hỏi khả năng thích ứng, sự trưởng thành xã hội cho cá nhân Thích ứng với lao động ngày nay không những không làm giảm vai trò của con người trong lĩnh vực hoạt động lao động, mà nó còn là yêu cầu và điều kiện tạo ra những đặc điểm mới trong nhân cách con người
Về thực tiễn, nhận thức được tầm quan trọng của thích ứng nghề nghiệp trong cuộc sống, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu tập trung trong quá trình đào tạo nghề, các nghiên cứu thích ứng trong hoạt động nghề nghiệp còn ít, chưa có nghiên cứu thích ứng trong hoạt động giữ gìn trật tự giao thông
Xuất phát từ những lí do nêu trên, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của Thanh niên xung
phong Thành phố Hồ Chí Minh” là cần thiết và có ý nghĩa
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận về thích ứng và thực trạng thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nâng cao mức độ thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP
Trang 92.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1 Làm rõ tình hình nghiên cứu về thích ứng với hoạt động giữ gìn trật
tự giao thông của Lực lượng Thanh niên xung phong trong và ngoài nước 2.2.2 Xây dựng cơ sở lí luận nghiên cứu thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của thanh niên xung phong (làm rõ các khái niệm thích ứng, thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP, các biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP)
2.2.3 Khảo sát, đánh giá thực trạng biểu hiện và mức độ thích ứng, các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.4 Đề xuất và tổ chức thực nghiệm một số biện pháp nâng cao mức độ thích ứng đối với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP thành phố
Hồ Chí Minh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu về thích ứng có rất nhiều nội dung: Bản chất của thích ứng, đặc điểm thích ứng, quá trình thích ứng, biểu hiện và mức độ thích ứng … Nhưng trong khuôn khổ của đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu lí luận về thích ứng, làm rõ thực trạng biểu hiện và mức độ thích ứng của TNXP với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông về mặt tâm lí – xã hội, sự khác biệt thực trạng đó theo giới tính, vị trí công tác, thời gian làm việc, nơi cư trú
Hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP gồm: Điều tiết, phân luồng giao thông; Bảo vệ hiện trường tai nạn giao thông; Bảo vệ các thiết bị,
hạ tầng giao thông trên các tuyến đường; Hoạt động tuần tra, giữ gìn an ninh
Trang 10trật tự trên các tuyến đường và chương trình lễ hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh… Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng biểu hiện và mức độ thích ứng của TNXP đối với hoạt động điều tiết, phân luồng giao thông trên các tuyến đường, hoạt động phối hợp trong giữ gìn trật tự giao thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
3.2.2 Phạm vi về địa điểm nghiên cứu
Các đội viên TNXP tham gia giữ gìn trật tự giao thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
3.2.3 Phạm vi về khách thể nghiên cứu
Khách thể khảo sát là 450 Đội viên TNXP Khách thể thực nghiện là 50 Đội viên TNXP Ngoài ra còn phỏng vấn 10 Đội viên TNXP, 5 cán bộ quản lí trong Lực lượng TNXP Thành phố Hồ Chí Minh, 6 Cảnh sát giao thông và 20 người tham gia giao thông
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở quan điểm tiếp cận hoạt động Điều này
có nghĩa là sự thích ứng của TNXP được hình thành và củng cố qua hoạt động giữ gìn trật tự giao thông hàng ngày của họ
- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở quan điểm hệ thống Điều này có nghĩa
sự thích ứng của TNXP được xem xét một cách toàn diện, được tìm hiểu trên
cơ sở tương tác biện chứng giữa các yếu tố chủ quan và khách quan
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
a Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
b Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trang 115 Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1 Đóng góp về mặt lí luận
Nghiên cứu sự thích ứng của TNXP với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông là vấn đề nghiên cứu mới Do vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung một số vấn đề lí luận của thích ứng, hệ thống hoá các khái niệm
cơ bản thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP: Thích ứng, giữ gìn trật tự giao thông, hoạt động giữ gìn trật tự giao thông, thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông, TNXP và thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP
5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
- Nghiên cứu sự thích ứng của TNXP với hoạt động giữ gìn trật tự giao
thông đã chỉ ra được các mặt biểu hiện và mức độ thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP ở mức độ cao, tuy nhiên biểu hiện cụ thể trong từng mặt có sự khác biệt ý nghĩa:
Về mặt nhận thức, TNXP có sự thay đổi nhận thức ở mức cao bao gồm: thay đổi nhận thức về vai trò giữ gìn trật tự giao thông, thay đổi nhận thức về nhiệm vụ giữ gìn trật tự giao thông và thay đổi nhận thức về các kĩ năng giữ gìn trật tự giao thông; Nhận thức về cách điều khiển giao thông tại các giao lộ
và hiểu biết về Luật giao thông đường bộ thay đổi ở mức trung bình
Về mặt thái độ, TNXP có sự thay đổi thái độ ở mức cao bao gồm: thay đổi thái độ trong việc giải quyết ùn tắc giao thông; thay đổi thái độ đối với việc tìm hiểu, nghiên cứu Luật Giao thông đường bộ; thay đổi thái độ đối với học tập, hình thành kĩ năng giữ gìn trật tự giao thông Thái độ đối với công tác tuần tra giao thông thay đổi ở mức độ trung bình
Về mặt hành vi, TNXP có sự thay đổi hành vi ở mức cao bao gồm: thay đổi hành động ứng xử đối với người tham gia giao thông; thay đổi hành động trong việc phối hợp với đồng nghiệp, cảnh sát giao thông; thay đổi hành động đối với việc điều khiển giao thông Hành động đối với việc tuần tra giao thông thay đổi ở mức trung bình
Trang 12Kết quả nghiên cứu thực trạng cũng xác định các yếu tố khách quan, chủ quan ảnh hưởng nhiều và tương đối đồng đều lên các mặt thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP Yếu tố khách quan ảnh hưởng nhiều nhất là người tham gia giao thông, cơ sở hạ tầng giao thông và môi trường, yếu tố chủ quan ảnh hưởng nhiều nhất là kinh nghiệm công tác của bản thân, ý thức tự rèn luyện bản thân Sự phối hợp của đồng nghiệp và sự hỗ trợ của Cảnh sát giao thông ít ảnh hưởng đến thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP
- Đề xuất và tổ chức thực nghiệm để nâng cao mức độ thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP: Cung cấp tri thức để nâng cao hiểu biết về thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP, về
kĩ năng giao tiếp - ứng xử, kĩ năng tuyên truyền giáo dục người tham gia giao
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa về mặt lí luận
Để tạo ra năng suất lao động cao chúng ta phải chú ý nhiều mặt từ việc
tổ chức lao động khoa học, đảm bảo an toàn lao động, xây dựng bầu không khí lao động tập thể, động viên khen thưởng trong lao động tất cả các mặt
đó của lao động đều cần đến các tri thức tâm lí Thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP có ý nghĩa quan trọng trong lao động, giúp con người chủ động, tích cực lĩnh hội hoạt động giữ gìn trật tự giao thông
Trang 136.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP có ý nghĩa thực tiễn xã hội, tạo ra điều kiện cho sự ứng dụng của tri thức tâm lí vào cuộc sống, phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp giữ gìn trật tự giao thông và phục vụ cuộc sống xã hội Sự tích cực, chủ động thay đổi nhận thức, thái độ
và hành vi giữ gìn trật tự giao thông của TNXP thực sự đi vào cuộc sống, phục vụ thực tiễn tham gia giữ gìn trật tự giao thông của TNXP
7 Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận và kiến nghị; Danh mục các công trình
đã công bố; Tài liệu tham khảo; Phụ lục, luận án gồm 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về thích ứng và thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của Thanh niên xung phong; Chương 2: Cơ sở lí luận nghiên cứu thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của Thanh niên xung phong; Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu; Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của Thanh niên xung phong Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THÍCH ỨNG VÀ THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG GIỮ GÌN TRẬT TỰ GIAO THÔNG
CỦA THANH NIÊN XUNG PHONG
Cho đến nay, vấn đề thích ứng tâm lí đã được các nhà nghiên cứu xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, nhiều khách thể với nhiều lĩnh vực khác nhau Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi không có điều kiện đề cập một cách hệ thống toàn bộ các công trình nghiên cứu về sự thích ứng Trong phần tổng quan, chúng tôi trình bày những quan điểm của các nhà tâm lí học về thích ứng và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo hai hướng: Các công trình nghiên cứu thích ứng trong quá trình đào tạo nghề; các đề tài nghiên cứu thích ứng hoạt động nghề nghiệp Thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP được xem là thích ứng hoạt động nghề nghiệp
1.1 Các công trình nghiên cứu về thích ứng
Trong tâm lí học có nhiều nghiên cứu với những quan điểm khác nhau
về thích ứng xuất phát từ những trường phái tâm lí học khác nhau
1.1.1 Các nghiên cứu của tâm lí học chức năng về thích ứng
Spencer H khởi xướng bàn về vấn đề thích ứng trong tâm lí học Ông cho rằng, cuộc sống là sự thích nghi liên tục của các quan hệ bên trong với bên ngoài [87, tr.132] Chịu ảnh hưởng của học thuyết tiến hoá của Darwin, H.Spencer cho rằng chọn lọc tự nhiên là quy luật cơ bản của thích ứng tâm lí, thể hiện ở việc cá thể biến đổi hành vi loài một cách hợp lí trước những yêu cầu của môi trường xung quanh Các hiện tượng tâm lí, ý thức là hình thức của sự thích ứng được biểu hiện bằng hệ thống hành vi Như vậy, theo Spencer H thích ứng là chức năng của tâm lí, ý thức người Luận điểm của Spencer H có ý nghĩa lớn trong nghiên cứu tâm lí, đặc biệt trong nghiên cứu thích ứng Tuy nhiên, hạn chế của Spencer H là xem thích ứng tâm lí có cùng bản chất với thích nghi sinh học, tuân theo quy luật của thích nghi sinh học
Trang 15William James (1842-1910), người đặt nền móng cho tâm lí học chức năng, đã kế tục và phát triển lí thuyết thích ứng của H.Spencer Theo W James, ý thức có tính chức năng, mục đích của ý thức là giúp cá nhân thích ứng với môi trường [19, tr.21-29]
Các nhà tâm lí học chức năng quan tâm cá nhân sử dụng chức năng tâm lí để thích ứng với những biến đổi của môi trường sống như thế nào? Nguyên tắc căn bản trong nghiên cứu tâm lí của các nhà tâm lí học chức năng
là xem xét chức năng thích ứng của tâm lí và con đường để cá nhân thích ứng trước sự thay đổi của môi trường Theo W.James, tâm lí học phải nghiên cứu xem các hiện tượng tâm lí tồn tại để phục vụ cái gì? Cá nhân sử dụng các chức năng tâm lí để thích ứng với các biến đổi của môi trường như thế nào?
