MỞ ĐẦU 2 1. Lý do chọn đề tài: 2 2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu: 2 3. Đối tượng nghiên cứu: 3 4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm: 3 5. Phương pháp nghiên cứu: 3 6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu: 3 NỘI DUNG 3 Chương 1. Cơ sở lí luận: 3 Chương 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu: 5 3.1. Các giải pháp: 6 3.2. Hiệu quả thực hiện: 15 KẾT LUẬN 16 1. Kết luận: 16 2. Kiến nghị: 16
Trang 1PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài: 2
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu: 2
3 Đối tượng nghiên cứu: 3
4 Đối tượng khảo sát thực nghiệm: 3
5 Phương pháp nghiên cứu: 3
- Phương pháp quan sát 3
- Phương pháp khảo sát 3
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu 3
- Phương pháp đàm thoại 3
- Phương pháp thực hành – trải nghiệm 3
- Phương pháp điều tra 3
6 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu: 3
NỘI DUNG 3
Chương 1 Cơ sở lí luận: 3
Chương 2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu: 5
Chương 3 Các giải pháp và kết quả thực hiện 6
3.1 Các giải pháp: 6
3.1.1 Dạy trẻ học tiếng Việt theo trình tự nghe – hiểu – thực hành 6
3.1.2 Trực quan hành động 10
3.1.3 Hình thành sự tự tin cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi 11
3.1.4 Phối kết hợp với phụ huynh 14
3.2 Kết quả thực hiện: 15
KẾT LUẬN 15
1 Kết luận: 16
2 Kiến nghị: 16
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản của con người nó là một nhân tố quan trọng trong sự phát triển nhân cách.Song ngôn ngữ không phải là cái bẩm sinh, mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình đứa trẻ sống và giao lưu với những người xung quanh, và tiếng “mẹ đẻ” là cơ sở phát triển trí tuệ, là vốn quý của mọi tri thức Vì vậy việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt cho trẻ qua việc đọc và kể lại tác phẩm văn học là trang bị cho trẻ nhận thức thế giới xung quanh và mở rộng quan hệ với mọi người Mặt khác, ở lứa tuổi mẫu giáo yêu cầu khả năng diễn đạt, ngôn ngữ mạch lạc, đọc kể diễn cảm theo mẫu, cấu trúc câu, đúng ngữ pháp, rõ ràng, biểu cảm âm thanh ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ là vô cùng quan trọng
Tiếng Việt còn gọi là tiếng phổ thông với tư cách là ngôn ngữ Quốc gia, là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và các cơ sở giáo dục từ mầm non đến đại học Thực tế cho thấy chất lượng học tập của học sinh dân tộc thiểu số phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tiếng Việt của học sinh Phần lớn trẻ dân tộc thiểu số khi tới trường, lớp mầm non đều chưa được sống trong môi trường tiếng Việt
Việc quan trọng trong trường mầm non cần làm là giúp trẻ trước độ tuổi đi học phát triển tốt ngôn ngữ, phù hợp với từng lứa tuổi và sự phát triển chung của trẻ V.I Lênin cho rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người Do đó, ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống hàng ngày, không có ngôn ngữ đứa trẻ không thể phát triển thành người một cách thực thụ Muốn nói được, muốn giao tiếp được với mọi người xung quanh thì đứa trẻ phải được trải qua quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ trong môi trường nhất định
Việc chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ khi bắt đầu tới trường, lớp là vô cùng quan trọng bởi ngôn ngữ có chức năng làm công cụ tư duy, công cụ biểu đạt tư tưởng, tình cảm; công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong xã hội Bời những
lý do trên nên tôi đã quyết định chọn đề tài: “Một số phương pháp giúp trẻ 3 –
4 tuổi tăng cường Tiếng Việt”.
2 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu:
a Mục đích.
