RÁC THẢI
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường
Đề tài:
Nghiêng cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức của người dân về phân loại chất thải sinh hoạt tại thị
xã Cai Lậy tỉnh Tiền Giang
SINH VIÊN: NGUYỄN TUẤN VŨ
MSHV : 1411090470 LỚP : 14DMT03 GVGD: PGS TS Thái Văn Nam
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
TP HCM, tháng 07/2017
Trang 2
Tp HCM, ngày …… tháng …… năm 2017
Giáo viên giảng dạy
PGS TS Thái Văn Nam
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 3MỤC LỤC Trang
DANH MỤC HÌNH Trang
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 4SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 5
DANH MỤC BẢNG Trang
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 6SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 7CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước đang phát triển, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ngày càng được đẩy mạnh, đời sống của con người đã và đang được nâng cao Bên cạnh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, sự phát triển kinh tế xã hội, hiện tượng suy thoái môi trường ngày càng biểu hiện rõ rệt Lượng rác thải ra ngày càng tăng, vấn đề phân loại rác thải và xử
lý rác thải đang là vấn đề nhức nhối không chỉ ở thành thị mà còn ở nông thôn
Ở nông thôn do người dân chưa ý thức về tác hại của rác thải nên đã làm ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển bền vững cũng như sức khỏe của cộng đồng
Các chuyên gia khẳng định, với tốc độ phát triển hiện nay thì chỉ một thời gian ngắn nữa, Việt Nam sẽ không thể giải quyết và khó kiểm soát được lượng rác thải phát sinh Như vậy, với lượng chất thải rắn sinh hoạt gia tăng liên tục thì nguy cơ ônhiễm môi trường và tác động tiêu cực do chất thải rắn gây ra đang trở thành vấn
đề cấp bách của công tác bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay
Trong khi các nước tiên tiến trên thế giới như Nhật, Mỹ, Anh đầu tư hàng triệu USD để tái chế rác thải Các quốc gia này đã thành công khi thực hiện song song việc chống ô nhiễm nghiêm trọng môi trường và tận thu lợi ích kinh tế qua tái chế chất thải, đặc biệt là chất thải rắn, xem rác là tài nguyên, nghiêm cấm việc chôn rác, họ thu gom rác thải đem tái chế một cách dễ dàng, thuận lợi, hình thành trong
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 8dân chúng một lối sống văn minh, hữu ích khi xử lý rác thải Trong khi đó, Việt Nam lại là một trong những quốc gia đang lãng phí nguồn năng lượng này.
1.2. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế, hầu hết rác thải sinh hoạt chỉ được chôn lấp tại các bãi với hình thức thô
sơ mang nhiều nhược điểm (tốn diện tích đất, mùi hôi thối ảnh hưởngđến khu dân
cư, có thể trở thành nguồn phát sinh dịch bệnh) Hậu quả đã tácđộng nghiêm trọng tới môi trường và không tận dụng được các nguyên liệu cóthể tái sinh Theo các chuyên gia môi trường, nguồn rác thải này qua thời gianthấm xuống đất, gây ô nhiễm nguồn nước Số lượng rác được xử lý chiếm mộttỷ lệ rất thấp với quy mô nhỏ bé Chất thải cũng được xem là nguồn tài nguyên quý giá nếu như được phân loại và xử lý hợp lý, việc phân loại chất thải rắn tại nguồn giúp giảm được khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phải chôn lấp, giảmkhối lượng nước rỉ rác cần xử lý
Từ đó, giảm rủi ro về ô nhiễm nguồn nướcngầm, nước mặt trên địa bàn Quan trọng hơn, việc triển khai phân loại chấtthải rắn tại nguồn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường
Tỉnh Tiền Giang được xem là một trong những vùng kinh tế trọng điểm củaĐồng
bằng sông Cửu Long có tiềm năng phát triển kinh tế Tuy nhiên, Tiền Giang lại thiếu bãi chôn lấp và công nghệ xử lý Trong khi đó, khối lượng rác thải ngày càng gia tăng do các hoạt động sản xuất Nếu rác thải không được phân loại, khối lượng của rác thải rắn nguy hại không có nguồn gốc hữu cơ nên không có khả năng phân
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 9hủy sinh học sẽ dẫn đến nguy cơ gây tác hại to lớn về môi trường Phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn là một giải pháp đơn giản có hiệu quả kinh tế đáp ứng được yêu cầu quản lý rác thải không chi phí, bảo vệ môi trường sinh thái Xuất phát từ thực trạng trên, để thực hiện tốt công tác quản lý rác thải, cần tìm hiểu đánhgiá một cách chi tiết công tác quản lý, xử lý lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn xã và đề xuất các giải pháp phù hợp.
