ua một thời gian giảng dạy ,tôi nhận thấy rằng đối với trẻ mẫu giáo nhất là trẻ em 5 tuổi tất cả các hoạt động đều rất quan trọng ,hoạt động nào cũng đưa kiến thức và tính giáo dục cao đến với trẻ.Nhưng ở lớp tôi,đa số các cháu đã là trẻ 5 tuổi rất cần nâng cao hoạt động tăng cường tiếng việt,chính vì vậy tôi thấy hoạt động này rất quan trọng đối với trẻ trước khi lên lớp 1,bậc tiểu học.ở trường mẫu giáo phải trang bị cho trẻ biết đọc biết nói tiếng việt một cách thuận thục và chính xác từ đó giúp trẻ tiền biết đọc tiền biết viết đó là một kỷ năng cần thiết để chuẩn bị cho việc học ở lớp 1 một cách tự trin hơn. Vì vậy bản thân tôi muốn góp một phần nào đó với đề tài “Tăng cường tiếng việt mà tôi đã được rút ở trường qua quá trình học tập nghiên cứu và giảng dạy. Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội. Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết và là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc. Ngôn ngữ là tấm gương phản ánh văn hoá của mỗi dân tộc. Các dân tộc thiểu số của Việt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trong sinh hoạt cộng đồng của họ, đồng thời họ cũng sử dụng Tiếng Việt để giao tiếp với cộng đồng người Việt trên toàn quốc, đồng thời được cung cấp giáo dục, y tế, giải trí, thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng bằng chữ Quốc ngữ. Sự giao thoa văn hoá ngôn ngữ làm phong phú thêm cho nền văn hoá của người thiểu số, đồng thời cũng làm thay đổi cuộc sống, kinh tế và vị thế của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt anh em. Có thể nói rằng “cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta thực sự là một cộng đồng song ngữ” tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc và tiếng Việt của người Kinh. Việc quan trọng trong trường mầm non cần làm là giúp trẻ trước độ tuổi đi học phát triển tốt ngôn ngữ, phù hợp với từng lứa tuổi và sự phát triển chung của trẻ. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người. Do đó, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hàng ngày, không có ngôn ngữ đứa trẻ không thể phát triển thành người một cách thực thụ. Muốn nói được, muốn giao tiếp được với mọi người xung quanh thì đứa trẻ phải được trải qua quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ trong môi trường nhất định. Thực tế cho thấy đối với những trẻ thành thạo tiếng phổ thông việc giao tiếp và thu nhận tri thức và thực hiện những yêu cầu của giáo viên một cách rất dễ dàng song đối với trẻ dân tộc thiểu số đây là cả một vấn đề khó khăn và đòi hỏi nhà giáo dục cần phải có những biện pháp phù hợp.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Một số biện pháp nâng cao tăng cường tiếng việt cho trẻ 5 tuổi lớp ghép Như chúng ta đã biết,Tăng cương tiếng việt cũng là một môn học hay là một hoạt động học cũng đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của nền văn minh nhân loại,đó chính là những thách thức đối với nền giáo dục.Khi nói tới đều này ,chúng ta lại nghĩ đến những chồi non mà không ai hết ,chính là những đứa trẻ đặt nền móng cho tương lai,hơn nữa căn cứ vào nhiệm vụ năm học đó là : đổi mới phương pháp sáng tạo và hình thức dạy và học nhằm nâng cao chất lượng học tập Vì thế mà tôi lúc nào cũng băn khoăn suy nghĩ và luôn mong muốn rằng làm sao dể dạy dổ các cháu có thể vươn cao hơn nữa ,ham thích ,của mình ,những năng khiếu vốn có vào trong các hoạt động ở lơp để cháu trở thành một người tốt ,một có ích cho xã hội
Qua một thời gian giảng dạy ,tôi nhận thấy rằng đối với trẻ mẫu giáo nhất là trẻ em 5 tuổi tất cả các hoạt động đều rất quan trọng ,hoạt động nào cũng đưa kiến thức và tính giáo dục cao đến với trẻ.Nhưng ở lớp tôi,đa số các cháu đã là trẻ 5 tuổi rất cần nâng cao hoạt động tăng cường tiếng việt,chính vì vậy tôi thấy hoạt động này rất quan trọng đối với trẻ trước khi lên lớp 1,bậc tiểu học.ở trường mẫu giáo phải trang bị cho trẻ biết đọc biết nói tiếng việt một cách thuận thục và chính xác từ đó giúp trẻ tiền biết đọc tiền biết viết đó là một kỷ năng cần thiết để chuẩn bị cho việc học ở lớp 1 một cách tự trin hơn Vì vậy bản thân tôi muốn góp một phần nào đó với đề tài “Tăng cường tiếng việt mà tôi đã được rút ở trường qua quá trình học tập nghiên cứu và giảng dạy
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người, là phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết và là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc Ngôn ngữ là tấm gương phản ánh văn hoá của mỗi dân tộc Các dân tộc thiểu số của Việt Nam có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình trong sinh hoạt cộng đồng của họ, đồng thời họ cũng sử dụng Tiếng Việt
