Sáng kiến kinh nghiệm chuẩn. 1. Lý do chọn đề tài: Tiếng Việt còn gọi là tiếng phổ thông với tư cách là ngôn ngữ Quốc gia, là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và các cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học. Việc chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ khi bắt đầu tới trường, lớp là vô cùng quan trọng bởi ngôn ngữ có chức năng làm công cụ tư duy, công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm ; công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong xã hội. Đặc biệt ở trường mầm non ... chúng tôi các cháu 100% là dân tộc Pacô nghe và nói tiếng Việt rất kém mặc dù cô giáo có kèm cặp nhiệt tình đến mức nào chăng nữa thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng, mà chủ yếu là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học. Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụng thường xuyên đối với học sinh dân tộc thiểu số.Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu cấp thiết đặt cho giáo dục nhà trường nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Tôi nhận thấy cần có những biện pháp bổ xung, tăng cường tiếng Việt cho trẻ ngay từ độ 2 3 tuổi. Với lý do trên tôi chọn đề tài Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 2 3 tuổi . Đây cũng là một sáng kiến tôi đưa ra còn mới với nhà trường song tôi mong rằng sẽ được áp dụng trong thời gian tới, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. 2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.
Trang 1MỤC LỤC TRANG
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng nghiên cứu 5
4 Đối tượng khảo sát thực nghiệm 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu 5
NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận 6
1.1 Tầm quan trọng của tăng cường Tiếng Việt 6
1.2 Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 2 – 3 tuổi 6
Chương 2: Thực trạng vấn đề nghiên cứu 7
2.1.Vài nét về địa bàn thực hiện sáng kiến 7
2.2 Nguyên nhân 9
Chương 3: Các giải pháp và kết quả thực hiện 9
3.1 Giải pháp 9
3.1.1 Dạy trẻ học Tiếng Việt theo trình tự Nghe-Hiểu-Thực hành 9
3.1.2 Trực quan hành động 13
3.1.3 Hình thành sự tự tin cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi 15
3.1.4 Phối hợp với phụ huynh 17
3.2 Kết quả thực hiện 17
3.2.1 Chất lượng kỹ năng ngôn ngữ Tiếng Việt 17
3.2.2 Ứng dụng vào thực tiễn 18
3.2.2.1 Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm 18
3.2.2.2 Tính khả thi và khả năng ứng dụng và triển khai của đề tài 18
Trang 2KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận 18
2 Kiến nghị 19 Tài liệu tham khảo 20
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Tiếng Việt còn gọi là tiếng phổ thông với tư cách là ngôn ngữ Quốc gia, là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và các cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học Việc chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ khi bắt đầu tới trường, lớp là vô cùng quan trọng bởi ngôn ngữ có chức năng làm công cụ tư duy, công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm ; công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong xã hội Đặc biệt ở trường mầm non chúng tôi các cháu 100% là dân tộc Pacô nghe và nói tiếng Việt rất kém mặc dù cô giáo có kèm cặp nhiệt tình đến mức nào chăng nữa thì trẻ vẫn nói bằng hai thứ tiếng, mà chủ yếu là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi trẻ ra khỏi lớp học Sở dĩ như vậy là do tiếng Việt không phải là một phương tiện sử dụng thường xuyên đối với học sinh dân tộc thiểu số.Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu cấp thiết đặt cho giáo dục nhà trường nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Tôi nhận thấy cần có những biện pháp bổ xung, tăng cường tiếng Việt cho trẻ ngay
từ độ 2 - 3 tuổi
Với lý do trên tôi chọn đề tài "Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 2 - 3 tuổi "
Đây cũng là một sáng kiến tôi đưa ra còn mới với nhà trường song tôi mong rằng
sẽ được áp dụng trong thời gian tới, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.
* Mục đích:
- Xuất phát từ thực tế về dạy trẻ ở lớp nhà trẻ, tôi đã nghiên cứu tìm ra một
số biện pháp tăng cường Tiếng Việt ở lớp nhà trẻ tôi đang chủ nhiệm
Trang 4* Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng vấn đề
- Nghiên cứu các biện pháp để giúp trẻ tăng cường Tiếng Việt
- Nghiên cứu những kiến thức, kinh nghiệm và tầm quan trọng của tăng cường Tiếng Việt
3 Đối tượng nghiên cứu.
