1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận án mối quan hệ giữa đảng và nhà nước ở việt nam hiện nay (tt)

27 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 523,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp mới về khoa học của luận án Một là, luận án khiêm tốn góp phần hoàn thiện các nội dung về những cái phổ biến và những cái đặc thù trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VĂN ĐÔNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: CNDVBC&CNDVLS

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Dương Phú Hiệp

Phản biện 1: GS.TS Nguyễn Văn Tài

Phản biện 2: GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn

Phản biện 3: PGS.TS Hoàng Đình Cúc

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Học viện, họp tại: HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI,

Vào hồi: giờ ngày tháng năm 2017

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia,

- Thư viện Học viện Khoa học xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xét về mặt cấu trúc của một hình thái kinh tế - xã hội thì đảng và nhà nước của giai cấp thống trị là hai bộ phận quan trọng hàng đầu trong kiến trúc thượng tầng Tuy bị quy định bởi cơ sở hạ tầng, song nó lại có vai trò tác động, định hướng trở lại đối với cơ sở hạ tầng, sự tác động trở lại đó chủ yếu

là định hướng về bản chất, mục đích, chủ thể quyền lực trong xã hội Mối quan hệ giữa đảng chính trị, cầm quyền và nhà nước (trong luận án này gọi tắt

là “đảng và nhà nước”) là một quan hệ phổ biến trong xã hội có giai cấp, và có quan hệ biện chứng với sự phát triển của hệ thống chính trị, phản ánh trình độ dân chủ xã hội

Như vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, cả về lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam trên cơ sở tổng kết những thành công, chỉ rõ những hạn chế, mâu thuẫn đang cản trở để rút ra những bài học và đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước là công việc hết sức cấp thiết Từ những lý do trên, tác giả mong góp thêm chút công sức của mình cho quá trình tiếp tục phát huy những thành tựu, đồng thời hạn chế những sai sót, khó khăn, thách thức của nước ta trong quá trình tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị Vì vậy,

tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm luận án tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật

biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung làm rõ thêm một số vấn đề lý luận, thực tiễn về mối quan hệ giữa đảng và nhà nước; nghiên cứu thực trạng mối quan hệ Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay; từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục đổi mới, hoàn thiện mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam trong thời gian tới Đồng thời, xác định nhiệm vụ: tổng quan tình hình nghiên cứu; làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn; đánh giá thực trạng mối quan hệ và đề

ra một số giải pháp để giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là “mối quan hệ Đảng và Nhà

nước ở Việt Nam” hiện nay Luận án nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng

Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ở cấp Trung ương; thời gian nghiên cứu từ Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng

(năm 2006) đến nay

4 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu

Luận án chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan

Trang 4

hệ giữa đảng và nhà nước ở Việt Nam và thực trạng mối quan hệ giữa Đảng

và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay để nghiên cứu, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp

Tác giả luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp hệ thống để xác định vị trí và mối tương quan giữa các chủ thể trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước; ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử - logic; phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh…để làm rõ vấn đề

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Một là, luận án khiêm tốn góp phần hoàn thiện các nội dung về những

cái phổ biến và những cái đặc thù trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước

ở Việt Nam hiện nay, gắn với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang từng bước được xây dựng và hoàn thiện

Hai là, luận án góp phần làm rõ thêm thực trạng xử lý mối quan hệ giữa

Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, góp phần luận cứ để chứng minh sự cần thiết phải thực hiện các giải pháp đổi mới, hoàn thiện mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu và giải dạy các vấn đề về triết học, chính trị học về đảng, nhà nước ở Việt Nam; là tài liệu tham khảo phục vụ cán bộ, công chức làm công tác tổ chức, xây dựng Đảng và cơ quan quản lý Nhà nước

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương và 21 tiết

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Các công trình nghiên cứu về đảng chính trị và vai trò của đảng chính trị đối với nhà nước

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước

Sách “Về Đảng cộng sản Việt Nam” tập hợp tất cả các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng và cuốn: “Mấy vấn đề

về Đảng cầm quyền” của Tổng Bí thư Lê Duẩn Ngoài ra còn các công trình:

“Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển hiện nay” của GS Hồ Văn

Thông; GS.TS Nguyễn Văn Huyên với cuốn sách: “Hệ thống chính trị Anh,

Trang 5

Pháp, Mỹ”; “Một số vấn đề xây dựng Đảng trong văn kiện đại hội X” do

PGS.TS Lê Minh Thông chủ biên; “Đảng cộng sản cầm quyền - Nội dung và

phương thức cầm quyền của Đảng” do GS.TS.Nguyễn Văn Huyên; PGS.TS

Nguyễn Văn Hoà trong cuốn: “Nâng cao tầm tư tưởng và trí tuệ của Đảng

đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong giai đoạn mới”; Bài viết: “Để nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng trong điều kiện hiện nay” của TS Nguyễn Đình

Hòa; “Thể chế cầm quyền: một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của TS Đặng

Đình Tân; “Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trước yêu cầu của sự

nghiệp đổi mới đất nước” của PGS.TS Phạm Văn Đức; GS.TS.Phạm Ngọc

Quang trong: “Đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Việt Nam”; Vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới” do GS.TS Đỗ Hoài Nam chủ biên…

1.1.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài

Các công trình “Con người chính trị - căn bản xã hội của chính trị” (1960) của Seymour Martin Lipset và “Các nhân tố trong một hệ thống hai

đảng và đa đảng” (1972) của Maurice Duverger được coi là hai công trình

khoa học đi tiên phong ở các nước phương Tây; “Khoa học chính trị - một sự

giới thiệu” của Michaheal Roskin, Robert Cord, James Medeiroi, Walter

Jones (1991) và “Chính trị” của Andrew Heywood (2002); “Chính trị so sánh

ngày nay - một cách nhìn toàn cảnh” của Garbriel Almond và Bingham

Powell (1988); “Các quốc gia và các chính phủ: chính trị so sánh trong viễn

cảnh khu vực” của Thomas Magstadt (1994) Đối với nghiên cứu Trung Quốc:

“Tổng thuật những nghiên cứu về tăng cường xây dựng năng lực cầm quyền

của đảng” của Triệu Kim Bằng (2004); “Tăng cường xây dựng tác phong của Đảng cầm quyền” của Vương Mậu Lâm (2001); “Cầm quyền mang tính khoa học và dân chủ, cầm quyền theo pháp luật: yêu cầu thời đại về tính hợp pháp của Đảng cầm quyền” của Dương Tiểu Cường, Tào Tuyết Phong (2005;

“Nghiên cứu quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc” của Lưu Tôn Hồng (2004); “Bàn về công tác xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng”

của Lưu Chấn Hoa (2010)…

1.2 Các công trình nghiên cứu về nhà nước và vai trò của nhà nước đối với đảng chính trị ở Việt Nam

Sách: “Về quyền lực trong cơ quan Nhà nước hiện nay” của PGS TS

Lê Minh Quân và ThS Bùi Việt Hương chủ biên; TS Trịnh Thị Xuyến trong

“Kiểm soát quyền lực Nhà nước: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt

Nam hiện nay” “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” do Nguyễn Văn Yểu, Lê Hữu Nghĩa đồng chủ biên;

Phạm Ngọc Quang và Ngô Kim Ngân trong cuốn sách: “Phương thức lãnh

đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do vân, vì dân”; “Đảng lãnh đạo Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” do

PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh chủ biên; bài viết “Về một số nét đặc thù của Nhà

Trang 6

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của PGS.TS Phạm Văn Đức

… các công trình nghiên cứu về Nhà nước và vai trò của Nhà nước đối với

Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau và có những điểm chung là muốn nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước thì vai trò đổi mới phương thức, nội dung lãnh

đạo của Đảng là đặc biệt quan trọng

1.3 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Sách: “Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình

đổi mới đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta” do GS.TS Nguyễn Phú Trọng,

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam chủ biên; “Mối quan hệ Đảng - Nhà

nước - Dân trong cuộc sống” của Nguyễn Khánh; sách: “Đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức Chính trị - Xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam” do GS.TS Lê Hữu Nghĩa, GS.TS Hoàng Chí Bảo, PGS.TS