để giao tiếp với cộng đồng người Việt trên toàn quốc, đồng thời được cung cấp giáo dục, y tế, giải trí, thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng bằng chữ Quốc ngữ Sự giao thoa văn hoá ngôn ngữ làm phong phú thêm cho nền văn hoá của người thiểu số, đồng thời cũng làm thay đổi cuộc sống, kinh tế
và vị thế của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt anh em Có thể nói rằng “cộng đồng các dân tộc thiểu số ở nước ta thực sự là một cộng đồng song ngữ” - tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc và tiếng Việt của người Kinh
Trang 2Việc quan trọng trong trường mầm non cần làm là giúp trẻ trước độ tuổi đi học phát triển tốt ngôn ngữ, phù hợp với từng lứa tuổi và sự phát triển chung của trẻ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người Do
đó, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hàng ngày, không có ngôn ngữ đứa trẻ không thể phát triển thành người một cách thực thụ Muốn nói được, muốn giao tiếp được với mọi người xung quanh thì đứa trẻ phải được trải qua quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ trong môi trường nhất định
Thực tế cho thấy đối với những trẻ thành thạo tiếng phổ thông việc giao tiếp và thu nhận tri thức và thực hiện những yêu cầu của giáo viên một cách rất
dễ dàng song đối với trẻ dân tộc thiểu số đây là cả một vấn đề khó khăn và đòi hỏi nhà giáo dục cần phải có những biện pháp phù hợp
Đặc biệt ở trường mầm non chúng tôi các cháu 100% là dân tộc Pa cô nghe và nói tiếng Việt rất kém mặc dù cô giáo có kèm cặp nhiệt tình đến mức nào chăng nữa thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng, mà chủ yếu là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụng thường xuyên đối với trẻ dân tộc thiểu số Ở đây trẻ chỉ dùng tiếng Việt giao tiếp với giáo viên khi cần thiết, còn ngoài ra trẻ vẫn thường xuyên sử dụng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình Chính vì vậy dẫn đến chất lượng chăm sóc Giáo Dục trẻ không thể đạt được kết quả như mong muốn
Với nội dung chỉ chú trọng tăng cường tiếng việt cho trẻ 5 tuổi để chuẩn bị vào lớp 1 như hiện nay theo tôi là muộn và chưa đủ so với yêu cầu thực tế trong công tác giáo dục của nhà trường Bởi trong quá trình học ở trường mầm non trẻ chưa thành thạo tiếng việt nên việc nắm bắt kiến thức còn hạn chế, trẻ chưa hiểu hết những yêu cầu hay những cuộc trò chuyện của cô nên chưa phát huy hết tính tích cực, chủ động của trẻ Trẻ nói không rõ ràng về ngôn ngữ và kĩ năng diễn đạt ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ còn khó khăn
Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi dân tộc thiểu số vừa là mục tiêu, vừa
là yêu cầu cấp thiết đặt hàng đầu cho giáo dục nhà trường nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện sứng tầm với quy mô phát triển của tỉnh Tôi nhận thấy cần có những biện pháp bổ sung, tăng cường tiếng Việt cho trẻ độ tuổi 5 tuổi
là rất quan trọng và là một chia khóa để giúp trẻ thành thạo hơn với tiếng việt khi bước vào lớp 1
2.Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Tôi quyết định lựa chọn đề tài này với mục đích tìm hiểu thêm của việc phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi và áp dụng các giải pháp để nâng cao vốn tiếng Việt cho trẻ 5 tuổi dân tộc thiểu số tại nhà trường Qua đó vận dụng những kiến thức có sẵn và qua học hỏi để nghiên cứu và áp dụng các giải pháp vào chăm sóc giáo dục phù hợp giúp trẻ phát triển một cách hài hoà và bắt kịp với chất lượng giáo dục chung trong toàn tỉnh thành
b Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 3Vận dụng những kiến thức kinh nghiệm đưa ra một số giải pháp giúp trẻ được phát triển ngôn ngữ tiếng Việt một cách đầy đủ và mạch lạc nhất ngày khi trẻ bước chân vào trường Mầm non và trẻ tự tin bày tỏ cảm súc, suy nghĩ của mình với những người xunh quanh một cách tốt nhất Tôi mong rằng trẻ thành thạo tiếng Việt sớm hơn và từ đó trẻ tiếp nhận tri thức một cách dễ dàng và đầy
đủ nhất và đó sẽ là một lý do để nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục đây cũng là một nền móng tốt cho trẻ phát triển một cách toàn diện
3 đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu “ Trẻ 5 tuổi lớp ghép ”
Phạm vi: Tăng cường tiếng việt cho trẻ 5 tuổi lớp mẫu giáo lớn -Trường Mầm non
4 Đối tượng khảo sát và thực nghiệm.