Từ đó, con người tìm ra những con đường để thích ứng có hiệu quả với môi trường sống [93] Có thể nói, tâm lí học chức năng là trường phái đầu tiên trong tâm lí học đề cập vấn đề thích ứng
Tuy còn những hạn chế nhất định như nhìn nhận sự thích ứng của con người dưới góc độ sinh vật, chưa thấy hết được vai trò của các yếu tố xã hội,
song tâm lí học chức năng đã có công lớn trong việc đưa thuyết tiến hoá vào
tâm lí học, đưa vấn đề thích ứng trở thành một trong những vấn đề trung tâm của tâm lí học và những tư tưởng cơ bản của tâm lí học chức năng về vấn đề thích ứng đã được nhiều trường phái tâm lí học kế thừa, trong đó có tâm lí học hoạt động
1.1.2 Các nghiên cứu của phân tâm học về thích ứng
Sigmund Freud (1856 - 1939) người sáng lập trường phái Phân tâm học Xuất phát từ cách nhìn sinh vật đối với nhân cách, Freud cho rằng, nhân cách của con người là một cấu trúc tổng thể gồm ba thành tố: “cái nó” (id),
“cái tôi” (ego) và “cái siêu tôi” (superego) “Cái nó” là động lực của con người, là nơi khu trú của các bản năng như đói, khát, tình dục , trong đó
Trang 16quan trọng nhất là tình dục và huỷ diệt “Cái nó” tồn tại tách biệt với môi trường bên ngoài, hoạt động theo nguyên tắc thoả mãn, luôn đòi hỏi thoả mãn một cách mù quáng “Cái tôi” là một tổ chức chặt chẽ của các quá trình tinh thần, của ý thức, hoạt động theo nguyên tắc thực tế, dựa vào điều kiện thực tế
để thoả mãn đòi hỏi của “cái nó” “Cái tôi” làm cho hành vi thoả mãn những dục vọng của “cái nó” trở nên phù hợp với thực tế “Cái tôi” có khả năng trì hoãn, không thoả mãn ngay những đòi hỏi của “cái nó” cho đến khi tìm được một đối tượng thích hợp thoả mãn được những đòi hỏi đó mà không gây nguy hại cho con người “Cái siêu tôi” là phần xã hội của con người, bao gồm những giá trị, chuẩn mực đã được nội tâm hoá, chủ yếu bằng con đường vô thức và được xem như là phần đạo đức, lương tâm của con người “Cái siêu tôi” hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt, phê phán, có xu hướng áp chế hoàn toàn những dục vọng xuất phát từ cái nó “Cái siêu tôi” có thể chống lại
cả “cái nó” và “cái tôi”, bắt con người phải tuân theo các chuẩn mực xã hội
Ba thành tố: “cái nó”, “cái tôi” và “cái siêu tôi” sẽ vận hành theo cơ chế: “cái nó” xuất hiện những nhu cầu cơ bản, những đòi hỏi thoả mãn, “cái tôi” sẽ kiềm chế những thúc đẩy này cho đến khi có giải pháp thực tế, còn “cái siêu tôi” thì sẽ xem xét xem liệu những giải pháp này có chấp nhận được về mặt đạo đức - xã hội hay không Để tồn tại, con người phải đạt được sự cân bằng,
sự hài hoà, thống nhất giữa “cái nó” và “cái siêu tôi” - đó chính là sự thích ứng Sự thích ứng chính là sự thoả mãn hợp lí trong những điều kiện xã hội nhất định của các bản năng tính dục Sự phát triển “cái tôi” nhân cách là kết quả của sự thích ứng qua các giai đoạn khác nhau của đời sống cá nhân
Để có được sự cân bằng giữa “cái nó” và “cái siêu tôi” không đơn giản, vì thế con người cần đến những cơ chế mà Freud gọi là cơ chế phòng
vệ Có hàng loạt cơ chế phòng vệ trong đó chủ yếu là: dồn nén; phủ nhận; phóng chiếu; hợp lí hoá; giải toả; di chuyển; huyễn tưởng; thăng hoa Các
cơ chế phòng vệ cũng chính là các cơ chế thích ứng, cơ chế đảm bảo cho sự
Trang 17cân bằng của đời sống tinh thần Xuất phát từ cách nhìn sinh vật đối với nhân cách, S.Freund đã không thấy được bản chất xã hội - lịch sử của sự thích ứng ở con người
Các đại diện tiêu biểu khác là Carl Jung (1875 - 1961), Fromm E (1900 - 1980), Erikson E (1902 - 1994) xây dựng thuyết Phân tâm học hiện đại, họ cho rằng “cái tôi” có vai trò quan trọng trong sự thích ứng cá nhân, là chủ thể của hành vi chứ không chỉ là phương thức thoả mãn “cái nó”
Mặc dù bị phê phán nhiều, đặc biệt là quan điểm về vai trò của bản năng tình dục và xâm kích trong đời sống con người, các nhà Phân tâm học
vẫn được ghi nhận vì nhiều đóng góp trong việc giải thích bản chất, cơ chế
của sự thích ứng tâm lí và cho rằng con người không phải là ngoại lệ sinh học,
sự trưởng thành và phát triển của đứa trẻ là quá trình thích nghi sinh học và thích ứng tâm lí, đặc biệt phát hiện vai trò của vô thức, bản năng, xung đột tâm lí trong quá trình thích ứng, hậu quả của việc kém thích ứng và các cách giải toả những hậu quả này
1.1.3 Các nghiên cứu của tâm lí học hành vi về thích ứng
John Broadus Watson (1878 - 1958) - người sáng lập tâm lí học hành
vi, kế thừa quan điểm của nhà tâm lí học động vật Thorndike E (1874 1949), Watson J mô tả hành vi theo công thức S - R (kích thích - phản ứng) Watson J cho rằng sự thích ứng của người và động vật giống nhau, để tồn tại, con người và động vật đều phải học được một hệ thống hành vi, ứng xử phù hợp với kích thích, phù hợp với môi trường Mỗi hành vi cụ thể có cơ sở
-là các kinh nghiệm, hành vi cũ và có động lực -là sự thích ứng Đó -là quá trình cá nhân học được những hành vi mới cho phép nó giải quyết những yêu cầu, những đòi hỏi của cuộc sống Không học được hoặc học được nhưng không đáp ứng được yêu cầu của môi trường, tức là thích ứng kém
Trang 18Lí thuyết hành vi của Watson J đã coi con người là một cơ thể sống với một hệ thống hành vi, phản ứng đáp lại kích thích của bên ngoài nhằm thích ứng với môi trường, con người “không phải là một chủ thể chủ động hoạt động trong môi trường xã hội, tác động và làm biến đổi môi trường đó,
mà là các cơ thể, cá thể thụ động đối lập với áp lực của môi trường” [44]
Về sau Edward Chace Tolman (1886-1959), Clark Leonard Hull 1952), Burrhus Frederic Skinner (1904-1990)… đã có rất nhiều cố gắng trong giải thích các hiện tượng thích ứng ở người nhưng vẫn không khắc phục được hạn chế coi hành vi thích ứng hoàn toàn bị quyết định bởi những kích thích, tác động của môi trường
(1884-Trường phái hành vi với việc chỉ ra mức độ thích ứng đầu tiên của con
người là phản ứng trực tiếp đối với các kích thích của môi trường, đồng thời phát hiện bản chất của thích ứng chính là học tập - học tập là cơ chế cơ bản
để sinh vật thích ứng với môi trường, điều này đã đóng góp vào việc nghiên cứu vấn đề học tập, cơ chế hình thành hành vi thích ứng Hạn chế của trường
phái hành vi là xem thích ứng trong học tập ở người và động vật là cùng bản chất (chỉ khác về mức độ)
1.1.4 Các nghiên cứu của tâm lí học nhân văn về thích ứng
Trường phái tâm lí học nhân văn ra đời vào đầu thập niên 1960, người sáng lập là Abraham Maslow (1908 - 1970) và Carl Rogers (1902 - 1987)
Nếu như tâm lí học hành vi đồng nhất tâm lí người với tâm lí động vật, phân tâm học nhấn mạnh yếu tố vô thức, thì tâm lí học nhân văn lại nghiên cứu những con người bình thường và động lực của họ, bao gồm cả sự phát triển nhân vị và phát triển xã hội Maslow A coi thích ứng là sự thể hiện được những cái vốn có của cá nhân trong những điều kiện sống nhất định Theo ông, tiền đề tạo ra sự thích ứng là một hệ thống nhu cầu của nhân cách, được sắp xếp theo thứ bậc, mà cao nhất là nhu cầu tự thể hiện - một nhu cầu bẩm sinh nhưng có tính chất nhân văn, chỉ xuất hiện khi các nhu cầu bậc thấp được