Bùi Đình Bôn đồng chủ biên Đặc biệt, phần nhiều là các bài viết trên các tạp

chí chuyên ngành: “Tiếp tục thể chế hoá, hiện thực hoá cơ chế Đảng lãnh

đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” của GS.TS Đinh Xuân Dũng;

“Giải quyết hài hòa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý” của PGS.TS Lê Duy Chương; “Hiến pháp và Điều lệ Đảng, mấy điều suy nghĩ” của tác giả Bùi Đức Lại; “Giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước” của TS.Nguyễn Sĩ Dũng; “Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong xây

dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”; “Giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” của PGS,TS Nguyễn Viết Thông; “Về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay” của GS.TS Nguyễn Hữu Khiển…đây là

nguồn tài liệu vô cùng quý giá để tác giả luận án này tham khảo, kế thừa và tiếp tục phát triển để góp phần hoàn thành mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu đã được xác định trong luận án

1.4 Khái quát kết quả nghiên cứu và những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứu

1.4.1 Khái quát những kết quả nghiên cứu

Một là, các công trình nghiên cứu đã đề cập sâu về khái niệm, quan

niệm đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo và quản lý Một

số tác giả làm rõ khái niệm về đảng lãnh đạo, đảng cầm quyền, trong đó các tác giả có sự thống nhất cao về nội dung đảng lãnh đạo Đồng thời, đã hệ thống hóa được những luận điểm căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam về đảng, về nhà nước và mối quan hệ Đảng và Nhà nước

Hai là, các tác giả đã làm rõ thực trạng, yêu cầu của đất nước, của thế

giới để chỉ ra tính tất yếu của việc phải đổi mới mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước Trong đó cơ bản là Đảng phải tự đổi mới để đổi mới Nhà nước và

Trang 7

xã hội; Đảng phải đổi mới để củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đồng thời, Nhà nước phải tích cực, chủ động và phát huy vai trò tác động tích cực trở lại đối với Đảng cầm quyền

Ba là, đa số các tác giả đều cho rằng quyền làm chủ của nhân dân là yếu

tố trung tâm của mối quan hệ giữa "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ" bởi vì mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước đều từ nhân dân và

vì nhân dân, đây đồng thời cũng là nguyên tắc của việc xây dựng và đổi mới mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ta hiện nay và trong thời gian tiếp theo

Bốn là, theo các tác giả cần tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ

Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Thống nhất cao vấn đề cần có cơ chế phân biệt rành mạch về quyền và trách nhiệm của mỗi chủ thể thông qua một hệ thống thể chế xác định nhằm thể chế hóa vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của Đảng và vai trò, trách nhiệm quản lý của Nhà nước bằng các văn bản pháp luật, quy chế quan hệ cụ thể

Năm là, các tác giả đều có những điểm thống nhất rằng, để giải quyết tốt

mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng lãnh đạo Nhà nước phải thông qua đường lối, chính sách; sự thuyết phục của tổ chức đảng và gương mẫu của cán bộ, đảng viên; việc kiểm tra, giám sát của Đảng, của nhân dân đối với cơ quan, công chức Nhà nước và thực hiện thẩm quyền đối với công tác cán bộ; thông qua cơ chế kiểm soát quyền lực; thông qua việc thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI và Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII nhằm ngăn chặn những suy thoái trong cán bộ, đảng viên

1.4.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Một là, trong điều kiện Đảng cộng sản Việt Nam đang quyết liệt xây

dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới hệ thống chính trị với 3 trụ cột chính: xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ

sở tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Luận án cố gắng kế thừa những kết quả nghiên cứu trước, tiếp tục đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn cần làm rõ trong điều kiện nước ta hiện nay

Hai là, khi nghiên cứu về mối quan hệ này, các nhà khoa học tập trung

khai thác dưới góc độ đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước hoặc mối quan hệ Đảng với Nhà nước trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền mà ít có điều kiện nghiên cứu Đảng - Nhà nước như hai đối tượng nghiên cứu song song, có quan hệ và tác động hai chiều, đặc biệt là trên cặp

phạm trù “cầm quyền” và “pháp quyền”, trong bối cảnh Đảng Cộng sản Việt

Nam duy nhất cầm quyền Hiện tại, chưa có nhiều công trình đề xuất tổng thể các giải pháp nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong tình hình phức tạp hiện nay