Tăng cường tiếng việt cho trẻ 5 tuổi lớp mẫu giáo ghép -Trường Mầm non
5 Phương pháp nghiên cứu
Bằng một số biện pháp tăng cường tiếng việt cho trẻ 5 tuổi dân tộc thiểu số tại trường Mầm non như:
+ Cung cấp tiếng việt cho trẻ mọi lúc mọi nơi
+Trẻ học tiếng Việt đảm bảo theo một trình tự nhất định từ dễ đến khó + Từ đơn giản đến phức tạp
+ Có ứng dụng công nghệ thông tin vào các bài dạy, vào các hoạt động ngoài giờ nhằm phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ Hình thành sự tự tin cho trẻ vì khi trẻ tự tin trẻ dễ dàng học hỏi, dễ dàng bày tỏ những suy nghĩ, chia sẻ hiểu biết của mình bằng tiếng việt với cô và bạn bè
+Lựa nội dung giáo dục phù hợp với đối tượng với điều kiện thực tế của trẻ của nhà trường và lớp học
+Nhằm nâng cao chất lượng ngôn ngữ trong giao tiếp, trong diễn đạt tiếng việt của trẻ một cách tốt nhất
Ngay từ buổi đầu vào nhận lớp và quan sát tình hình Tôi nhận thấy chất lượng của trẻ còn quá kém làm cho tôi phải trăn trở suy nghĩ ,mình phải làm gì
và làm như thế nào để góp phần vào công lao giảng dạy cho các cháu ngày một tốt hơn.Nhất là với hoạt động tăng cường tiếng việt.Vì trẻ ở lứa tuổi này “Chơi
mà ,học mà chơi”.Từ đó tôi phải có kế hoạch cụ thể ,và đầu tư vào nhiều thời gian tìm tòi và nghiên cứu tài liệu tập sẵn có liên quan đến nội dung nghiên cứu,qua việc học bạn bè đồng nghiệp để trao đổi kinh nghiệm,qua việc tập huấn
về chuyên môn,bồi dưỡng về chuyên đề
Được sự quan tâm của lãnh đạo cấp trên đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia lớp tập huấn tăng cường tiếng việt cho trẻ dân tộc thiểu số do sở tổ chức năm
2012 khi tôi còn là một giáo viên hợp đồng của trường từ đó tôi đã tiếp thu và thu thập những phương pháp mới từ để giúp tôi được nắm vững hơn phương pháp giảng dạy,giúp cho tôi nâng cao chuyên đề ,phát huy được những gì toi tiếp cận ,và tôi đã lên kế kế hoạch cụ thể gồm 5 bước:
+Bước1: tiếp thu lý thuyết lắng nghe và ghi chép đầy đủ nội dung
+Bước 2: tiếp thu và học hỏi các tiết dạy mẫu
+Bước : tiếp thu lý thuyết để nhận xét và rút kinh nghiệm
Trang 4+Bước 4: thực hiện trên trẻ đầy đủ những nội dung và cũng như phương pháp hợp với đặc điểm của nội dung
+Bước 5: theo dõi và đánh giá kết quả trên trẻ
-Tư duy của trẻ mầm non là tư duy trực quan hành động.Muốn cho trẻ học tốt hoạt động tăng cường tiếng việt cần phải chuẩn bị cơ sở vật chất như đồ dùng dạy học thật đầy đủ.Vì vậy ngay từ đầu năm tôi tuyên truyền với phụ huynh mua thêm đồ dùng học tập cho trẻ học chữ cái : thẻ chữ cái ,vở tập tô ,bút chì ,ngoài
ra tôi còn in tranh ảnh trên máy phát cho mổi trẻ một bộ để về nhà học thêm Bên cạnh đó tôi còn thường làm các loại đồ ,đồ chơi như :
+Làm các đồ dùng,các con vật,hoa ,lá,quả chữ phía dưới để cho trẻ chơi các trò chơi với tăng cường tiếng việt
+Sưu tầm các bài thơ,câu chuyện,các bài hát có chứa các từ để tăng cường, cần học cho trẻ luyện đọc,luyện phát âm
+Vẽ các bức tranh có từ ở dưới tranh phù hợp với bài dạy ,với chủ điểm +Tạo ra các bức tranh có từ còn thiếu chữ cái vừa học và cho trẻ chơi dán chữ cái còn thiếu ở trong từ để được hoàn chỉnh hơn để tăng cường tiếng việt +Cho trẻ chơi trò chơi nối chữ cái giống với chữ cái có trong từ để đúng với bức tranh mà tăng cường
+Tổ chức nhiều trò chơi với tăng cường tiếng việt như tôi đã tổ chức trò chơi “Tìm hoa,quả đúng với bức tranh trong tăng cường”
+Ở mổi góc cô treo một bức tranh hoặc quả có từ chứa để tăng cường cần
ôn và mở rộng thêm
Ví dụ : học chủ đề “ Bản Thân” “ tìm hiểu về cơ thể bé” thì chiều chúng ta
có thể tăng cường những từ : đôi tay, đôi chân
6.Phạm vi và kế hoạch nghi ên cứu
Trẻ 5 tuổi lớp ghép - Trường mầm non - Huyện đakrông - Tỉnh quảng trị
- Nghiên cứu từ tháng 8/2016- tháng 3/2017
PHẦN NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lí luận
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tồn tại và phát triển theo sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người Là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy
Đối với trẻ em dân tộc ngôn ngữ thứ hai đóng một vai trò cũng đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhân cách; là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập, vui chơi… Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh thông qua ngôn ngữ, lời nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng và hiểu những đặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng của chúng và trẻ học được từ tương ứng (từ và hình ảnh trực quan đi vào nhận thức của trẻ cùng một lúc) Ngôn ngữ giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đã được hình thành Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng nhau hành động vì những mục đich chung: lao động, đấu tranh, xây dựng và phát triển xã hội Không có ngôn ngữ con người không thể giao tiếp vì vậy ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành một thành viên của xã hội
Trang 5loài người, là công cụ hữu hiệu để trẻ bày tỏ những nguyện vọng, suy nghĩ và
đánh giá của bản thân về những hiện tượng xung quanh….
