1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

165 262 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tài Trong cấu trúc của hệ thống chính trị thì đả ng và nhà nước là hai bộ phận quan trọng trong kiến trúc thượng tầng. Tuy bị quy định bởi cơ sở hạ tầng, song nó lại có vai trò tác động, định hướng trở lại đối với cơ sở hạ tầng, sự tác động trở lại đó chủ yếu là định hướng về bản chất, mục đích, chủ thể quyền lực trong xã hội. Mối quan hệ giữa đảng chính trị, cầm quyền và nhà nước (trong luận án này gọi tắt là “đảng và nhà nước”) là một quan hệ phổ biến trong xã hội có giai cấp, và có quan hệ biện chứng với sự phát triển của hệ thống chính trị, phản ánh trình độ dân chủ xã hội. Ở Việt Nam, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước đang từng bước củng cố, hoàn thiện để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của Nhà nước. Trong quá trình lãnh đạo, chúng ta đang gặp những khó khăn như nhận thức một số vấn đề lý luận về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế hoạt động của Đảng và Nhà nước vẫn chưa rõ ràng, đầy đủ. Mặt khác, ở thời kỳ trước đổi mới, trong “cơ chế tập trung quan liêu - bao cấp”, hầu hết lãnh đạo Đảng thường “lấn sân”, bao biện, làm thay, thậm chí choán quyền cán bộ, lãnh đạo Nhà nước. Song từ khi đổi mới, vai trò của các cơ quan đảng, các lãnh đạo của Đảng có biểu hiện ngày càng mờ nhạt, kém tác dụng thực tiễn so với vai trò các cấp cơ quan nhà nước, cán bộ, lãnh đạo nhà nước. Thực trạng này, vừa hạn chế, vừa gây phương hại đến vai trò, năng lực, uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vừa hạn chế vai trò, chức năng, hiệu lực, uy tín quản lý của cơ quan nhà nước; vừa có những vi phạm các quyền công dân, quyền dân chủ, quyền làm chủ và lợi ích chính đáng của nhân dân, ảnh hướng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nằm chung trong tính quy luật của mối quan hệ đó, song vấn đề quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, Đảng duy nhất lãnh đạo đã, đang là một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn phức tạp trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung và từng bước xây dựng hoàn thiện “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam” nói riêng. Ngoài ra, đất nước cũng phải đối mặt với không ít thách thức như: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí rất nghiêm trọng; những biểu hiện xa rời mục tiêu của Đảng, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có phức tạp…Điều đó cho thấy, để lãnh đạo được xã hội và Nhà nước, Đảng phải có đủ năng lực, trí tuệ và phẩm chất, bản lĩnh để hoạch định đường lối đúng cho toàn xã hội, có khả năng chỉ đạo Nhà nước để thể chế hóa đường lối và tổ chức thực hiện đường lối đó. Khi cầm quyền, Đảng phải thường xuyên và tích cực chống nguy cơ quan liêu, xa rời quần chúng, thoái hóa biến chất, rơi vào đặc quyền đặc lợi, cắt đứt mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân - nguồn sức mạnh của Đảng. Để có cơ sở cho việc khắc phục hạn chế trong thực tiễn về mối quan hệ đó, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và đầy đủ cả về lý luận lẫn t hực tiễn quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay là một việc có ý nghĩa vừa cơ bản, vừa cấp thiết, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân tố có vai trò quyết định hàng đầu cho quá trình chỉnh đốn, xây dựng Đảng và cải cách Nhà nước theo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cho quá trình đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Đồng thời, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa Đảng và Nhà nước, thể chế hóa vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền của Đảng, tránh chồng chéo giữa chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý của Nhà nước. Như vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, cả về lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam trên cơ sở tổng kết những thành công, chỉ rõ những hạn chế, mâu thuẫn đang cản trở để rút ra những bài học và đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước là công việc hết sức cấp thiết. Từ những lý do trên, tác giả mong góp thêm chút công sức của mình cho quá trình tiếp tục phát huy những thành tựu, đồng thời hạn chế những sai sót, khó khăn, thách thức của nước ta trong quá trình tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm luận án Tiến sĩ Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

=========

TRẦN VĂN ĐÔNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI …… 5

1.1 Các công trình nghiên cứu về đảng chính trị và vai trò của đảng chính trị đối với nhà nước……… 5

1.2 Các công trình nghiên cứu về nhà nước và vai trò của nhà nước đối với đảng chính trị ở Việt Nam 15

1.3 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay .18

1.4 Khái quát kết quả nghiên cứu và những vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục nghiên cứu .24

Chương 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ……… 28

2.1 Đảng, nhà nước và sự tác động qua lại lẫn nhau 28 2.2 C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin bàn về mối quan hệ giữa đảng và nhà nước 36

2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa đảng và nhà nước .44

2.4 Kinh nghiệm quốc tế trong việc giải quyết mối quan hệ đảng và nhà nước 52

2.5 Sự thống nhất giữa cái phổ biến và cái đặc thù trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay 57

Kết luận chương 2 64

Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY…… 65

3.1 Một số nội dung có tính nguyên tắc về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở Việt Nam hiện nay 65

3.2 Thực trạng mối quan hệ trong việc cụ thể hóa đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước 70

Trang 3

3.3 Thực trạng mối quan hệ trong việc tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng và Nhà nước 74

3.4 Thực trạng mối quan hệ giữa Đảng với Quốc hội, Chính phủ, cơ quan

4.4 Nghiên cứu cơ chế luật hoá mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước… 132 4.5 Xây dựng Ban chấp hành Trung ương Đảng trí tuệ, dân chủ và đoàn kết

là nhân tố quan trọng trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ……….138

4.6 Nghiên cứu cơ chế nhất thể hóa chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch Nước 142

Trang 4

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong cấu trúc của hệ thống chính trị thì đả ng và nhà nước là hai bộ phận quan trọng trong kiến trúc thượng tầng Tuy bị quy định bởi cơ sở hạ tầng, song nó lại có vai trò tác động, định hướng trở lại đối với cơ sở hạ tầng, sự tác động trở lại

đó chủ yếu là định hướng về bản chất, mục đích, chủ thể quyền lực trong xã hội Mối quan hệ giữa đảng chính trị, cầm quyền và nhà nước (trong luận án này gọi tắt

là “đảng và nhà nước”) là một quan hệ phổ biến trong xã hội có giai cấp, và có quan hệ biện chứng với sự phát triển của hệ thống chính trị, phản ánh trình độ dân chủ xã hội

Ở Việt Nam, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước đang từng bước củng cố, hoàn thiện để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của Nhà nước Trong quá trình lãnh đạo, chúng ta đang gặp những khó khăn như nhận thức một số vấn đề lý luận về vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế hoạt động của Đảng và Nhà nước vẫn chưa rõ ràng, đầy đủ Mặt khác, ở thời kỳ trước đổi mới, trong “cơ chế tập trung quan liêu - bao cấp”, hầu hết lãnh đạo Đảng thường “lấn sân”, bao biện, làm thay, thậm chí choán quyền cán bộ, lãnh đạo Nhà nước Song từ khi đổi mới, vai trò của các cơ quan đảng, các lãnh đạo của Đảng có biểu hiện ngày càng mờ nhạt, kém tác dụng thực tiễn so với vai trò các cấp cơ quan nhà nước, cán bộ, lãnh đạo nhà nước

Thực trạng này, vừa hạn chế, vừa gây phương hại đến vai trò, năng lực, uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vừa hạn chế vai trò, chức năng, hiệu lực, uy tín quản lý của cơ quan nhà nước; vừa có những vi phạm các quyền công dân, quyền dân chủ, quyền làm chủ và lợi ích chính đáng của nhân dân, ảnh hướng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Nằm chung trong tính quy luật của mối quan hệ đó, song vấn đề quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền, Đảng duy nhất lãnh đạo đã, đang là một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn phức tạp trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung và từng bước xây dựng hoàn thiện “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam” nói riêng

Trang 5

2

Ngoài ra, đất nước cũng phải đối mặt với không ít thách thức như: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí rất nghiêm trọng; những biểu hiện xa rời mục tiêu của Đảng, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có phức tạp…Điều đó cho thấy, để lãnh đạo được xã hội và Nhà nước, Đảng phải có đủ năng lực, trí tuệ và phẩm chất, bản lĩnh để hoạch định đường lối đúng cho toàn xã hội, có khả năng chỉ đạo Nhà nước để thể chế hóa đường lối và tổ chức thực hiện đường lối đó Khi cầm quyền, Đảng phải thường xuyên và tích cực chống nguy cơ quan liêu, xa rời quần chúng, thoái hóa biến chất, rơi vào đặc quyền đặc lợi, cắt đứt mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân - nguồn sức mạnh của Đảng

Để có cơ sở cho việc khắc phục hạn chế trong thực tiễn về mối quan hệ đó, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và đầy đủ cả về lý luận lẫn thực tiễn quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay là một việc có ý nghĩa vừa

cơ bản, vừa cấp thiết, góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân tố có vai trò quyết định hàng đầu cho quá trình chỉnh đốn, xây dựng Đảng và cải cách Nhà nước theo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cho quá trình đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam Đồng thời, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa Đảng và Nhà nước, thể chế hóa vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền của Đảng, tránh chồng chéo giữa chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý của Nhà nước

Như vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, cả về lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam trên cơ sở tổng kết những thành công, chỉ rõ những hạn chế, mâu thuẫn đang cản trở để rút ra những bài học

và đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước là công việc hết sức cấp thiết Từ những lý do trên, tác giả mong góp thêm chút công sức của mình cho quá trình tiếp tục phát huy những thành tựu, đồng thời hạn chế những sai sót, khó khăn, thách thức của nước ta trong quá trình tiếp tục đổi

mới, hoàn thiện hệ thống chính trị Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Mối quan hệ giữa

Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm luận án Tiến sĩ Triết học, chuyên

ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu

Trang 6

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

- Trình bày một cách có hệ thống các khái niệm công cụ tập trung trong việc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

- Phân tích thực trạng về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay và chỉ ra một số vấn đề đặt ra trong việc giải quyết tốt mối quan hệ này

- Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục khắc phục những hạn chế, sai lệch, trên cơ sở đó phát huy những thành tựu của mối quan hệ giữa

Đảng và Nhà nước ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là “mối quan hệ Đảng và Nhà nước

ở Việt Nam” hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Không gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng Cộng

sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ở cấp Trung ương

Thời gian nghiên cứu: Luận án giới hạn thời gian nghiên cứu bắt đầu từ Đại

hội Đảng toàn quốc lần thứ X (năm 2006) đến nay

4 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận án nghiên cứu lấy chủ nghĩa duy vật biệt chứng và chủ

nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở xuyên suốt cho toàn bộ những luận giải của luận

án Đồng thời, luận án chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam

Trang 7

4

- Cơ sở thực tiễn: Luận án dựa trên thực trạng mối quan hệ giữa Đảng và

Nhà nước ở Việt Nam hiện nay để nghiên cứu, phân tích, đánh giá và đề xuất giải

pháp đổi mới mối quan hệ

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp hệ thống để xác định vị trí và mối tương quan giữa các chủ thể trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước

Trên cơ sở phương pháp luận chung đó, tác giả luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử - logic; phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp phỏng vấn sâu; phương pháp so sánh…

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Một là, luận án khiêm tốn góp phần hoàn thiện các nội dung về những cái

phổ biến và những cái đặc thù trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay, gắn với nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang từng bước được xây dựng và hoàn thiện