- Trẻ 2 – 3 tuổi ở lớp trẻ trường mầm non , phát triển vốn “Tiếng Việt"
4 Đối tượng khảo sát thực nghiệm.
- Lứa tuổi trẻ nhà trẻ tại lớp nhà trẻ .
5 Phương pháp nghiên cứu
+ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 2 – 3 tuổi
+ Phương pháp hướng dẫn trẻ học tiếng Việt
+ Phương pháp điều tra thực tế
+ Phương pháp tham khảo tài liệu, sưu tầm các thông tin trên mạng intenet, dự giờ đồng nghiệp, học hỏi kinh nghiệm
+ Phương pháp tuyên truyền cho các bậc phụ huynh cùng với giáo viên tích cực dạy tiếng phổ thông cho trẻ
Để giúp trẻ tăng khả năng nghe hiểu và thực hành tiếng Việt một cách tốt nhất tôi kiên trì, sáng tạo và gần gũi với trẻ Bằng sự hiểu biết của mình tôi lựa chọn những nội dung những bài học và những hình thức, những hình ảnh đẹp hay những tình huống hẫp dẫn giúp trẻ học tiếng Việt có hiệu quả
6 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu.
* Phạm vi:
- Chỉ nghiên cứu tại lớp nhà trẻ mà tôi đang chủ nhiệm
* Kế hoạch:
- Đề tài được nghiên cứu từ tháng 11/2016 – 4/2017
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Tầm quan trọng của tăng cường Tiếng Việt.
- Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp
- Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, nhận thức
- Ngôn ngữ tiếng Việt là phương tiện để trẻ học tập
Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất Song với trẻ dân tộc thiểu số tiếng mẹ đẻ không phải là ngôn ngữ chính để trẻ học tập, vui chơi và giao tiếp với xã hội Vì vậy, khi nhận công tác ở Trường Mầm Non bản thân tôi đã luôn trăn trở để tìm ra biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ nhằm giúp trẻ nghe - hiểu Tiếng Việt để giúp các cháu lĩnh hội được tri thức mà cô muốn truyền tải cho các cháu Do đó tôi đã nghiên cứu và thực nghiệm các biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ ở lớp tôi đang chủ nhiệm là lớp trẻ Trường Mầm non
Căn cứ vào Kế hoạch chỉ đạo chuyên môn trường mầm non về việc nghiên cứu thực trạng của nhà trường và đưa ra các giải pháp, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ từ 2 - 3 tuổi trong nhà trường
1.2.“Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số lứa tuổi 2 – 3 ở lớp trẻ trường mầm non "
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, tồn tại và phát triển theo sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người Là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, là công cụ của tư duy
Đối với trẻ em dân tộc ngôn ngữ thứ hai đóng một vai trò cũng đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhân cách; là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập, vui chơi… Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh thông qua ngôn ngữ, lời nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự
Trang 6vật, hiện tượng và hiểu những đặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng của chúng và trẻ học được từ tương ứng (từ và hình ảnh trực quan đi vào nhận thức của trẻ cùng một lúc) Ngôn ngữ giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đã được hình thành
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Vài nét về địa bàn thực hiện sáng kiến.