Ngôn ngữ chính là hiện thực của tư duy và tư duy của con người có thể hoạt động được cũng chính là nhờ có phương tiện ngôn ngữ Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người không diễn ra được Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi, những hoạt động chủ yếu ở trường mầm non Giống như việc dạy trẻ tiếng
mẹ đẻ, việc phát triển ngôn ngữ thứ hai cho trẻ ở trường mầm non là thực sự là mục tiêu “kép” giữa phát triển tri thức tư duy tiếng Việt và ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ Trẻ biết sử dụng tiếng Việt đồng thời sử dụng nó như một công cụ để giao tiếp, vui chơi và học tập Thông qua các hoạt động học tập, vui chơi và trò chuyện ở mọi lúc mọi nơi mà dần dần trẻ thành thạo và ngược lại mọi hoạt động
ở trường cũng tạo cơ hội cho ngôn ngữ thứ hai của trẻ phát triển
Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất Song với trẻ dân tộc thiểu số tiếng mẹ đẻ không phải là ngôn ngữ chính để trẻ học tập, vui chơi và giao tiếp với xã hội Do đó bắt buộc trẻ phải học ngôn ngữ thứ hai khi bước vào ngưỡng cửa trường mầm non với một hình thức giống với tiếng mẹ đẻ, nhưng với một môi trường hẹp hơn là lớp học, là cô giáo và các bạn Trẻ học ngôn ngữ tiếng Việt song song với việc học tri thức và bước đầu trẻ phải tập làm chủ ngôn ngữ thứ 2 để đảm bảo làm chủ tri thức, tư duy của mình…
Ngôn ngữ có thể chuyển tải được tất cả các nội dung thông tin khác nhau
mà người nói có nhu cầu ( từ việc bộc lộ cảm xúc, thái độ… của người nói đến người nghe; đến những nhu cầu về trao đổi kinh nghiệm chinh phục thiên nhiên hoặc truyền bá tri thức… Mà trong đó ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của người dân tộc thiểu số chỉ phục vụ được một phần nhỏ số người có nhu cầu trong cộng đồng Chỉ có ngôn ngữ tiếng Việt mới giúp họ hoà chung vào sự phát triển của xã hội
Chương 2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.1 Thuận lợi
* Thuận lợi:
Bản thân là giáo viên người địa ban có trình độ chuyên môn trên chuẩn với năng lực chuyên môn vững vàng, nhiệt tình yêu nghề mến trẻ Có khả năng tiếp thu những kinh nghiệm và vận dụng vào giảng dạy một cách linh hoạt, có nhiều
ý tưởng, luôn mong muốn có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường đó là một thuận lợi lớn trong việc thực hiện đề tài
Lớp học rộng rãi, thoáng mát đảm bảo cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ, lớp học có điện có máy tính nên soạn giảng cùng rất nhanh chóng, lớp được trang bị các tài liệu, sách truyện để làm tài liệu dạy
Bản thân đã bước đầu ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy
Trẻ trong lớp có cùng độ tuổi, sĩ số học sinh đảm bảo phù hợp với điều kiện của lớp và nhà trường, tỉ lệ chuyên cần của trẻ cao
Trường được xây dựng ở gần khu dân cư thuận tiện cho việc đi học của trẻ
Trường lớp khang trang, sạch sẽ có đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị cho trẻ hoạt động trong lớp và ngoài trời
Trang 6- Lớp có tương đối đầy đủ các đồ dùng đồ chơi, thiết bị dạy học phục vụ cho công tác giáo
Tôi là người địa phương nên về phần vận động trẻ thì tôi ít vận động hơn, bởi đầu năm học tôi đã quán triệt và có quy định riềng của lớp học
- Cô giáo l người địa phương nên việc phối kết hợp giữa cô và trẻ dễ dàng hơn
2.2 Khó khăn
