Văn hóa công sở mặc dù đã xuất hiện lâu trên thế giới cũng như Việt Nam xong những ứng dụng và vai trò của nó mới chỉ được quan tâm trong thời gian gần đây. Các tổ chức, doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thức được rằng thành công của tổ chức, doanh nghiệp có bền vững hay không phụ thuộc rất lớn vào nền văn hóa đặc trưng riêng có của mình. Bên cạnh vốn, chiến lược kinh doanh thì sức mạnh của văn hóa công sở bám sâu vào trong từng nhân viên, làm nên sự khác biệt giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh. Một công ty xuất sắc có tầm nhìn rộng lớn, tham vọng lâu dài phải xây dựng được một văn hóa mạnh, đặc thù, nổi trội và bền vững. Và để định hình, phát triển những chuẩn mực đó thì trước hết trách nhiệm thuộc về người lãnh đạo doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn ít doanh nghiệp hiểu chính xác, đầy đủ về văn hóa của doanh nghiệp mình cũng như nhìn nhận đúng vai trò to lớn của người lãnh đạo doanh nghiệp trong việc xây dựng văn hóa cho doanh nghiệp mình. Phần lớn họ cho rằng văn hóa doanh nghiệp chỉ đơn thuần là thái độ ứng xử của những thành viên trong công ty hay cách bài trí trong công ty… là có thể tạo ra văn hóa cho doanh nghiệp mình. Đối với Tổng công ty May 10, là một công ty nhà nước được cổ phần hóa, trong thời điểm văn hóa hội nhập, cùng những khó khăn từ hội nhập nhưng lãnh đạo công ty đã có những quan điểm, cách lãnh đạo quản lý riêng tạo nên những nét riêng biệt về văn hóa công sở của đơn vị mình. Xây dựng một hình ảnh công ty không chỉ vững mạnh về kinh tế mà còn là một tập thể có văn hóa. Chính vì thế, em xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Phong cách của người lãnh đạo và sự ảnh hưởng đến việc xây dựng văn hóa công sở tại Tổng công ty May 10” làm đề tài nghiên cứu cho học phần “Văn hóa công sở” của mình.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa công sở mặc dù đã xuất hiện lâu trên thế giới cũng như ViệtNam xong những ứng dụng và vai trò của nó mới chỉ được quan tâm trongthời gian gần đây Các tổ chức, doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thức được rằngthành công của tổ chức, doanh nghiệp có bền vững hay không phụ thuộc rấtlớn vào nền văn hóa đặc trưng riêng có của mình Bên cạnh vốn, chiến lượckinh doanh thì sức mạnh của văn hóa công sở bám sâu vào trong từng nhânviên, làm nên sự khác biệt giữa doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh Mộtcông ty xuất sắc có tầm nhìn rộng lớn, tham vọng lâu dài phải xây dựng đượcmột văn hóa mạnh, đặc thù, nổi trội và bền vững Và để định hình, phát triểnnhững chuẩn mực đó thì trước hết trách nhiệm thuộc về người lãnh đạo doanhnghiệp
Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn ít doanh nghiệp hiểu chính xác,đầy đủ về văn hóa của doanh nghiệp mình cũng như nhìn nhận đúng vai trò tolớn của người lãnh đạo doanh nghiệp trong việc xây dựng văn hóa cho doanhnghiệp mình Phần lớn họ cho rằng văn hóa doanh nghiệp chỉ đơn thuần làthái độ ứng xử của những thành viên trong công ty hay cách bài trí trong côngty… là có thể tạo ra văn hóa cho doanh nghiệp mình
Đối với Tổng công ty May 10, là một công ty nhà nước được cổ phầnhóa, trong thời điểm văn hóa hội nhập, cùng những khó khăn từ hội nhậpnhưng lãnh đạo công ty đã có những quan điểm, cách lãnh đạo quản lý riêngtạo nên những nét riêng biệt về văn hóa công sở của đơn vị mình Xây dựngmột hình ảnh công ty không chỉ vững mạnh về kinh tế mà còn là một tập thể
có văn hóa
Chính vì thế, em xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Phong cách của người lãnh đạo và sự ảnh hưởng đến việc xây dựng văn hóa công sở tại Tổng công ty May 10” làm đề tài nghiên cứu cho học phần “Văn hóa công
sở” của mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo đến việc xây dựng văn hóacông sở tại Tổng công ty May 10- CTCP
Trang 22.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Năm 2016
- Không gian nghiên cứu: Khảo sát văn hóa công sở, phong cách lãnhđạo và sự ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo đến việc xây dựng văn hóacông sở tại Tổng công ty May 10
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về văn hóa công sở và phong cách của ngườilãnh đạo, quản lý
- Tìm hiểu sự ảnh hưởng của phong cách người lãnh đạo, quản lý tớivăn hóa công sở tại Tổng công ty May 10 trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tới văn hóacông sở tại công ty
- Quy chế văn hóa công sở của Chính phủ
- Cuốn sách “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Quốc Vượng
và cộng sự (2009) - Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội;
- Cuốn sách “Văn hóa ứng xử ở nơi công sở” của tác giả Trần Hoàng(2004) - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- Cuốn sách “Tổ chức và điều hành hoạt động của các công sở” của tác giả Nguyễn Văn Thâm (2003) – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- Cuốn sách “Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo” của dịch giảNguyễn Phúc Hoàng (2012) – Nhà xuất bản Thời đại
Những tài liệu trên là những gợi ý quý báu có giá trị tham khảo, kế thừa
giúp tôi hoàn thành tốt bài tiểu luận với chuyên đề “Phong cách của người lãnh đạo, quản lý và sự ảnh hưởng đến việc xây dựng văn hóa công sở tại Tổng công ty May 10-CTCP”.
