1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đáp án bài tập tình huống ông nguyễn văn h bắt đầu làm việc tại công ty a từ ngày 06102009 với hđlđ xác định thời hạn 2 năm với công việc là kỹ thuật viên vô tuyến điện, mức lương cơ bản là 15 triệu đồng tháng và sau đó hai bên gia hạn

14 624 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SAU KHI RA VIỆN, ÔNG NHẬN ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH CHẤM DỨT HĐLĐ CỦA CÔNG TY A VỚI LÝ DO: THỨ NHẤT, ÔNG ĐÃ BỊ TAI NẠN ĐIỀU TRỊ 6 THÁNG LIÊN TỤC NÊN CÔNG TY CHẤM DỨT HĐLĐ VỚI ÔNG THEO ĐIỂM B KHOẢN

Trang 1

TÌNH HUỐNG: ÔNG NGUYỄN VĂN H BẮT ĐẦU LÀM VIỆC TẠI CÔNG TY A

TỪ NGÀY 06/10/2009 VỚI HĐLĐ XÁC ĐỊNH THỜI HẠN 2 NĂM VỚI CÔNG VIỆC LÀ KỸ THUẬT VIÊN VÔ TUYẾN ĐIỆN, MỨC LƯƠNG CƠ BẢN LÀ 15 TRIỆU ĐỒNG/ THÁNG VÀ SAU ĐÓ HAI BÊN GIA HẠN HỢP ĐỒNG THÊM 2 NĂM NỮA HẾT THỜI HẠN GIA HẠN HỢP ĐỒNG, MẶ DÙ HAI BÊN KHÔNG

KÝ HỢP ĐỒNG NHƯNG ÔNG H VẪN TIẾP TỤC LÀM VIỆC CHO CÔNG TY A NGÀY 12/01/2016, ÔNG BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG PHẢI VÀO VIỆN ĐIỀU TRỊ 6 THÁNG LIÊN TỤC VÀ ĐƯỢC XÁC ĐỊNH SUY GIẢM 35% KHẢ NĂNG LAO ĐỘNG SAU KHI RA VIỆN, ÔNG NHẬN ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH CHẤM DỨT HĐLĐ CỦA CÔNG TY A VỚI LÝ DO: THỨ NHẤT, ÔNG ĐÃ BỊ TAI NẠN ĐIỀU TRỊ 6 THÁNG LIÊN TỤC NÊN CÔNG TY CHẤM DỨT HĐLĐ VỚI ÔNG THEO ĐIỂM B KHOẢN 1 ĐIỀU 38; THỨ HAI, ÔNG BỊ SUY GIẢM KHẢ NĂNG LAO ĐỘNG NÊN KHÔNG THỂ TIẾP TỤC LÀM CÔNG VIỆC ĐÓ NỮA ÔNG H ĐÃ

LÀM ĐƠN KHỞI KIỆN RA TÒA ÁN.

TÌNH HUỐNG

Ông Nguyễn Văn H bắt đầu làm việc tại Công ty A từ ngày 06/10/2009 với HĐLĐ xác định thời hạn 2 năm với công việc là kỹ thuật viên vô tuyến điện, mức lương cơ bản

là 15 triệu đồng/ tháng và sau đó hai bên gia hạn hợp đồng thêm 2 năm nữa Hết thời hạn gia hạn hợp đồng, mặ dù hai bên không ký hợp đồng nhưng ông H vẫn tiếp tục làm việc cho Công ty A Ngày 12/01/2016, ông bị tai nạn lao động phải vào viện điều trị 6 tháng liên tục và được xác định suy giảm 35% khả năng lao động Sau khi ra viện, ông nhận được quyết định chấm dứt HĐLĐ của Công ty A với lý do: thứ nhất, ông đã bị tai nạn điều trị 6 tháng liên tục nên Công ty chấm dứt HĐLĐ với ông theo điểm b khoản 1 Điều 38; thứ hai, ông bị suy giảm khả năng lao động nên không thể tiếp tục làm công việc đó nữa Ông H đã làm đơn khởi kiện ra Tòa án

Hỏi:

1 Việc gia hạn HĐLĐ giữa Công ty A và ông H là đúng hay sai? Tại sao? (2 điểm)

2 HĐLĐ cuối cùng giữa ông H và Công ty A là loại HĐLĐ nào? Tại sao? (2 điểm)

Trang 2

3 Việc chấm dứt HĐLĐ của Công ty A đối với ông H có căn cứ pháp luật hay không? Tại sao? (3điểm)

4 Giải quyết quyền lợi cho ông H theo quy định của PLLĐ hiện hành (3 điểm)

1.