Trang 19thoả mãn [98] Maslow A cho rằng nhu cầu tự thể hiện, mong muốn phát triển hết mức những khả năng vốn có của bản thân và năng lực lựa chọn một cách có ý thức những mục tiêu hành động của nhân cách là yếu tố quyết định
sự thích ứng của con người
Tâm lí học nhân văn coi thích ứng chính là quá trình con người nỗ lực,
cố gắng thoả mãn các nhu cầu cá nhân của mình, trong đó mức độ cao là nhu cầu gia nhập vào các nhóm xã hội, hiện thực hoá đầy đủ tiềm năng của mình Quá trình này, ngoài nỗ lực của bản thân, còn phụ thuộc vào một yếu tố đặc biệt quan trọng, đó là môi trường xã hội
Trong vấn đề thích ứng, tâm lí học nhân văn chỉ ra một cách tiếp cận
mới, một cách nhìn mới: thích ứng không tách rời quá trình con người vươn
tới những mục tiêu của cuộc đời Và như vậy ở đây, chắc chắn mức độ thành công của một người là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá mức độ thích ứng của người đó Tuy nhiên tâm lí học nhân văn vẫn chưa giải quyết được vấn đề
bản chất xã hội của thích ứng tâm lí người cũng như cơ chế hình thành thích ứng tâm lí
1.1.5 Các nghiên cứu của tâm lí học nhận thức về thích ứng
Jean Piaget (1896 - 1989) là một trong những nhà tâm lí học hàng đầu thế kỷ XX, đại diện tiêu biểu của tâm lí học nhận thức Ông chuyên nghiên cứu về sự phát triển nhân cách trẻ em dưới góc độ thích nghi Piagiet J nghiên cứu nhận thức của con người trong mối quan hệ với môi trường, gắn liền lí thuyết nhận thức của mình với khái niệm thích ứng Theo Piagiet, “sự phát triển tâm lí là quá trình cải tổ, chuyển hoá các cấu trúc của các quá trình nhận thức vốn có của trẻ em đưa đến sự thích nghi, thích ứng” [31] Cũng theo ông, cơ cấu nhận thức của mỗi người là một hệ thống sơ đồ (scheme), tức phản xạ, nhờ đó cá nhân tương tác với môi trường
Với Piagiet J., quá trình thích ứng tinh thần cũng tương tự như thích ứng sinh học, cho nên ông dùng những thuật ngữ sinh học để mô tả cơ chế thích
Trang 20ứng tinh thần nhưng với nghĩa rộng, đó là đồng hoá (assimilation) và điều ứng (accommodation)
- Đồng hoá là quá trình cơ thể tiếp nhận chất dinh dưỡng từ môi trường bên ngoài và biến thành chất dinh dưỡng của cơ thể Đồng hoá trí tuệ - nhận thức là quá trình não tiếp nhận thông tin từ bên ngoài, xử lí thông tin và biến chúng thành cái có nghĩa cho bản thân trong quá trình thích ứng với môi trường Theo Piagiet J., trong khi tương tác với môi trường, cá nhân có được kinh nghiệm Nếu kinh nghiệm này phù hợp với cơ cấu nhận thức hiện có của
cá nhân, nó sẽ được tiếp thu - đó là đồng hoá Piagiet J cho rằng sự đồng hoá giúp cho chủ thể trở nên nhạy cảm hơn với những kích thích và bản thân cấu
trúc nhận thức thì "thay đổi và phong phú thêm theo những sự đồng hoá mới"
[51, tr.11] Nghĩa là con người sẽ thích ứng tốt hơn nhờ sự đồng hoá [90]
- Điều ứng là quá trình thích nghi của chủ thể với những đòi hỏi đa dạng của môi trường, bằng cách tái lập lại những đặc điểm của khách thể vào cái đã có, qua đó biến đổi sơ đồ đã có, tạo ra sơ đồ mới Nếu kinh nghiệm đó không phù hợp với cơ cấu nhận thức của cá nhân, sự mất cân bằng diễn ra và
cơ cấu nhận thức sẽ được thay đổi để nó có thể tiếp nhận kinh nghiệm - đó là điều ứng Chính điều ứng làm cho cơ cấu nhận thức của cá nhân phát triển thêm nhiều cơ cấu mới, giúp cá nhân tương tác phù hợp và hiệu quả với môi trường, duy trì sự cân bằng với môi trường
- Cân bằng là sự bù trừ lẫn nhau giữa hai quá trình đồng hoá và điều ứng Để tạo lập được sự thích nghi và phát triển của cơ thể thì cần phải thiết lập được sự cân bằng giữa đồng hoá và điều ứng với nhiều mức độ khác nhau
là cân bằng sinh học và cân bằng tâm lí
Tóm lại, thích ứng là quá trình kép gồm đồng hoá và điều ứng, trong đó
cơ cấu nhận thức của cá nhân được biến đổi cả về chất và phát triển phong phú hơn để cá nhân tiếp thu những kinh nghiệm vốn ban đầu không phù hợp
Trang 21với cơ cấu nhận thức Quá trình này, về bản chất, tương tự như quá trình trao đổi chất giữa cơ thể và môi trường trong sinh học nhưng ở trình độ cao hơn
Lí thuyết nhận thức của Piaget J đã giải quyết được nhiều vấn đề cơ bản của tâm lí học, đặc biệt là sự phát triển về trí khôn của trẻ em, tuy nhiên nhìn nhận sự phát triển tâm lí người dưới góc độ thích nghi sinh học, ông chú
ý về mặt hình thức của sự thích ứng mà chưa quan tâm đúng mức tới bản chất, nội dung xã hội - lịch sử của sự thích ứng tâm lí người
1.1.6 Các nghiên cứu của tâm lí học hoạt động về thích ứng
Tâm lí học hoạt động (tâm lí học mác-xít, tâm lí học duy vật biện chứng) ra đời đầu thế kỷ XX, lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở lí luận và phương pháp luận Đại diện của Tâm lí học hoạt động là các nhà tâm lí học Xô viết Vưgôtxki L.X (1896 - 1934); Leônchev A.N (1903 - 1979), Rubinstein (1889 - 1960), Luria A.R (1902 - 1997), Ganperin P.Ia (1902 - 1988)
Theo các nhà tâm lí học hoạt động, vấn đề thích ứng mà các trường phái tâm lí nghiên cứu đã không thể hiện đúng bản chất quan hệ giữa con người với môi trường - coi con người chỉ là một thực thể sinh học với bản năng quyết định (S.Freud), con người như “cái máy phản ứng” (chủ nghĩa hành vi), hay con người như “cái tôi” thầm kín sinh vật (Piaget J.) Theo các nhà tâm lí học hoạt động, con người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể
xã hội nên ngoài việc xem xét con người trong sự thích nghi với môi trường sống như là một sinh vật, phải xem xét con người trong mối quan hệ với môi trường xã hội
Vưgôtski L.X., một trong những nhà tâm lí học sáng lập ra trường phái tâm lí học hoạt động, đã đưa ra tư tưởng mới về bản chất sự thích nghi ở con người Theo ông: “Con người có một hình thức thích nghi mới và đây là cơ chế cân bằng chủ yếu của cơ thể với môi trường, dạng thức hành vi này nảy sinh trên cơ sở các tiền đề sinh vật nhất định, nhưng đã vượt ra ngoài phạm
Trang 22trù sinh vật, tạo nên một hệ thống hành vi có chất lượng khác và theo một tổ chức mới” [16, tr.130] Vưgôtski gọi dạng thức hành vi chuyên biệt người này
là “hành vi cấp cao” Hệ thống hành vi cấp cao này khác biệt về chất lượng so với hành vi sinh vật Con người không thụ động trước các kích thích mà làm chủ các hành vi của mình nhờ việc tự tạo ra các kích thích tác động lên bản thân mình Qua việc phát hiện ra cơ chế hình thành và điều khiển hành vi ở cá nhân, ông đã chỉ rõ sự khác biệt cơ bản giữa thích ứng tâm lí ở người và thích nghi sinh học ở động vật
Kế thừa và phát triển tư tưởng của Vưgôtski, Lêonchiev A.N đã phân tích sự khác biệt cơ bản về chất giữa thích nghi sinh vật với thích ứng ở con người Theo ông, quá trình thích nghi sinh vật là quá trình thay đổi các thuộc tính của loài, năng lực của cơ thể và hành vi của cơ thể; còn quá trình lĩnh hội (tiếp thu) ở người là quá trình cá thể tái tạo lại được những năng lực và chức năng người đã hình thành trong quá trình lịch sử Cũng theo Lêonchiev A.N., hành vi của động vật và hành vi ở người khác nhau về cơ chế hình thành, hành vi ở động vật được hình thành bởi kinh nghiệm loài và cá thể Trong đó,