Trang 35 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin gián tiếp: phân tích và tổng hợp + Nghiên cứu tài liệu, tư liệu tham khảo;
+ Nguồn tin từ mạng Internet;
+ Thông tin từ trang web của công ty
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Báo cáo góp phần nâng cao hiệu quả phong cách của người lãnh đạo,quản lý tới văn hóa công sở tại công ty hiện tại và trong những năm tiếp theo
- Kết quả của báo cáo có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo chocán bộ, công nhân viên tại công ty
7 Cấu trúc của bài tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết thúc và phụ lục, bài tiểu luận được chia làm 03chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận chung về Văn hóa công sở và phong cách củangười lãnh đạo, quản lý
Chương 2 Sự ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo, quản lý tới việc xâydựng văn hóa công sở tại Tổng công ty May 10 - CTCP
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý trong việc xâydựng văn hóa công sở tại Tổng công ty May 10
Trang 4Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ
VÀ PHONG CÁCH CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
1.1 Cơ sở lý luận về Văn hóa công sở
1.1.1 Một số khái niệm
- Văn hóa là gì?
Theo GS.TS Trần Ngọc Thêm, văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giátrị vật chất tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạtđộng thực tiễn và trong sự tương tác của con người với môi trường tự nhiên
và xã hội
Hay theo định nghĩa của UNESCO: Văn hóa là tổng thể sống động cáchoạt động sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng trong quá khứ và hiện tại.Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên các giá trị, cáctruyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗidân tộc
Nói tóm lại, có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa do văn hóa làmột lĩnh vực rộng bao trùm đời sống tinh thần của con người trong xã hội vàmỗi học giả lại tiếp cận văn hóa theo những hướng khác nhau Hiện nay có 4cách hiểu phổ biến về văn hóa ở Việt Nam, đó là:
+ Theo nghĩa rộng: văn hóa gồm những giá trị vật chất và tinh thần docon người tạo ra
+ Theo nghĩa hẹp: văn hóa chỉ những giá trị tinh thần của con người+ Theo nghĩa quy ước: văn hóa được coi là một ngành nghề, lĩnh vựccủa xã họi do đó có cơ quan quản lý
+ Theo nghĩa hàng ngày: văn hóa là cách giao tiếp, ứng xử của conngười gắn với những chuẩn mực trong xã hội
Trang 5Như vậy, công sở chính là một tổ chức đặt dưới sự quản lý trực tiếp củaNhà nước để thực hiện công việc chuyên ngành của Nhà nước
- Thế nào là Văn hóa công sở?
Theo PGS.TS Vũ Thị Phụng, văn hóa công sở là tổng hòa những giá trịhữu hình và vô hình bao gồm: trình độ nhận thức, phương pháp tổ chức, quản
lý, môi trường – cảnh quan, phương tiện làm việc, đạo đức nghề nghiệp vàphong cách giao tiếp ứng xử của cán bộ công chức nhằm xây dựng một công
sở văn minh, lĩnh vực hoạt động đúng pháp luật và hiệu quả cao
Theo Bộ Tài chính, văn hóa công sở như một môi trường văn hóa đặcthù với những giá trị chuẩn mực, văn hóa chi phối mọi hoạt động mọi quan hệtrong nội bộ công sở cũng như đối với công dân với tư cach là cơ quan quyềnlực của nhà nước hay một cơ quan sự nghiệp dịch vụ công
1.1.2 Vai trò của văn hóa công sở đối với sự phát triển của cơ quan, tổ chức
Văn hóa công sở có vai trò quan trọng trong cơ quan, tổ chức, đặc biệtquan trọng đối với sự phát triển của chính cơ quan, tổ chức đó:
a Văn hóa công sở xây dựng một môi trường làm việc ổn định,
mang tính tích cực, hiệu quả và hợp tác Một môi trường văn hóa công sở tốtđẹp sẽ tạo được niềm tin và sự nhiệt huyết của những thành viên làm việctrong cơ quan, tổ chức góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công sở
b Văn hóa công sở xây dựng được tác phong làm việc chuyên nghiệp cho đội ngũ nhân viên Xây dựng một nề nếp làm việc khoa học, kỷ
cương và dân chủ Nó đòi hỏi các thành viên trong cơ quan phải quan tâm đếnhiệu quả công việc chung của công sở, giúp cho mỗi nhân viên tự nhìn lại,đánh giá mình, chống lại những biểu hiện thiếu văn hóa Đồng thời, cần phảitôn trọng kỷ luật, danh dự của công sở, quan hệ thân ái, đoàn kết, hợp tác vì
sự nghiệp chung của công sở
c Văn hóa công sở góp phần xây dựng thương hiệu
Một thương hiệu có thành công hay không, điều đó phụ thuộc vàonhững hành động hàng ngày của người lãnh đạo và tất cả nhân viên của họ.Thương hiệu là một bộ phận không thể thiếu của văn hóa công sở, văn hóadoanh nghiệp, thể hiện uy tín, vị thế của sản phẩm, của doanh nghiệp, là tàisản được xây dựng, tích tụ một cách có ý thức trong quá trình phát triển củadoanh nghiệp Thương hiệu là niềm tự hào của doanh nghiệp, tạo ra niềm tin
Trang 6của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ cung ứng Con người làmnên thương hiệu và thương hiệu chính là yếu tố làm nên nét văn hóa riêng biệtcủa doanh nghiệp Còn khách hàng sẽ là người bỏ tiền ra không phải để muasản phẩm mà là thưởng thức những giá trị văn hóa đó Nói cách khác, mộtthương hiệu nổi tiếng hứa hẹn mang lại cho khách hàng sự tin cậy thì chủnhân làm nên thương hiệu này phải là người đáng tin tưởng Và văn hóa củamột tổ chức, doanh nghiệp được xem như yếu tố căn bản tạo nên sự khác biệtcủa thương hiệu đó.