Việc gia hạn hợp đồng lao động giữa công ty A và ông H là đúng hay sai? Tại sao?

Trả lời: việc ông Nguyễn Văn H và công ty A gia hạn thêm 2 năm nữa là hoàn toàn phù

hợp.

HĐLĐ giữa ông Nguyễn Văn H và công ty A được ký kết ngày 6/10/2009 Như vậy, hợp đồng này vẫn được điều chỉnh theo quy định của BLLĐ 1994

Điều 27 Bộ luật Lao động năm 1994 sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007 quy định về loại hình hợp đồng lao động như sau:

“1 Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

HĐLĐ không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn.

HĐLĐ xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới

12 tháng.

2 Khi HĐLĐ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày HĐLĐ hết hạn, hai bên phải ký kết

Trang 3

HĐLĐ; nếu không ký kết HĐLĐ, hợp đồng đã giao kết trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn Trường hợp hai bên ký kết HĐLĐ mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm một thời hạn, sau đó nếu NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết HĐLĐ không xác định thời hạn.

3 Không được giao kết HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định mà thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế NLĐ đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.”

Theo đề bài thì HĐLĐ ký kết giữa công ty A với ông H là 2 năm, theo khoản 2 của Điều 27 BLLĐ nêu trên có thể xác định rằng HĐLĐ giữa ông H và công ty A là HĐLĐ xác định thời hạn

Theo nội dung của quy định trên thì có thể thấy rằng HĐLĐ xác định thời hạn là loại hợp đồng mà hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng HĐLĐ xác định thời hạn có thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng Khi hết hạn HĐLĐ xác định thời hạn thì NSDLĐ (Công ty A) cũng chỉ được ký kết thêm một lần nữa HĐLĐ xác định thời hạn với NLĐ (ông H) Như vậy, chỉ được phép ký kết HĐLĐ xác định thời hạn với NLĐ tối đa 2 lần, nếu sau khi HĐLĐ xác định thời hạn hết hạn mà NLĐ tiếp tục làm việc thì trong vòng 30 ngày phải ký HĐLĐ mới Sau 30 ngày, NSDLĐ không ký kết HĐLĐ mới mà NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì HĐLĐ xác định thời hạn trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn

Trong tình huống, HĐLĐ của ông H ký kết ban đầu là có thời hạn là 2 năm, sau đó

gia hạn thêm 2 năm, việc gia hạn HĐLĐ thêm 2 năm nữa sau khi HĐLĐ ban đầu hết thời hạn được coi là ký HĐLĐ xác định thời hạn lần thứ 2

Trang 4

Như vậy, đối chiếu với nội dung phân tích khoản 2 Điều 27 nêu trên về loại hình hợp đồng lao động có thời hạn thì việc ông Nguyễn Văn H và công ty A ký hợp đồng gia hạn thêm 2 năm nữa là hoàn toàn phù hợp.

2 HĐLĐ cuối cùng giữa ông H và công ty A là loại HĐLĐ nào? Tại sao?

Trả lời: HĐLĐ cuối cùng giữa ông H và công ty A là HĐLĐ không xác định thời

hạn Bởi vì:

Ngày 06/10/2009 ông H bắt đầu làm việc tại công ty A với HĐLĐ xác định thời hạn là 2 năm, sau đó hai bên lại gia hạn hợp đồng thêm 2 năm nữa

Hết thời hạn gia hạn hợp đồng, mặc dù hai bên không ký HĐLĐ mới nhưng ông H vẫn tiếp tục làm việc cho công ty A Như vậy, HĐLĐ mới đã được hình thành giữa ông H

và công ty A, đó là HĐLĐ được xác lập bằng hành vi

Điều 22 BLLĐ 2012 quy định về loại hợp đồng lao động:

“1 Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

HĐLĐ không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

HĐLĐ xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2 Khi HĐLĐ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày HĐLĐ hết hạn, hai bên phải ký kết

Trang 5

HĐLĐ mới; nếu không ký kết HĐLĐ mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm

b khoản 1 Điều này trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành HĐLĐ xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng.