Trường mầm non là một điểm trường đặc biệt khó khăn của huyện Đakrông, Tỉnh quảng trị, trong đó dân tộc chiếm là chủ yếu Tập quán sinh hoạt còn tương đối lạc hậu Nhân dân sinh sống chủ yếu là nghề nông nghiệp Là xã đặc biệt khó khăn của huyện nên thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp
Hộ đói nghèo vẫn còn cao địa bàn cư trú nằm rải rác, đa số nhân dân trong xã chưa thông thạo tiếng phổ thông , cơ sở hạ tầng tại các thôn bản tuy đã được quan tâm đầu tư xong vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt của người dân Nhà trường có 9 điểm trường với 235 học sinh trong đó trẻ dân tộc thiểu số
là 235 trẻ
Tổng số cán bộ giáo viên: - Ban giám hiệu 3 đồng chí
- Giáo viên: 16 đồng chí
- Nhân viên: 2 đồng chí
*.Đặc điểm tình hình lớp học
- Tổng số học sinh: 21 cháu trong đó 5 tuổi 6 cháu và 3-4 tuổi là 15 cháu
- 100% học sinh là người dân tộc Pa cô
- Trong đó Nam: 9 ; Nữ: 12
- Tổng số giáo viên: 2 cô
- Trình độ chuyên môn: Đại học 1; Cao đẳng 1
- Lớp thực hiện theo chương trình giáo dục mầm non
- Lớp có tương đối đầy đủ các đồ dùng đồ chơi, thiết bị dạy học phục vụ cho công tác giáo dục
- 100% học sinh trong lớplà dân tộc pa cô nên việc giao tiếp giữa cô và trẻ còn bất đồng về ngôn ngữ khi mỗi lần cô đứng giảng một tiết dạy
- Có 60% trẻ mới bắt đầu ra lớp và cũng là lúc trẻ bắt đầu làm quen với ngôn ngữ tiếng Việt
- Nhiều phụ huynh chưa thành thạo tiếng phổ thông và chưa chú trọng vào việc dạy tiếng phổ thông cho trẻ tại gia đình
- Đồ dùng phục vụ cho hoạt động dạy ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ chưa phong phú đa dạng, chưa có sự đầu tư và chưa có sự sáng tạo
- Đối với trẻ 5 tuổi nhưng ngôn ngữ nói tiếng việt của trẻ còn hạn chế trẻ chậm chạm, nhút nhát, chưa tự tin
Trang 7Với đặc thù trường có 100% trẻ học là dân tộc thiểu số.Vì Tiếng Việt không phải tiếng mẹ đẻ nên việc học tập và trao đổi trò chuyện với cô và bạn bè còn nhiều hạn chế
- Các tài liệu giáo dục chưa thật sự phù hợp với đối tượng, chưa có tài liệu dành riêng giáo viên dạy vùng Dân tộc thiểu số Trong khi đó giáo viên lại chưa được trang bị kiến thức về đối tượng học sinh
Đa số phụ huynh chưa thành thạo tiếng Việt, việc trào đổi trò chuyện với trẻ bằng tiếng phổ thông tại gia đình trẻ chưa có chú trọng
Chương 3: Các giải pháp và kết quả thực hiện
3.1 Các giải pháp
Để khắc phục những khó khăn trên tôi đã thực hiện như sau:
- Nắm vững những đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5 tuổi
- Có các giải pháp hướng dẫn trẻ học tăng cường tiếng Việt một cách linh hoạt, phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế của nhà trường, phù hợp với địa phương và khả năng nhận thức của trẻ trong lớp
- Thường xuyên tham khảo tài liệu, sưu tầm các thông tin trên mạng intenet, dự giờ kiến tập đồng nghiệp, học hỏi kinh nghiệm
- Tuyên truyền cho các bậc phụ huynh cùng với giáo viên tích cực dạy tiếng phổ thông cho trẻ
Để giúp trẻ tăng khả năng nghe hiểu và thực hành tăng cường tiếng Việt một cách tốt nhất tôi kiên trì, sáng tạo và gần gũi với trẻ Bằng sự hiểu biết của mình tôi lựa chọn những nội dung những bài học và những hình thức, những hình ảnh đẹp hay những tình huống hẫp dẫn giúp trẻ học tiếng việt có hiệu quả
vì vậy tôi đưa ra các biện pháp sau:
3.1.1 Giải pháp thực hiện
* Giải pháp1: Dạy trẻ học tiếng Việt theo trình tự nghe – hiểu – thực hành.
+ Trẻ học hiểu nghĩa của từ và câu trước khi nói chính xác từ và câu đó.