d Văn hóa công sở là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh
Tính hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào yếu tố văn hóa
Nó ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp đến việc hình thành mục tiêu, chiến lược vàchính sách, nó tạo định hướng có tính chất chiến lược cho bản thân doanhnghiệp, đồng thời tạo thuận lợi cho việc thực hiện thành công chiến lược đãlựa chọn của doanh nghiệp Môi trường văn hóa của doanh nghiệp còn có ýnghĩa tác động đến quyết định, đến tinh thần, thái độ, động cơ lao đọng củacác thành viên Môi trường văn hóa càng trở nên quan trọng hơn trong cácdoanh nghiệp liên doanh, bởi vì ở đó có sự kết hợp giữa văn hóa của các dântộc, các nước khác nhau
* Văn hóa công sở tạo nên sức mạnh nội lực
Văn hóa đem đến sức mạnh nội lực riêng biệt cho từng tổ chức, từngdoanh nghiệp Mục tiêu của văn hóa công sở là nhằm xây dựng một phongcách quản lý hiệu quả, đưa hoạt động của tổ chức vào nề nếp và xây dựng mốiquan hệ hợp tác thân thiện giữa các thành viên của tổ chức, làm cho tổ chứctrở thành một cộng đồng làm việc trên tinh thần hợp tác, tin cậy, gắn bó vàtiến thủ Trên cơ sở đó hình thành tâm lý chung và lòng tin vào sự thành côngcủa doanh nghiệp Do đó nó xay dựng một nề nếp văn hóa lành mạnh tiến bộtrong tổ chức, đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân trong doanh nghiệp.Văn hóa càng mạnh bao nhiêu, thì công ty càng cần ít chỉ thị, mệnh lệnh, sơ
đồ tổ chức, chỉ dẫn cụ thể hay điều lệ bấy nhiêu Các công ty xuất sắc đều cómột hệ thống giá trị, một bản sắc riêng không ai bắt chước được
* Thu hút nhân tài, tăng cường sự gắn bó của người lao động với tổ chức
Nhiều doanh nghiệp, tổ chức lầm tưởng rằng chỉ cần trả lương cao là sẽthu hút, giữ chân được người tài Tuy nhiên, địa vị tiền lương, cơ hội thăng
Trang 7tiến…chỉ thực sự có tác dụng lâu dài khi đi liền với nó là một môi trường làmviệc tạo được hứng thú, nhân viên cảm nhận được bầu không khí thân thiện
và có cơ hội khẳng định mình Một tổ chức xây dựng được một nền văn hóamạnh mẽ sẽ quy tụ được sự nhất trí cao giữa các thành viên về những mụctiêu, nhiệm vụ, chiến lược…mà tổ chức đề ra Sự nhất trí đó sẽ tạo ra sự liênkết, củng cố lòng trung thành và sự cam kết bền vững với tổ chức
Văn hóa công sở có thể thay thế một phần phương thức quản lý quanliêu bằng phương pháp quản lý tập thể đòi hỏi sự tham gia của mọi thànhviên Từ đó nâng cao tinh thần trách nhiệm, khả năng tự chủ, tạo cảm giác hàilòng, phấn khởi và sự trung thành của nhân viên với tổ chức Một tổ chức chỉ
có thể phát triển khi tất cả mọi thành viên đều hiểu được họ đang đi đâu, làm
gì, vai trò của họ đến đâu Với những mục tiêu rất cụ thể, họ được sống trongmột môi trường tự do cống hiến, chia sẻ ý tưởng, được ghi nhận thành công…tất cả đều được hiểu rằng, họ là thành phần không thể thiếu của tổ chức
Như vậy, văn hóa công sở là sự kết tinh hệ thống giá trị của doanhnghiệp, tổ chức được đa số thành viên trong doanh nghiệp, tổ chức thừa nhận
và ủng hộ, vì vậy nó là chất kết dính các thành viên trong tổ chức với nhau Ởnơi nào có được một văn hóa doanh nghiệp tích cực và lành mạnh, coi trọngcác giá trị tinh thần, ở nơi đó người ta cảm nhận thấy một bầu không khí làmviệc thân thiện, chan hòa, tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ và học hỏilẫn nhau Văn hóa công sở giúp nhân viên nhận thấy được mục tiêu, địnhhướng phát triển và bản chất của công việc họ làm, tạo ra mối quan hệ tốt đẹpgiữa các thành viên và một môi trường làm việc lành mạnh Văn hóa công sở
là nguồn động lực to lớn với nhân viên, các nhân viên sẽ tự có ý thức khi cảmthấy được tôn trọng Về mặt này, văn hóa công sở có vai trò quan trọng giúpnhân viên củng cố niềm tin, đoàn kết và trung thành với tổ chức Văn hóacông sở tạo cho tất cả mọi người trong tổ chức cùng chung sức làm việc, vượtqua những giai đoạn thử thách, những tình thế khó khăn của tổ chức và họ cóthể làm việc quên thời gian