Trường hợp hai bên ký kết HĐLĐ mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết HĐLĐ không xác định thời hạn.

3 Không được giao kết HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế NLĐ đi làm nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.”

Theo quy định tại khoản 2 Điều 22 BLLĐ 2012: hợp đồng trước đó ông H ký với công ty A là loại hợp đồng xác định thời hạn, với thời hạn là 2 năm, thì sau 30 ngày kể từ ngày hết hạn hợp đồng mà NLĐ vẫn tiếp tục làm việc, hai bên phải ký hợp đồng mới Nếu không ký hợp đồng mới thì hợp đồng xác định thời hạn đã ký trước đó sẽ chuyển thành hợp đồng không xác định thời hạn

Chính vì vậy, HĐLĐ cuối cùng mà ông H ký với công ty A là loại hợp đồng không xác định thời hạn

3 Việc chấm dứt HĐLĐ của công ty A đối với anh H có căn cứ pháp luật hay

không? Tại sao?

Trả lời: Việc chấm dứt HĐLĐ của công ty A đối với anh H là không có căn cứ pháp luật.

Bởi:

Trang 6

Điều 38 BLLĐ năm 2012 quy định về “Quyền đơn phương chấm dứt hợp

đồng lao động của người sử dụng lao động” như sau:

“1 NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong những trường hợp sau đây:

a) NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ;

b) NLĐ bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo HĐLĐ không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với NLĐ làm theo HĐLĐ xác định thời hạn và quá nửa thời hạn HĐLĐ đối với người làm theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của NLĐ bình phục, thì NLĐ được xem xét để tiếp tục giao kết HĐLĐ;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà NSDLĐ đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) NLĐ không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2 Khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ NSDLĐ phải báo cho NLĐbiết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng”.

Trang 7

Theo tình huống mà đề bài đưa ra, thì công ty A chấm dứt HĐLĐ với ông H bởi hai

lý do: Thứ nhất, ông đã bị tai nạn điều trị 6 tháng liên tục nên công ty chấm dứt HĐLĐ với ông theo điểm b Khoản 1 Điều 38; Thứ hai, ông bị suy giảm khả năng lao động nên không thể tiếp tục làm công việc đó nữa” Cả hai lý do mà công ty A đưa ra đều

không có căn cứ pháp luật.

Thứ nhất, theo điểm b khoản 1 Điều 38 BLLĐ năm 2012 thì NSDLĐ được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp “NLĐ bị ốm đau, tai nạn đã điều

trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo HĐLĐ không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với NLĐ làm theo HĐLĐ xác định thời hạn và quá nửa thời hạn HĐLĐ đối với người làm theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng

mà khả năng lao động chưa hồi phục”

Như phần 2 đã trình bày thì HĐLĐ cuối cùng giữa ông H và công ty A là loại HĐLĐ không xác định thời hạn, do đó, vào ngày 12/1/2016 ông H vẫn đang thực hiện HĐLĐ không xác định thời hạn với công ty A Như vậy, đối với HĐLĐ không xác định thời hạn thì NSDLĐ chỉ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi NLĐ – cụ thể là ông H bị tai nạn và điều trị 12 tháng liên tục Tuy nhiên, ông H chỉ điều trị 6 tháng liên tục nên việc công ty A chấm dứt HĐLĐ với ông H là không đúng NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ bị tai nạn, đã điều trị 06 tháng liên tục chỉ áp dụng đối với hợp đồng xác định thời hạn Hợp đồng giữa ông H và công ty A lúc này đã là hợp đồng không xác định thời hạn

Bên cạnh đó, Khoản 2 Điều 38 BLLĐ cũng quy định rằng khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ, NSDLĐ phải báo cho người lao động biết trước “ít nhất 45 ngày đối

Trang 8

với HĐLĐ không xác định thời hạn” Tuy nhiên, Công ty A đã không báo trước

cho ông H mà đã ra quyết định chấm dứt HĐLĐ với ông ngay sau khi ra viện Quyết định này cũng trái với quy định pháp luật