sự hình thành kinh nghiệm cá thể là đem hành vi loài thích nghi với những yếu tố biến động của môi trường bên ngoài; còn ở người, hành vi được hình thành bằng cơ chế lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội lịch sử Với việc vạch
ra sự khác biệt về chất giữa thích nghi sinh vật và thích ứng tâm lí - xã hội của con người, Lêonchiev A.N đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu hiện tượng này về phương diện lí luận lẫn thực tiễn
Tâm lí học hoạt động nghiên cứu tâm lí người trong sự thống nhất tâm
lí, ý thức, nhân cách và hoạt động, theo cách tiếp cận hoạt động, đã giải quyết vấn đề thích ứng tâm lí về mặt lí luận một cách khoa học và toàn diện
Theo tâm lí học hoạt động, cuộc sống là dòng các hoạt động Hoạt động
là phương thức hình thành, tồn tại và phát triển của tâm lí người Hoạt động của con người là sự tác động qua lại giữa con người và thế giới, nhằm biến
Trang 23đổi thế giới và biến đổi bản thân Thông qua hoạt động với đối tượng, chủ thể lĩnh hội nội dung và phương thức hoạt động ẩn tàng trong đó, biến thành cái riêng của mình, hình thành tâm lí, ý thức, nhân cách Hai quá trình: nhập tâm
và xuất tâm chính là quá trình thích ứng của con người với môi trường, bởi nhờ hai quá trình này mà sự trao đổi giữa con người và thế giới bên ngoài diễn ra: cái tâm lí bên trong được chuyển ra thế giới bên ngoài và ngược lại cái từ thế giới bên ngoài được chuyển vào bên trong Nghĩa là hoạt động sẽ đưa đến sự "hài hoà", sự "cân bằng", sự "tương thích" giữa con người và môi trường
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là cứ tham gia vào hoạt động thì con người sẽ thích ứng với môi trường, và mọi người cùng tham gia vào một hoạt động thì sẽ thích ứng với môi trường ở mức độ như nhau Ở đây các nhà tâm lí học hoạt động nhấn mạnh rằng môi trường chỉ tác động vào con người
ở chừng mực mà con người tác động vào môi trường Nói cách khác, một yếu
tố rất quan trọng đối với kết quả của sự tương tác giữa con người và môi trường, tức của quá trình thích ứng, đó là tính tích cực của chủ thể, mức độ thích ứng phụ thuộc vào hoạt động và hiệu quả của nó, chủ thể càng tích cực trong hoạt động thì cường độ sự trao đổi giữa con người và môi trường càng lớn và vì thế càng thích ứng với môi trường Để thích ứng được con người phải hoà nhập được vào hoạt động, chiếm lĩnh nó với tư cách là một chủ thể tích cực Mặt khác, phải nắm được nội dung và cách thức hoạt động được định hình trong công cụ cùng với những điều kiện của nó Thích ứng là quá trình cá nhân bằng hoạt động của chính mình với tư cách là chủ thể nắm lấy các công cụ, phương tiện đã được xã hội tạo ra, hình thành, phát triển thêm năng lực người mới để có được những ứng xử đáp được đòi hỏi của cuộc sống
và hoạt động trong những điều kiện xã hội - lịch sử nhất định của nó Sự thích ứng và hoạt động có mối quan hệ hai mặt:
Trang 24+ Con người phải thích ứng với bản thân hoạt động Hoạt động chỉ có kết quả khi cá nhân thích ứng được với nó
+ Hoạt động là phương thức, đồng thời là biểu hiện khách quan của sự thích ứng tâm lí của cá nhân
Quá trình thích ứng bằng hoạt động của cá nhân được thực hiện trong điều kiện giao tiếp xã hội Bởi vậy có thể khẳng định giao tiếp là điều kiện của sự thích ứng con người Bên cạnh đó, ta thấy cá nhân để tồn tại và phát triển trong xã hội phải chiếm lĩnh những giá trị, chuẩn mực xã hội thông qua giao tiếp Như vậy, con người phải thích ứng với giao tiếp xã hội, có như vậy con người mới cân bằng được các quan hệ xã hội, thực hiện chúng một cách
có kết quả
Tóm lại, với tâm lí học hoạt động, thích ứng được thực hiện bằng cơ chế hoạt động và giao tiếp Thích ứng là quá trình tác động qua lại giữa con người và môi trường, trong đó con người lĩnh hội kinh nghiệm, hình thành những phẩm chất tâm lí, những phương thức hành vi mới đảm bảo cho sự tác động trở lại phù hợp, hiệu quả của con người đối với môi trường Quá trình thích ứng diễn ra trong hoạt động, giao tiếp, biểu hiện trong hoạt động, giao tiếp và vì vậy cũng được đánh giá bằng hiệu quả của hoạt động và giao tiếp
Từ những luận điểm cơ bản trên của tâm lí học hoạt động về bản chất của thích ứng tâm lí người, một số nhà tâm lí học đã đi sâu và tiếp tục giải quyết các vấn đề thích ứng cả về mặt lí luận và thực tiễn Về mặt lí luận phải
kể đến các công trình nghiên cứu của Ermolaeva E.A - với các chỉ số đặc trưng cho sự thích ứng nghề; Andreeva D.A - phân biệt thích ứng tâm lí người với thích nghi sinh học; Serbacov A.I - nhấn mạnh sự làm quen với điều kiện và đặc điểm của hoạt động cũng là quá trình thích ứng; Golomstoor E.A - biểu hiện thích ứng nghề là con người lĩnh hội và thực hiện lao động có kết quả, tình cảm thoả mãn với công việc của mình…
Trang 251.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của Thanh niên xung phong
1.2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1 Các công trình nghiên cứu về thích ứng trong quá trình đào tạo nghề
Năm 1963, Andreeva DA tiếp cận vấn đề thích ứng theo quan niệm
nhân cách, coi thích ứng là một vấn đề của nhân cách: “Có thể xem thích ứng
là một quá trình xây dựng chế độ hoạt động tối ưu và có mục đích của nhân cách” Theo bà, thích ứng tâm lí khác biệt về chất so với thích nghi sinh học,
là một quá trình thích nghi đặt biệt của con người với tư cách là chủ thể tích cực thâm nhập vào những điều kiện sống mới Khái niệm thích ứng học tập vì vậy được dùng với ý nghĩa là quá trình tự học của sinh viên” [93]
Năm 1968, Arkoff A trong tác phẩm “Adjustmant and mental health”
(Thích ứng và sức khoẻ tinh thần) [80] công bố công trình nghiên cứu của mình về sự thích ứng tâm lí, bao gồm cả sự thích ứng học tập của học sinh và
sinh viên Theo Arkoff A., sự thích ứng nói chung của con người gồm các chỉ
số sau: Hạnh phúc, sự hài hòa, lòng tự trọng, sự phát triển cá nhân, sự hội nhập cá nhân, khả năng tiếp xúc với môi trường, sự độc lập với môi trường
Năm 1970, các nhà tâm lí học trường Đại học Tomsk đã tiến hành nghiên cứu thực trạng kĩ năng học tập của sinh viên, nhằm tìm ra các biện pháp tác động phù hợp giúp họ nhanh chóng thích ứng với quá trình học tập
và đạt kết quả học tập cao Kết quả nghiên cứu cho thấy kĩ năng học tập của sinh viên còn nhiều mặt yếu Các tác giả đã tiến hành giảng dạy các chuyên
đề cho sinh viên về cách nghe và ghi bài giảng trên lớp, cách sử dụng giáo trình và tài liệu tham khảo, cách chuẩn bị một đề cương thảo luận… Việc tổ chức dạy học cho sinh viên theo các chuyên đề kết hợp giảng bài, thảo luận tập thể và tham gia rèn luyện kĩ năng thực hành có hướng dẫn của giáo viên