Hai là, góp phần làm rõ thêm thực trạng xử lý mối quan hệ giữa Đảng và

Nhà nước ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, góp phần luận cứ để chứng minh sự cần thiết phải thực hiện các giải pháp đổi mới, hoàn thiện mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu và giảng dạy các vấn đề về triết học, chính trị học về Đảng, Nhà nước ở Việt Nam; là tài liệu tham khảo phục vụ cán bộ, công chức làm công tác tổ chức, xây dựng Đảng và cơ quan quản lý Nhà nước

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận

án gồm 4 chương và 21 tiết

Trang 8

5

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Vấn đề về đảng và nhà nước, đặc biệt về mối quan hệ giữa đảng và nhà nước

là đối tượng nghiên cứu của khá nhiều nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau như: chính trị học, triết học, luật học, hành chính học, xã hội học… Trong “tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án”, tác giả luận án khái quát cơ bản những công trình khoa học đã công bố có giá trị liên quan trực tiếp đến đề tài luận

án theo mã số chuyên ngành, mà cụ thể là:

1.1 Các công trình nghiên cứu về đảng chính trị và vai trò của đảng chính trị đối với nhà nước

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, ở mỗi giai đoạn lại có những điều kiện và đặc điểm khác nhau, theo đó tình hình nghiên cứu cũng có những bước phát triển khác nhau Trong số các công trình đó phải kể đến các công trình tiêu biểu sau:

Trong cuốn: “Về Đảng Cộng sản Việt Nam” [108 và 109], các tác giả đã tập

hợp tất cả các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng, trong đó có nói đến mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, Đảng với vai trò cầm quyền và Nhà nước (cụ thể là Chính phủ) trong vai trò điều hành trực tiếp đời sống kinh tế - xã hội của đất nước Hồ Chí Minh đã đặc biệt nhấn mạnh lý luận về

Đảng cầm quyền (Hồ Chí Minh hay dùng từ “cầm quyền” để nói về Đảng hơn là từ

“lãnh đạo”) Hồ Chí Minh quan tâm đến công tác cán bộ, sự gương mẫu của các

cán bộ, đảng viên sẽ là điều kiện quan trọng để tạo nên sự vững mạnh của Đảng và Nhà nước (Chính phủ)

Trong cuốn: “Mấy vấn đề về Đảng cầm quyền” của Tổng Bí thư Lê Duẩn

[16], tác giả cho rằng: nhiệm vụ của Đảng khi chưa có chính quyền là giác ngộ, tổ chức quần chúng đấu tranh lật đổ ách thống trị của giai cấp bóc lột để giành lấy chính quyền Khi đã có chính quyền thì nhiệm vụ của Đảng là xây dựng và giữ vững chính quyền, triệt để sử dụng và phát huy quyền lực của chính quyền để cải

Trang 9

6

tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, trấn áp các lực lượng chống đối Như vậy, trước và sau khi có chính quyền, Đảng luôn giữ vai trò lãnh đạo

Trong cuốn: “Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển hiện nay” của

GS Hồ Văn Thông [147], tác giả đã khái quát và phân tích một cách khá đầy đủ về

hệ thống chính trị ở một số nước tư bản phát triển như: Mỹ, Anh, Pháp, Đức,…nói chung và mối quan hệ giữa đảng chính trị và nhà nước ở các quốc gia này nói riêng Qua đó, tác giả cũng chỉ ra những điểm mạnh, yếu trong cơ chế thực hiện mối quan hệ giữa đảng chính trị, đảng cầm quyền đối với nhà nước ở các quốc gia này Đây là những bài học và kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình xử lý mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước

GS.TS Nguyễn Văn Huyên với cuốn sách: “Hệ thống chính trị Anh, Pháp,

Mỹ (mô hình tổ chức và hoạt động)” [58], đã phân tích hệ thống chính trị được hợp

thành từ ba tiểu hệ thống chính là đảng phái chính trị, nhà nước và các nhóm lợi ích của xã hội công dân Song, đó không phải là ba bộ phận riêng rẽ, độc lập mà chúng

có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau tạo nên sự vận hành suôn sẻ của toàn bộ hệ thống chính trị Tìm hiểu bản chất của hệ thống chính trị, các mối quan

hệ chính trị trong trạng thái vận động, đan xen nhiều chiều, nhiều tầng ý nghĩa cũng chính là xuất phát điểm nghiên cứu của tác giả cuốn sách này

Từ năm 1986 đến nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, đã có một số báo cáo tổng kết về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà

nước, về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước: Nghị quyết TW3, khóa VII: “Về

một số nhiệm vụ đổi mới và chính đốn Đảng” (1992); Nghị quyết TW8, khóa VII:

“Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính” (1995); Nghị quyết TW6, khóa

VIII: “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện

nay” (1999); Nghị quyết TW5, khóa IX (2002) về: “Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”; Nghị quyết

TW5, khóa X (2007) về: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với

hoạt động của hệ thống chính trị”; Nghị quyết TW4, khóa XI về: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết TW4, khóa XII về “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị,

Trang 10

Trong cuốn: “Một số vấn đề xây dựng Đảng trong văn kiện Đại hội X” do

PGS.TS Lê Minh Thông chủ biên [145], các tác giả cuốn sách cho rằng, trong điều kiện chính trị, xã hội thế giới đầy biến động trước xu thế toàn cầu hóa về kinh tế hiện nay, Đảng ta vẫn đang kiên định con đường đã chọn, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, giành được nhiều thắng lợi trong công cuộc đổi mới, tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Với bản chất khoa học và cách mạng, qua mỗi kỳ đại hội, Đảng

ta vẫn luôn tự trau dồi, rèn luyện đạo đức, phong cách, luôn đề ra nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đang ngày một bảo đảm các điều kiện cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập, đòi hỏi Đảng ta phải vững mạnh, đủ tầm, đủ bản lĩnh, trí tuệ để đưa đất nước phát triển bền vững cả về chính trị và kinh tế trong thời đại toàn cầu hóa, phát huy được uy tín và ảnh hưởng của Đảng trong xã hội

Trong cuốn: “Đảng Cộng sản cầm quyền - Nội dung và phương thức cầm

quyền của Đảng” do GS.TS.Nguyễn Văn Huyên chủ biên [56], các tác giả khẳng

định: trong thế giới hiện đại, hoạt động của các đảng chính trị nói chung và các đảng cầm quyền nói riêng có một ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đối với đời sống chính trị của mỗi đảng và hiệu quả lãnh đạo chính trị của đảng đó Các tác giả thẳng thắn thừa nhận rằng, chúng ta còn lúng túng về mặt lý luận, lúng túng trong nhận thức về vai trò lãnh đạo của Đảng, chưa xác định được một cách rõ ràng mối quan hệ giữa quyền lãnh đạo xã hội (cầm quyền lãnh đạo xã hội) của Đảng, quyền lực công của Nhà nước và quyền lực của nhân dân Nội dung cầm quyền của Đảng

là gì? Phương thức cầm quyền như thế nào? Phạm vi quyền lực đến đâu để không trái với nguyên tắc pháp quyền và không đi ngược lại với quyền tự do, dân chủ của nhân dân? Đây vẫn là những câu hỏi còn nhiều tranh luận giữa các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạt động chính trị Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta hiện nay thì yêu cầu

Trang 11

8

đổi mới về nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng ngày càng trở nên cấp thiết Cuốn sách là tài liệu tham khảo bổ ích, có giá trị cho các nhà nghiên cứu chính trị học, định hướng và gợi mở cho các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước trong việc đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và các

tổ chức chính trị - xã hội trong điều kiện hiện nay

PGS.TS Nguyễn Văn Hoà trong cuốn: “Nâng cao tầm tư tưởng và trí tuệ

của Đảng đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong giai đoạn mới” [46], đã phân tích trí tuệ

của Đảng qua các giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay; nêu lên những yêu cầu đối với sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn mới; đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao tầm tư tưởng và trí tuệ của Đảng đáp ứng yêu cầu lãnh đạo trong giai đoạn hiện nay

Bài viết: “Để nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng trong điều kiện hiện

nay” của TS Nguyễn Đình Hòa [47], khẳng định ở Việt Nam, Đảng Cộng sản là

đảng duy nhất cầm quyền, để hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, việc đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nhiệm vụ nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng bao gồm nhiều nội dung, trong đó cần tập trung vào 3 nội dung cốt lõi: cầm quyền một cách khoa học, cầm quyền một cách dân chủ và cầm quyền theo pháp luật Có thể nói, đó là những đặc trưng cần có, là yếu tố bảo đảm sự thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách Đảng cầm quyền

TS Đặng Đình Tân trong cuốn: “Thể chế cầm quyền: một số vấn đề lý luận

và thực tiễn” [132], cho rằng: Đảng cầm quyền là vấn đề quan trọng của hệ thống

chính trị của tất cả các quốc gia Vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản với nhà nước

là một nguyên tắc hoạt động cơ bản, là trụ cột của cơ chế vận hành của cả hệ thống chính trị Hệ thống thể chế đảng lãnh đạo nhà nước đã đạt được những kết quả nhất định và nhờ đó đã góp phần quan trọng vào thành công của công cuộc đổi mới Tuy nhiên, hệ thống các thể chế Đảng lãnh đạo Nhà nước còn chưa hoàn chỉnh, có tình trạng phân định chức năng lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước chưa rõ ràng, chồng chéo, làm ảnh hưởng nhất định đến vai trò lãnh đạo của Đảng cũng như vai trò quản lý của Nhà nước Từ những nội dung đó, tác giả cuốn sách đề xuất việc hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo Nhà nước ở nước ta hiện nay là một nội

Trang 12

9

dung quan trọng trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới mối quan

hệ Đảng với Nhà nước trong điều kiện mới

Trong “Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi

mới 1986 - 2016” của Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận - thực tiễn của Ban Chấp hành

Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam [2], đã trình bày khái quát các quan điểm mới của Đảng về sự phát triển của đất nước và thực trạng thực hiện các quan điểm

đó Báo cáo cho rằng, cần phải tiếp tục đổi mới tư duy về sự phát triển đất nước; nâng cao trình độ trí tuệ và năng lực lãnh đạo chính trị, năng lực cầm quyền; cần đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng; phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, tăng cường đoàn kết thống nhất; làm trong sạch và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; khắc phục có hiệu quả các hiện tượng tiêu cực, đặc biệt là tệ quan liêu, tham nhũng; khôi phục và nâng cao lòng tin của nhân dân đối với đảng; chấn chỉnh tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ

PGS.TS Phạm Văn Đức trong bài viết: “Nâng cao năng lực lãnh đạo của

Đảng trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước” [34], đã luận giải để làm rõ

tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của nhiệm vụ nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước Theo tác giả, để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, cần chú ý một số yêu cầu trong nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước như sau: Đảng phải xây dựng được đường lối lãnh đạo đúng đắn, phù hợp; thường xuyên chăm lo công tác xây dựng và bồi dưỡng cán bộ; coi trọng những nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của Đảng; chú ý tổng kết kinh nghiệm và vận dụng kinh nghiệm đó để lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị, như xây dựng cương lĩnh mới trên cơ sở kế thừa và phát triển Cương lĩnh năm 1991, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước

GS.TS.Phạm Ngọc Quang trong: “Đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh

đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” [118], cho rằng: Đảng đã lãnh đạo cách mạng

Việt Nam giành những thắng lợi vẻ vang, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc là kỷ nguyên độc lập và tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã lãnh đạo sự nghiệp đổi mới