Trường nằm trong xã là một xã biên giới đặc biệt khó khăn của huyện Đakrông, trong đó dân tộc Pa-cô chiếm chủ yếu Tập quán sinh hoạt còn tương đối lạc hậu Nhân dân sinh sống chủ yếu là nghề nông nghiệp Là xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn xã nên thu nhập bình quân trên đầu người còn rất thấp Hộ đói nghèo vẫn còn cao địa bàn cư trú nằm rải rác, đa số nhân dân trong xã chưa thông thạo tiếng phổ thông , cơ sở hạ tầng tại các thôn bản tuy đã được quan tâm đầu tư song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu sinh hoạt của người dân
Nhà trường có 8 điểm bản
Tổng số cán bộ giáo viên: - Ban giám hiệu 03 đồng chí
- Giáo viên: 17 đồng chí
- Nhân viên: 02 đồng chí
*.Đặc điểm tình hình lớp học:
- Tổng số học sinh: 13 cháu, 100% học sinh là người dân tộc PaCô
- Trong đó Nam: 4 ; Nữ: 9
- Tổng số giáo viên: 1 cô
- Trình độ chuyên môn: Trung cấp
- Lớp thực hiện theo chương trình giáo dục mầm non
Trang 7- Lớp có tương đối đầy đủ các đồ dùng đồ chơi, thiết bị dạy học phục vụ cho công tác giáo dục
Thực trạng của đề tài:
* Thuận lợi:
- Được sự chỉ đạo sát sao, sự giúp đỡ của chuyên môn, của trường và ngành
- Được chuyên môn và trường tổ chức tham gia các buổi sinh hoạt chuyên
đề để rút kinh nghiệm
* Khó khăn:
- Đa số cháu lần đầu tiên đi học nên việc giao tiếp của trẻ còn rụt rè, còn hạn chế, chưa tự tin về bản thân
- Đa số cháu là người pakô, độ tuổi còn quá nhỏ, ở nhà nói tiếng mẹ đẻ nhiều, do vậy việc tiếp thu kiến thức của trẻ còn quá chậm
- Bản thân là một giáo viên mới ra trường chưa có kinh nghiệm nhiều để tổ chức hoạt động tăng cường Tiếng Việt cho trẻ một cách linh hoạt và sáng tạo
* Kết quả khảo sát thực trạng trẻ đầu năm học 2016 – 2017:
Kết quả
Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ
2 Trẻ hăng hái tham gia vào hoạt
động học và trò chuyện cùng cô
3 Trẻ biết một số từ đơn giản để giao
tiếp
2.2 Nguyên nhân
Trang 8Với đặc thù trường có 100% trẻ học là dân tộc thiểu số, 100% trẻ mới bắt đầu vaò lớp trẻ bắt đầu học và làm quen với ngôn ngữ tiếng Việt
Vì Tiếng Việt không phải tiếng mẹ đẻ nên việc học tập và trao đổi trò chuyện với cô và bạn bè còn nhiều hạn chế
- Các tài liệu giáo dục chưa thật sự phù hợp với đối tượng, chưa có tài liệu dành riêng giáo viên dạy vùng Dân tộc Trong khi đó giáo viên lại chưa được trang bị kiến thức về đối tượng học sinh
Đa số phụ huynh chưa thành thạo tiếng Việt, việc chao đổi trò chuyện với trẻ bằng tiếng phổ thông tại gia đình trẻ chưa có chú trọng
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
3.1 Các giải pháp.
3.1.1: Dạy trẻ học tiếng Việt theo trình tự nghe – hiểu – thực hành.
+ Trẻ học hiểu nghĩa của từ và câu trước khi nói chính xác từ và câu đó.