Bước vào ngưỡng cửa trường mẫu giáo trẻ bắt đầu làm quen với ngôn ngữ thứ hai và đây cũng là thời kỳ đầu tiên trong quá trình trẻ học nói tiếng Việt, tiếp thu kiến thức bằng tiếng Việt Mọi lời nói hướng dẫn, cách truyền đạt của cô đều thật khó đối với trẻ Nửa đầu học kỳ 1, nhiệm vụ quan trọng nhất là phát triển khả năng nghe hiểu lời nói của cô
Với mục đích trẻ trẻ hiểu ghĩa của từ ngữ rồi trẻ thực hành tiếng Việt Yêu cầu đối với giáo viên không cấm trẻ nói tiếng mẹ đẻ và cần tránh dạy trẻ nói mà không hiểu nghĩa Ở đây tôi thường xuyên sử dụng đồ dùng trực quan, hành động với đồ vật, bằng ngôn ngữ hình thể để diễn đạt một cách cụ thể dễ hiểu nhất giúp trẻ một phần nắm bắt dễ dàng và hiểu một cách chính xác vấn đề
Ví dụ: Trẻ làm quen với tên gọi các bạn: đây là bạn Mai chi, đây là bạn Mai Trang… cô dắt trẻ lên và giới thiệu cho các bạn nghe, lần lượt các bạn trong lớp Cho trẻ làm quen với tên gọi và đồ dùng đồ chơi ở các góc trong lớp học: Đây là viên gạch, đây là quả táo…Khi cô giới thiệu cho trẻ nghe cô hỏi lại để kiểm tra đối với các trẻ Cô giới thiệu và làm mẫu một số hành động cụ thể : đứng lên, ngồi
Trang 8xuống, đi ra ngoài… kết hợp sử dụng tiếng mẹ đẻ để giải thích nghĩa của từ và câu, nhất là những từ trừu tượng, khó hiểu Tôi thường xuyên dùng những từ ngữ nhẹ nhàng để khen ngợi trẻ, nêu những điểm nổi bật làm trẻ thích thú và chăm chú nghe
cô nói
Sử dụng đồ dùng cho trẻ tiếp cận theo nhóm đối tượng giúp trẻ dễ sâu chuỗi được vấn đề hơn:
Vi dụ: Cho trẻ quan sát tranh các con vật cô hỏi “ Con gì đây” và “đây là con gì” đầu tiên trẻ chưa biết tôi hướng dẫn trả lời rồi cho trẻ bắt chước sau đó trẻ tự trả lời, và cứ như vậy trẻ sẽ tự hiểu đó là những con vật Vì vậy khi cho trẻ tiếp súc đối tượng tôi thường đưa các đối tượng có cùng chủng loại: các loại quả, các đồ chơi
Tôi thường xuyên trao đổi với trẻ bằng cách chọn từ ngữ sao cho ngắn gọn,
dễ hiểu kết hợp hướng dẫn giúp trẻ hiểu những vấn đề, nhiệm vụ gần gũi đối với trẻ: Ví dụ: Khi trẻ đến lớp cô nhắc “ Chào cô nào” và cô hướng dẫn cho trẻ thực hiện nói “ Cháu chào cô” và các khái niệm, các từ chỉ tên người, đồ vật ví dụ: Tên bạn, quần áo, bát đĩa, tên đồ dùng đồ chơi trong lớp, một số hoạt động hàng ngày trẻ phải thực hiện ví dụ: con hát nào, con hãy đọc thơ, con thực hiện cùng
cô nào…
Tôi luôn chú ý phát rõ âm để trẻ dễ tiếp thu, dạy trẻ cần phải kèm tranh minh họa, vật thật đôi khi cần có cả sự giải thích, khi sử dụng từ ngữ cô lựa chọn cầu từ ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với trẻ Chú ý cung cấp từ mới cho trẻ phải nhắc đi nhắc lại giúp trẻ nghe rõ và hiểu vấn đề một cách cụ thể
Tạo cho trẻ năng lực bắt chước kết hợp âm thanh, trẻ thường xuyên học nhắc lại những gì nghe được từ cô và các bạn, đây cũng là một trong những biện pháp trẻ dễ học dễ hiểu nhất: Ví dụ: Trong giờ học tôi đưa một bức tranh và hỏi trẻ cô có gì đây? Một số trẻ trả lời “ Tranh con vịt” cô khẳng định là đúng và cho
cả lớp và cá nhân bắt chước nói giống cô và các bạn cứ như vậy trẻ học rất nhanh và hiệu quả cũng rất cao
Nghe với những hình ảnh động: Các hình ảnh đính kèm những ngôn ngữ làm cho trẻ ‘hiểu’ được ít nhiều nội dung của vấn đề, mà không cần phải ‘dịch’ từng câu
Ví dụ: Thường xuyên mở các bài hát, đoạn video về các con vật, các hiện tượng tự nhiên hay các sự kiện… cho trẻ xem, trẻ chăm chú phán đoán và trẻ cũng dần hiểu một số câu từ trong những đoạn video, clip đó
Luyện nghe cho trẻ cũng rất quan trọng, luyện cho trẻ nghe được các âm vị cấu trúc âm tiết khác nhau , nghe biểu cảm về phương diện âm thanh
Mặc dù có thể hơi khó với trẻ nhưng đọc hay kể chuyện cho trẻ nghe ngay
từ những ngày đầu tới lớp của trẻ là một trong những cách tốt nhất giúp trẻ làm quen với ngôn ngữ tiếng Việt Thông qua việc dành thời gian đọc, kể cho trẻ nghe từ đó giúp trẻ nhận biết những điều kỳ diệu mà ngôn ngữ đem lại và sự thích thú của trẻ đối với những điều kỳ diệu đó sẽ biến trẻ thành người ham học Yêu cầu ở nội dung này cô cần phải kiên trì, thường xuyên trò chuyện giao tiếp cùng trẻ có nhiều biện pháp giúp trẻ nghe hiểu một cách chính xác nội dung