đã đem lại kết quả tốt, trong thời gian ngắn sinh viên đã thay đổi phương pháp học và đạt kết quả học tập cao hơn
Trang 26Năm 1979, N.I Inanôv, A.V Clêrêmôv nghiên cứu thích ứng nghề nghiệp của sinh viên trường Đại học Kim loại - Mỏ mang tên G.I Nôsôva Nghiên cứu khẳng định: “thích ứng là một quá trình phức tạp và nhiều mặt Thích ứng nhanh hay chậm đối với việc học tập ở trường đại học có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập” Từ đó, khi bàn về thích ứng học tập các tác giả đã đưa ra hai loại thích ứng học tập: Thích ứng ban đầu trong thời gian mới nhập học và thích ứng nói chung
Năm 1990, B.P Allen ở Đại học Tổng hợp California (Mỹ) cho rằng: sinh viên muốn thích ứng với việc học tập ở trường đại học phải hình thành các kĩ năng như: Kĩ năng sử dụng quỹ thời gian cá nhân; kĩ năng học tập (ghi bài, đọc sách, chuẩn bị và tiến hành thi…); kĩ năng chế ngự cảm xúc tiêu cực
để vượt qua khó khăn trong học tập, kiểm tra đánh giá kết quả học tập; kĩ năng chủ động lựa chọn các hình thức học tập và kĩ năng hình thành các thói quen (hành vi) nghề nghiệp [85]
Năm 1994, L.J Nason (Mỹ) trong tác phẩm “Học thế nào cho tốt” đã
nghiên cứu 2 kĩ năng quan trọng đối với hoạt động học của sinh viên là chuẩn bị nghe giảng và làm việc độc lập với sách Theo ông, cần phân chia kĩ năng thành nhiều giai đoạn khác nhau tương ứng với các nhiệm vụ cụ thể để giúp sinh viên có thêm tri thức bổ ích hoàn thiện cách học và nâng cao chất lượng học tập [29]
Năm 1999, Chritabel Zhang trong bài viết “Valuing cultural diversty in
student learning: the academic adjustment experiences of international Chinese student” (Đánh giá sự đa dạng văn hóa trong hoạt động học của sinh
viên: Sự thích ứng học tập của sinh viên Trung quốc ở nước ngoài) đã nghiên cứu sự thích ứng học tập của sinh viên Trung Quốc du học tại Australia chỉ ra rằng những yếu tố chính ảnh hưởng tới sự thích ứng học tập của những sinh viên này là ngôn ngữ, phương pháp dạy học, bản chất mối quan hệ tương tác giữa người học với người học khi xây dựng nền tảng cho bậc học cao hơn
Trang 27[107] Những kết luận này có ý nghĩa khoa học giúp cho các nhà quản lí giáo dục tổ chức tốt các lớp học có nhiều thành phần học sinh thuộc nhiều dân tộc, nhiều quốc gia Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đều chưa có số liệu thống kê minh hoạ
1.2.1.2 Các công trình nghiên cứu thích ứng với hoạt động nghề
Để hoạt động nghề nghiệp đạt hiệu quả, đòi hỏi cá nhân phải lĩnh hội được những kiến thức và những yêu cầu của nghề trong điều kiện xã hội lịch
sử cụ thể; người học nghề không ngừng trau dồi kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp Khi con người thích ứng với hoạt động nghề nhiệp,
họ sẽ chủ động, tích cực trong công việc, an tâm làm việc, say mê, dồn hết tâm trí, khả năng của mình vào hoạt động, lúc này họ sẽ thực hiện công việc
dễ dàng, khả năng sáng tạo lớn và hiệu suất lao động cao Thính ứng nghề nghiệp là một vấn đề rất quan trọng, vì thế trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thích ứng nghề nghiệp, chúng ta có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Năm 1969, ở Liên Xô (cũ), giáo sư Ermolaeva E.A khi nghiên cứu
“Đặc điểm của sự thích ứng xã hội và nghề nghiệp của người sinh viên tốt nghiệp trường sư phạm” đã đưa ra khái niệm thích ứng và những chỉ số đặc
trưng cho sự thích ứng nghề nghiệp ở người sinh viên đã tốt nghiệp trường sư
phạm Theo bà: “Thích ứng nghề nghiệp là một quá trình thích nghi của
người mới lao động với đặc điểm và điều kiện lao động trong tập thể nhất định” Bà đưa ra bốn chỉ số khách quan và ba chỉ số chủ quan của sự thích
Trang 28Bà cũng chỉ ra được thời điểm mà sự thích ứng xuất hiện, đó là: “Khi
làm quen với những điều kiện mới đó kéo theo những sự tiêu tốn sức lực nhất định” Mặc dù chỉ nghiên cứu lĩnh vực thích ứng lao động, nhưng ý kiến của
Ermolaeva E.A góp phần làm sáng tỏ thêm lí luận về sự thích ứng, nhất là vấn đề chỉ số của sự thích ứng
Năm 1979, Serbacov A.I và Mudric A.V nghiên cứu “Sự thích ứng
nghề nghiệp của người thầy giáo” Các tác giả có quan điểm về thích ứng gần
với Ermolaeva E.A., nhưng nhấn mạnh bản thân sự làm quen với điều kiện và đặc điểm của hoạt động (lao động) cũng được xem như là quá trình thích ứng,
“Thích ứng nghề nghiệp của người thầy giáo là quá trình thích nghi với những điều kiện thực tế của hoạt động sư phạm thể hiện ở nhà giáo dục trẻ khi mới vào công tác ở trường phổ thông” Cũng trong quá trình nghiên cứu về thích ứng nghề nghiệp của người giáo viên, Serbacov A.I và Mudric A.V đã đi sâu phân tích yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng đến hiệu quả thích ứng nghề nghiệp
Năm 1979, Pine G.J thuộc Đại học Boston nghiên cứu “Teacher
adaptation of research findings” (Sự thích ứng của giáo viên trong nghiên
cứu), kết quả nghiên cứu cho thấy, để thích ứng với hoạt động nghề nghiệp, người giáo viên trước tiên phải thích ứng được với những phương pháp giảng dạy rất thông thường; khi thích ứng được với các phương pháp thông thường
họ mới tự tin đổi mới phương pháp Pine G.J cho rằng, thích ứng của giáo viên với nghiên cứu khoa học, là một tiêu chí đánh giá sự phát triển nghề nghiệp; thích ứng của giáo viên với hoạt động nghiên cứu khoa học là một tiêu chí để đánh giá thích ứng nghề của giáo viên trong giai đoạn hiện nay [99, tr.28]
Năm 1980, trong tạp chí “Những vấn đề tâm lí học” số 4, Krintreva
A.A đã trình bày những nghiên cứu của mình về những đặc điểm tâm lí của
sự thích ứng đối với sản xuất ở những học sinh mới ra trường, ở trường Trung
Trang 29cấp kĩ thuật chuyên nghiệp và ở trường Phổ thông trung hoc Bà cho rằng:
“Thích ứng là quá trình làm quen với sản xuất, là quá trình gia nhập dần với
sản xuất”, đồng thời bà cũng đưa ra một số chỉ số đặc trưng của sự thích ứng
nghề: Nhanh chóng nắm vững chuyên ngành sản xuất, các chuẩn mực kĩ thuật; Sự phát triển tay nghề; Vị thế xã hội của mình trong tập thể; Sự hài lòng với công việc [17]
Năm 1987, Ở Phần Lan, Vôlanen M.B quan tâm đến vấn đề thích ứng nghề nghiệp và tâm thế xã hội đối với việc làm của thanh niên Kết quả nghiên cứu của ông cho thấy giữa việc học nghề và lao động nghề của thanh niên tồn tại một thời kỳ chuyển tiếp có thể kéo dài đến 5 - 7 năm, được đặc trưng bởi hàng loạt sự kiện như thất nghiệp, những công việc tạm thời, thậm chí cả sự thay đổi ngành nghề Volanen xem đây là giai đoạn thích ứng nghề của thanh niên và tâm thế của họ đối với việc làm phụ thuộc vào việc ở giai đoạn này có diễn ra sự thích ứng nghề hay không
Năm 2001, trong bài viết “Adapting Vocational Psychology to Cope
with Change” (Thích ứng tâm lí nghề để đương đầu với mọi thay đổi), tác giả
Hesketh.B đã đề cập đến việc đào tạo công nghệ mới cho người lao động phải tạo điều kiện cho họ nhanh chóng thích ứng công nghệ đó và hình thành được các kĩ năng cần thiết [92, tr.203-212] Tác giả cho rằng cần cho người lao động thích ứng với tâm lí nghề để họ sẵn sàng đương đầu với mọi thay đổi, không chỉ cung cấp cho người lao động tri thức nghề mà điều rất quan trọng là hình thành