* Văn hóa công sở tạo nên hiệu quả trong kinh doanh
Hiệu quả trong kinh doanh chỉ có thể đạt được khi có sự tham gia tuyệtđối và có trách nhiệm của tất cả các thành viên Khi một tập thể có sự cộng
Trang 8tác toàn diện của mọi người, mọi ban ngành thì việc sản xuất, kinh doanh sẽ
có những bước đột phá, năng suất tăng nhanh, chất lượng tốt
Văn hóa có những quy định bắt buộc với các thành viên, hướng dẫn họđược làm gì và không được làm gì khi có những phát sinh ngoài mong đợi.Qua đó mọi thành viên sẽ ý thức và biết cách hành động sao cho tốt nhất
Hiệu quả kinh doanh được quyết định bởi sự quan tâm của người lãnhđạo và các khả năng nuôi dưỡng đặc biệt trong một môi trường văn hóa tốt.Một hệ thống quy tắc cứng nhắc, các chính sách quản lý không phù hợp vớinguyện vọng của các cá nhân sẽ gây nên một kết quả ngược lại Thực tế chothấy văn hóa tại nhiều doanh nghiệp khi không tạo được môi trường làm việctốt sẽ phải hứng chịu rất nhiều khó khăn khi triển khai kế hoạch hoạt động,như sự đình công của công nhân, nhân viên làm việc cầm chừng hoặc bỏ việcsang công ty khác Từ đó dẫn đến hiệu quả kinh doanh giảm sút và một sốdoanh nghệp phải thu nhỏ hoạt động của mình
* Văn hóa công sở ảnh hưởng tới hoạch định chiến lược
Văn hóa một tổ chức có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạch định chiến lượcphát triển của tổ chức đó thông qua việc chọn lọc thông tin thích hợp, đặt ranhững tiêu chuẩn theo giá trị của tổ chức, cung cấp những tiêu chuẩn, nguyêntắc cho các hoạt động Hoạch định chiến lược phát triển của doanh nghiệp sẽgiúp cho các thành viên thấy hết vai trò của họ trong tổ chức, cung cấp những
cơ sở quan trọng để các thành viên tổ chức hiểu được môi trường của họ và vịtrí của doanh nghiệp trong môi trường đó Văn hóa cũng sẽ có ảnh hưởng tớihiệu quả thực hiện chiến lược của tổ chức Bời, một văn hóa mạnh tức là tạođược một sự thống nhất và tuân thủ cao đối với giá trị, niềm tin của doanhnghiệp sẽ là cơ sở quan trọng để thực hiện thành công chiến lược của doanhnghiệp, góp phần quan trọng tạo nên một công thức thành công cho các doanhnghiệp trên đường hội nhập
e Văn hóa công sở tạo nên bản sắc của tổ chức
Có câu nói rằng: con người được tôn trọng không phải do tồn tại màbởi nhân cách Một công ty dành được thiện cảm không phải do quảng cáo mànhờ bản sắc riêng
Điều đó chứng tỏ xây dựng nền tảng văn hóa do mình và của mình, làmnên sắc thái riêng của mình là yếu tố hàng đầu khẳng định thưng hiệu và vịthế của mỗi doanh nghiệp Bản sắc không chỉ là nhận thức và mong muốn
Trang 9Bản sắc thể hiện trong hành động của tổ chức, hành vi của cá nhân Nhân tốquan trọng bậc nhất trong quá trình ra các quyết định lựa chọn các giá trị, triết
lý và thể hiện chúng thành hành động là vai trò của những người lãnh đạo,những nhân cách then chốt, những người ở vị trí quản lý cấp cao trong việcthể hiện sự cam kết, sự chỉ đạo sát sao và sự gương mẫu trong việc thực hànhcác giá trị đạo đức
Bản sắc văn hóa cũng có thể được hình thành từ việc củng cố Trongnhững trường hợp như vậy, người lãnh đạo thường tìm cách giữ gìn, bảo vệnhững giá trị đạo đức và văn hóa thịnh hành Họ có thể là những nhân vậtđiền hình rất thành công về một phương diện nào đó, hay là những người cócương vị và trách nhiệm luôn tìm cách giữ gìn và củng cố bản sắc văn hóa đãđược thiết lập Khi đó, triết lý và phong cách lãnh đạo sẽ mang đậm nét vănhóa nhất quán