cô cần truyền đạt Do vậy tôi luôn chú ý đến lời nói phải chính xác, rõ ràng, mạch lạc, tránh nói lắp, nói ngọng
Lựa chọn nội dung giáo dục và hoạt động phù hợp với khả năng của trẻ
Trang 9Ví dụ: Lựa chọn những bài thơ, bài hát ngắn gọn dễ hiểu, tìm những bài thơ,
ca dao, đồng dao giúp trẻ dễ đọc dễ nhớ và cũng thuận lợi trong việc khai thác nội dung
Luôn chú ý hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ để đảm bảo tình phù hợp, chính xác và có tính mở chú trọng lấy trẻ làm trung tâm Đặc biệt khi lựa chọn
đề tài này cần phải chú trọng hơn khi xây dựng nội dung giáo dục để đảm bảo tính hiệu quả phù hợp với nội dung và đối tượng vùng miền
+ Trẻ học tiếng Việt gắn với những tình huống thực tế.
Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch… nói chung là các hoạt động nhằm giúp trẻ tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên, không gượng ép Các hoạt động đa dạng sẽ giúp trẻ từng bước hình thành phong cách riêng trong học tập và sử dụng tiếng Việt Phong cách riêng chính là nền tảng của chất lượng và hiệu quả học tập tiếng Việt cho trẻ em Nắm bắt được đặc điểm này tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để tạo các tình huống và đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ điểm
Ví dụ: Tổ chức các trò chơi cho trẻ như:
-Trò chơi những chiếc thuyền: Cô đổ nước vào chậu hoặc bát to Để 3 cái hộp rỗng vào Cần thổi chúng chuyển động từ bờ bên này sang bờ khác Cô nói với Trẻ: “Con tưởng tượng xem, đây là biển nhé Để cho tàu ra khơi, cần có gió đẩy thuyền đi Con hít sâu vào rồi thổi mạnh đi!” Điều quan trọng là theo dõi việc thở ra và khuyến khích trẻ thực hiện theo yêu cầu của cô.Để kích thích khẩu ngữ của bé, cô đặt những câu hỏi: “Thời tiết trên biển thế nào con nhỉ?”, “Con thấy mặt nước trông như thế nào?”…cô cho trẻ chơi theo nhóm nhỏ các trẻ khác quan sát và nhận xét về các con thuyền, nhận xét cách chơi của các bạn cùng với những lời tán thưởng của cô trẻ rất thích thú cổ vũ cho những con thuyền, đây cũng là một hình thức trẻ được chơi một cách thoải mái nhất nhưng trẻ lại nhớ lâu những từ mới như “con thuyền”, “mặt nước”, “thổi mạnh”,
“thuyền đi nhanh, thuyền đi chậm”… bởi qua lúc chơi trẻ hò reo cổ vũ theo cô
và các bạn
- Trò chơi dàn nhạc đặc biệt: Cần 6 cái hộp và 3 kiểu vật liệu hạt rời (ngũ cốc, đường, bột, hạt cườm…) Điều quan trọng là đổ từng đôi hộp số lượng vật liệu như nhau để âm thanh trùng nhau chính xác Nhưng âm thanh của đôi hộp này cần khác biệt với đôi khác Một bộ đưa cho trẻ, còn bộ kia cô giữ Cô lắc
“Hộp” bất kì, còn trẻ cần tìm trong bộ của mình cái thùng có âm thanh y như thế Cô tăng dần số lượng hộp Cô nghĩ ra những tên gọi lí thú cho những dụng
cụ đó: Tiếng ồn, quả bom, lúc lắc, lạo sạo… trẻ được chơi cả lớp và yêu cô yêu cầu cá nhân lên chọn “Hộp” cả lớp cùng nhắc giúp bạn với sự gợi ý của cô Cô nói các con chú ý xem chiếc “Hộp” này có tiếng kêu thế nào ? ai giỏi lên tìm hộp có tiếng kêu giống hộp của cô nào Trẻ sẽ phải lắc các hộp để tìm cùng với
sự chỉ dẫn của các bạn “ Hộp này, hộp kia, đúng rồi, sai rồi, tìm đi, lắc hộp đi…”
đó là những từ được nhắc nhiều trong trò chơi, trẻ cổ vũ, chỉ dẫn cho bạn, đây cũng là cách trẻ được học những từ mới mà không cần cô chỉ dẫn song vẫn đạt yêu cầu… trẻ em rất thích điều đó
Trang 10- Trò chơi cái bao bí ẩn: Cần một cái bao hoặc túi không trong suốt để không nhìn thấy được những vật dụng bên trong túi Cho vào đó những đồ vật hình oval và hình tròn (trứng, quả bóng nhỏ, bóng lục lạc, cái hộp…) Trước khi
cô cho những vật trên vào bao, hãy cho trẻ sờ chúng trước và gọi tên những vật
đó Sau đó, đề nghị trẻ tìm vật cần thiết qua cảm ứng: “Bàn tay con có đôi mắt thần kì đó Con hãy dùng tay lấy cho cô quả bóng xem nào!” (hoặc vật khác)
Cô hỏi trẻ về đồ vật trẻ lấy ra khỏi bao: “Đây là cái gì?”, “Có thể chơi bóng như thế nào nhỉ?”