kĩ năng nghề cho họ
Năm 2006, Anna Kopeloviča, Leonards Žukovs thuộc Đại học Latvian
nghiên cứu “Adaptation of Young Teachers at School” (Thích ứng của giáo viên trẻ tại trường học) [81]
Năm 2007, Shcheglova S N nghiên cứu “Characteristics of
Schoolteachers' Adaptation to the Values of computerization” (Các đặc trưng
Trang 30thích ứng của giáo viên phổ thông đối với các giá trị của việc sử dụng máy tính), tác giả cho rằng thích ứng của giáo viên với những giá trị xã hội thông tin là phương pháp độc đáo đòi hỏi tính tích cực trong giảng dạy [87, tr.33-42] Công trình nghiên cứu của Shcheglova S.N đã góp phần khẳng định đòi hỏi tất yếu của thế kỷ XXI đối với con người nói chung và giáo viên nói riêng Muốn tồn tại, muốn cống hiến được tốt trong hoạt động nghề nghiệp của mình người giáo viên phải thích ứng với sự biến đổi của xã hội, cụ thể là thích ứng với công nghệ thông tin
Năm 2008, trong Cẩm nang Tâm lí học do Cartwright & Cooper S.C biên soạn được ấn hành tại Đại học Oxford, Hesketh B & Griffin B biên
soạn chương: “Selection and training for work adjustment and adaptability”
(Sự lựa chọn và đào tạo đối với sự thích ứng công việc) Trong chương này, các tác giả đề cập đến việc lựa chọn và đào tạo nghề phải chú ý tới khả năng thích nghi của con người và yêu cầu của xã hội [90]
Từ các nghiên cứu trên của các tác giả, chúng tôi thấy các tác giả đã đề cập đến khái niệm thích ứng nghề nghiệp, các yếu tố chủ quan, khách quan và những chỉ số đặc trưng cho thích ứng nghề nghiệp Các tác giả đều có xu hướng cho rằng, thích ứng nghề nghiệp là quá trình thích nghi với những đặc điểm lao động và điều kiện của quá trình lao động; thích ứng nghề nghiệp là quá trình nhận thức và hành động, trong quá trình đó con người nảy sinh tình cảm đối với nghề
1.2.2 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.2.1 Các công trình nghiên cứu về thích ứng trong quá trình đào tạo nghề
Năm 1996, luận án tiến sĩ của Đỗ Mạnh Tôn “Nghiên cứu thích ứng với
học tập và rèn luyện của học viên trường Sỹ quan quân đội”, kết quả nghiên cứu
cho thấy thích ứng với học tập và rèn luyện của học viên trường Sỹ quan quân đội phụ thuộc vào động cơ học tập và xu hướng nghề nghiệp quân sự [65]
Trang 31Năm 2002, Lê Ngọc Lan công bố kết quả nghiên cứu đề tài “Sự thích
ứng với hoạt động thực hành môn học của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội” Tác giả kết luận: Thích ứng là một cấu trúc tâm lí gồm hai yếu tố: Nắm
được các phương thức hành vi thích hợp đáp ứng yêu cầu của cuộc sống và hoạt động; hình thành những cấu tạo tâm lí mới tạo nên tính chủ thể của hành
vi và hoạt động Hai yếu tố này gắn bó chặt chẽ với nhau giúp con người điều chỉnh được hệ thống thái độ, hành vi hiện có, hình thành được hệ thống thái
độ, hành vi mới phù hợp với môi trường đã thay đổi Thích ứng với cuộc sống
và hoạt động ở môi trường mới có nhiều yêu cầu cao hơn, là một quá trình lâu dài Tốc độ và kết quả của quá trình đó phụ thuộc rất nhiều vào sự nỗ lực, vào
ý thức và khả năng của mỗi sinh viên Tác giả kiến nghị, cần xây dựng cho người học phương pháp học tập phù hợp với chương trình học mới để giúp họ thích ứng tốt hơn với học tập ở trường đại học Đây là một công trình nghiên cứu có ý nghĩa cả về mặt lí luận và thực tiễn Tác giả đã chỉ ra được các thành phần tâm lí của thích ứng và các yếu tố chi phối thích ứng với học tập ở trường đại học [28]
Năm 2003, Nguyễn Xuân Thức thử nghiệm biện pháp nâng cao sự thích ứng với hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa cho học sinh phổ thông của
sinh viên sư phạm [62, tr.25-28] và đi đến kết luận: Việc cung cấp cho sinh viên
hiểu biết về quy trình và kĩ năng tiến hành tổ chức hoạt động ngoại khóa cho học sinh phổ thông là biện pháp khả thi để nâng cao sự thích ứng của sinh viên với loại hình thực tập giáo dục - tổ chức ngoại khóa cho học sinh
Năm 2003, Nguyễn Thạc nghiên cứu sự thích ứng đối với hoạt động học tập của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Nhà trẻ Mẫu giáo Trung ương 1 Tác giả cho rằng: sinh viên chưa thích ứng được với việc học tại trường là do trình độ học lực, do chưa quen với phương pháp học tập mới và cách giảng
của giáo viên, do thay đổi môi trường học tập [57, tr.21-24]
Trang 32Trong 2 năm học 2002 - 2003 và 2003 - 2004, nhằm mục đích định hướng cho hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên, tác giả Nguyễn Xuân Thức đã tiến hành nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên Đại học sư phạm Hà Nội trên ba mặt: nhận thức về các nội dung rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và hành vi rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Kết quả nghiên cứu: nhìn chung, tất cả các sinh viên đều thích ứng với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm nhưng mức độ thích ứng không cao, chỉ ở mức trung bình và khá; hơn nữa, sự thích ứng của sinh viên là không đồng đều trên các mặt được nghiên cứu Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã chỉ ra hai nhóm nguyên nhân chủ quan và khách quan cản trở sự thích ứng với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên Nhóm nguyên nhân chủ quan bao gồm: sự thiếu hiểu biết, chưa thấy đầy đủ ý nghĩa, tác dụng của nội dung hoạt động, hạn chế của cá nhân, thiếu hứng thú, thiếu thời gian và các điều kiện khác, và cuối cùng là sự thiếu nỗ lực của sinh viên Nhóm nguyên nhân khách quan bao gồm: sự tổ chức chưa thường xuyên, công tác tổ chức lớp chưa tốt, những nguyên nhân từ phía giáo viên hướng dẫn và cuối cùng là điều kiện về cơ sở vật chất [64, tr.46-48]
Năm 2008, luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Thanh Mai nghiên cứu “Mức độ
thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên hệ cao đẳng trường Đại học Công nghiệp Hà Nội”, tác giả kết luận: sinh viên hệ cao đẳng thích ứng
không giống nhau với hoạt động thực hành môn học tại trường Mức độ thích ứng với hoạt động thực hành môn học của sinh viên chịu sự chi phối của nhiều yếu tố, các yếu tố chủ quan như: chỉ số phát triển thông minh, kiểu tính cách, sức khỏe, sự nỗ lực cá nhân các yếu tố khách quan như: việc tổ chức đào tạo của nhà trường, sự nhiệt tình và phương pháp dạy học của GV luận
Trang 33án đã cung cấp số liệu rất cụ thể về khả năng thích ứng của sinh viên với hoạt động thực hành môn học [41]
Năm 2009, Đặng Thị Lan trong luận án tiến sĩ Tâm lí học, nghiên cứu
“Mức độ thích ứng với hoạt động học một số môn học chung và môn đọc hiểu tiếng nước ngoài của sinh viên trường Đại học ngoại ngữ - Đại học quốc gia
Hà Nội” Tác giả kết luận: Sinh viên trường ĐHNN - ĐHQG Hà Nội thích