Trang 13

10

đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Thắng lợi đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới mà Đảng đã đưa ra Tuy nhiên, không phải mọi vấn đề liên quan tới phương thức lãnh đạo của Đảng đã có bước tiến tương xứng với yêu cầu của quá trình đổi mới Để góp phần khắc phục hạn chế đó và có nhận thức đúng đắn hơn về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới, thì cần nghiên cứu sâu sắc hơn nữa vấn đề phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản cầm quyền trong điều kiện đổi mới hiện nay Đây là công trình nghiên cứu bàn khá sâu

về phương thức lãnh đạo, tác giả đã phân tích thực trạng mối quan hệ giữa Đảng với các chế định của Nhà nước, từ đó đề xuất một số giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, trong đó có Nhà nước

Cuốn sách: “Vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt

Nam trong điều kiện mới” do GS.TS Đỗ Hoài Nam chủ biên [110], đây là sự chắt

lọc những kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà nước KX.10.04 “Vị trí

cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền của dân, do dân,

vì dân và hội nhập kinh tế quốc tế” Kế thừa nhiều luận điểm cơ bản về vị trí cầm

quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được đề cập ở nhiều công trình nghiên cứu trước đây, qua phân tích, đánh giá về đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị ở một số nước tư bản chủ nghĩa; sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong điều kiện cải cách, mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc; vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trước và đặc biệt là trong 20 năm đổi mới; các tác giả đưa ra một số quan điểm, nội dung và giải pháp cơ bản nhằm củng cố và nâng cao vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 Lần đầu tiên, cuốn sách luận giải kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xã hội dân sự là “ba trụ cột cơ bản” và được đặt trong một thể thống nhất hữu cơ, tạo ra nhiều điều kiện mới chưa có tiền

lệ trong lịch sử tác động đến sự cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhấn mạnh tính cạnh tranh của kinh tế thị trường, tính pháp quyền của Nhà nước và tính dân sự của xã hội Tuy nhiên, đó mới là nhận thức và đề xuất riêng

Trang 14

11

của các tác giả công trình này (hiện nay chưa vận dụng vào thực tiễn Việt Nam vấn

đề “xã hội dân sự”)

PGS.TS.Trần Đình Huỳnh trong cuốn: “Phương thức Đảng lãnh đạo Nhà

nước” [59], đã trình bày một cách khái lược quan điểm tư tưởng của chủ nghĩa

Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, về đảng cầm quyền Trên cơ sở

đó, tác giả đã làm rõ khái niệm phương thức lãnh đạo và quá trình hình thành phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử Tác giả đưa ra một số quan điểm chung về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước trong tình hình hiện nay Đây là công trình bàn sâu về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, tuy nhiên chỉ nhấn mạnh đến góc độ tác động của Đảng với Nhà nước chứ

chưa đưa ra góc độ nhìn toàn diện về mối quan hệ đó

Cuốn sách: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” do Trần Đình

Nghiêm chủ biên [112], được hình thành trên cơ sở đề tài khoa học cấp nhà nước:

“Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trên một số lĩnh vực trọng yếu của đời

sống xã hội”, mã số KHXH 05.04 Trong cuốn sách, các tác giả trình bày cơ sở lý

luận, nội dung, khái niệm phương thức lãnh đạo của Đảng, quá trình lịch sử hình thành phương thức lãnh đạo của Đảng, vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị và trên một số lĩnh vực như kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, tổ chức cán bộ…

GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn trong bài viết: “Đảng phải thường xuyên tự đổi

mới để đưa đất nước tiến nhanh hơn” [13], trên cơ sở làm rõ thực trạng công tác

xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước, tác giả đã đi đến kết luận: tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh để đảm bảo cho sự thành công của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, Đảng cần phải quan tâm đặc biệt đến hai khâu then chốt nhưng lại đang khá bức xúc cần tự đổi mới và chỉnh đốn sớm để làm chỗ dựa cho các khâu khác là công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Trên nền tảng hai khâu then chốt đó cần thực hiện đồng bộ các mặt khác như công tác tư tưởng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, phòng chống tham nhũng, lãng phí, công tác tổ chức, bộ máy của Đảng và của hệ thống chính trị, công tác cán

bộ, công tác kiểm tra, giám sát, công tác quần chúng Tất cả các nội dung này có

Trang 15

12

quan hệ chặt chẽ với nhau và đều cực kỳ quan trọng trong việc làm cho Đảng ngày một vững mạnh hơn

Trong cuốn: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng, củng cố nhà

nước (1986 - 1996)” [55], TS Đoàn Minh Huấn đã hệ thống quá trình đổi mới tư

duy nhận thức của Đảng về vấn đề Nhà nước Tác giả phân tích từ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, từ nguyên lý tổ chức và hoạt động, cơ chế vận hành, xây dựng các cơ sở kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng như quá trình tổ chức chỉ đạo thực tiễn với tính phong phú, sinh động Đặc biệt, qua nghiên cứu lịch

sử, tác giả đã bước đầu tổng kết những thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm cho hiện tại, trong đó, một trong những bài học quan trọng là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

Trong cuốn “Đảng Cộng sản Việt Nam với việc cải cách nền hành chính nhà

nước” của TS Trần Đình Thắng [143], tác giả phân tích, luận giải có căn cứ khoa

học trên cả phương diện lý luận và thực tiễn để làm rõ yêu cầu tất yếu khách quan của Đảng lãnh đạo cải cách, xây dựng nền hành chính Nhà nước trong công cuộc đổi mới đất nước; phân tích, khái quát và hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương

và quá trình lãnh đạo thực hiện chủ trương của Đảng về cải cách, xây dựng nền hành chính Nhà nước trong sự nghiệp đổi mới đất nước; đánh giá khách quan, có

cơ sở khoa học về kết quả lãnh đạo và rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu Qua đó, khẳng định sự phát triển về tư duy lý luận và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn của Đảng đối với việc xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, hiện đại trong công cuộc đổi mới đất nước là nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

PGS.TS Nguyễn Ngọc Hà trong bài “Về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với

Nhà nước trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay” [40], cho rằng: trong hệ

thống chính trị, các thành tố cơ bản đầu tiên là Đảng và Nhà nước Đảng là tổ chức chính trị do các cá nhân tự nguyện gia nhập theo một điều lệ chung; còn Nhà nước

là bộ máy quản lý xã hội bằng pháp luật Tuỳ theo đặc điểm, pháp luật của mỗi nước mà một nước có thể có nhiều đảng hoặc chỉ có một đảng Hình thức biểu hiện của mối quan hệ giữa đảng và nhà nước khá phong phú; nhưng nhà nước nào cũng

đều do một đảng hoặc vài đảng lãnh đạo Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cách thông

Trang 16

13

qua các đảng viên trong bộ máy Nhà nước để biến những quyết định áp dụng cho các đảng viên thành những quyết định áp dụng cho mọi công dân Sự lãnh đạo đúng đắn hay không đúng đắn của Đảng đối với Nhà nước sẽ dẫn đến sự thành công hay không thành công trong hoạt động quản lý của Nhà nước

Trong cuốn sách: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

trong thời kỳ đổi mới” do GS.TS.Nguyễn Phú Trọng, PGS.TS.Tô Huy Rứa,

PGS.TS.Trần Khắc Việt chủ biên [158], các tác giả đề cập những vấn đề cơ bản về Đảng cầm quyền, tình hình chỉnh đốn Đảng, giải pháp cấp bách để nâng cao năng

lực lãnh đạo và sức chiến của Đảng trong tình hình mới Cuốn sách “Một số vấn đề

đổi mới tổ chức bộ máy Đảng Cộng sản Việt Nam” do PGS.TS.Nguyễn Hữu Tri,

TS.Nguyễn Thị Phương Hồng chủ biên [133], đã phân tích những vấn đề hạn chế, yếu kém trong tổ chức bộ máy của Đảng hiện nay và đưa ra một số giải pháp nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới

Như vậy, các công trình nghiên cứu trong nước đã đi sâu nghiên cứu về

Đảng, trong đó trọng tâm nhất là việc đổi mới phương thức và nội dung lãnh đạo của Đảng; khả năng tự đổi mới và chỉnh đốn Đảng; nghiên cứu mô hình tổ chức và bài học của mô hình chính trị các nước có thể tham khảo đối với chính trị Việt Nam; nghiên cứu sâu về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước…Đây là những công trình nghiên cứu khoa học quan trọng để tác giả tham khảo cho đề tài luận án

của mình trong quá trình triển khai

1.1.2 Các công trình nghiên cứu nước ngoài

Hai công trình “Con người chính trị - căn bản xã hội của chính trị” (1960) của Seymour Martin Lipset và “Các nhân tố trong một hệ thống hai đảng và đa

đảng” (1972) của Maurice Duverger, được coi là hai công trình khoa học đi tiên

phong ở các nước phương Tây Theo các ông, đảng chính trị là yếu tố quan trọng trong đời sống chính trị hiện đại, đảng chính trị cạnh tranh nhau thông qua các cuộc

bầu cử để trở thành đảng cầm quyền Các bài viết: “Khoa học chính trị - một sự

giới thiệu” của Michaheal Roskin, Robert Cord, James Medeiroi, Walter Jones

(1991) và “Chính trị” của Andrew Heywood (2002), các tác giả cho rằng, đảng chính trị khi trở thành đảng cầm quyền sẽ “luật hóa” các ưu tiên trong chính sách

của mình nhờ kiểm soát quá trình lập pháp ở nghị viện Nói cách khác, thể chế hóa

Trang 17

14

các mục tiêu của mình thành các đạo luật của nhà nước chính là cách thức căn bản

để các đảng ở các nước phương Tây kiểm soát được quá trình chính trị

Hai cuốn sách “Chính trị so sánh ngày nay - một cách nhìn toàn cảnh” của Garbriel Almond và Bingham Powell (1988); “Các quốc gia và các chính phủ:

chính trị so sánh trong viễn cảnh khu vực” của Thomas Magstadt (1994), đã nghiên

cứu về các hệ thống đảng phái ở các nước khác nhau, ở các khu vực có các thế chế chính trị, hoặc trình độ kinh tế, văn hóa của mỗi nước khác nhau Điểm thống nhất trong các tác phẩm này là quan điểm: dù nhiều quốc gia cùng tồn tại thể chế đa đảng, vai trò cầm quyền và lãnh đạo nhà nước ở mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng và không giống nhau

Còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác nữa, tuy nhiên nhìn chung, trong các nghiên cứu của các học giả phương Tây, dù tiếp cận từ góc độ nào, thì nội dung lãnh đạo của đảng cầm quyền cũng được thực hiện thông qua cơ chế cạnh tranh giữa các đảng phái trong các nền dân chủ đa nguyên thông qua các cuộc bầu cử Mối quan hệ giữa đảng và nhà nước chủ yếu thông qua các đạo luật, trên cơ sở hình

thành từ các cương lĩnh và chính sách ưu tiên của đảng cầm quyền Điều này đã

giúp cho chúng ta có được những cách tiếp cận mới trong quá trình nghiên cứu về đảng cầm quyền và nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Đối với các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng quan tâm nhiều đến vấn đề cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong lãnh đạo Nhà nước xây dựng chế

độ xã hội chủ nghĩa, những tác phẩm tiêu biểu cần kể đến như: “Tổng thuật những

nghiên cứu về tăng cường xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng” của Triệu Kim