Trang 8

Ba là, một số vấn đề lý luận, thực tiễn cần tiếp tục được nghiên cứu, giải

quyết gồm: Về mặt lý luận cần xây dựng các “khái niệm công cụ”, chỉ rõ cơ sở

lý luận và cơ sở thực tiễn xung quanh mối quan hệ giữa đảng và nhà nước và làm rõ những yêu cầu đặt ra trong đổi mới mối quan hệ này Đồng thời, thừa nhận và phân biệt rõ sự khác nhau của tư cách song trùng giữa “lãnh đạo” và

“cầm quyền” của Đảng Cộng sản Việt Nam để từ đó có thể xác định rõ hơn vị

trí và vai trò của Đảng với Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Về

mặt thực tiễn, cần phân tích, đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện thực

trạng mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay ở cấp trung ương Làm rõ những thành tựu, hạn chế gắn liền với những nguyên nhân chủ yếu trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, đồng thời chỉ rõ những vấn đề đang đặt ra cần nhận thức đúng, như: (1) mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước còn có tình trạng bao biện, chồng chéo và buông lỏng nên chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực điều hành của bộ máy Nhà nước; (2) chưa phân rõ chức năng, quyền hạn giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý, tình trạng “song trùng quyền lực” diễn ra ở nhiều ở các ban tham mưu của Đảng và các bộ, ngành thuộc Chính phủ và các cơ quan Nhà nước khác Cơ chế Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý đã được nêu ra từ lâu, nhưng chưa được cụ thể hóa để vận hành có hiệu quả trong thực tế; (3) mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước chưa chặt chẽ dẫn đến một số tệ nạn như: tham nhũng, quan liêu, xa rời quần chúng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên chậm được xử

lý, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; (4) thiếu một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để pháp luật hóa các mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Bốn là, nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam

trong điều kiện kinh tế, đời sống chính trị, xã hội hiện nay đang có nhiều thay đổi nhanh chóng, đặt ra nhiều vấn đề mới cần giải quyết trên quan điểm cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế khách quan đang đòi hỏi phải đổi mới phương thức lãnh đạo để phù hợp với xu thế phát triển về khoa học, quản lý và phù hợp với tình hình xây dựng tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị ngày càng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vận hành thông suốt, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước

Trang 9

Chương 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC - MỘT SỐ VẤN

ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

2.1 Đảng, Nhà nước và sự tác động qua lại và chuyển hóa lẫn nhau

2.1.1 Về đảng

Khái niệm đảng lãnh đạo là một khái niệm được các nhà kinh điển Mác - Lênin sử dụng từ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi giai cấp công nhân trở thành lực lượng tiên phong lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động, thủ tiêu chế độ bóc lột, xây dựng một xã hội mới tiến bộ vì con người, không

còn áp bức và bất công Luận án đi đến khái niệm “đảng”, theo Từ điển Chính trị: “tổ chức chính trị của những người cùng chung một tư tưởng, tổ chức này

tập hợp những đại biểu tích cực nhất của một giai cấp, thể hiện quyền lợi của giai cấp ấy và lãnh đạo giai cấp ấy trong cuộc đấu tranh giai cấp” Tuy nhiên,

trong khái niệm về “đảng” phải nghiên cứu sâu các thuật ngữ “đảng lãnh

đạo”, “đảng cầm quyền”, “đảng chấp chính”, “đảng tham chính” “đảng nắm chính quyền”, “đảng lãnh đạo chính quyền” “đảng đối lập”…

2.1.2 Về nhà nước

Khái niệm “nhà nước” được hiểu một cách cơ bản nhất là một tổ chức

xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị trong xã hội có giai cấp, là công cụ chuyên chính giai cấp, với các chức năng quản lý xã hội vừa bảo vệ lợi ích giai cấp mà nó đại diện, vừa duy trì trật tự, đảm bảo cho xã hội phát triển và phục vụ những nhu cầu thiết yếu của đời sống cộng đồng