Bản sắc văn hóa có thể được hình thành tự sự hòa nhập Những ngườilãnh đạo này thường có phong cách dân chủ, hòa nhập Họ luôn chú ý lắngnghe và tìm cách hòa đồng họ thường đóng vai trò kết nối, điều hòa, cổ vũ,chia sẻ với những người khác Khi đó, triết lý và phong cách lãnh đạo thườngmang đậm nét văn hóa hòa nhập
Bản sắc văn hóa có thể thay đổi Sự thay đổi về văn hóa đôi khi là cầnthiets khi bên trong tổ chức xuất hiện những thay đổi căn bản, ví dụ như vềcông nghệ hay quản lý Nguyên nhân của những sự thay đổi này chính là sựthay đổi về phong cách lãnh đạo, về triết lý quản lý, về phương châm hànhđộng của người đứng đầu Khi đó, thay đổi văn hóa, triết lý, phong cách lãnhđạo mang đậm nét văn hóa thích ứng
Đấy cũng chính là phong cách kinh doanh văn minh trong thời hiện đạikhi mà ranh giới hành chính quốc gia hầu như bị xóa bỏ trong hội nhập quốc
tế Những thành công của doanh nghiệp có bền vững hay không là nhờ vàonền văn hóa rất đặc trưng của mình Bên cạnh vốn, chiến lược kinh doanh thìsức mạnh của văn hóa công sở đã bám sâu vào từng nhân viên, làm nên sựkhác biệt với đối thủ cạnh tranh
1.2 Cơ sở lý luận về phong cách lãnh đạo
1.2.1 Khái niệm phong cách lãnh đạo
Có thể nói, nhà lãnh đạo không chỉ là người quyết định cơ cấu tổ chức
và công nghệ của doanh nghiệp mà còn là người sáng tạo ra các biểu tượng,
Trang 10các ý thức hệ, ngôn ngữ, niềm tin, nghi lễ và huyền thoại… của tổ chức Quaquá trình xây dựng và quản lý, hệ tư tưởng và tính cách của nhà lãnh đạo sẽđược phản chiếu lên văn hóa công sở Phong cách lãnh đạo là một nhân tố rấtquan trọng mà người quản lý có thể sử dụng trong việc định hình và phát triểnvăn hóa công sở Phong cách lãnh đạo được quyết định bởi nhiều yếu tố nhưtính cách, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm, quan điểm và thái độ, đặctrưng kết cấu tổ chức và văn hóa tổ chức.
Vậy phong cách lãnh đạo là gì?
Đã có rất nhiều định nghĩa về phong cách lãnh đạo, điểm chung của cácđịnh nghĩa này là đều xem phong cách lãnh đạo là hệ thống các phương pháp
mà người lãnh đạo sử dụng trong hoạt động quản lý của mình để tác động đếnnhững người thừa hành Phân tích các định nghĩa về phong cách lãnh đạo,chúng ta có thể đi đến khái niệm chung như sau: Phong cách lãnh đạo là hệthống các phương pháp được người lãnh đạo sử đụng dể tác động đến nhữngngười dưới quyền
Từ góc độ lý luận chung cũng như thực tiễn, khái niệm phong cáchlãnh đạo thường được hiểu theo các góc độ như sau:
Được coi là nhân tố quan trọng của người quản lý, lãnh đạo, nó gắn vớikiểu người lãnh đạo và nghệ thuật lãnh đạo, quản lý con người Phong cáchlãnh đạo không chỉ thể hiện về mặt khoa học và tổ chức lãnh đạo, quản lý màcòn thể hiện tài năng, chí hướng, nghệ thuật điều khiển, tác động người kháccủa người lãnh đạo
Phong cách lãnh đạo là cách thức làm việc của nhà lãnh đạo Phongcách lãnh đạo là hệ thống các dấu hiệu đặc trưng của hoạt động và quản lýcủa nhà lãnh đạo, được quy định bởi các đặc điểm nhân cách của họ
Nhìn chung những định nghĩa trên đã đề cập và phản ánh rõ nhiều mặt,nhiều đặc trưng khác nhau của phong cách lãnh đạo Tuy nhiên phần lớn cácđịnh nghĩa chỉ nhấn mạnh đến mặt chủ quan, mặt cá tính của chủ thể lãnh đạochứ chưa đề cập, xem xét phong cách lãnh đạo như một kiểu hoạt động Kiểuhoạt động đó diễn ra như thế nào còn phụ thuộc vào yếu tố môi trường xã hội,trong đó có sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng, của nền văn hóa…
` Như vậy, nói cách khác, phong cách lãnh đạo là kiểu hoạt động đặc thùcủa người lãnh đạo được hình thành trên cơ sở kết hợp chặt chẽ và tác độngqua lại biện chứng giữa yếu tố tâm lý chủ quan của người lãnh đạo và yếu tốmôi trường xã hội trong hệ thống quản lý
Trang 11Vì vậy, dù dưới bất cứ hình thức nào, phong cách lãnh đạo vẫn luôn làyếu tố quan trọng, ảnh hưởng to lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của tổchức, doanh nghiệp.