Bằng (2004); “Tăng cường xây dựng tác phong của Đảng cầm quyền” của Vương Mậu Lâm (2001); “Cầm quyền mang tính khoa học và dân chủ, cầm quyền theo

pháp luật: yêu cầu thời đại về tính hợp pháp của Đảng cầm quyền” của Dương

Tiểu Cường, Tào Tuyết Phong (2005)… Theo các tác giả, tác phong của Đảng trực tiếp quyết định và ảnh hưởng đến phong cách chính trị và tập tục xã hội Đồng thời, các tác giả phân tính mối quan hệ giữa phương thức cầm quyền và tính hợp pháp của đảng cầm quyền và đặt ra những yêu cầu mới đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc là cầm quyền phải mang tính khoa học, tính dân chủ và cầm quyền phải theo pháp luật Ngoài ra, tác giả còn phân tích mối quan hệ giữa Đảng và pháp luật

Trang 18

15

Trong các tác phẩm: “Nghiên cứu quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản

Trung Quốc” của Lưu Tôn Hồng (2004), “Bàn về công tác xây dựng năng lực cầm quyền của Đảng” của Lưu Chấn Hoa (2010), các tác giả đã có những nghiên cứu

sâu sắc về vấn đề năng lực và phương thức cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc Theo đó, Đảng phải hoạt động theo nguyên tắc dân chủ trong cạnh tranh chính trị, công khai trong vận hành chính trị để tránh lạm quyền, tuân theo một trình tự đã được thể chế hóa từ việc tuyển chọn, hiệp thương, thảo luận, giám sát, bãi miễn và pháp chế Đây là những cuốn sách có giá trị về kinh nghiệm, lý luận và gợi ý quan trọng cho Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong cuốn “Quá trình hình thành và phát triển lý luận về sự cầm quyền của

Đảng Cộng sản Trung Quốc” của GS.TS Dương Phú Hiệp [51], tác giả đã đi sâu

phân tích quan điểm của Mác - Ăngghen và Lênin về xây dựng đảng và về sự cầm quyền của đảng cộng sản Đồng thời, tác giả đã khái quát quá trình hình thành và phát triển lý luận về sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc trước và sau thời kỳ cải cách mở cửa đến nay Cuốn sách đã chỉ ra được một số bài học về lý luận cầm quyền của Trung Quốc đối với Việt Nam

1.2 Các công trình nghiên cứu về nhà nước và vai trò của nhà nước đối với đảng chính trị ở Việt Nam

Cuốn sách: “Về quyền lực trong cơ quan Nhà nước hiện nay” của PGS TS

Lê Minh Quân và ThS Bùi Việt Hương chủ biên [127], cho rằng, hiện nay thế giới đang thay đổi nhanh chóng do sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, v.v Những cách tiếp cận và quan niệm về quyền lực và tổ chức thực hiện quyền lực (quyền lực công, quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước) trong phát triển kinh tế - xã hội cũng đang thay đổi và thu hút sự chú

ý của giới nghiên cứu và hoạt động thực tiễn ở trong và ngoài nước Các cách tiếp cận và quan niệm về độc lập, chủ quyền và chiến lược phát triển quốc gia hay quyền lực quốc gia; về hệ thống thể chế, cơ chế và phương thức tổ chức, hoạt động của nhà nước; về các thể chế, cơ chế quyền lực phi nhà nước; về quản trị toàn cầu, v.v do ảnh hưởng của sự phát triển khoa học - công nghệ, toàn cầu hóa và kinh tế tri thức mang lại là những vấn đề đang được nghiên cứu và lý giải Theo tập thể tác giả, việc nhận thức đúng nhiều vấn đề căn bản của chính trị như quyền lực,

Trang 19

16

quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước là gì, cần tổ chức và vận hành như thế nào để nâng cao năng lực cầm quyền của đảng, năng lực quản lý của nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân luôn tính thời sự về lý luận và thực tiễn cấp bách ở nước ta hiện nay

TS Trịnh Thị Xuyến trong “Kiểm soát quyền lực Nhà nước: Một số vấn đề

lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” [172], đã tập trung phân tích vấn đề

quyền lực, phân công và kiểm soát quyền lực Nhà nước thông qua việc xây dựng

hệ thống giám sát xã hội đối với quyền lực Nhà nước; phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề kiểm soát quyền lực Nhà nước ở Việt Nam và gợi mở những hướng tiếp cận để kiểm soát quyền lực Nhà nước thông qua báo chí, dư luận xã hội, trưng cầu dân ý…

Trong cuốn: “Nhà nước trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay” do

PGS.TS Lê Minh Quân chủ biên [126], ở chương thứ 3 (cuốn sách gồm 05 chương), tác giả bàn rất cụ thể về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử Các tác giả nhận định, trước đổi mới nước ta theo cơ chế tập trung và bao cấp thì Đảng cũng tập trung và bao cấp đối với Nhà nước và xã hội Khi cả nước bước vào thời kỳ đổi mới, cơ chế lãnh đạo và quản lý cũ không còn phù hợp, những hạn chế và yếu kém trong lãnh đạo và quản l ý của Đảng và Nhà nước đã bộc lộ ngày càng rõ ràng và quyết liệt Từ năm 1986 đến nay, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước đã có sự thay đổi, đổi mới trong toàn bộ hệ thống chính trị từ nhận thức về chức năng, vị trí và vai trò của Nhà nước ngày càng đúng đắn và rõ ràng hơn; phân định rõ chức năng quản lý của Nhà nước và chức năng lãnh đạo của Đảng; Nhà nước thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ là cơ quan quản lý đối với xã hội; vị trí, vai trò là trụ cột của Nhà nước trong hệ thống chính trị được xác định rõ ràng hơn và được củng cố vững chắc hơn Từ đó, tác giả khẳng định Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chủ trương đổi mới và hoàn thiện mối quan

hệ giữa Đảng và Nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; yêu cầu dân chủ hóa, xây dựng Nhà nước pháp quyền và

xã hội công dân; đáp ứng yêu cầu hội nhập…

Trang 20

17

Trong cuốn: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

trong thời kỳ đổi mới” do Nguyễn Văn Yểu, Lê Hữu Nghĩa đồng chủ biên [169],

các tác giả đã xuất phát từ bối cảnh mới của tình hình quốc tế và xu thế toàn cầu hóa đang đặt ra những nhiệm vụ hết sức nặng nề, đòi hỏi phải có sự đổi mới mạnh

mẽ, sâu sắc và toàn diện hơn đối với hệ thống chính trị ở nước ta, trong đó chủ yếu bàn về Đảng và Nhà nước Trước hết, cần phải cải cách, hoàn thiện tổ chức và hoạt động, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước Đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

Các tác giả Phạm Ngọc Quang và Ngô Kim Ngân trong cuốn sách: “Phương

thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do vân, vì dân” [120], đã phân tích phương

thức đổi mới lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và sự cần thiết tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong giai đoạn hiện nay Trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi hình thức nhà nước cho thích hợp, các tác giả đã nhận thức rằng nhà nước pháp quyền là mô hình nhà nước chứa đựng nhiều giá trị phổ biến, là hình thức nhà nước có khả năng thực hiện tốt nhất dân chủ Nhận thức điều

đó, Đảng đã chủ trương đổi mới Nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền Có thể khẳng định, đó là một bước đột phá trong đổi mới tư duy chính trị của Đảng, đồng thời cũng đánh một dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới Nhà nước ở nước ta Như vậy, các tác giả đã tiếp cận một vấn đề trong mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền cần giải quyết ở nước ta hiện nay,

là cơ sở khoa học để tác giả luận án đi sâu nghiên cứu vấn đề này

Cuốn sách: “Đảng lãnh đạo Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước

pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” do PGS.TS Nguyễn Văn Vĩnh chủ biên [168], đã

nêu lên cơ sở luận giải về lý luận và thực tiễn Đảng lãnh đạo Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, từ đó phân tích thực trạng Đảng lãnh đạo Nhà nước ở nước ta, đồng thời đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đặc biệt, tác giả đã chỉ

Trang 21

18

ra một số nội dung liên quan đến “Đảng cầm quyền” và “Nhà nước pháp quyền” ở Việt Nam hiện nay

Trong bài viết “Về một số nét đặc thù của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa ở Việt Nam” của PGS.TS Phạm Văn Đức [35], tác giả cho rằng, ngoài các

đặc trưng chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây

dựng còn có một số đặc thù riêng, cụ thể như sau: thứ nhất, đối với Nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp

và tư pháp; thứ hai, tính chất xã hội chủ nghĩa của Nhà nước Việt Nam do tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế quy định; thứ ba, Nhà nước Việt Nam được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; thứ tư, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân Như vậy, có thể khẳng định rằng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là sự thống nhất giữa cái phổ biến và cái đặc thù

Tóm lại, các công trình nghiên cứu về Nhà nước và vai trò của Nhà nước đối

với Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau và có những điểm chung là muốn nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước thì vai trò đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng là đặc biệt quan trọng Đồng thời, cần chú ý đến mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với Đảng cầm quyền, trên cơ sở đảm bảo tính thượng tôn pháp luật của nhà nước, đảm bảo tính định hướng của Đảng

1.3 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước

ở Việt Nam hiện nay

Trong cuốn: “Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình

đổi mới đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta” do GS.TS Nguyễn Phú Trọng chủ biên

[156], các tác giả đã chỉ ra 8 mối quan hệ cần được giải quyết, trong đó có mối

quan hệ thứ tám là: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Đây là

mối quan hệ mà theo các tác giả là cần được tiếp tục nghiên cứu và làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn để thay đổi nhận thức phù hợp với đặc điểm của thời

kỳ mới ở nước ta Trong đó, nhân dân làm chủ là yếu tố trung tâm của mối quan hệ này, bởi vì mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước đều từ nhân dân và vì nhân dân,

Trang 22

19

đây đồng thời cũng là nguyên tắc của việc xây dựng và đổi mới mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Theo tác giả Nguyễn Khánh viết cuốn sách nhan đề: “Mối quan hệ Đảng -

Nhà nước - Dân trong cuộc sống” [61], đã nhấn mạnh rằng: để tiếp tục đổi mới

phương thức lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới, nhất thiết phải hiểu rõ và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý Mối quan hệ đó phản ánh thực chất của hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nước ta hiện nay là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu cấp thiết của sự nghiệp đổi mới, đồng thời là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước Cuốn sách còn tập hợp các ví dụ thực tiễn trong quá trình công tác của tác giả để minh chứng cụ thể cho việc cần thiết phải đổi mới mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước Cuốn sách này góp phần làm sáng tỏ và cụ thể hóa đường lối đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại; những vấn đề xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là nêu cao vai trò lãnh đạo và gương mẫu của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên trong giai đoạn cách mạng hiện nay; vai trò quản lý của nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội

Cuốn sách: “Đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính

trị- xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam” do GS.TS Lê Hữu Nghĩa, GS.TS

Hoàng Chí Bảo, PGS.TS Bùi Đình Bôn đồng chủ biên [111], đã tập trung trình bày, phân tích những điểm trọng yếu cần nắm vững, những nguyên tắc hàng đầu và những nội dung cốt lõi của việc đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay Để làm rõ được những vấn đề này, các tác giả đã xem xét những nhân tố lý luận và thực tiễn tác động và yêu cầu đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; đồng thời chỉ rõ những ưu điểm và các mặt còn hạn chế trong quan hệ này trong các giai đoạn trước

và sau đổi mới Từ đó, tập thể tác giả nghiên cứu, lập luận về những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, đúc rút thành các bài học kinh nghiệm và đưa ra kiến giải nhằm đổi mới những mối quan hệ này Trên tinh thần giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của Nhà nước, bảo

Trang 23

20

đảm quyền làm chủ của nhân dân trong việc thực hiện đường lối phát triển đất nước

do Đảng đề ra, công trình này đã đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng đối với Nhà nước trên nhiều bình diện, qua các giai đoạn lịch sử…Đây thực sự là tài liệu quan trọng cho tác giả tham khảo trong quá trình triển khai đề tài luận án