Chính vì vậy, “Nghiêng cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức
của người dân về phân loại chất thải sinh hoạt tại thị xã Cai Lậy tỉnh Tiền
Giang” được thực hiện để phân tích hiện trạng phân loại, xử lý rác thải sinh hoạt, đánh giá nhận thức và phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn của người dân Từ đó
đề xuất các giải pháp thích hợp để nâng cao nhận thức của người dân về phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn
CHƯƠNG 2 MỤC ĐÍCH, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊNG CỨU
Đối tượng nghiên cứu: thực trạng rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị xã Cai Lậy, tỉnhTiền Giang
- Địa điểm nghiên cứu: thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
2.1 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng rác thải sinh hoạt và nhận thức của người dân về phân loại rác thải tại địa bàn Thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
- Phân tích hiện trạng thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt tại thị xã Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 10- Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao nhận thức về phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn xã
2.2 Nội dung nghiêng cứu
- Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang ảnh hưởng đến tình hình rác và quản lý rác thải tại địa phương
- Điều tra, đánh giá thực trạng rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
- Đề xuất một số biện pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt
2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu :
2.3.1 Các khái niệm cơ bản
2.3.1.1 Khái niệm về rác thải
Theo tác giả Lê Hoàng Việt và Nguyễn Hữu Chiếm (2013): “Rác thải là tất cả các chất thải ở dạng rắn sản sinh do các hoạt động của con người và động vật Đó là các vật liệu hay hàng hóa không còn sử dụng được hay không còn hữu dụng đối với người sử dụng nó nên được bỏ đi.”
Tại khoản 10 Điều 3 của Luật bảo vệ môi trường 2005 cho rằng: “Rác thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc hoạt động khác” Như vậy, rác thải là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ
dùng, chất phế thải sản xuất, dịch vụ, y tế,… mà mọi người không dùng nữa và thải
bỏ đi
Rác thường được chia thành ba nhóm sau:
kim loại, giấy, cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi, cát sỏi,…
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 112. Rác ướt hay thường gọi là rác hữu cơ: Gồm cây cỏ loại bỏ, lá rụng, rau quả
hư, đồ ăn thừa, rác nhà bếp, xác súc vật, phân động vật
người như pin, bình ắc quy, hoá chất, thuốc trừ sâu, bom đạn, rác thải y tế,
rác thải điện tử, …
2.3.1.2 Khái niệm về chất thải sinh hoạt
Theo điều 3 của Nghị định 59 do Chính Phủ ban hành về quản lý chất thải rắn (2007) nói lên rằng rác thải sinh hoạt là thuật ngữ chung dùng để mô tả các loại chất thải rắn sinh ra trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày trong sinh hoạt cá nhân, nơi công cộng Các hoạt động hàng ngày phát sinh rác thải sinh hoạt như ăn uống, dọn dẹp sau bữa ăn, quét dọn nhà cửa, sân vườn, thu dọn những thứ không còn giá trị sử dụng
Rác thải sinh hoạt có thành phần chủ yếu bao gồm: kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dƣ thừa hoặc quá hạn
sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà, vịt, vải , giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả,…
2.3.1.3 Phân loại chất thải
Rác được thải ra từ nhiều nguồn khác nhau nên có nhiều cách phân loại khác nhau, sau đây là một số cách phân loại cơ bản:
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 12-Theo thành phần hóa học, vật lý có thể phân rác thải thành 2 loại chính:
+Rác hữu cơ: thức ăn thừa, lá, bánh, rau quả, rơm rạ, giấy, xác súc vật,
+Rác vô cơ: bao bì bằng nhựa, nilon, mảnh sành, thuỷ tinh, kim loại, vỏ đồ hộp.-Theo bản chất nguồn tạo thành: Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa, rau, quả… loại chất thải này mang bản chất dễ bị phân hủy sinh học, quá trình phân hủy tạo ra các chất có mùi khó chịu, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng
ẩm Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các bếp
ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn, ký túc xá, chợ,…Chất thải trực tiếp của động động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và phân các động vật khác Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga, cống rãnh và các chất thải ra từ các khu vực sinh hoạt của dân cư Các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: Các loại vật liệu sau đốt
cháy,các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than củi và các chất thải dễ cháy khác trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là các lá cây, que, củi, nilon, vỏ bao gói,…
2.3.2 Tác động của rác thải sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
Rác khi thải vào môi trường gây ô nhiễm, đất, nước, không khí Ngoài ra, rác thảicòn làm mất vệ sinh công cộng, làm mất mỹ quan môi trường Rác thải là nơi trú ngụ và phát triển lý tưởng của các loài gây bệnh hại cho người và gia súc
Rác thải ảnh hưởng tới môi trường nhiều hay ít còn phụ thuộc vào nền kinh tế của từng quốc gia, khả năng thu gom và xử lý rác thải, mức độ hiểu biết và trình độgiác ngộ của mỗi người dân Khi xã hội phát triển cao, rác thải không những được
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 13hiểu là có ảnh hưởng xấu tới môi trường mà còn được hiểu là một nguồn nguyên liệu mới có ích nếu chúng ta biết cách phân loại, sử dụng theo từng loại.
