1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về tạm giam và việc hoàn thiện quy định này

16 440 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 113,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm tạm giam Đầu tiên, để hiểu như thế nào là tạm giam thì ta nên tìm hiểu thế nào là biện pháp ngăn chặn, theo cách hiểu chung thì “ Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế tro

Trang 1

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ

TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ TẠM GIAM VÀ VIỆC HOÀN THIỆN

QUY ĐỊNH NÀY

MỞ BÀI

Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta quy định nhiều biện pháp cưỡng chế khác nhau phù hợp với mục đích của từng giai đoạn khác nhau Trong đó gồm có những biện pháp nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người có hành

vi bỏ trốn hoặc có hành vi gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án Đề tìm

hiểu về một trong số biện pháp trên em xin chọn đề 8: Quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về tạm giam và việc hoàn thiện quy định này.

Trang 2

NỘI DUNG I.

KHÁI NIỆM VÀ MỤC ĐÍCH CỦA TẠM GIAM

1

Khái niệm tạm giam

Đầu tiên, để hiểu như thế nào là tạm giam thì ta nên tìm hiểu thế nào là biện pháp ngăn chặn,

theo cách hiểu chung thì “ Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị truy nã hoặc đối với những người chưa bị khởi tố nhằm ngặn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của

họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự”.

Như vậy, biện pháp ngăn chặn là những biện pháp mang tính cưỡng chế nghiêm khắc để ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa người phạm tội, bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như để bảo vệ thi hành án

Tại điều 79 BLTTHS 2003 đã chỉ ra các biện pháp ngăn chặn cụ thể gồm có: bắt người, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Như vậy, tạm giam được hiểu là một trong những biện pháp ngăn chặn quy định trong luật tố tụng hình sự

Do đó theo cách hiểu chung của nhà làm luật thì “ Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan điều tra, viện kiệm sát, tòa án áp dụng đối với

bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hay phạm tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.”

2

Mục đích tạm giam

Trang 3

So với các biện pháp khác thì tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự Người bị áp dụng biện pháp tạm giam bị cách li với xã hội một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền của công dân do đó trong trường hợp đặc biệt mới nên áp dụng biện pháp này

Tạm giam được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình

sự Vì vậy, ngoài mục đích chung, thống nhất là ngăn chặn không để bị can, bị cáo có điều kiện tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án thì ở mỗi giai đoạn tố tụng nhất định, việc áp dụng biện pháp này còn có mục đích riêng nhằm bảo đảm thực hiện tố tụng của cơ quan

áp dụng

Ví dụ: Việc tạm giam đối với bị can trong giai đoạn điều tra tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan điều tra có thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can vào khi nào mà không phải mất thời gian triệu tập nhiều lần Hoặc việc tạm giam bị cáo sau khi tuyên án nhằm bảo đảm cho việc thi hành án sau khi bản án có hiệu lực pháp luật được thuận lợi

II.

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS NĂM 2003 VỀ TẠM GIAM

Những quy định về tạm giam được quy định cụ thể tại các Điều 88, Điều 89, Điều 90 và rải rác trong BLTTHS 2003, sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu về nội dung chính được quy định về tạm giam như sau

1

Đối tượng áp dụng

Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo Những người không phải là bị can, bị cáo thì không bị áp dụng biện pháp tạm giam, không ai có quyền làm trái quy định này

Khoản 1 Điều 88 BLTTHS năm 2003 quy định những trường hợp được áp dụng biện pháp tạm giam như sau:

Trang 4

Trường hợp thứ nhất: Điểm a, khoản 1 Điều 88 quy định “ Bị can, Bị can phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng” Đây là trường hợp bị can, bị cáo phạm tội

gây nguy hại lớn cho xã hội mà theo quy định của Bộ luật hình sự, mức cao nhất của khung hình phạt

áp dụng đối với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình ( tội phạm đặc biệt nghiêm trọng ) hoặc phạm tội mà mức cao nhất của khung hình phạt đến 15 năm tù ( tội phạm rất nghiêm trọng ) Tuy nhiên biện pháp tạm giam trong trường hợp này cần thỏa mãn đồng thời hai điều kiện

+ Người thực hiện tội phạm là người đã bị khởi tố bị can hoặc người đã bị thẩm phán ra quyết địh đưa vụ án ra xét xử với tư cách là bị cáo Điều kiện này cho thấy, đối tượng của tạm giam chỉ có thể là

bị can hoặc bị cáo mà thôi

+ Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng Tạm giam là một biện pháp có tính chất nghiêm khắc nhất, hạn chế quyền tự do của người phạm tội do đó nó cũng chỉ áp dụng cho những tội gây nguy hiểm cao cho xã hội

Trường hợp thứ hai: Điểm b, khoản 1 Điều 88 quy định “ Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.” Việc tạm giam trong

trường hợp này cần thỏa mãn 3 điều kiện như sau:

+ Người thực hiện tội phạm là bị can, bị cáo

+ Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm Đây là trường hợp bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên hai năm tù Trong một điều luật có nhiều khoản thì phạm tội thuộc khoản có mức hình phạt trên hai năm tù có thể tạm giam, phạm tội thuộc khoản có mức hình phạt tù từ hai năm trở xuống thì không được tạm giam

Trang 5

+ Có căn cứ để cho rằng người phạm tội có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc

có thể tiếp tục phạm tội Để xác định được điều kiện này cần phải căn cứ vào nhân thân bị can, bị cáo, thái độ của họ sau khi phạm tội hoặc những vi phạm nghĩa vụ của bị can, bị cáo khi được áp dụng biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc

Khi phạm tội thuộc những trường hợp trên, bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam như

sự đề phòng bỏ lột tội phạm Tuy vậy, không phải tất cả các đối tượng thỏa mãn 3 điều kiện trên sẽ bị tam giam vì người phạm tội thì đa dạng, chúng ta còn phải xem xét đến độ tuổi, sinh lý, điều kiện cụ thể của từng đối tượng để áp dụng các biện pháp ngăn chặn phù hợp vừa để hợp tình vừa đúng pháp luật

Tại khoản 2 Điều 88 BLTTHS năm 2003 quy định: “Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ

có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người

bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ những trường hợp sau đây:

a) Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã;

b) Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử;

c) Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.”

Trừ đi những trường hợp trên vì đó là những tội phạm liên quan đến an ninh quốc gia, bí mật quốc gia, phải tạm giam họ vì nếu không rất dễ bị lộ ra ngoài ảnh hướng xấu tới sự sống còn của đất nước Bị can, bị cáo thuộc khoản này đã được Nhà nước “nhân văn” áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhẹ hơn nhưng vẫn lỳ lợm, cứng nhắc có ý định bỏ trốn và chống lại người thi hành công vụ, gây cản trở điều tra thì sẽ áp dụng biện pháp tạm giam nhằm răn đe tội phạm, bảo đảm cho vụ án được tiến hành đúng tiến độ, tránh bỏ lọt tội phạm

Trang 6

Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam

BLTTHS 2003 không trực tiếp quy định các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam

mà chỉ quy định các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung Điều 79 BLTTHS 2003 quy định các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn bao gồm:

- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm

- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử

- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội

- Để đảm bảo thi hành án

Trong số các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn kể trên, căn cứ “để kịp thời ngăn chặn tội phạm” chỉ áp dụng cho các trường hợp bắt người phạm tội quả tang theo khoản 1 Điều 82 hoặc bắt người trong trường hợp khẩn cấp theo điểm

a khoản 1 Điều 81 BLTTHS nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, không để tội phạm xảy ra hay không để người phạm tội kết thúc hành vi phạm tội của mình, gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Căn cứ này không thể là căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam vì đối tượng áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam là bị can, bị cáo, hành vi phạm tội của họ là hành vi đã được thực hiện trong quá khứ Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam bao gồm:

+ Căn cứ thứ nhất: Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Hành vi gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thể hiện qua việc sau khi thực hiện hành vi phạm tội, người thực hiện tội phạm có thể bỏ trốn, tiêu hủy, làm giả hoặc thay đổi chứng cứ, xóa các dấu vết của vụ án, bàn bạc nhau trốn tránh pháp luật, mua chuộc, dụ dỗ, cưỡng

ép, khống chế người làm chứng, người bị hại… gây khó khăn phức tạp cho việc xác định, làm rõ sự thật khách quan vụ án Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử có thể áp dụng căn cứ này để tạm giam

Trang 7

+ Căn cứ thứ hai: Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội.Căn cứ chứng tỏ

bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội có thể được thể hiện qua các yếu tố phản ánh về nhân thân của các

bị can, bị cáo: bị can, bị cáo là những phần tử xấu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, là những tội phạm

có tính chất chuyên nghiệp, côn đồ, hung hãn coi thường pháp luật; bị can, bị cáo có hành vi đe dọa trả thù người làm chứng, người bị hại và sự đe dọa đó có khả năng trở thành hiện thực

+ Căn cứ thứ ba: Để đảm bảo thi hành án Khi cần đảm bảo thi hành án, tùy theo tính chất cụ thể của từng vụ án, tùy theo nhân thân của người bị kết án, Tòa án có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn thích hợp trong đó Tòa án có thể sử dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án, còn nếu có đủ cơ sở cho rằng bị cáo sẽ không bỏ trốn, không gây cản trở khó khăn cho việc thi hành án thì không cần áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mà chỉ cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn

3

Thẩm quyền ra lệnh tạm giam

Để đảm bảo sự chặt chẽ của pháp luật và cũng bởi vì tạm giam là một biện pháp có tính nghiêm khắc cao nên chỉ những chủ thể có thẩm quyền được nhà nước cho phép mới được áp dụng biện pháp này Về thẩm quyền ra lệnh tạm giam Khoản 3 Điều 88 quy định: “Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt được quy định tại Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành…”