Trong bài viết: “Tiếp tục thể chế hoá, hiện thực hoá cơ chế Đảng lãnh đạo,

Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” [20] GS.TS Đinh Xuân Dũng cho rằng: cần

phải hiểu cho đúng, hiểu một cách biện chứng mối quan hệ giữa ba nhân tố (Đảng, Nhà nước, nhân dân) trong cơ chế đã nêu ở trên Lâu nay, có khuynh hướng hoặc là nhìn nhận quan điểm trên chỉ như là khẩu hiệu chính trị, hoặc là đánh đồng ngang nhau cả ba nhân tố, lý giải có phần lúng túng quan hệ hiện thực giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý với nhân dân làm chủ Thậm chí có khuynh hướng chỉ nhấn mạnh một chiều vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, coi đó như là điều kiện tất dẫn tới nhân dân làm chủ Từ đó, những cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo cho “quyền lực thuộc về nhân dân” không được quan tâm đúng mức Như vậy, khi áp dụng quan điểm này, tác giả đã có cách nhìn nhận khi đánh giá vai trò,

vị trí của Đảng và Nhà nước trong mối quan hệ

Tiếp tục khẳng định quan điểm này, trong bài viết “Giải quyết hài hòa mối

quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý”, PGS.TS Lê Duy Chương [15], đã

nhấn mạnh: việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và năng lực, hiệu lực quản

lý của Nhà nước có quan hệ rất chặt chẽ với nhau, là một trong những mục tiêu, yêu cầu và nội dung của đổi mới và hoàn thiện mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ta hiện nay Quá trình đổi mới và hoàn thiện mối quan hệ này phải phòng ngừa mọi biểu hiện nhận thức lệch lạc, bảo thủ, trì trệ, rập khuôn, cứng nhắc hoặc nôn nóng, chủ quan, duy ý chí, xa rời nguyên tắc và định hướng chính trị dẫn đến làm xơ cứng mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước mà đất nước đã kế thừa và kiên định xây dựng từ thành quả của Cách mạng tháng Tám đến nay

Tiếp cận từ góc độ Điều lệ của Đảng và Hiếp pháp của Nhà nước, tác giả

Bùi Đức Lại trong bài: “Hiến pháp và Điều lệ Đảng, mấy điều suy nghĩ” [67], đã nhận định: Hiến pháp và Điều lệ Đảng cùng khẳng định Đảng hoạt động trong

khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Điều đó cũng có nghĩa là Đảng phải chịu sự

Trang 24

21

điều chỉnh của Hiến pháp và pháp luật, Điều lệ Đảng phải phù hợp với tinh thần của Hiến pháp và pháp luật Theo tác giả bài viết, dù là chính Đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, tính chất "nội bộ" vẫn quán xuyến toàn bộ Điều lệ Đảng,

vì vậy mà Điều lệ không thể thay thế Hiến pháp và pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ giữa Đảng và các tổ chức Nhà nước, chính trị, kinh tế, xã hội Trong Điều

lệ Đảng Cộng sản Việt Nam hiện hành có đề cập nhiều vấn đề liên quan đến mối quan hệ của Đảng với Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức khác Phần lớn các vấn đề này không chỉ được nêu ra trong Điều lệ Đảng mà còn đồng thời được đề cập trong Hiến pháp Do vậy, việc thống nhất Điều lệ Đảng và Hiến pháp hoặc Hiến pháp phải cụ thể hoá Điều lệ Đảng để phù hợp trong thực tiễn là một vấn đề đặt ra cần được quan tâm trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Trong bài viết của mình với tiêu đề: “Giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và

Nhà nước” [21], TS.Nguyễn Sĩ Dũng đã đưa ra ví dụ một số mô hình tổ chức nhà

nước trên thế giới dưới sự thắng cử của các chính đảng Theo tác giả, trong mô hình nhà nước hiện đại, đảng có đa số trong quốc hội có vai trò lãnh đạo, vấn đề chỉ

là tổ chức sự lãnh đạo đó như thế nào, hiệu quả ra sao Tác giả phân tích theo nguyên tắc của mô hình đại nghị, toàn bộ ban lãnh đạo đảng (ví dụ như Công đảng

ở nước Anh) tạo thành nội các và nằm trong Quốc hội, tất cả các đảng viên trong Quốc hội tạo thành Đảng đoàn Quốc hội Việc tranh luận và hoạch định đường lối, chính sách của đảng xảy ra ngay trong đảng đoàn quốc hội Theo cách làm này, đảng và nhà nước (cả quốc hội lẫn chính phủ) gắn kết hữu cơ với nhau, quy trình hoạch định đường lối chính sách chỉ là một cho cả đảng và cả nhà nước Như vậy thì không thể xảy ra chuyện chồng chéo chức năng và xung đột chính kiến Bài viết

đã chỉ ra những kinh nghiệm hay ở các chính đảng đối với Việt Nam, nhất là việc nghiên cứu để đi đến việc hợp nhất một số cơ quan Đảng và Nhà nước hoặc hợp nhất các chức danh lãnh đạo đứng đầu Đảng và Nhà nước ở Việt Nam

PGS.TS Nguyễn Thế Kiệt trong bài viết “Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà

nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”

[65], tiếp cận vấn đề thông qua thực tiễn của 20 năm đổi mới ở nước ta cho thấy,

việc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước là vấn đề có tầm quan trọng

Trang 25

22

đặc biệt trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ này, cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; cần phân định rõ chức năng giữa Đảng và Nhà nước, từng bước xác định rõ nội dung, phạm vi, mức độ quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; đồng thời, tiếp tục đổi mới quá trình thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng thành hoạt động của Nhà nước và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội

Trong bài viết “Giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước

quản lý, nhân dân làm chủ” [148], PGS.TS Nguyễn Viết Thông chỉ ra những thành

tựu, hạn chế của mối quan hệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời đề ra những giải pháp khắc phục Tác giả khẳng định, cần tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Cơ chế chỉ có thể vận hành và đưa lại kết quả thiết thực khi các quan hệ giữa Đảng và Nhà nước được phân biệt rành mạch về quyền và trách nhiệm của mỗi chủ thể thông qua một hệ thống thể chế xác định Điều này đòi hỏi phải thể chế hóa vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của Đảng và vai trò, trách nhiệm quản lý của Nhà nước bằng một hệ thống các văn bản pháp luật, các quy chế quan hệ cụ thể

GS.TS Nguyễn Hữu Khiển trong bài viết: “Về mối quan hệ giữa Đảng và

Nhà nước trong giai đoạn hiện nay” [62], đã làm rõ rằng: một đảng cầm quyền, ở

bất cứ đâu cũng phải thâu tóm quyền lực công, đó là mục đích cơ bản mà sinh ra đảng chính trị, nếu không sẽ chỉ dừng lại như một tổ chức phi nhà nước bình thường khác mà thôi Tác giả khẳng định, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước thực chất là quan hệ đảng cầm quyền và bộ máy công quyền Đi vào phân tích mối quan hệ này tại Việt Nam, tác giả chỉ ra thực trạng của mối quan hệ là chưa có sự phân định rõ, minh bạch trong mối quan hệ, dẫn đến chưa khoa học về thể chế, chưa minh định được chức năng của mỗi chủ thể dẫn đến tình trạng chồng chéo và gây hậu quả về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc tế… Theo tác giả, Đảng cầm quyền thực chất là Đảng đã hoạt động bằng Nhà nước để lãnh đạo xã hội Nhà nước là tổ chức công quyền duy nhất trong hệ thống chính trị, đảm bảo quyền lực của nhân dân, khác căn bản với xã hội phong kiến khi quyền lực công trong tay một người

Vì vậy quyền lực công ở nước ta chính là quyền của nhân dân Bộ máy công quyền

Trang 26

23

của các nền dân chủ hiện luôn luôn có sự can thiệp chính trị thể hiện qua một đảng được xã hội tín nhiệm, trở thành đảng cầm quyền Đảng cầm quyền nắm giữ tất cả các vị trí quan trọng, chủ chốt Đó chính là trật tự của nền chính trị của các thiết chế dân chủ

Ngoài ra, trong thời gian gần đây nhất đã có một số đề tài trong chương trình

khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 về “nghiên

cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2011 - 2015”, mã số: KX.04/11-15 Tiểu

biểu có các đề tài như: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà

nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong điều kiện mới” (do

GS.TS Lê Hữu Nghĩa chủ nhiệm đề tài); “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức

chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (do

PGS.TS Lương Khắc Hiếu chủ nhiệm đề tài); “Thực hành dân chủ trong điều kiện

một Đảng cầm quyền và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay” (do PGS.TS.Phạm

Văn Đức chủ nhiệm đề tài) và nhiều công trình nghiên cứu khác…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay khá phong phú, đặc biệt từ khi sau Đại hội lần thứ XI của Đảng (năm 2011) đề ra một trong tám mối quan hệ cấp bách cần giải quyết, trong đó có mối quan hệ giữa “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Các công trình là tài liệu quan trọng để tác giả vận dụng trong quá trình tổng

hợp, lựa chọn vấn đề và triển khai các nội dung nghiên cứu chính cho luận án

Tóm lại, những công trình của các nhà khoa học đã được nêu khái quát trên

đây là nguồn tài liệu vô cùng quý giá để tác giả luận án tham khảo, kế thừa và tiếp tục phát triển nhằm góp phần hoàn thành mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu đã được xác định trong luận án này Tuy nhiên, đây mới chỉ là một số ít những công trình mà tác giả điểm ra, còn nhiều công trình nghiên cứu khác với nhiều cách tiếp cận đa ngành, liên ngành nghiên cứu về Đảng, Nhà nước và mối quan hệ giữa Đảng

và Nhà nước mà tác giả chưa có điều kiện nghiên cứu Đồng thời, trong quá trình tổng quan những nội dung cơ bản của các công trình, tác giả luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót trong việc đánh giá, tổng lược các nội dung chính, những thành công và hạn chế của các công trình mà tác giả luận án có thể tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Trang 27

24

1.4 Khái quát kết quả nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

1.4.1 Khái quát những kết quả nghiên cứu

Mối quan hệ giữa đảng và nhà nước là một trong những vấn đề lý luận, thực

tiễn rất cơ bản, phức tạp, đã được nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới nghiên cứu Có thể khẳng định, cho đến nay các nghiên cứu về mối quan hệ giữa đảng và nhà nước của các học giả trong nước và nước ngoài là khá phong phú, đa dạng, giúp chúng ta có cách nhìn toàn cảnh, đa màu sắc, với những đánh giá, nhận định dưới các góc độ khác nhau Đây là những tài liệu quý, là cơ sở rất quan trọng

để đề tài luận án kế thừa, phát triển

Đối với các nghiên cứu trong nước, do hoàn cảnh của 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và hơn 20 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước nên Đảng và Nhà nước đều chưa thể có điều kiện

đi sâu nghiên cứu vấn đề này Mối quan hệ giữa đảng và nhà nước bắt đầu được tổ chức nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn, từng bước có “bài bản” hơn kể từ khi cả nước ta hoà bình, thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội Đặc biệt là từ khi Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước đến nay, vấn đề quan hệ giữa Đảng và Nhà nước thực sự được đi sâu, mở rộng nghiên cứu lý luận và thực tiễn, trên cơ sở những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa những giá trị của dân tộc Việt Nam, của văn minh nhân loại, trong

đó có một số giá trị của nền dân chủ tư sản trong thời đại hiện nay

Trên cơ sở nghiên cứu những công trình khoa học đã được công bố trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án,có thể khẳng định dù đứng dưới các góc độ

và phạm vi đề cập khác nhau, các nhà khoa học đều có sự tương đồng về những điểm chính sau đây:

Một là, các công trình nghiên cứu đã đề cập sâu về khái niệm, quan niệm

đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo và quản lý Một số tác giả

làm rõ khái niệm về đảng lãnh đạo, đảng cầm quyền, trong đó các tác giả có sự thống nhất cao về nội dung đảng lãnh đạo Đồng thời, đã hệ thống hóa được những luận điểm căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam về Đảng, về Nhà nước và mối quan hệ Đảng và Nhà nước

Trang 28

25

Hai là, các tác giả đã làm rõ thực trạng, yêu cầu của đất nước, của thế giới

để chỉ ra tính tất yếu của việc phải đổi mới mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước Trong đó cơ bản là Đảng phải tự đổi mới để đổi mới Nhà nước và xã hội; Đảng phải đổi mới để củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đồng thời, Nhà nước phải tích cực, chủ động và phát huy vai trò tác động tích cực trở lại đối với Đảng cầm quyền

Ba là, đa số các tác giả đều cho rằng quyền làm chủ của nhân dân là yếu tố

trung tâm của mối quan hệ giữa "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ" bởi vì mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước đều từ nhân dân và vì nhân dân, đây đồng thời cũng là nguyên tắc của việc xây dựng và đổi mới mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ta hiện nay và trong thời gian tiếp theo

Bốn là, theo các tác giả cần tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ

Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Thống nhất cao vấn đề cần có

cơ chế phân biệt rành mạch về quyền và trách nhiệm của mỗi chủ thể thông qua một hệ thống thể chế xác định nhằm thể chế hóa vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của Đảng và vai trò, trách nhiệm quản lý của Nhà nước bằng các văn bản pháp luật, quy chế quan hệ cụ thể Trong đó, việc cụ thể hoá bằng pháp luật mối quan hệ giữa

"Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ" trong điều kiện hiện nay

Năm là, các tác giả đều có những điểm thống nhất rằng, để giải quyết tốt mối

quan hệ giữa Đảng và Nhà nước phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng lãnh đạo Nhà nước phải thông qua đường lối, chính sách; sự thuyết phục của tổ chức đảng và gương mẫu của cán bộ, đảng viên; việc kiểm tra, giám sát của Đảng, của nhân dân đối với cơ quan, công chức Nhà nước và thực hiện thẩm quyền đối với công tác cán bộ; thông qua cơ chế kiểm soát quyền lực; thông qua việc thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI và Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII nhằm ngăn chặn những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên

1.4.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Có thể khẳng định, dù trực tiếp hay gián tiếp, các công trình nghiên cứu khoa học đi trước có nêu ở trên đã có những gợi ý tốt cho luận án Tuy nhiên, dưới góc độ triết học chính trị, nghiên cứu đề tài riêng biệt về mối quan hệ giữa Đảng và

Trang 29

26

Nhà nước ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều điều cần được làm rõ trong thực tiễn hiện nay, cụ thể như sau:

Một là, trong điều kiện Đảng cộng sản Việt Nam đang quyết liệt xây dựng,

chỉnh đốn Đảng, đổi mới hệ thống chính trị với 3 trụ cột chính: xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; xây dựng cơ chế vận hành thông suốt, đồng bộ, có tính liên thông, khoa học, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ - “khâu then chốt của nhiệm vụ then chốt” (một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm được xác định tại Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng Luận án cố gắng kế thừa những kết quả nghiên cứu trước, tiếp tục đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn cần làm rõ trong điều kiện nước ta hiện nay

Hai là, khi nghiên cứu về mối quan hệ này, các nhà khoa học tập trung khai

thác dưới góc độ đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước hoặc mối quan hệ Nhà nước với Đảng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền mà ít có điều kiện nghiên cứu Đảng - Nhà nước như hai đối tượng nghiên cứu song song, có

quan hệ và tác động hai chiều, đặc biệt là trên cặp phạm trù “cầm quyền” và “pháp quyền”, trong bối cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất cầm quyền Hiện tại,

chưa có nhiều công trình đề xuất tổng thể các giải pháp nhằm giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong tình hình phức tạp hiện nay

Ba là, một số vấn đề lý luận, thực tiễn cần tiếp tục được nghiên cứu, giải

quyết gồm: Về mặt lý luận cần xây dựng các “khái niệm công cụ”, chỉ rõ cơ sở lý

luận và cơ sở thực tiễn xung quanh mối quan hệ giữa đảng và nhà nước và làm rõ những yêu cầu đặt ra trong đổi mới mối quan hệ này Đồng thời, thừa nhận và phân biệt rõ sự khác nhau của tư cách song trùng giữa “lãnh đạo” và “cầm quyền” của Đảng Cộng sản Việt Nam để từ đó có thể xác định rõ hơn vị trí và vai trò của Đảng

với Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Về mặt thực tiễn, cần phân tích,

đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện thực trạng mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay ở cấp trung ương Làm rõ những thành tựu, hạn chế gắn liền với những nguyên nhân chủ yếu trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, đồng thời chỉ rõ những vấn đề đang đặt ra cần nhận thức đúng, như: (1) mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước còn có tình trạng bao biện, chồng chéo và buông

Trang 30

27

lỏng nên chưa phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực điều hành của bộ máy Nhà nước; (2) chưa phân rõ chức năng, quyền hạn giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý, tình trạng “song trùng quyền lực” diễn ra ở nhiều ở các ban tham mưu của Đảng và các bộ, ngành thuộc Chính phủ và các cơ quan Nhà nước khác

Cơ chế Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý đã được nêu ra từ lâu, nhưng chưa được

cụ thể hóa để vận hành có hiệu quả trong thực tế; (3) mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước chưa chặt chẽ dẫn đến một số tệ nạn như: tham nhũng, quan liêu, xa rời quần chúng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên chậm được xử lý, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; (4) hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh để pháp luật hóa các mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Bốn là, nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước ở Việt Nam trong

điều kiện kinh tế, đời sống chính trị, xã hội hiện nay đang có nhiều thay đổi nhanh chóng, đặt ra nhiều vấn đề mới cần giải quyết trên quan điểm cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế khách quan đang đòi hỏi phải đổi mới phương thức lãnh đạo để phù hợp với xu thế phát triển về khoa học, quản lý và phù hợp với tình hình xây dựng tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị ngày càng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vận hành thông suốt, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước

Năm là, trong giai đoạn hiện nay Đảng đang lãnh đạo Nhà nước xây dựng

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, vấn đề đặt ra là Đảng cần phải có những nguyên tắc lãnh đạo Nhà nước như thế nào để trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với Nhà nước và toàn xã hội mà vẫn đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân? Đây là những điều đặt ra cho đề tài luận

án trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề thực tiễn hiện nay nhằm đề xuất những giải pháp phù hợp, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước

Trang 31

28

Chương 2 MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC - MỘT SỐ VẤN ĐỀ

LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

2.1 Đảng, Nhà nước và sự tác động qua lại lẫn nhau

2.1.1 Về đảng

Khái niệm đảng lãnh đạo là một khái niệm được các nhà kinh điển Mác - Lênin sử dụng từ những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi giai cấp công nhân trở thành lực lượng tiên phong lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động, thủ tiêu chế độ bóc lột, xây dựng một xã hội mới tiến bộ vì con người, không còn áp bức và bất công Khái niệm này cũng được hiểu theo hai nghĩa: danh từ và động

từ Với nghĩa là một danh từ, khái niệm "đảng lãnh đạo" được hiểu là "đảng tiên phong" hay "đảng dẫn đầu", đảng có uy tín hơn hẳn so với các đảng chính trị, tổ chức xã hội khác Với nghĩa này, thì khái niệm "đảng lãnh đạo" cũng thường được hiểu đồng nghĩa với khái niệm "đảng cầm quyền" Tuy nhiên, với nghĩa là một động từ, khái niệm "đảng lãnh đạo" lại không đồng nhất với khái niệm "đảng cầm quyền" Bởi với nghĩa này, “đảng lãnh đạo” được hiểu là một khái niệm chỉ sự hoạt động không gắn với việc sử dụng quyền lực của đảng Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới không sử dụng khái niệm "đảng lãnh đạo nhà nước" mà chỉ sử dụng khái niệm "đảng cầm quyền" khi chiếm đa số trong nghị viện, và gọi là “đảng chấp chính”, còn đảng nào chiếm thiểu số là “đảng tham chính”; các đảng còn lại là

“đảng đối lập” Khái niệm "đảng lãnh đạo" chỉ được các nước sử dụng với nghĩa là một danh từ như đã được phân tích ở trên Khái niệm "lãnh đạo" với nghĩa là một động từ chỉ được các nước sử dụng khi nó gắn với chủ thể là một cá nhân nào đó, tức nói đến một cá nhân người lãnh đạo

Về khái niệm “đảng”, theo Từ điển Chính trị thì “đảng” là:

“tổ chức chính trị của những người cùng chung một tư tưởng, tổ chức này tập hợp những đại biểu tích cực nhất của một giai cấp, thể hiện quyền lợi của giai cấp ấy và lãnh đạo giai cấp ấy trong cuộc đấu tranh giai cấp” [136, tr.258]

Trang 32

29

Các thuật ngữ “đảng lãnh đạo”, “đảng cầm quyền”, “đảng chấp chính”,

“đảng tham chính” “đảng nắm chính quyền”, “đảng lãnh đạo chính quyền”,

“đảng đối lập”… đã được dùng từ lâu ở các nước phương Tây để chỉ rõ vai trò, vị

thế và trách nhiệm của một đảng khi đã có chính quyền; phân biệt đảng nắm chính quyền với những đảng không nắm chính quyền, chưa giành được chính quyền hoặc

ở vị trí đối lập Thực tế tại các nước phương Tây cho thấy rằng: hễ đảng nào trong tổng tuyển cử mà chiếm được trên 50% số ghế trong quốc hội thì đảng đó trở thành đảng cầm quyền, nếu không đủ thì có thể liên minh các đảng để cầm quyền

Dù diễn đạt từ ngữ hoặc chỉ ra các dấu hiệu có sự khác nhau trong chi tiết, nhưng hầu hết các ý kiến đều thống nhất rằng:

“Đảng cầm quyền có nghĩa là đảng lãnh đạo chính quyền, chi phối chính quyền, làm cho mọi hoạt động của chính quyền thể hiện và thực hiện tư tưởng, đường lối của đảng đó, phù hợp với lập trường và phục

vụ cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp mà đảng đó đại diện” [158, tr.17] Nguồn gốc từ các nhóm lợi ích đòi sự tham gia vào nhà nước, hoàng gia và

từ các nhóm đó hình thành các đảng Sự xuất hiện của đảng chính trị đầu tiên trên thế giới bắt đầu từ nước Anh Năm 1678, hai đảng đầu tiên được biết đến với tên đảng là Whig và Tory Năm 1830, đảng Whig đổi tên thành đảng Bảo thủ và có một nhánh tách ra, hình thành đảng Tự do Đến năm 1918, đảng Tự do suy thoái và xuất hiện một đảng mới thay thế, đó chính là Công đảng Hiện nay, hệ thống chính trị ở nước Anh là hệ thống chính trị lưỡng đảng (hai đảng là đảng Bảo thủ và Công đảng thay nhau cầm quyền)