Lý do thứ hai mà công ty A đưa ra để đơn phương chấm dứt HĐLĐ với ông H là

ông bị suy giảm khả năng lao động nên không thể tiếp tục làm công việc đó nữa Theo Khoản 1 Điều 38 thì đây không phải là lý do để NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ Nên lý do này đưa ra là không có căn cứ pháp luật

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 39 BLLĐ năm 2012 quy định về Trường hợp NSDLĐ không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi “NLĐ ốm đau hoặc

bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 của bộ luật này”.

Trong tình huống, ông H đang điều trị tai nạn lao động tại bệnh viện và trường hợp của ông H không thuộc trường hợp quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 38 nên trong tình huống này, công ty A không có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với ông H

Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy việc chấm dứt HĐLĐ của công ty A đối với ông H là không có căn cứ pháp luật

4.

Giải quyết quyền lợi cho ông H theo quy định của PLLĐ hiện hành ?

Trả lời:

 Về vấn đề việc làm

Theo phân tích tại phần 3 thì việc chấm dứt HĐLĐ của công ty A đối với ông H là không có căn cứ pháp luật Do vậy, căn cứ điều 41 BLLĐ 2012 thì đây là hành vi đơn phương chấp dứt hợp đồng trái pháp luật

Trang 9

Theo quy định tại Điều 42 BLLĐ 2012 về nghĩa vụ của NSDLĐ khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì:

“1 Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo HĐLĐ đã giao kết và phải trả tiền lương, BHXH, BHYT trong những ngày NLĐ không được làm việc cộng với ít nhất

02 tháng tiền lương theo HĐLĐ.

2 Trường hợp NLĐ không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này NSDLĐ phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3 Trường hợp NSDLĐ không muốn nhận lại NLĐ và NLĐ đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng

02 tháng tiền lương theo HĐLĐ để chấm dứt HĐLĐ.

4 Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong HĐLĐ mà NLĐ vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung HĐLĐ.

5 Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”

- Như vậy, theo quy định của pháp luật thì Công ty A phải nhận lại ông

H làm việc theo hợp đồng Ông H được nhận số tiền bồi thường theo khoản 1

điều 42 đó là tiền lương, tiền BHXH, tiền BHYT trong những ngày không được làm việc cộng thêm với ít nhất là 2 tháng tiền lương theo hợp đồng (30 triệu đồng)

Trang 10

- Tuy nhiên, trong trường hợp ông H không muốn tiếp tục làm việc thì sẽ nhận được tiền bồi thường theo khoản 1 điều 42 ở trên và được nhận thêm khoản trợ cấp thôi việc theo quy định tại điều 48 BLLĐ 2012:

“1 Khi HĐLĐ chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7,

9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì NSDLĐ có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho NLĐ đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2 Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian NLĐ đã làm việc thực tế cho NSDLĐ trừ đi thời gian NLĐ đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật BHXH và thời gian làm việc đã được NSDLĐ chi trả trợ cấp thôi việc.

3 Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo HĐLĐ của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.”

Trong trường hợp trên thì thời gian Ông H làm việc là khoảng 6 năm với lương là

15 triệu 1 tháng, tứctiền trợ cấp thôi việc mà ông H được hưởng là 45 triệu đồng

- Nếu vị trí công việc của ông H không còn mà ông H vẫn muốn làm việc thì có thể thỏa thuận với công ty để sửa đổi, bổ sung HĐLĐ để làm công việc phù hợp và nhận được khoản tiền bồi thường theo khoản 1 Điều 42

- Trong trường hợp nếu công ty A không muốn nhận lại ông H vào làm việc và ông

H đồng ý thì ngoài khoản tiền bồi thường theo khoản 1điều 42 và khoản tiền trợ cấp thôi việc theo Điều 48 (45 triệu đồng) thì ông H có thể thỏa thuận với công ty A về khoản bồi thường thêm ít nhất bằng 2 tháng lương (30 triệu đồng)

 Về quyền lợi được hưởng khi bị tai nạn lao động

Ngày đăng: 11/07/2017, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w