Bước vào ngưỡng cửa nhà trẻ trẻ bắt đầu làm quen với ngôn ngữ thứ hai và đây cũng là thời kỳ đầu tiên trong quá trình trẻ học nói tiếng Việt, tiếp thu kiến thức bằng tiếng Việt Mọi lời nói hướng dẫn, cách truyền đạt của cô đều thật khó đối với trẻ Nửa đầu học kỳ 1, nhiệm vụ quan trọng nhất là phát triển khả năng nghe hiểu lời nói của cô
Ví dụ: Trẻ làm quen với tên gọi các bạn: đây là bạn Ngân, đây là bạn Mai …
cô dắt trẻ lên và giới thiệu cho các bạn nghe, lần lượt các bạn trong lớp Cho trẻ làm quen với tên gọi và đồ dùng đồ chơi ở các góc trong lớp học: Đây là viên gạch, đây
là quả táo…Khi cô giới thiệu cho trẻ nghe cô hỏi lại để kiểm tra đối với các trẻ Cô giới thiệu và làm mẫu một số hành động cụ thể : đứng lên, ngồi xuống, đi ra ngoài… kết hợp sử dụng tiếng mẹ đẻ để giải thích nghĩa của từ và câu, nhất là
Trang 9những từ trừu tượng, khó hiểu Tôi thường xuyên dùng những từ ngữ nhẹ nhàng để khen ngợi trẻ, nêu những điểm nổi bật làm trẻ thích thú và chăm chú nghe cô nói
Sử dụng đồ dùng cho trẻ tiếp cận theo nhóm đối tượng giúp trẻ dễ sâu chuỗi được vấn đề hơn:
Ví dụ: Cho trẻ quan sát tranh các con vật cô hỏi “ Con gì đây” và “đây là con gì” đầu tiên trẻ chưa biết tôi hướng dẫn trả lời rồi cho trẻ bắt chước sau đó trẻ tự trả lời, và cứ như vậy trẻ sẽ tự hiểu đó là những con vật Vì vậy khi cho trẻ tiếp súc đối tượng tôi thường đưa các đối tượng có cùng chủng loại: các loại quả, các đồ chơi
Tôi thường xuyên trao đổi với trẻ bằng cách chọn từ ngữ sao cho ngắn gọn,
dễ hiểu kết hợp hướng dẫn giúp trẻ hiểu những vấn đề, nhiệm vụ gần gũi đối với trẻ: Ví dụ: Khi trẻ đến lớp cô nhắc “ Chào cô nào” và cô hướng dẫn cho trẻ thực hiện nói “ Cháu chào cô” và các khái niệm, các từ chỉ tên người, đồ vật ví dụ: Tên bạn, quần áo, bát đĩa, tên đồ dùng đồ chơi trong lớp, một số hoạt động hàng ngày trẻ phải thực hiện ví dụ: con hát nào, con hãy đọc thơ, con thực hiện cùng
cô nào…
Tôi luôn chú ý phát rõ âm để trẻ dễ tiếp thu, dạy trẻ cần phải kèm tranh minh họa, vật thật đôi khi cần có cả sự giải thích, khi sử dụng từ ngữ cô lựa chọn cầu từ ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với trẻ Chú ý cung cấp từ mới cho trẻ phải nhắc đi nhắc lại giúp trẻ nghe rõ và hiểu vấn đề một cách cụ thể
Tạo cho trẻ năng lực bắt chước kết hợp âm thanh, trẻ thường xuyên học nhắc lại những gì nghe được từ cô và các bạn, đây cũng là một trong những biện pháp trẻ dễ học dễ hiểu nhất: Ví dụ: Trong giờ học tôi đưa một bức tranh và hỏi trẻ cô có gì đây? Một số trẻ trả lời “ Tranh con vịt” cô khẳng định là đúng và cho
cả lớp và cá nhân bắt chước nói giống cô và các bạn cứ như vậy trẻ học rất nhanh và hiệu quả cũng rất cao
Trang 10Nghe với những hình ảnh động: Các hình ảnh đính kèm những ngôn ngữ làm cho trẻ ‘hiểu’ được ít nhiều nội dung của vấn đề, mà không cần phải ‘dịch’ từng câu
Ví dụ: Thường xuyên mở các bài hát, đoạn video về các con vật, các hiện tượng tự nhiên hay các sự kiện… cho trẻ xem, trẻ chăm chú phán đoán và trẻ cũng dần hiểu một số câu từ trong những đoạn video, clip đó
Luyện nghe cho trẻ cũng rất quan trọng, luyện cho trẻ nghe được các âm vị cấu trúc âm tiết khác nhau , nghe biểu cảm về phương diện âm thanh
Mặc dù có thể hơi khó với trẻ nhưng đọc hay kể chuyện cho trẻ nghe ngay