ứng thấp với hoạt động học một số môn học chung So với mức độ thích ứng với hoạt động học một số môn học chung thì mức độ thích ứng với hoạt động học môn Đọc hiểu tiếng nước ngoài của sinh viên thấp hơn Tổ chức và hướng dẫn sinh viên thực hành các hành động học cơ bản nâng cao được mức
độ thích ứng với hoạt động học một số môn học chung và môn Đọc hiểu tiếng nước ngoài của sinh viên Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội [26]
Năm 2015, Nguyễn Thị Hiền trong luận án tiến sĩ Tâm lí học, nghiên
cứu “Sự thích ứng với nghề công tác xã hội của sinh viên ngành công tác xã
hội” Tác giả kết luận: Sự thích ứng nghề công tác xã hội là quá trình biến đổi
tâm lí của sinh viên nhằm vượt qua khó khăn của bản thân, khắc phục trở ngại khó khăn trong việc học nghề đáp ứng yếu cầu nghề công tác xã hội Sinh viên thích ứng với nghề công tác xã hội ở mức độ trung bình, thích ứng tốt nhất là thái độ đối với nghề nghiệp và thấp nhất là hành vi đối với nghề [6]
1.2.2.2 Các công trình nghiên cứu thích ứng với hoạt động nghề
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về sự thích ứng nghề nghiệp chưa nhiều Tác giả Nguyễn Văn Hộ đã có nhiều công trình nghiên cứu giá trị
về giáo dục hướng nghiệp và thích ứng nghề, đặc biệt với tác phẩm “Thích ứng sư phạm”, tác giả đã đưa ra các khái niệm về thích ứng, thích ứng sư phạm, phân tích các nội dung hình thành khả năng thích ứng về lối sống cho sinh viên sư phạm, hình thành khả năng thích ứng tay nghề trong quá trình đào tạo cho sinh viên sư phạm: thích ứng với quy trình lên lớp, thích ứng với hoạt động giảng dạy trên lớp, thích ứng với hoạt động thiết kế nội dung công
Trang 34tác chủ nhiệm lớp, thích ứng với hoạt động ứng xử trong công tác giáo dục… bên cạnh đó tác giả cũng đã đề ra một số giải pháp giúp sinh viên đại học sư phạm thích ứng với nghề dạy học [22]
Năm 2005, tác giả Lê Hương lại đề cập trên thực tiễn vấn đề rất mang tính thời sự của nền kinh tế thị trường non trẻ ở nước ta, đó là mối liên hệ giữa thái độ đối với công việc và năng lực thích ứng, cạnh tranh của người lao động hiện nay [21, tr.1-5]
Năm 2011, Nguyễn Chí Tăng nghiên cứu “Sự thích ứng của giáo viên
trung học cơ sở với ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy”,
kết quả nghiên cứu của luận án: Hầu hết giáo viên trung học cơ sở thích ứng với ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy ở mức trung bình Mức độ thích ứng của giáo viên trung học cơ sở đối với ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy có sự khác nhau giữa giáo viên trên ba địa bàn (thành thị, đồng bằng và trung du miền núi), giữa giáo viên dạy các môn học, giữa giáo viên thuộc các độ tuổi Các yếu tố: trình độ tin học; ý chí của giáo
viên; tính cách cá nhân; sự hỗ trợ, giúp đỡ của tập thể; quản lí của lãnh đạo nhà
trường; điều kiện vật chất ảnh hưởng đến sự thích ứng của giáo viên với ứng dụng ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy Biện pháp cung cấp kiến thức, tổ chức thực hành ứng dụng ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy góp phần nâng cao được mức độ thích ứng của giáo viêntrung học cơ sở với ứng dụng ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giảng dạy [56]
Năm 2015, Nguyễn Thị Thanh Nga trong luận án tiến sĩ Tâm lí học, nghiên cứu “sự thích ứng với hoạt động dạy học của giáo viên tiểu học mới vào nghề”Tác giả kết luận: Sự thích ứng của giáo viên tiểu học mới vào nghề
là quá trình người giáo viên mới tham gia dạy học cho học sinh tiểu học và cơ
sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục trong khoảng thời gian 5 năm đầu, chủ động thay đổi nhận thức, thái độ và kĩ năng để vượt qua khó khăn, trở ngại nhằm đáp ứng yêu cầu của hoạt động dạy học Mức độ sự thích ứng với hoạt động dạy học của giáo viên tiểu học mới vào nghề đạt mức trung bình
Trang 35Trong quá trình tham gia hoạt động dạy học người giáo viên có sự thay đổi về mặt nhận thức và thái độ nhiều hơn sự thay đổi kĩ năng dạy học [31]
Tóm lại, các công trình nghiên cứu đã góp phần hoàn thiện cơ sở lí luận của thích ứng tâm lí, cung cấp những số liệu rất khách quan về thực trạng thích ứng làm cơ sở minh họa cho các kết luận khoa học; Các nghiên cứu thích ứng tập trung nhiều vào thích ứng trong quá trình học nghề ở các mặt hoạt động khác nhau: thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên; quan hệ giữa động cơ, thái độ của sinh viên trước khi vào đại học với sự thích ứng học tập ở trường đại học; nghiên cứu mối quan hệ giữa thích ứng học tập với sức khỏe tinh thần; thích ứng với kĩ năng làm việc ở thư viện của sinh viên; ảnh hưởng của phong cách học tập của sinh viên tới thích ứng học tập; thích ứng với rèn luyện, thực hành nghề của sinh viên … Các công trình nghiên cứu thích ứng nghề nghiệp còn ít và các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào thích ứng của giáo viên trong hoạt động nghề nghiệp Về nghiên cứu thích ứng với hoạt động giữ gìn trật tự giao thông của TNXP thì hiện chưa có đề tài nào nghiên cứu, do vậy tôi chọn lĩnh vực này làm đề tài nghiên cứu
Trang 36Chương 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG GIỮ GÌN TRẬT TỰ GIAO THÔNG CỦA THANH NIÊN XUNG PHONG 2.1 Khái quát chung về thích ứng
2.1.1 Thuật ngữ thích ứng
Thuật ngữ “thích ứng” xuất phát từ tiếng La Tinh là Adapto (từ điển Tâm lí học của Raymond.J, Corsini, Mỹ, 1999) Trong tiếng Anh, thích nghi, thích ứng là Adaption/Adaptation” (Từ điển Anh - Việt, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh, 1996), tiếng Nga thích nghi, thích ứng là AдапTáция (Từ điển Nga - Việt, tập I nhà xuất bản văn hóa - thông tin Hà Nội, 2003), tiếng Đức thích nghi, thích ứng là Adaption/Adaptation (Từ điển Đức - Việt hiện đại, tập 1, nhà xuất bản Lao động Xã hội, 2004)
Thuật ngữ “thích nghi” (adaptation, adaption) ban đầu mang ý nghĩa sinh học, đó là sự thay đổi hành vi loài trong hành vi của cá thể nhằm đáp ứng được sự thay đổi của điều kiện sống để tồn tại Về sau, thuật ngữ
“thích nghi” được dùng trong Tâm lí học và được chuyển thành thuật ngữ
“thích ứng” Ngày nay thuật ngữ “thích nghi”, “thích ứng” được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học khác nhau
2.1.2 Khái niệm thích ứng
Thích ứng trong các từ điển thể hiện hai điểm:
- Giữa thích ứng và thích nghi có điểm chung, thích ứng là một phần của thích nghi:
“Sổ tay tâm lí học” do Trần Hiệp và Đỗ Long chủ biên: “Thích nghi: sự thích ứng về cấu tạo và chức năng của cơ thể bao gồm cả các cơ quan và tế bào của nó đối với điều kiện của môi trường Thích nghi xã hội có 2 nghĩa: (1) Quá trình thích nghi tích cực của cá nhân đối với những điều kiện của môi trường xã hội mới; (2) kết quả của quá trình trên” [20, tr.51]
Trang 37Từ điển Tiếng Việt “thích nghi: có những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh môi trường mới, Thích ứng: (1) Có những thay đổi cho phù hợp với điều kiện mới, yêu cầu mới (2) Như thích nghi” [68] Như vậy