1.2.2 Phân loại, đặc điểm phong cách lãnh đạo
Văn hóa quản lý lâu nay được xem là cấu thành bởi rất nhiều phongcách lãnh đạo khác nhau, bao gồm: quyết đoán, độc đoán, chuyên quyền, tổngthể, thủ lĩnh, đối tác, điều khiển, trực tiếp, ủy thác, tự do, định hướng… Songtrên thực tế chỉ có 3 phong cách lãnh đạo cơ bản là: lãnh đạo trực tiếp độcđoán, chuyên quyền, lãnh đạo dân chủ dựa trên nền tảng của sự trao đổi, thảoluận và lãnh đạo ủy thác, tự do Mỗi phong cách lãnh đạo đều có những điểmtích cực và hạn chế nhất định, song chúng khác nhau ở một số điểm cơ bảnnhư cách truyền đạt mệnh lệnh, cách thiết lập mục tiêu, ra quyết định, quátrình kiểm soát và sự ghi nhận kết quả
a Phong cách lãnh đạo trực tiếp độc đoán, chuyên quyền
Những nhà quản lý theo phong cách này thường nói với nhân viên rằng
họ phải làm gì, làm như thế nào và khi nào phải hoàn thành Họ phân công vaitrò và gắn trách nhiệm cho từng người, thiết lập các tiêu chuẩn và dự kiến kếtquả mà họ mong muốn đạt được
Cách thức giao tiếp với nhân viên: Nhà quản lý nói, nhân viên lắngnghe và sau đó phát biểu ý kiến của mình Thông thường những nhà quản lý
có phong cách này thường đưa ra các chỉ dẫn chi tiết Vì vậy, nhân viên biếtchính xách họ phải làm gì Cách giao tiếp của nhà quản lý là rõ ràng, ngắngọn và xúc tích Những gì màu mè và kiểu cách không phù hợp với họ Khimuốn nhận thông tin phản hồi từ nhân viên, họ thường chỉ đặt một câu hỏi:anh đã hiểu cần phải làm gì chưa?
Thiết lập mục tiêu: Nhà quản lý sẽ thường thiết lập các mục tiêu ngắnhạn với nhân viên Khi mục tiêu đã được xác định rõ ràng và thời gian cũngđược ấn định thì nhân viên biết rõ nhà quản lý mong chờ ở anh ta điều gì Cácmục tiêu và thời hạn thường là động lực thúc đẩy con người
Cách thức ra quyết định: Người lãnh đạo thường quyết định phần lớnếu không muốn nói là tất cả mọi việc từ lớn đến nhỏ Khi nảy sinh vấn đềcần giải quyết, nhà lãnh đạo đánh giá các sự lựa chọn, ra quyết định và trựctiếp hướng dẫn nhân viên những hành động họ cần phải thực hiện
Trang 12Kiểm soát sự thực hiện và cung cấp thông tin phản hồi: Những nhàquản lý thường thiết lập khâu kiểm soát nhất định để điều khiển quá trình thựchiện công việc Các nhà lãnh đạo này thường xuyên cung cấp thông tin dướidạng hướng dẫn cụ thể về cách làm việc thế nào để cải tiến công việc tốt hơn.
Sự khen thưởng và ghi nhận công việc: Điều gì khiến cho nhà lãnh đạotheo phong cách trực tiếp cảm thấy hạnh phúc Đó là khi nhân vien dướiquyền làm đúng theo sự hướng dẫn của họ
Phong cách lãnh đạo trực tiếp rât thích hợp khi có một mệnh lệnh từcấp trên mô tả những gì cần phải làm và phải làm nó như thế nào Khi đó, nhàlãnh đạo là người chỉ huy thực hiện nhiệm vụ, làm đúng những gì được yêucầu Phong cách lãnh đạo này cũng thích hợp trong trường hợp các nhân viêncòn hạn chế về kinh nghiệm hoặc thiếu những những kỹ năng cần thiết đểhoàn thành công việc Nhà lãnh đạo theo phong cách ngày đưa ra các bước đi
và hành động, kiểm soát những khâu quan trọng để các nhân viên có thể dễdàng hoàn thành nhiệm vụ
b Phong cách lãnh đạo dân chủ dựa trên sự trao đổi, thảo luận
Những nhà lãnh đạo sử dụng phong cách này thường tận dụng thời gian
để thảo luận các vấn đề kinh doanh Nhân viên đưa ra các ý kiến, đặt câu hỏi,lắng nghe, cung cấp thông tin phản hồi, những giả định về thách thức và cácchương trình đào tạo khi cần thiết Nhà lãnh đạo là người đảm bảo chắc chắncác ý kiến được thảo luận cặn kẽ và biến thành một cuộc tranh luận thực sự
Họ đóng vai trò như một nhân tố đảm bảo cho các cuộc thảo luận đi đúnghướng và tất cả mọi nhân viên đều có cơ hội đóng góp ý kiến
Cách thức giao tiếp: Giao tiếp hai chiều là quy tắc của các nhà lãnh đạothuộc phong cách này Họ đi xung quanh bàn và tạo cho mọi người có cơ hộiđược những người khác thảo luận về ý kiến của mình Nhà quản lý sẽ dành rấtnhiều thời gian để đặt câu hỏi và lắng nghe Họ cùng hội thoại với nhân viên
và chia sẻ các ý kiến của mình Đặt ra những câu hỏi đúng tập trung vào vấn
đề thảo luận và vẽ ra ý tưởng của mọi nhân viên là cách thức giao tiếp phổbiến nhất của họ
Thiết lập mục tiêu: Sau khi thảo luận, mục tiêu sẽ được thiết lập Tậndụng sự thảo luận của nhiều người để kết nối những tài năng và kiến thức của
Trang 13từng nhân viên riêng lẻ để đạt được mục tiêu đề ra là phong cách của nhàquản lý này.