2.3.3 Đề xuất mô hình phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn thị
xã Cai Lậy tỉnh Tiền Giang
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Hình 2.1: Mô hình phân loại rác thải tại nguồn ở 2 chợ và thị trấn Phú Bài, huyện
Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
“Nguồn: Lê Hoàng Hải, 2007”Chôn lấp hợp
vệ sinh
Xe vận chuyển chất thải vô cơ Sản xuất phân
hữu cơ
Xe vận chuyển chất thải hữu cơ
Thùng thu gom phân loại
Chất thải vô cơ Chất thải hữu cơ
Chất thải vô cơ (Kim loại, thủy tinh,…) Thùng thu gom phân
Chất thải hữu cơ
(Rau, quả, củ,…)
Nguồn phát sinh chất
thải
Trang 14- Xu thế gia tăng dân số đang ngày càng tiếp diễn và đời sống nhân dân trên địa
bàn tỉnh Tiền Giang được nâng cao nên lượng rác thải phát sinh sẽ ngày càng
nhiều Để “hạn chế tới mức tối thiểu lượng rác thải đem chôn lấp và tăng tới mức tối đa lượng rác thải đem tái chế, chế biến”, tỉnh đã tiến hành thí điểm mô hình
phân loại rác thải tại nguồn trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Hình 2.2: Mô hình phân loại rác thải tại nguồn
“Nguồn: Phạm Thị Diễm Hương, 2006”
Phân compost
chế
Nguồn phát sinh
Nhà máy xử lý rác
Trang 15Từ hai mô hình được đề xuất ở trên với mục đích giảm lượng rác chôn lấp, giảm chi phí thực hiện tiêu hủy chất thải, tăng tối đa số lượng rác tái chế,chế biến, nên tác giả đề xuất mô hình phân loại rác sinh hoạt tại nguồn ở các hộ gia đình để tối
đa lượng rác tái sử dụng, tăng các nguồn lợi thu được từ rác thải sinh hoạt như sau:
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Hình 2.3 : Mô hình phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn ở thị xã
Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
Nguồn phát sinh (Hộ gia đình )
Rác vô cơ (Thùng vàng) Rác hữu cơ
(Thùng xanh)
Trang 162.3.4 Phương pháp nghiên cứu
2.3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Khu vực tiến hành nghiên cứu chủ yếu là các hộ gia đình ở thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
- Số liệu : số liệu trong đề tài được thu thập qua sách, báo, tạp chí, đề tài
nghiên cứu, các luận văn tốt nghiệp, các website có liên quan đến đề tài nghiên cứu, …
- Phương pháp chọn mẫu: phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên-thuận tiện
- Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng các phương pháp thống kê để xử lý cũng
như đánh giá số liệu như các thuật toán trong Excel
- Thống kê, thu thập tài liệu và kế thừa những kết quả từ các nghiên cứu đã được thực hiện trong thời gian qua tại thị xã Cai Lậy tỉnh Tiền Giang
2.3.4.2 Phương pháp phân tích số liệu.
Mục tiêu 1: Phương pháp so sánh được sử dụng để phân tích thực trạng thu gom
và quản lý rác thải sinh hoạt tại thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
Phương pháp so sánh: là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong tất cả các công đoạn của phân tích kinh doanh Một số tiêu chuẩn thường được dùng để phân tích là số liệu năm trước, số liệu kế hoạch Điều kiện của phương pháp so sánh là phải cùng nội dung phản ánh, cùng phương pháp tính toán, cùng một đơn vị đo lường, cùng trong khoảng thời gian tương xứng Có 2 phương pháp so sánh cụ thể
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 17- Phương pháp so sánh số tuyệt đối: lấy giá trị tuyệt đối của năm sau trừ đi năm trước để thấy sự chênh lệch.