từ những ngày đầu tới lớp của trẻ là một trong những cách tốt nhất giúp trẻ làm quen với ngôn ngữ tiếng Việt Thông qua việc dành thời gian đọc, kể cho trẻ nghe từ đó giúp trẻ nhận biết những điều kỳ diệu mà ngôn ngữ đem lại và sự thích thú của trẻ đối với những điều kỳ diệu đó sẽ biến trẻ thành người ham học Yêu cầu ở nội dung này cô cần phải kiên trì, thường xuyên trò chuyện giao tiếp cùng trẻ có nhiều biện pháp giúp trẻ nghe hiểu một cách chính xác nội dung
cô cần truyền đạt Do vậy tôi luôn chú ý đến lời nói phải chính xác, rõ ràng, mạch lạc, tránh nói lắp, nói ngọng
Lựa chọn nội dung giáo dục và hoạt động phù hợp với khả năng của trẻ
Ví dụ: Lựa chọn những bài thơ, bài hát ngắn gọn dễ hiểu, tìm những bài thơ, ca dao, đồng dao giúp trẻ dễ đọc dễ nhớ và cũng thuận lợi trong việc khai thác nội dung
Luôn chú ý hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ để đảm bảo tình phù hợp, chính xác và có tính mở chú trọng lấy trẻ làm trung tâm Đặc biệt khi lựa chọn
đề tài này cần phải chú trọng hơn khi xây dựng nội dung giáo dục để đảm bảo tính hiệu quả phù hợp với nội dung và đối tượng vùng miền
+ Trẻ học tiếng Việt gắn với những tình huống thực tế.
Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch… nói chung là các hoạt động nhằm giúp trẻ tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên, không
Trang 11gượng ép Các hoạt động đa dạng sẽ giúp trẻ từng bước hình thành phong cách riêng trong học tập và sử dụng tiếng Việt Phong cách riêng chính là nền tảng của chất lượng và hiệu quả học tập tiếng Việt cho trẻ em Nắm bắt được đặc điểm này tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để tạo các tình huống và đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ điểm
Ví dụ: Tổ chức các trò chơi cho trẻ như:
-Trò chơi những chiếc thuyền: Cô đổ nước vào chậu hoặc bát to Để 3 cái hộp rỗng vào Cần thổi chúng chuyển động từ bờ bên này sang bờ khác Cô nói với Trẻ: “Con tưởng tượng xem, đây là biển nhé Để cho tàu ra khơi, cần có gió đẩy thuyền đi Con hít sâu vào rồi thổi mạnh đi!” Điều quan trọng là theo dõi việc thở ra và khuyến khích trẻ thực hiện theo yêu cầu của cô.Để kích thích khẩu ngữ của bé, cô đặt những câu hỏi: “Thời tiết trên biển thế nào con nhỉ?”, “Con thấy mặt nước trông như thế nào?”…cô cho trẻ chơi theo nhóm nhỏ các trẻ khác quan sát và nhận xét về các con thuyền, nhận xét cách chơi của các bạn cùng với những lời tán thưởng của cô trẻ rất thích thú cổ vũ cho những con thuyền, đây cũng là một hình thức trẻ được chơi một cách thoải mái nhất nhưng trẻ lại nhớ lâu những từ mới như “con thuyền”, “mặt nước”, “thổi mạnh”, “thuyền đi nhanh, thuyền đi chậm”… bởi qua lúc chơi trẻ hò reo cổ vũ theo cô và các bạn
- Trò chơi dàn nhạc đặc biệt: Cần 6 cái hộp và 3 kiểu vật liệu hạt rời (ngũ cốc, đường, bột, hạt cườm…) Điều quan trọng là đổ từng đôi hộp số lượng vật liệu như nhau để âm thanh trùng nhau chính xác Nhưng âm thanh của đôi hộp này cần khác biệt với đôi khác Một bộ đưa cho trẻ, còn bộ kia cô giữ Cô lắc
“Hộp” bất kì, còn trẻ cần tìm trong bộ của mình cái thùng có âm thanh y như thế
Cô tăng dần số lượng hộp Cô nghĩ ra những tên gọi lí thú cho những dụng cụ đó: Tiếng ồn, quả bom, lúc lắc, lạo sạo… trẻ được chơi cả lớp và yêu cô yêu cầu
cá nhân lên chọn “Hộp” cả lớp cùng nhắc giúp bạn với sự gợi ý của cô Cô nói