Tiếp đến, các đảng chính trị xuất hiện ở Mỹ và Đức vào những năm đầu của thế kỷ XIX, sau đó lan rộng ra toàn thế giới Tuy nhiên, do sự tồn tại của những thể chế chính trị khác nhau nên ở mỗi quốc gia, sự ra đời, tồn tại và phát triển của các đảng chính trị cũng khác nhau Có quốc gia chỉ có một đảng duy nhất cầm quyền,

có quốc gia thì hai hay nhiều đảng thay nhau cầm quyền (được quyết định dựa trên

sự thắng cử của đảng chính trị trong cạnh tranh bầu cử Nghị viện)

Như vậy, trong khái niệm chung là “đảng” thì khái niệm“Đảng cầm quyền”

là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các nước phương Tây ngay từ khi trong xã

hội bắt đầu hình thành các đảng chính trị Khi khái niệm “cầm quyền” với nghĩa là

Trang 33

30

nghĩa là một động từ, thì khái niệm "đảng cầm quyền” được hiểu là một khái

niệm chỉ sự hoạt động gắn với việc sử dụng quyền lực của đảng thông qua các đảng viên của đảng đó trong bộ máy nhà nước Nói cách khác, đảng cầm quyền tức là đảng đó nắm giữ những vị trí chủ chốt trong bộ máy Nhà nước bằng các cá nhân đảng viên ưu tú để thực hiện quá trình hoạch định và thực thi các chính sách quốc gia Các quyết định, chính sách của đảng cầm quyền nhằm thực hiện cương lĩnh, mục tiêu chính trị của mình bao giờ cũng được thể hiện dưới danh nghĩa là của quyền lực nhà nước Quyền lãnh đạo của đảng cầm quyền là quyền chi phối, điều khiển, định hướng đối với nhà nước thông qua các đảng viên của đảng trong bộ máy nhà nước để thực hiện cương lĩnh, mục tiêu của đảng đó

Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930 trên cơ sở hợp

nhất ba tổ chức tiền thân và là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nước ta Sau khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đoàn kết, tập hợp và lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh

và dành thắng lợi trước các thế lực áp bức, xâm lược bên ngoài, các thế lực phản động trong nước, lãnh đạo nhân dân dành nhiều thắng lợi to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, trên cơ sở tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng đảng; đoàn kết

và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy

Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đã được nhân dân thừa nhận và được khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và dân tộc Việt Nam trước hết xuất phát từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo: ngay từ khi Đảng ra đời, chưa có một “văn bản” nào xác nhận “quyền lãnh đạo” của Đảng đối với dân tộc Việt Nam

và đương nhiên nếu xét về tính pháp lý thì Đảng chưa có “quyền lãnh đạo” trước xã hội Nhưng, chỉ bằng tuyên truyền quan điểm, đường lối, mục tiêu…của Đảng và gương hy sinh, tận tụy của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các cán bộ, đảng viên cộng sản tiền bối, nhất là trong tổ chức Việt Minh mà Đảng đã thuyết phục được cả dân

Trang 34

31

tộc Việt Nam tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng và cùng với Đảng làm cách mạng Tháng Tám thành công trên cả nước Đó là tiền đề thực tiễn quan trọng để sau đó Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 đã khẳng định quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam được xác định bằng văn bản, thể hiện tính pháp lý quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và trong Hiến pháp năm

1980, 1992 và 2013…đều là sự kế thừa Hiến pháp năm 1946, 1959 Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định địa vị pháp lý của Đảng và bổ sung, phát triển mới như sau: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”

Trong điều kiện Đảng cầm quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng rất coi trọng phương thức lãnh đạo của Đảng Hiệu quả lãnh đạo không chỉ phụ thuộc vào nội dung lãnh đạo mà còn phụ thuộc vào phương thức

lãnh đạo Phương thức lãnh đạo là hệ thống những hình thức, biện pháp, cách thức

mà chủ thể lãnh đạo là Đảng tác động vào đối tượng lãnh đạo là Nhà nước nhằm thực hiện mục đích của mình Phương thức lãnh đạo không phải là bất biến mà vận động, biến đổi tùy thuộc vào sự biến đổi của điều kiện khách quan, vào đặc điểm của đối tượng lãnh đạo và năng lực của chủ thể lãnh đạo Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và ngoài

xã hội… thì phương thức lãnh đạo của Đảng không thể không thay đổi so với thời

kỳ kháng chiến chống ngoại xâm hoặc thời kỳ còn cơ chế kinh tế tập trung bao cấp trước thời kỳ đổi mới như trước đây

2.1.2 Về nhà nước

Hiểu theo nghĩa chung thì “nhà nước” là: “tổ chức chính trị của xã hội, cơ

quan chuyên chính của cơ quan nắm quyền thống trị về kinh tế, là bộ phận quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng” [136, tr.624]

Trang 35

32

Còn xét theo bản chất thì “nhà nước” là:

Tổ chức chính trị của giai cấp thống trị về kinh tế nhằm mục đích bảo

vệ trật tự hiện hành và đàn áp sự phản kháng của các giai cấp khác Nhà nước với tư cách là công cụ của giai cấp bóc lột để đàn áp nhân dân bị bóc lột, đã xuất hiện do sự phân chia xã hội thành giai cấp,… nhà nước không tồn tại vĩnh viễn Trong tương lai, nhà nước sẽ nhường chỗ cho sự tự quản xã hội cộng sản chủ nghĩa Nhà nước toàn dân được phát triển từ nhà nước chuyên chính của giai cấp công nhân trong quá trình xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, là một giai đoạn trên chặng đường đi tới xã hội tương lai không có nhà nước [137, tr.795]

Tóm lại, khái niệm “nhà nước” được hiểu một cách cơ bản nhất là một tổ

chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị trong xã hội có giai cấp, là công cụ chuyên chính giai cấp, với các chức năng quản lý xã hội vừa bảo vệ lợi ích giai cấp

mà nó đại diện, vừa duy trì trật tự, đảm bảo cho xã hội phát triển và phục vụ những nhu cầu thiết yếu của đời sống cộng đồng

Trong lịch sử tiến hoá của nhân loại, loài người đã từng sống trong một giai đoạn không có nhà nước Nhà nước là sản phẩm của lịch sử và chỉ xuất hiện khi

xã hội đã phát triển đến một giai đoạn phát triển nhất định - khi xã hội có sự phân

chia giai cấp Các hình thái nhà nước mà loài người đã từng biết đến là nhà nước

nô lệ, nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa Cách

phân chia hình thái nhà nước như vậy dựa trên quan niệm duy vật về lịch sử mà trực tiếp là dựa vào lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C Mác Như vậy, nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn nhất định: đó là sự ra đời của chế độ tư hữu dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hoà được xuất hiện Để các giai cấp không tiêu diệt lẫn nhau và triệt tiêu sự phát triển xã hội thì một cơ quan quyền lực ra đời - đó là nhà nước

Nhà nước vừa mang tính giai cấp vừa mang vai trò xã hội Tính giai cấp thể hiện ở chỗ, nhà nước là sản phẩm của đấu tranh giai cấp Nhà nước là bộ máy cưỡng chế đặc biệt nhằm duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với các giai cấp khác Do đó, ý chí của giai cấp thống trị trở thành ý chí của nhà nước, buộc mọi

Trang 36

33

thành viên trong xã hội phải tuân theo Vai trò xã hội của nhà nước thể hiện thông qua sự đảm bảo cho xã hội phát triển một cách hài hoà Tuy nhiên, nhà nước muốn tồn tại thì phải bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội và quan tâm đến lợi ích của nhiều giai cấp khác nhau trong xã hội

Chức năng của nhà nước được hiểu là những hoạt động cơ bản nhất, thường xuyên liên tục, ổn định tương đối, xuất phát từ bản chất, cơ sở kinh tế - xã hội, nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu cơ bản của nhà nước và có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của nhà nước

Có nhiều cách phân loại chức năng của nhà nước như: (1) Căn cứ theo lĩnh vực hoạt động của nhà nước, chia thành: chức năng đối nội và chức năng đối ngoại hoặc chức năng kinh tế, chức năng chính trị và chức năng xã hội; (2) Căn cứ theo hình thức thực hiện quyền lực nhà nước, chia là: chức năng lập pháp, chức năng hành pháp và chức năng tư pháp; (3) Ngoài ra, tuỳ theo từng tiêu chí có thể chia thành: chức năng trấn áp và chức năng xây dựng hoặc chức năng cơ bản và chức năng không cơ bản hoặc chức năng lâu dài và chức năng trước mắt,…

Đối với Việt Nam, năm 1945 như một mốc son chói lọi đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước Dân chủ Nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Khi mới giành được chính quyền, Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ nhân dân Nhà nước đó mang bản chất của giai cấp công nhân, lấy liên minh công nông làm nòng cốt Sau đó, cùng với sự phát triển của đất nước, Đảng ta chủ trương xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản Mặc dù vậy, bản chất giai cấp của Nhà nước vẫn không có gì thay đổi, vẫn mang bản chất của giai cấp công nhân, dựa trên

cơ sở của liên minh công nông Cái khác so với giai đoạn trước đây chính là ở chỗ, Đảng ta muốn nhấn mạnh đến bản chất giai cấp và tính chất chuyên chính của Nhà nước mà chúng ta xây dựng

Mối quan hệ giữa ba bộ phận quyền lực nhà nước gồm lập pháp, hành pháp,

tư pháp ở các nước không giống nhau (do có thể chế chính trị khác nhau) nên cách biểu hiện cũng phản ánh các mức độ khác nhau Trong khi ở các nước tư bản, quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” với những biến thể khác nhau, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa (như ở nước ta), ba nhánh

Trang 37

34

quyền lực này lại không tổ chức theo hướng độc lập và đối trọng với nhau, mà chỉ

có sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau

2.1.3 Quan hệ giữa đảng và nhà nước - sự tác động qua lại lẫn nhau

Mối quan hệ giữa đảng và nhà nước là sự tác động qua lại, chuyển hoá, quy

định lẫn nhau giữa chủ thể lãnh đạo là đảng và chủ thể bị lãnh đạo là nhà nước (chính quyền) Đây là mối quan hệ chính trị mang tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn chính trị phải tôn trọng quan điểm toàn diện, tránh cách xem xét phiến diện khi đánh giá mối quan hệ mà phải dựa vào điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia và thể chế chính trị của quốc gia đó Vì vậy, để xác định đúng đường lối và phương pháp cụ thể trong mối quan hệ giữa đảng và nhà nước từng giai đoạn lịch sử, của từng thời kỳ xây dựng đất nước, bao giờ đảng cũng phân tích tình hình cụ thể của quốc gia cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn

ra trong từng giai đoạn và từng thời kỳ để bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ thể

Xét về mặt bản chất thì mối quan hệ giữa đảng và nhà nước là mối quan hệ chính trị khách quan và phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Ngay từ khi mới ra đời ở các quốc gia phương Tây, các đảng chính trị đã đấu tranh với nhau trong việc kiểm soát và thực thi quyền lực nhà nước Ngày nay, mục tiêu của tất cả các đảng chính trị là đều muốn trở thành đảng cầm quyền để thành lập nhà nước nhằm hiện thực hoá cương lĩnh chính trị của mình trên cơ sở đảm bảo sự phù hợp với định hướng phát triển chung của xã hội

Khi trở thành đảng cầm quyền thì mối quan hệ giữa đảng và nhà nước là mối

quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý Trong đó, đảng lãnh đạo không có nghĩa là đảng

không có chức năng quản lý, ngược lại nhà nước quản lý không có nghĩa là nhà nước không có lãnh đạo Chức năng quản lý của đảng chính trị thể hiện trong việc quản lý trực tiếp đảng viên của đảng đó trong bộ máy nhà nước