có sự khác biệt giữa thích ứng và thích nghi, coi thích ứng là sự biến đổi của con người phù hợp môi trường và hoạt động
Trong từ điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội viết: “Thích nghi là những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh, với môi trường mới, thích nghi với các nếp sinh hoạt mới Còn thích ứng là những thay đổi cho phù hợp với các điều kiện mới, lối làm việc thích ứng với tình hình mới”
Từ điển Tâm lí học do Nguyễn Khắc Viện (chủ biên) cho rằng mọi sinh vật và con người sống được trong môi trường có nhiều biến động bằng cách thay đổi chính bản thân hoặc tìm cách thay đổi môi trường Thích nghi, thích ứng: một sinh vật sống được trong môi trường có nhiều biến động, bằng cách thay đổi phản ứng của bản thân hoặc tìm cách thay đổi môi trường Bước đầu
là điều chỉnh những phản ứng sinh lí (như thích nghi với nhiệt độ cao hay thấp, môi trường khô hay ẩm) sau là thay đổi cách ứng xử, đây là thích ứng tâm lí [75, tr.356]
Từ điển Tâm lí học do Vũ Dũng (chủ biên), “thích ứng”: “phản ứng của
cơ thể với những thay đổi của môi trường Về nguyên tắc, có hai phương thức thích ứng khác nhau của cơ thể đối với những thay đổi các điều kiện của môi trường:
- Thích ứng bằng cách thay đổi cấu tạo và hoạt động của các cơ quan; đây là phương thức phổ biến đối với động vật và thực vật
- Thích ứng bằng cách thay đổi hành vi mà không thay đổi tổ chức, phương thức này chỉ đặc trưng cho động vật và gắn liền với sự phát triển tâm
lí Phương thức thích ứng này được phân chia thành 2 hướng khác nhau:
Trang 38+ Thay đổi chậm những hình thức hành vi được kế thừa - bản năng, mà
sự tiến hoá của những bản năng này diễn ra dưới ảnh hưởng của những thay đổi môi trường với tốc độ chậm
+ Phát triển năng lực học tập của cá nhân, năng lực “hành động hợp lí”
- những thay đổi nhanh của hành vi, “sáng tạo” ở mức độ nhất định những phương thức hành vi mới để đáp lại những thay đổi nhanh của môi trường mà bản năng bị bất lực; những hoạt động này không nhất thiết phải cố định, phải
di truyền, vì sự ưu việt của chúng là tính mềm dẻo cao; vì vậy, chỉ có những khả năng hành động quy định thứ bậc cao của tổ chức tâm lí của sinh vật mới được di truyền” [4, tr.807]
Như vậy, thích ứng là sự thay đổi tâm lí (nhận thức, thái độ, hành vi) của chủ thể nhằm vượt qua những trở ngại, khó khăn để tồn tại và phát triển trong môi trường sống
Từ sự phân tích khái niệm thích ứng dưới góc độ tâm lí học, chúng ta
có thể thấy các nhà tâm lí học hiện nay đa số tán thành thuật ngữ “thích
ứng” bắt nguồn từ “thích nghi” trong sinh học song nhấn mạnh sự khác nhau
về chất giữa hai khái niệm này
Thích nghi là một phạm trù cơ bản dùng để chỉ các quá trình biến đổi
về cấu trúc và chức năng của cơ thể sinh vật nhằm duy trì sự cân bằng của quan hệ cơ thể - môi trường trong điều kiện môi trường thay đổi
Thích nghi được thể hiện ở hai trình độ:
+ Thích nghi sinh học: Là trình độ đầu tiên, thấp nhất - còn gọi là tính chịu kích thích - có ở mọi sinh vật, mọi loài Đặc trưng của trình độ này là khả năng cơ thể đáp lại những kích thích trực tiếp về mặt lí hoá từ môi trường một cách chậm chạp, tạo ra những biến đổi ổn định của cơ thể Cơ chế của thích nghi sinh học là di truyền, biến dị và chọn lọc tự nhiên
+ Thích ứng: Là thích nghi ở trình độ mới Thích ứng bao gồm ba mức độ:
Trang 39Mức độ thích ứng sinh lí, đây là trình độ đầu tiên của thích ứng, là những phản ứng có tính chất tự động, quan hệ giữa cơ thể với môi trường là quan hệ trực tiếp Cơ chế của thích ứng sinh lí là những phản xạ không điều kiện - thích ứng ở mức độ này chỉ có ở động vật có hệ thần kinh với tư cách là cấu trúc phản ánh chuyên biệt
Mức độ thích ứng tâm lí là khả năng của cơ thể đáp lại được những kích thích có tính chất tín hiệu từ phía môi trường Cơ chế của thích ứng tâm
lí là cơ chế phản xạ không điều kiện, động vật đã thoát ra khỏi sự cân bằng trực tiếp giữa cơ thể và môi trường Hình thức thích ứng này có ở cả người và động vật khi có hệ thần kinh phát triển, đáp ứng được những kích thích gián tiếp, đoán trước hoặc tái tạo gần kề
Mức độ thích ứng tâm lí - xã hội, đây là mức độ thích ứng cao nhất Sự cân bằng giữa cơ thể và môi trường ở trình độ này cân bằng tích cực, tự giác;
là cân bằng tạo ra môi trường mới: môi trường xã hội có đặc trưng là hoạt động và giao tiếp Thích ứng tâm lí - xã hội là quá trình tương tác giữa con người và môi trường xã hội, quá trình con người làm quen, thâm nhập vào môi trường xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp Đây là một quá trình tích cực, thường xuyên và liên tục Những thay đổi của môi trường luôn đặt ra trước con người những vấn đề nhất định Để giải quyết những vấn đề này, trong quá trình thích ứng, con người phải huy động tâm lí – ý thức sẵn có, lĩnh hội kinh nghiệm và những phương thức hành vi mới Con người thích ứng với môi trường là con người giải quyết thành công những vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ con người - môi trường Nói cách khác, thích ứng là quá trình diễn ra sự điều chỉnh nội dung và phương thức của hoạt động, giao tiếp của cá nhân để phù hợp với điều kiện môi trường xã hội và hoạt động mới nhằm tồn tại và phát triển
Trang 40Cơ chế của sự thích ứng tâm lí - xã hội chủ yếu là lao động Chủ nghĩa Mác cho rằng nội dung của sự thích ứng này là bằng hoạt động tích cực, con người lĩnh hội nền văn hoá, hình thành kiểu ứng xử mới, điều chỉnh hành vi
cũ cho phù hợp với yêu cầu, điều kiện của hoạt động và quan hệ mới Hình thức thích ứng này chỉ có ở con người và mối quan hệ cơ thể và môi trường, ở trình độ thích ứng này sẽ là mối quan hệ cân bằng giữa chủ thể với môi trường xã hội
Như vậy, nói tới thích ứng ở con người cần hiểu là con người có tất cả hình thức cân bằng của thế giới vật chất, có tất cả các trình độ của sự thích nghi và cao nhất là thích ứng tâm lí - xã hội
Đề tài luận án đi theo quan điểm của tâm lí học hoạt động Nói tới thích ứng ở con người, điểm chung trong quan điểm của các nhà tâm lí học đó là: cần hiểu là con người có tất cả hình thức cân bằng của thế giới vật chất, có tất
cả các trình độ của sự thích nghi và cao nhất là thích ứng tâm lí - xã hội
Từ phân tích trên, chúng tôi xác định: Thích ứng là quá trình thay đổi
nhận thức, thái độ và hành vi của chủ thể nhằm đáp ứng yêu cầu và điều kiện mới của môi trường sống
Sự thích ứng xuất hiện do tác động của những yêu cầu, điều kiện mới của môi trường hoạt động hoặc môi trường sống Sự thích ứng bắt đầu ở thời điểm con người làm quen với điều kiện mới của môi trường, và kết thúc khi hoạt động đạt được mục đích đặt ra Cơ chế của sự thích ứng là sự lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử theo nguyên tắc chuyển từ ngoài vào trong để hình thành những cấu tạo tâm lí mới cho phép cá nhân có những hành vi, ứng
xử đáp ứng đòi hỏi của điều kiện sống và hoạt động mới