Công thức: Δy = y1 - yo
y0: chỉ tiêu năm trước;
y1: chỉ tiêu năm sau;
Δy: là phần chênh lệch tăng, giảm của các chỉ tiêu kinh tế
Phương pháp này sử dụng để so sánh số liệu năm tính với số liệu năm trước của các chỉ tiêu xem có biến động không và tìm ra nguyên nhân biến động của các chỉ tiêu kinh tế, từ đó đề ra biện pháp khắc phục
- Phương pháp so sánh số tương đối: lấy giá trị tương đối của năm sau trừ đi cho giá trị tương đối của năm trước
y0: chỉ tiêu năm trước;
y1: chỉ tiêu năm sau;
Δy: biểu hiện tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu kinh tế
Phương pháp dùng để làm rõ tình hình biến động của mức độ của các chỉ tiêu kinh
tế trong thời gian nào đó So sánh tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu giữacác năm và
so sánh tốc độ tăng trưởng giữa các chỉ tiêu Từ đó tìm ra nguyênnhân và biện phápkhắc phục
Mục tiêu 2: Phương pháp thống kê mô tả, phân tích bảng chéo và mô hình hồi quy
logistic được sử dụng để đánh giá nhận thức của người dân trên địa bàn thị xã Cai
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 18Lậy, tỉnh Tiền Giang về phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn.
Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp thống kê mô tả là phương pháp phân tích nhờ tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu được ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế và kinh doanh bằng cách rút ra những kết luận dựa trên số liệu và thông tin được thu thập Các công cụ cơ bản để tóm tắt và trình bày dữ liệu
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Cai Lậy tỉnh Tiền Gang 3.1.1 Điều kiện tự nhiên thị xã Cai Lậy
Cai Lậy là một thị xã thuộc tỉnh Tiền Giang (trước đây nằm trong huyện Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho và sau đó thuộc tỉnh Tiền Giang), nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Ngày 26 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Cai Lậy để thành lập thị xã Cai Lậy và huyện Cai Lậy còn lại; thành lập các phường thuộc thị xã Cai Lậy, tỉnh TiềnGiang
Thị xã Cai Lậy có 14.018,95 ha diện tích tự nhiên và dân số là 123.775 người
3.1.1.1 Vị trí địa lý :
Thị xã nằm ở phía tây tỉnh Tiền Giang:
- Phía bắc giáp huyện Tân Phước
- Phía đông giáp huyện Châu Thành
- Phía tây và phía nam giáp huyện Cai Lậy mới
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 19Trong quy hoạch phát triển chung của tỉnh, thị xã Cai Lậy sẽ được nâng cấp phát
triển thành đô thị văn minh, hiện đại của tỉnh Tiền Giang
3.1.2 Điều kiện tự nhiên tỉnh Tiền Giang
3.1.2.2. Đặc điểm địa hình
Tỉnh có địa hình bằng phẳng, với độ dốc <1% và cao trình biến thiên từ 0m đến 1,6 m so với mặt nước biển, phổ biến từ 0,8 m đến 1,1 m
3.1.2.3. Khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 20khô, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với mùa gió Tây Nam, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng với mùa gió Đông Bắc Nhiệt độ trung bình năm là
nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chung của vùng đồng bằng sông Cửu Long, với đặc điểm nền nhiệt cao và ổn định quanh năm, ít bão, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
3.3 Hiện trang quản lý rác thải sinh hoạt hiện nay tại thị xã Cai Lậy tỉnh Tiền Giang
3.3.1 Khối lượng rác thải sinh hoạt tại thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
Bảng 3.1: khối lượng rác thải sinh hoạt tại thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
2011
Năm2012
Năm2013
Chênh lệch năm2012/2011
Chênh lệch năm2012/2013Tuyệt
đối
Tỷ lệ(%)
Tuyệtđối
Tỷ lệ(%)Khối
Trang 21“Nguồn: Phòng Kinh tế và hạ tầng thị xã Cai Lậy (2014)”
Khối lượng rác thải sinh hoạt được thu gom và xử lý ngày càng được gia tăng qua các năm 2011-2013 Cụ thể, khối lượng rác thải được thu gom và xử lý năm
2011 là 4236,6 tấn, năm 2012 tăng lên thành 7135,2 tấn (tăng 68,42% so với năm 2011) và đến năm 2013 thì khối lượng rác thải được thu gom và xử lý là
9834,75 tấn (tăng 37,83% so với năm 2012) Khối lượng rác thải sinh hoạt được thu gom và xử lý của thị xã Cai Lậy tăng liên tục qua các năm 2011-2013 là đô thị
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 22xã Cai Lậy có vị trí địa lý thuận tiện về giao thông, buôn bán, trao đổi hàng hóa,… nên tốc độ gia tăng dân số và tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh Từ đó, khối lượngrác thải không ngừng gia tăng theo thời gian Để đảm bảo tình hình vệ sinh môi trường của thị xã, chính quyền địa phương phải tăng cường công tác thu gom rác thải sinh hoạt qua các năm mới đáp ứng được tình hình phát sinh rác thải và nhu cầu thu gom rác của người dân trong thời gian tới.