- Các tình huống gắn liền với hoạt động trong ngày cũng là những cơ hội để giáo viên giúp trẻ tăng cường tiếng Việt Tôi giúp trẻ làm giàu thêm vốn từ vựng của mình và giúp trẻ phát triển khả năng nghe, phản xạ bằng cách yêu cầu trẻ nêu tên tất cả những đồ vật mà trẻ biết bắt đầu bằng những tên bạn trong lớp, tên
cô, tên các đồ dùng đồ chơi
Ví dụ: Cô hướng trẻ với những sự vật hiện tượng sung quanh để trò chuyện và
mở rộng ngôn ngữ cho trẻ, gợi ý tạo sự tò mò của trẻ vào những thay đổi khác thường chẳng hạn: Cây đào sân trường ra hoa, trời mưa rất to, bạn Lan có váy mới…
*Giải pháp2: Ttrực quan hành động.
Phương pháp này rất hiệu quả đối với người bắt đầu học một ngôn ngữ mới (ngoài tiếng mẹ đẻ), cho phép người học tiếp thu ngôn ngữ mới một cách dễ dàng và tự nhiên mà không bắt buộc phải quá tập trung hay căng thẳng Phương pháp này được áp dụng rộng rãi và hiệu quả ở nhiều hình thức khác nhau Với phương pháp này, người học được sử dụng tích cực các giác quan và vận động của cơ thể trong suốt quá trình tham gia vào hoạt động học tập và thực hành ngôn ngữ mới Các kỹ năng nghe - quan sát - phản hồi (bằng hành động của cơ thể) được sử dụng hiệu quả trong quá trình học tập Phương pháp này giúp giáo viên và trẻ có thể áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các hoạt động dạy và học
để đạt được những giờ học thực sự tích cực Sử dụng đồ dùng trực quan đẹp, bắt mắt đó cũng là cách làm trẻ tò mò xem đó là gì, thích được tham gia vào hoạt động với đồ dùng đó
Ví dụ: Các giờ hoạt động khám phá môi trường, ngoài việc cung cấp kiến thức cho trẻ cô cũng đồng thời tăng cường tiếng Việt cho trẻ một cách rất hiệu quả Thông qua những hình ảnh, mô hình, vật thật trẻ được sờ, được nếm, được ngửi, được nghe cùng với những từ ngữ có chọn lọc cô cung cấp kiến thức và từ mới cho trẻ : Với hoạt động làm quen các loại quả trẻ biết tên quả, quả có màu
gì, ăn có vị gì, con thích quả gì Cô nhắc lại những đặc điểm rồi cho trẻ nhắc lại
cứ như vậy trẻ học từ mới một cách tự nhiên theo nhiều hướng khác nhau Với chương trình giáo dục mầm non thực hiện chủ đề nhánh theo tuần vậy nên trong tuần trẻ được tiếp súc làm quen nhiều loại quả với nhiều hình thức khác nhau như: xem tranh, xem hình ảnh trên video, quả thật và qua sự miêu tả của cô… ở các hoạt động vui chơi và hoạt động khác nữa Trẻ dần khắc sâu ngôn ngữ tiếng Việt cùng với tư duy của mình
Giáo viên sử dụng các đồ vật/đồ chơi gần gũi, quen thuộc với trẻ để dạy tiếng Việt cho trẻ Với trẻ lớp bé, trẻ mới ra lớp nên lựa chọn các vật thật hoặc các đồ dùng, đồ chơi sẵn có trong lớp và trẻ thường được chơi và sử dụng để