2.1.3 Quan hệ giữa đảng và nhà nước - sự tác động qua lạ lẫn nhau

Xét về mặt bản chất thì mối quan hệ giữa đảng và nhà nước là mối quan

hệ chính trị khách quan và phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Ngay

từ khi mới ra đời ở các quốc gia phương Tây, các đảng chính trị đã đấu tranh với nhau trong việc kiểm soát và thực thi quyền lực nhà nước Ngày nay, mục tiêu của tất cả các đảng chính trị là đều muốn trở thành đảng cầm quyền để thành lập nhà nước nhằm hiện thực hoá cương lĩnh chính trị của mình trên cơ

sở đảm bảo sự phù hợp với định hướng phát triển chung của xã hội

Khi trở thành đảng cầm quyền thì mối quan hệ giữa đảng và nhà nước là

mối quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý Trong đó, đảng lãnh đạo không có nghĩa

là đảng không có chức năng quản lý, ngược lại nhà nước quản lý không có nghĩa là nhà nước không có lãnh đạo Chức năng quản lý của đảng chính trị thể hiện trong việc quản lý trực tiếp đảng viên của đảng đó trong bộ máy nhà nước

Vì vậy, sự đan xen chức năng trong cá nhân giữ vị trí trong bộ máy nhà nước khi họ là đảng viên của đảng cầm quyền là điều kiện để hiện thực hoá các mục tiêu chính trị qua điều hành xã hội, họ làm việc của công quyền

Trang 10

nhưng phải quán triệt các mục tiêu chính trị của đảng cầm quyền Thông qua những người này đảng lãnh đạo nhà nước và điều hành sự ổn định về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội

2.2 C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin bàn về mối quan hệ giữa đảng

và nhà nước

2.2.1 C.Mác, Ph.Ăngghen bàn về mối quan hệ đảng và nhà nước

Một là, các nhà kinh điển đã chỉ rõ bản chất giai cấp công nhân của đảng

cộng sản, các nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của đảng, đặc biệt là đã nói tới sứ mệnh lãnh đạo, nắm lấy quyền lực và cầm quyền để thực thi sứ mệnh lịch sử của giai cấp, chẳng những lãnh đạo giai cấp mà còn lãnh đạo dân tộc, đặc trưng của lãnh đạo và thống trị ấy là lãnh đạo về mặt chính trị, thống nhất về mặt chính trị

Hai là, nền tảng trong lãnh đạo chính trị của đảng đối với giai cấp - dân

tộc và xã hội là ở các quan hệ lợi ích Lợi ích vừa là mục tiêu, vừa là động lực

trong tiến trình phát triển của cách mạng

Ba là, các quan hệ chính trị kiểu mới hình thành giữa đảng - giai cấp và

dân tộc với nhà nước và xã hội là biểu hiện của một bản chất mới của các

quan hệ lợi ích kinh tế, bắt nguồn từ quan hệ sở hữu và chế độ sở hữu xã hội

2.2.2 V.I Lênin bàn về mối quan hệ đảng và nhà nước

Thứ nhất, đảng xác định các mục tiêu mang tính chất định hướng của đảng trong các chủ trương, đường lối, cương lĩnh, nghị quyết của mình Mục

tiêu nói chung và mục tiêu lâu dài nói riêng của đảng được xác định trong các cương lĩnh, nghị quyết của đảng tại các kỳ đại hội

Thứ hai, đảng còn phải xác định cả những nhiệm vụ cho nhà nước Có

nhiệm vụ lâu dài, nhiệm vụ trước mắt trong các lĩnh vực chủ yếu của đời sống

xã hội “Nhiệm vụ đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu đã được đề ra trong cương lĩnh của Đảng ta, coi đó là một công tác rất lâu dài”

Thứ ba, việc xác định các nhiệm vụ của đảng và nhà nước cần phải có

sự định hướng vào các nhiệm vụ cấp thiết và mấu chốt Các nhiệm vụ chủ yếu

bao gồm: Công tác tư tưởng, xây dựng bộ máy nhà nước và các tổ chức quần chúng; công tác xây dựng đảng, trong đó đặc biệt vấn đề tổ chức cán bộ và kiểm tra của đảng; nhiệm vụ trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại

2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước

2.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa đảng và nhà nước

Bàn về các quan hệ giữa Đảng và Nhà nước bao giờ Hồ Chí Minh cũng hướng việc giải quyết các quan hệ đó vào việc thực hiện dân chủ, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đây là mục đích, là bản chất của tổ chức và hoạt động chính trị Thông qua các quan hệ giữa các tổ chức mà tác

Trang 11

động tới đời sống xã hội để thực hiện lợi ích và quyền lực của nhân dân Những kiến giải của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, cũng như phát huy vai trò, tác dụng của các tổ chức quần chúng bao giờ cũng được Người nhấn mạnh từ mục đích củng cố sự bền vững của cơ sở xã hội, của chế độ, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, đó là sức mạnh của nhân dân, sức mạnh đoàn kết dân tộc và sự đồng thuận xã hội

2.3.2 Một số quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ giữa đảng và nhà nước

Qua các văn bản, tài liệu, đặc biệt là văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại

hội gần đây, có thể khái quát phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà

nước - một vấn đề rất quan trọng để xác lập các quan hệ cho đúng đắn giữa

Đảng và Nhà nước được thể hiện bởi các nội dung cụ thể như sau:

- Lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, đường lối, nghị quyết

- Lãnh đạo bằng công tác giáo dục tuyên truyền vận động

- Lãnh đạo bằng tổ chức bộ máy

- Lãnh đạo bằng cán bộ và công tác cán bộ

- Bằng công tác kiểm tra, giám sát

- Lãnh đạo trên cơ sở những nguyên tắc chính trị của Đảng được ghi trong điều lệ và phù hợp với luật pháp

- Lãnh đạo bằng sự gương mẫu của các tổ chức đảng, của cán bộ, đảng

viên, bằng cách liên hệ mật thiết với quần chúng,

2.4 Kinh nghiệm quốc tế trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đảng và nhà nước

2.4.1 Kinh nghiệm của một số nước xã hội chủ nghĩa trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đảng và nhà nước

Ở các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa, thể chế chính trị được tổ chức theo mô hình Cộng hòa Xô viết (trước đây), Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (hiện nay) Mô hình thể chế này, ở các

nước khác nhau có tên gọi khác nhau: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (Việt Nam), Cộng hòa dân chủ nhân dân (Lào, Triều Tiên), Cộng hòa nhân dân (Trung

Hoa), Cộng hòa (CuBa) Tuy nhiên, tùy theo điều kiện “đặc thù” của mỗi

nước đã thực hiện chế độ hợp tác đa đảng, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng

Cộng sản và với chế độ “nhất nguyên chính trị” Trong các nước xã hội chủ

nghĩa có thể đi sâu tìm hiểu mô hình của Trung Quốc rất hữu ích với Việt Nam vì trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc đã trải nghiệm những thành công và sai lầm lớn trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Ngoài ra, hai nước có nhiều điểm giống nhau về chế độ chính trị, địa lý, lịch sử, văn hóa, truyền thống…Đồng thời, thực tiễn ở các quốc gia mà đảng cộng sản là trung tâm quyền lực chính trị thì bài học kinh nghiệm trong xử lý mối quan hệ của đảng và nhà nước Việt Nam có thể tham khảo

Trang 12

2.4.2 Kinh nghiệm của các nước tư bản chủ nghĩa trong việc giải quyết mối quan hệ giữa đảng cầm quyền và nhà nước pháp quyền tư sản

Việc nghiên cứu về mô hình đảng chính trị và đảng chính trị cầm quyền của các nước tư bản giúp Việt Nam hiểu rõ bản chất của các đảng chính trị tại các nước phát triển, vừa có thể tiếp thu có chọn lọc một số giá trị từ các đảng

đó trong quá trình Việt Nam ngày càng mở rộng hợp tác đa phương hoá, đa dạng hoá…nhưng không xa rời mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội Có thể thấy ở các nước tư bản tuy “đa đảng, đa nguyên”, nhưng về cơ bản cơ quan

lập pháp và hành pháp đều nằm trong tay các đảng tư sản cầm quyền, trong đó

nghị viện được xem là chế độ dân chủ nhưng hoạt động mang tính đảng Chính phủ được thành lập trên cơ sở nghị viện và chịu trách nhiệm trước nghị viện nhưng trên thực tế thì đảng cầm quyền thường đứng ra thành lập Chính

phủ, thao túng toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Nói tóm lại, dù ở các nước xã hội chủ nghĩa hay các nước tư bản chủ

nghĩa, nếu các đảng chính trị muốn nắm quyền lãnh đạo nhà nước để trở thành đảng cầm quyền thì đảng phải thuyết phục và được sự ủng hộ của đa số quần chúng; phải tiến hành thông qua cuộc bầu cử Đặc biệt, bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà phụ thuộc vào việc đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trong thực tế Đồng thời, sự phát triển kinh tế