Ra quyết định: Quyết định chỉ được đưa ra sau khi có sự cộng tác và phốihợp của nhân viên Cả nhà quản lý và nhân viên đều đóng vai trò chủ động, tíchcực trong việc xác định vấn đề, đánh giá sự lựa chọn và ra quyết định
Kiểm soát việc thực hiện và cung cấp thông tin: Nhà quản lý và nhânviên cùng kiểm soát quá trình thực hiện và thảo luận xem cần phải tiến hànhnhững hoạt động nào Công việc sẽ đạt kết quả tốt nhất khi cả hai bên cùngcởi mở và có những điều chỉnh khi thấy cần thiết
Khen thưởng và ghi nhận công lao: Các nhà lãnh đạo ghi nhận nhữngthành quả đóng góp của các nhân viên trong cuộc thảo luận, xây dựng ý tưởngcùng với người khác và gợi mở ra những ý tưởng mới
Phòng cách lãnh đạo dựa trên trao đổi và thảo luận đặc biệt thích hợpkhi cần câu trả lời cho các vấn đề như: mục tiêu của chúng ta là gì? Tiêuchuẩn chất lượng chúng ta cần là gì? Tiến trình thực hiện công việc nên tiếnhành như thế nào… Phong cách thảo luận thường có hiệu quả khi nhân viên lànhững người có chính kiến riêng và tự tin nói ra chính kiến của mình Nhàlãnh đạo sẽ xác định những gì cần phải làm và làm như thế nào để tăng sựràng buộc của nhân viên với những gì sẽ xảy ra
c Phong cách lãnh đạo ủy thác, giao phó
Những nhà quản lý sử dụng phong cách này thường giải thích hoặc cónhững cam kết về các công việc cần được thực hiện và khi nào phải hoànthành công việc đó Còn cách thức làm việc thì toàn quyền do nhân viên quyếtđịnh, nhà lãnh đạo chỉ quan tâm đến kết quả
Cách giao tiếp: Đối với những công việc cần thực hiện, các giao tiếp cóthể chỉ là một chiều, nhưng cũng có thể là hai chiều Giao tiếp trong nhữngtrường hợp ngày chỉ để xem xét lại những gì đã được thực hiện và cách ngănngừa những cản trở trong quá trình thực hiện
Thiết lập mục tiêu: Cũng giống như cách thức giao tiếp, mục tiêu có thểđược nhà lãnh đạo thiết lập ngay hoặc có thể đưa ra sau khi đã thảo luận vớinhân viên Thất bại trong sự giao phó, ủy thác công việc có thể do nhân viênkhông hiểu nhà lãnh đạo mong gì ở mình hoặc không tự tin vào chính sự giaophó đó
Trang 14Ra quyết định: Quyết định thực hiện nhiệm vụ được chuyển cho nhânviên Người nhân viên có quyền lựa chọn những phong cách thích hợp để đạtđược kết quả mong đợi Nhà lãnh đạo phải tránh tiếp tục duy trì sự giao phókhi nhân viên không muốn tự ra quyết định mà tìm cách trả lại quyền ra quyếtđịnh cho nhà lãnh đạo.
Kiểm soát quá trình thực hiện và cung cấp thông tin: Nhà lãnh đạothuộc phong cách này thường quyết định cách thức kiểm soát công việc Sốlần kiểm soát phụ thuộc vào tính chât ưu tiên của nhiệm vụ và người thựchiện nó Cung cấp thông tin phản hồi là trách nhiệm của nhân viên Việc giữ
để nhà lãnh đạo không nổi giận và mất bình tĩnh, đặc biệt khi kế hoạch bịchệch hướng là điều quan trọng
Khen thưởng và ghi nhận kết quả: Nhà lãnh đạo thường khen thưởng vàghi nhận những ai chứng minh được khả năng làm việc một cách độc lập.Phong cách lãnh đạo này rất thích hợp khi nhân viên là người hiểu biết, có kỹnăng và động lực để hoàn thành công việc Bởi vì, những nhân viên có kinhnghiệm sẽ không cần một nhà lãnh đạo nói rằng họ phải làm gì Họ muốn tự
do lựa chọn cách thức thực hiện công việc Phong cách lãnh đạo này cũng tạocho các nhà lãnh đạo có nhiều thời gian để dành cho việc thực hiện nhiệm vụkhác như xây dựng các tiêu chuẩn, suy nghĩ chiến lược và lên kế hoạch
Mặc dù là ba phong cách lãnh đạo khác nhau, song không nhất thiếtmột nhà lãnh đạo chỉ áp dụng một loại phong cách lãnh đạo nhất định trongquá trình điều khiển và giám sát công việc Nó chỉ mang một ý nghĩa tươngđối và được xác định hoặc thay đổi tùy vào những hoàn cảnh cụ thể của từngnhà lãnh đạo
Tiểu kết
Như vậy ở chương 1, em đã trình bày tóm tắt những cơ sở lý luận vềvăn hóa công sở và phong cách lãnh đạo, quản lý Từ đó, làm tiền đề đểnghiên cứu sự ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo tới việc xây dựng văn hóacông sở tại Tổng công ty May 10- CTCP tại chương 2