Ngoài ra, công tác thu gom hiện nay đạt hiệu quả như trên là nhờ công lao quản
lý hiệu quả của các cấp, các ngành, các chủ đầu tư chủ động lập đầy đủ các thủ tục
về đầu tư xây dựng, huy động các nguồn vốn từ bên trong và ngoài tỉnh để đầu tư trang thiết bị thu gom, tăng cường đội ngũ cán bộ thu gom và xử lý rác thải Thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát, quản lý chặt chẽ công tác thu gom và xử lý rác thảisinh ra trên địa bàn thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
Bảng 3.2: Tỷ trọng thành phần thông thường của chất thải sinh hoạt tại thị xã
Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 23“Nguồn: Sở Tài nguyên-Môi trường thành phố Mỹ Tho (2014)”
Bảng 3.2 cho thấy thành phần chủ yếu trong rác thải sinh hoạt hàng ngày tại thị
xã Cai Lậy là rác hữu cơ (thực phẩm, rác dễ phân hủy) Thành phần rác hữu cơ chiếm 76,17%, thành phần bao nilon các loại chiếm 6,73% Thành phần nhựa (5,3%), giấy các loại (4,19%), gỗ, cành cây (2,97%), thành phần thủy tinh (2,56%) chiếm rất ít Rác thải sinh hoạt ở thị xã Cai Lậy không có thành phần chất trơ và thành phần kim loại chiếm tỷ trọng ít nhất (2,08%)
3.3.2 Hiện trạng mạng lưới thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở thị xã Cai Lậy tỉnh Tiền Giang
Công tác thu gom rác sinh hoạt ở khu vực thị xã được thu gom hàng ngày với số lượng rác trung bình là 19 tấn/ngày Tất cả rác sinh hoạt sau khi thu gom từ các hộ gia đình đều được tập kết tại khu vực chợ của các phường và xã của thị xã Cai Lậy
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470
Trang 24Sau đó, xe 8 tấn sẽ đến nơi tập kết lấy rác vào lúc 2h-3h sáng và một chiếc xe 4 tấn
sẽ lấy rác vào lúc 12h-14h trưa để chuyển tất cả rác sinh hoạt từ bãi rác trung chuyển đến bãi rác tập trung ở Tân Lập của huyện Tân Phước Trước đây, rác thải sinh hoạt trên địa bàn được thu gom, tập kết về bãi rác ấp Bình Phong, xã Bình Phú Nhưng qua nhiều năm, bãi rác này gây ô nhiễm, phát sinh ruồi nhặng, bốc mùi hôi thối, ảnh hưởng sức khỏe của các hộ dân sống gần khu vực, đồng thời khốilượng quá tải nên đầu năm 2010 huyện đã tiến hành đóng cửa bãi rác và rác được chuyển về và đổ ở bãi rác Tân Lập ở huyện Tân Phước Thiết bị thu gom rác hàng ngày gồm 22 thùng rác composite loại 660 lít (được dùng để thu gom rác) và 10 thùng rác composite loại 240 lít (được đặt ở nơi công cộng) do ngân sách huyện mua cấp Nhưng do dân số ngày càng tăng và hoạt động kinh doanh, buôn bán ngày càng nhiều nên rác phát sinh ra tương đối nhiều phải cần thêm 13 thùng composite loại 660 lít để chứa rác Hợp tác xã xây dựng Cai Lậy đã thành lập đội
vệ sinh để thu gom vận chuyển rác gồm 24 người, trong đó có 1 người quản lý,tài xế, 2 phụ xe và 19 công nhân trực tiếp thu gom rác thải hàng ngày trên các tuyến đường chính và trong các ngỏ ngách, hẻm cụt với mức lương từ 1,5 đến 2,4 triệu đồng/người/tháng Hiện nay, các hộ gia đình ở thị xã Cai Lậy đều tham gia đăng ký thu gom rác 100%, tuy nhiên đa số hộ dân đều để rác trước cửa nhà hoặc ngay đầu hẻm gây mất vẻ mỹ quan môi trường
SINH VIÊN : Nguyễn Tuấn Vũ – 1411090470