- xã hội của một quốc gia cũng không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay nhiều đảng, mà phụ thuộc vào tính khoa học, sáng tạo của đường lối phát triển đất nước và năng lực lãnh đạo của đảng cầm quyền, năng lực điều hành của nhà nước, của chính phủ và hiệu quả xử lý mối quan hệ giữa đảng cầm quyền

và nhà nước trên thực tế chính trị hiện có

2.5 Sự thống nhất giữa cái phổ biến và cái đặc thù trong mối quan

hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Một là, mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước ở Việt Nam là mối quan

hệ giữa lực lượng chính trị Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền và Nhà nước

Hai là, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam chỉ xác định sự

lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước một lần trong thực tiễn

Ba là, Đảng lãnh đạo Nhà nước ở Việt Nam là lãnh đạo tất cả các nhánh

quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp

Bốn là, quyền lực và phạm vị ảnh hưởng của “quyền lãnh đạo” và

“quyền cầm quyền” của Đảng đối với Nhà nước ở Việt Nam có nhiều điểm

khác so với các nước, mang màu sắc tính đảng của Việt Nam Nếu xét Đảng

cộng sản Việt Nam là một “Đảng cầm quyền” thì phạm vi “quyền cầm quyền” chủ yếu hạn chế trong công tác Nhà nước (bao gồm công tác lập pháp, hành chính, tư pháp) Còn nếu xét Đảng cộng sản Việt Nam là một “Đảng lãnh đạo” thì không chỉ hạn chế ở quyền lãnh đạo công tác Nhà nước về mặt chính trị

mà còn lãnh đạo quần chúng nhân dân, đoàn thể chính trị - xã hội…

Trang 13

Năm là, Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng dùng lý luận khoa học

chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng cho tư tưởng và hành động của đảng

Sáu là, chính vì tính đặc thù Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng lãnh đạo

đất nước một cách toàn diện nên không thể thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng lãnh đạo, đó là khác biệt căn bản giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các đảng cầm quyền ở các nước phương Tây

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ MỐI QUAN HỆ

GIỮA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1 Một số nội dung có tính nguyên tắc về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Một là, nội dung lãnh đạo của Đảng với Nhà nước đòi hỏi phải có

phương thức lãnh đạo phù hợp

Hai là, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đã được hiến định

trong Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013

Ba là, thước đo đánh giá năng lực lãnh đạo của Đảng trong việc phát

huy vai trò quản lý của Nhà nước để thúc đẩy phát triển xã hội

Bốn là, Đảng xác định những quan điểm, phương hướng, nội dung cơ

bản nhằm xây dựng, hoàn thiện tổ chức hoạt động của Nhà nước

3.2 Thực trạng mối quan hệ trong việc cụ thể hóa đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước

Thành tựu, Trung ương Đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước

và tổ chức bài bản, quyết liệt các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, chiến lược của Đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong việc đưa các văn kiện của Đảng vào cuộc sống

Hạn chế, Năng lực thể chế hoá đường lối của Đảng, triển khai thực hiện,

năng lực điều hành của Nhà nước còn bất cập trước đòi hỏi của thực tiễn Một

số chính sách của Đảng và Nhà nước chưa thật sự phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân Tình trạng suy thoái

về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống trong cán bộ lãnh đạo Đảng và cơ quan Nhà nước các cấp làm giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước

3.3 Thực trạng mối quan hệ trong việc tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng và Nhà nước

Một là, thực trạng việc Đảng lãnh đạo tinh giản biên chế và cơ cấu lại

đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Tuy nhiên, qua thực tiễn nhận thấy, tổ

Ngày đăng: 11/07/2017, 16:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w