Mối quan hệ giữa đảng và nhà nước là quan hệ giữa lực lượng chính trị thống trị (lãnh đạo) xã hội và bộ máy công quyền Lực lượng chính trị là một nhóm người trong dân cư tham gia đảng chính trị còn nhà nước là cơ quan công quyền đại diện cho toàn dân Khi đảng cầm quyền, đảng sẽ thâu tóm mọi quyền lực nhà nước bằng chính những người đảng viên nắm các vị trí cao trong bộ máy công quyền

Trang 38

35

Nhà nước là công cụ quản lý đại diện cho công dân nhưng chịu sự chi phối của đảng cầm quyền Chi phối bằng chủ trương, quyết sách, định hướng, hành động đưa chúng vào đời sống qua luật pháp, điều hành hoặc phán quyết của tòa án Như vậy, sự tác động của chính đảng khi mới nắm quyền đối với các đảng viên của chính đảng đó tham gia vào nhà nước sẽ quyết định đến việc cơ cấu tổ chức, chắc năng hoạt động của nhà nước mới thành lập Đồng thời, những nhân tố mới trong

bộ máy nhà nước sẽ thực thi nhiệm vụ của chính đảng trên thực tiễn và quyết định đến tính đúng đắn hoặc sai lầm của đường lối, chiến lược và sách lược của chính đảng đó trong thực tế

Vì vậy, sự đan xen chức năng trong cá nhân giữ vị trí trong bộ máy nhà nước khi họ là đảng viên của đảng cầm quyền là điều kiện để hiện thực hoá các mục tiêu chính trị qua điều hành xã hội, họ làm việc của công quyền nhưng phải quán triệt các mục tiêu chính trị của đảng cầm quyền Thông qua những người này đảng lãnh đạo nhà nước và điều hành sự ổn định về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Nếu họ làm kém, tùy từng mức độ mà họ bị trừng phạt ở những mức khác nhau như khiển trách, cách chức (ở những nước đa đảng chính trị, bộ máy của đảng cầm quyền yếu kém, làm mất lòng tin của xã hội thì khả năng mất vị trí cầm quyền là rất cao) Như vậy, với cơ chế này không có mối quan hệ và sự ràng buộc chức năng, nhiệm

vụ của bộ máy hành chính và đảng cầm quyền, bởi vì chất lượng của công quyền phản ánh năng lực chính trị của đảng cầm quyền Một bộ máy công quyền yếu kém, năng lực không hoàn thành được nhiệm vụ, tham nhũng, mắc lỗi tác phong trong điều hành (hách dịch, chây lười, cẩu thả) thì đảng cầm quyền mất quyền lãnh đạo

Tóm lại, mối liên hệ khách quan và có sự tác động quan trọng giữa trách

nhiệm chính trị của đảng (uy tín với xã hội, cơ hội và niềm tin trong nhân dân ) và chất lượng bộ máy công quyền đưa xã hội phát triển, tạo sự ổn định là điều quan trọng quyết định đến vị thế chính trị của đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo

2.2 C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin bàn về mối quan hệ giữa đảng và nhà nước

2.2.1 C.Mác, Ph.Ăngghen bàn về mối quan hệ đảng và nhà nước

C.Mác - Ph.Ăngghen không để lại cho chúng ta những lời bàn trực tiếp về các quan hệ giữa đảng và nhà nước, nhưng những gì hai ông đã nêu lên về sứ mệnh lịch

Trang 39

36

sử của giai cấp công nhân, về cuộc đấu tranh chính trị để tiến tới thành lập đảng công nhân cách mạng, về sự nghiệp cách mạng do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo vì mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng nhân loại Đó là những chỉ dẫn quý báu

về tổ chức đảng, về lập trường, nguyên tắc tính đảng trong cuộc đấu tranh lật đổ ách thống trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện quyền lực chân chính của giai cấp công nhân, của quần chúng lao động; đồng thời là cơ sở xác lập mối quan hệ giữa đảng và nhà nước, xác lập phương thức lãnh đạo của đảng đối với nhà nước và xã hội

Tiêu biểu phải kể đến là tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (của C.Mác và Ph.Ăngghen viết chung), trong đó đã chỉ rõ: trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thật sự cách mạng Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp Đặc biệt, ở chương II có tiêu đề: “Những người cộng sản và những người

vô sản”, Tuyên ngôn trình bày mối quan hệ không thể tách rời giữa đảng cộng sản

và giai cấp vô sản; mục đích và lợi ích của đảng cộng sản thống nhất với mục đích

và lợi ích của giai cấp vô sản; đặc điểm nổi bật của đảng cộng sản là tính giai cấp

và tính tiên phong Tuyên ngôn khẳng định: giai cấp vô sản “phải tự vươn mình lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc” Như vậy, giải quyết được mâu thuẫn giai cấp cũng sẽ giải quyết được mâu thuẫn dân tộc, nên khi đề cấp đến tính giai cấp của đảng cộng sản tự nó đã bao hàm quan niệm về dân tộc của đảng

Ngoài ra, có thể kể đến tác phẩm bàn về đảng, nhà nước và mối quan hệ giữa đảng và nhà nước, tiêu biểu như “Phê phán cương lĩnh Gôta” Tác phẩm này đã xây dựng một kiểu mẫu và hoàn chỉnh một cách khoa học bản Cương lĩnh cách mạng của chính đảng vô sản Về tư tưởng, tác phẩm này làm nổi bật vai trò của hoạt động phê phán và xây dựng được phương pháp phê phán khoa học để lột mặt phản bội của các trào lưu cơ hội Về tổ chức, “Phê phán cương lĩnh Gôta” cho ta thấy không thể sáp nhập tổ chức một cách giản đơn, tùy tiện, vô nguyên tắc, không được nhân nhượng bất kỳ một sự phản bội nào về lý luận, tư tưởng để bảo vệ sự trong sáng của lý luận chủ nghĩa cộng sản khoa học

Nhìn chung, trong những chỉ dẫn của C.Mác - Ph.Ăngghen về đảng, nhà nước và mối quan hệ giữa đảng và nhà nước, có một số điểm nổi bật sau:

Trang 40

37

Một là, chỉ rõ bản chất giai cấp công nhân của đảng cộng sản, các nguyên tắc

trong tổ chức và hoạt động của đảng, đặc biệt là đã nói tới sứ mệnh lãnh đạo, nắm lấy quyền lực và cầm quyền để thực thi sứ mệnh lịch sử của giai cấp, chẳng những lãnh đạo giai cấp mà còn lãnh đạo dân tộc, đặc trưng của lãnh đạo và thống trị ấy là lãnh đạo về mặt chính trị, thống nhất về mặt chính trị Đây là cơ sở khoa học đã làm sáng tỏ tính chất trong mối quan hệ của đảng đối với nhà nước một khi cách mạng thắng lợi là đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo nhà nước Đây là điều có ý nghĩa thực tiễn, gợi ý cho chúng ta trong nghiên cứu và giải quyết những nhiệm vụ ngày nay

Hai là, nền tảng trong lãnh đạo chính trị của đảng đối với giai cấp - dân tộc

và xã hội là ở các quan hệ lợi ích Lợi ích vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong

tiến trình phát triển của cách mạng Đảm bảo cho sự phát triển hài hoà giữa các lợi ích là sợi dây liên kết các giai cấp và tầng lớp trong xã hội với nhau “Chính tính tất yếu tự nhiên, chính đặc tính của con người, mặc dù chúng biểu hiện thành hình thức tha hóa như thế nào đi nữa, chính lợi ích là cái liên kết các thành viên của xã hội thị dân lại với nhau Mối liên hệ hiện thực giữa họ với nhau là đời sống thị dân chứ không phải đời sống chính trị” [7, tr.283]

Quan hệ lợi ích được nhận thức và sử dụng thông qua những nhân tố kích thích kinh tế, văn hoá, giáo dục,… của xã hội phát triển Thừa nhận sự quan trọng của việc đảm bảo các lợi ích được thoả mãn một cách hài hoà trong khuôn khổ pháp luật không đồng nghĩa với việc chúng ta cào bằng lợi ích của các nhóm trong việc thực thi chính sách Một thể chế chính trị muốn phát triển bền vững, thì những lợi ích cốt lõi của quốc gia, dân tộc phải được ưu tiên thực hiện Tính đúng đắn hợp

lý của nó là ở chỗ: bảo đảm việc phát huy dân chủ trong xã hội, tránh tình trạng lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong việc thực thi các chính sách công Do đó, đảm bảo phát huy dân chủ là tiền đề quan trọng để duy trì sự tồn tại ổn định cho một chế độ chính trị

Ba là, các quan hệ chính trị kiểu mới hình thành giữa đảng - giai cấp và dân

tộc với nhà nước và xã hội là biểu hiện của một bản chất mới của các quan hệ lợi

ích kinh tế, bắt nguồn từ quan hệ sở hữu và chế độ sở hữu xã hội Các quan hệ

chính trị đó phải được xác lập và thực hiện sao cho tạo được động lực phát triển kinh tế và xã hội Đây là vấn đề rất phức tạp của chính trị, đời sống chính trị và tổ

Ngày đăng: 11/07/2017, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chỉ đạo tổng kết lý luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới 1986 - 2006, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới 1986 - 2006
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết lý luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
2. Ban chỉ đạo tổng kết lý luận - thực tiễn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới 1986 - 2016, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới 1986 - 2016
Tác giả: Ban chỉ đạo tổng kết lý luận - thực tiễn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2015
3. Hoàng Chí Bảo (2006), “Đảng cộng sản cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội trong sự nghiệp đổi mới - Một số vấn đề đặt ra”, Tạp chí Cộng sản, (17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng cộng sản cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội trong sự nghiệp đổi mới - Một số vấn đề đặt ra”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2006
4. Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên, Đoàn Trọng Truyến (1999), Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới
Tác giả: Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên, Đoàn Trọng Truyến
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
5. Nguyễn Văn Cương (2015), Về phân định thẩm quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương tại Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phân định thẩm quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương tại Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Cương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2015
6. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
7. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
8. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
10. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
11. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 25, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
12. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 30, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
13. Nguyễn Trọng Chuẩn (2007), “Đảng phải thường xuyên tự đổi mới để đưa đất nước tiến nhanh hơn”, Lý luận chính trị, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng phải thường xuyên tự đổi mới để đưa đất nước tiến nhanh hơn”, "Lý luận chính trị
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Năm: 2007
14. Nguyễn Trọng Chuẩn, Đặng Hữu Toàn (2002), Những vấn đề lý luận đặt ra từ các văn kiện Đại hội IX của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận đặt ra từ các văn kiện Đại hội IX của Đảng
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn, Đặng Hữu Toàn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
15. Lê Duy Chương (2011), “Giải quyết hài hòa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý”, Báo Quân đội nhân dân, ra số ngày 01/09/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết hài hòa mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý”," Báo Quân đội nhân dân
Tác giả: Lê Duy Chương
Năm: 2011
16. Lê Duẩn (1981), Mấy vấn đề về Đảng cầm quyền, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về Đảng cầm quyền
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1981
17. GS. Nguyễn Đăng Dung (2012), Những vấn đề về Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, Nxb Dân trí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp
Tác giả: GS. Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2012
18. Nguyễn Đăng Dung (4/2009), “Nhà nước pháp quyền là nhà nước phòng chống sự tùy tiện”, Nghiên cứu lập pháp, 8 (45) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền là nhà nước phòng chống sự tùy tiện”, "Nghiên cứu lập pháp
19. Nguyễn Đăng Dung (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
20. Đinh Xuân Dũng (2012), “Tiếp tục thể chế hoá, hiện thực hoá cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, Tạp chí Tuyên giáo, 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục thể chế hoá, hiện thực hoá cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, "Tạp chí Tuyên giáo
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w