Trang 15Chương 2
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO
ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI TỔNG CÔNG TY MAY 10-CTCP
2.1 Vài nét sơ lược về Tổng công ty May 10
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
* Quá trình hình thành
Tiền thân của công ty cổ phần May 10 ngày nay là các xưởng may quântrang thuộc ngành quân nhu được thành lập từ năm 1946 ở các chiến khu trên toànquốc để phục vụ bộ đội trong cuộc kháng chiến chống Pháp bảo vệ Tổ quốc
Sau cách mạng tháng Tám 1945, Pháp trở lại xâm lược nước ta, việcmay quân trang cho bộ đội trở thành công tác quan trọng, nhiều cơ sở mayđược hình thành Sau ngày 19/12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốckháng chiến, một số công xưởng, nhà máy của ta ở Hà Nội dời lên núi rừngViệt Bắc tổ chức thành hai hệ thống sản xuất trong đó may quân trang là hệchủ lực và hệ bán công xưởng
Từ năm 1947 đến 1949, việc may quân trang không chỉ tiến hành ởViệt Bắc mà còn ở nhiều nơi khác như Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Đông…
Để giữ bí mật, các cơ sở sản xuất này được đặt tên theo bí số của quân độinhư: X1, X30, hay AM1… đây chính là những đơn vị tiền thân của xưởngMay 10 sau này
Đến năm 1952, xưởng May 1 (X1) ở Việt Bắc được đổi tên thànhxưởng May 10 với bí số là X10 và đóng ở Tây Cốc (Phú Thọ)
* Quá trình phát triển
Giai đoạn từ 1953 đến 1960:
Trang 16Đến năm 1953, xưởng May 10, với quy mô lớn hơn, chuyển về BộcNhiêu (Định Hóa – Thái Nguyên) Tại đây, May 10 đã ngày đêm miệt mài sảnxuất trên 10 triệu sản phẩm quân trang, quân dụng các loại phục vụ kháng chiến.
Năm 1954, kháng chiến thắng lợi, xưởng May 10 được chuyển về HàNội Cùng thời gian đó, xưởng May X40 ở Thanh Hóa cũng được chuyển về HàNội, sáp nhập với xưởng May 10, lấy Hội Xá thuộc tỉnh Bắc Ninh cũ, nay làPhường Sài Đồng, quận Long Biên, Hà Nội để làm địa điểm sản xuất chính
Đến tháng 10 năm 1955, Tổng cục Hậu cần tiến hành biên chế choxưởng May 10.564 cán bộ, công nhân viên Cuối năm 1956 đầu năm 1957,xưởng May 10 đã được mở rộng thêm, máy móc cũng được trang bị thêm, và
có tất cả là 253 chiếc máy may, trong đó có 236 chiếc chạy bằng điện Nhiệm
vụ của xưởng May 10 lúc này vẫn là may quân trang cho quân đội là chủ yếu
Giai đoạn làm quen với hạch toán kinh tế (từ năm 1961 đến 1964):
Xuất phát từ yêu cầu xây dựng đất nước khi miền Bắc đi lên CNXH,tháng 2 năm 1961, xưởng May 10 được chuyển sang Bộ Công nghiệp nhẹquản lý và đổi tên thành Xí nghiệp May 10, từ đó nhiệm vụ của nhà máy làsản xuất theo kế hoạch của Bộ Công nghiệp nhẹ giao hàng năm tính theo giátrị tổng sản lượng Khi bàn giao, xưởng May 10 bao gồm toàn bộ máy móc,thiết bị, và 1.092 cán bộ, nhân viên Tuy chuyển đổi việc quản lý nhưng mặthàng chủ yếu vẫn là sản xuất quân trang phục vụ cho quân đội, tỷ lệ hàng nămchiếm 90% – 95%, còn sản xuất thêm một số mặt hành phục vụ xuất khẩu vàdân dụng, phần này chỉ chiếm 5% – 10%
Sau 4 năm, xí nghiệp May 10 từ một nhà máy sản xuất theo chế độ baocấp may quân trang phục vụ cho quân đội lâu năm chuyển sang tự hạch toánphải thích ứng với thị trường nên xí nghiệp đã gặp không ít khó khăn về tổchức và tư tưởng Tuy nhiên, bằng cách chấn chỉnh và tăng cường bộ máy chỉđạo quản lý, giáo dục tư tưởng, xí nghiệp đã dần vượt qua những khó khăn đó
và luôn hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước giao, năm sau cao hơnnăm trước
Giai đoạn sản xuất trong khói lửa chiến tranh phá hoại của Không quân Mỹ (từ năm 1965 đến 1975):
Năm 1965, giặc Mỹ đánh phá miền Bắc lần thứ nhất, xí nghiệp May 10đứng trước nguy cơ bị bắn phá Trước tình hình mới, xí nghiệp đã tổ chức,đôn đốc việc sơ tán, mặt khác tiến hành giáo dục tư tưởng không ngại khó,