Theo quy định tại khoản 1 Điều 80 BLTTHS 2003, những người sau đây có quyền ra lệnh bắt

bị can, bị cáo để tạm giam:

- Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND và VKSQS các cấp;

- Chánh án, Phó chánh án TAND và TAQS các cấp;

- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa phúc thẩm TANDTC; Hội đồng xét xử;

Trang 8

- Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp Trong trường hợp này, lệnh tạm giam phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

Như vậy, thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam được quy định cho nhiều cơ quan với nhiều chủ thể khác nhau tùy thuộc vào các giai đoạn tố tụng VKS với chức năng là cơ quan kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ kiểm tra, giám sát hoạt động này, đặc biệt với lệnh tạm giam của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

Hướng dẫn về việc phê chuẩn lệnh tạm giam trong trường hợp đang bị tạm giữ bị khởi tố bị can ( khoản 3 Điều 88 )… thì Tại Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP về quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2003, Điểm 5 thông tư có quy định rõ ràng và chi tiết hơn nội dung này

4

Thủ tục tạm giam

Với tính chất là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, hạn chế tự do của người bị áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định, vì vậy việc áp dụng biện pháp tạm giam cần phải tuân theo một trình tự, thủ tục rất chặt chẽ

Theo quy định của BLTTHS 2003 thì việc tạm giam bị can, bị cáo phải có lệnh tạm giam Lệnh này phải do những người có thẩm quyền kí Lệnh tạm giam phải ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị tạm giam; lý do tạm giam, thời hạn tạm giam và giao cho người bị tạm giam một bản

Khoản 4 Điều 88 cũng quy định về thủ tục tạm giam “Cơ quan ra lệnh tạm

giam phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc biết” Sau khi ra lệnh tạm giam,

cơ quan ra lệnh tạm giam phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam nhằm

Trang 9

xác định đúng đối tượng cần tạm giam, tránh trường hợp nhầm lẫn Đồng thời cơ quan đã ra lệnh tạm giam phải thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc biết để gia đình họ cũng như các cơ quan tổ chức biết được sự việc và không phải tiến hành những thủ tục tìm kiếm không có căn cứ, gây tốn kém Điều này hoàn toàn phù hợp vì quyền tự do của người của người bị tạm giam bị ảnh hưởng nên phải có những biện pháp thông báo cho người thân của họ để bảo đảm quyền được thông tin của người bị tam giạm

5

Thời hạn tạm giam để điều tra

Theo quy định của BLTTHS năm 2003 thì tạm giam được áp dụng trong các giai đoạn: Điều tra; truy tố; xét xử Thời hạn tạm giam bị can, bị cáo được quy định theo những căn cứ khác nhau phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng để bảo đảm cho cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình

Ở đây do giới hạn về bài tập học kỳ em sẽ nêu lên thời hạn tạm giam để điều tra, một giai đoạn có tầm quan trọng nhất của quy trình tố tụng hình sự.

Khoản 1 Điều 120 BLTTHS 2003 Thời hạn tạm giam để điều tra quy định: “ Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.” Như vậy,

thời hạn tạm giam được xác định theo tính chất tội phạm và tính chất phức tạp của nó để quy định cho phù hợp

Tuy nhiên trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là

Trang 10

mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam Lúc đó việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng;Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng;Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng; Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng

Như vậy, thời hạn tạm giam đối với bị can, bị cao đã được luật một cách cụ thể, hợp lý tránh trường hợp quy định quá cao ảnh hưởng đến các quyền của công dân

6

Một số quy định chung khác về tạm giam

a Chế độ tạm giam

Về chế độ của người bị tạm giam được tạm hiểu là các quyền của người tạm giam được quy định tại Điều 89 BLTTHS 2003 cụ thể:

Thứ nhất Chế độ tạm giam khác với chế độ đối với người đang chấp hành hình phạt tù Tạm giam không phải là hình phạt mà là những biện pháp ngăn chặn

trong tố tụng hình sự Việc áp dụng biện pháp tạm giam không phải nhằm trừng trị người phạm tội ( trước khi bản án có hiệu lực người bị nghi ngờ có liên quan đều được suy đoán vô tội ) mà là để ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án của người phạm tội

Thứ hai, nơi tạm giữ, tạm giam, chế độ sinh hoạt, nhận quà, liên hệ với gia đình và các chế độ khác được thực hiện theo quy định của Chính phủ Người bị

tạm giữ, tạm giam không phải chấp hành chế độ của người thi hành hình phạt tù

mà là chỉ chấp hành các quy định của Chính phủ về chế độ đi lại, nhận quà, thăm hỏi của gia đình, liên hệ với gia đình trong thời gian bị tạm giam

Ngày đăng: 11/07/2017, 21:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w