Xuất phát từ thực tế việc dạy trẻ tăng cường tiếng việt trong trường mầm non Tôi đã nghiên cứu đừa ra 1 số biện pháp tăng cường tiếng việt ở ghép nói riêng và các trường mầm non trong toàn huyện nói chung
Trang 3b Nhiệm vụ.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng vấn đề
- Nghiên cứu các giải pháp để tăng cường tiếng việt cho trẻ
- Nghiên cứu về khái niệm và toàn quan trọng của việc tăng cường tiếng viêt
3 Đối tượng nghiên cứu:
21 Cháu, lớp 3 – 4 tuổi trường mầm non
4 Đối tượng khảo sát thực nghiệm:
Đối tượng khảo sát thực nghiệm “Một số biện pháp giúp trẻ phát triển tăng cường tiếng Việt cho trẻ 3 – 4 tuổi ở Trường mầm non "
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp thực hành – trải nghiệm
- Phương pháp điều tra
6 Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
* Phạm vi:
Vì thời gian có hạn, chỉ nghiên cứu tại lớp ghép mà tôi đang chủ nhiệm
*Kế hoạch:
Tôi bắt đầu nghiên cứu từ 9/2016 đến 4/2017
NỘI DUNG
Chương 1 Cơ sở lí luận:
Khoa học đó nghiên cứu về đặc điểm tõm sinh lý lứa tuổi chúng ta thấy trẻ 3 - 4 tuổi phát triển nhanh về thể lực và tâm lý ngôn ngữ ngày càng đóng vị
trí quan trọng đối với trẻ Trẻ có thể sử dụng lời nói để trao đổi với mọi người
xung quanh Sự phát triển ngôn ngữ gắn liền vớ sự phát triển của tư duy đó giúp trẻ có khả năng nhận thức thế giới bên ngoài do đó ở trẻ luôn xuất hiện câu hỏi
“ Tại sao” với chúng ta.
Đối với trẻ em dân tộc ngôn ngữ thứ hai đóng một vai trò cũng đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhân cách; là
Trang 4công cụ để trẻ giao tiếp, học tập, vui chơi… Trẻ có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh thông qua ngôn ngữ, lời nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng và hiểu những đặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dụng của chúng và trẻ học được từ tương ứng (từ và hình ảnh trực quan đi vào nhận thức của trẻ cùng một lúc) Ngôn ngữ giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh Từ ngữ giúp cho việc củng cố những biểu tượng đã được hình thành
1.1 Các định nghĩa, khái niệm.
a Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp.
Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu được nhau, cùng nhau hành động vì những mục đich chung: lao động, đấu tranh, xây dựng và phát triển xã hội Không có ngôn ngữ con người không thể giao tiếp vì vậy ngôn ngữ chính là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài người, là công cụ hữu hiệu để trẻ bày tỏ những nguyện vọng, suy nghĩ và đánh giá của bản thân về những hiện tượng xung quanh…
b Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, nhận thức.
Ngôn ngữ chính là hiện thực của tư duy và tư duy của con người có thể hoạt động được cũng chính là nhờ có phương tiện ngôn ngữ Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu không có ngôn ngữ thì quá trình tư duy của con người không diễn ra được Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi, những hoạt động chủ yếu ở trường mầm non Giống như việc dạy trẻ tiếng
mẹ đẻ, việc phát triển ngôn ngữ thứ hai cho trẻ ở trường mầm non là thực sự là mục tiêu “kép” giữa phát triển tri thức tư duy tiếng Việt và ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ Trẻ biết sử dụng tiếng Việt đồng thời sử dụng nó như một công cụ để giao tiếp, vui chơi và học tập Thông qua các hoạt động học tập, vui chơi và trò chuyện ở mọi lúc mọi nơi mà dần dần trẻ thành thạo và ngược lại mọi hoạt động
ở trường cũng tạo cơ hội cho ngôn ngữ thứ hai của trẻ phát triển
a Ngôn ngữ tiếng Việt là phương tiện để trẻ học tập.
Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất Song với trẻ dân tộc thiểu số tiếng mẹ đẻ không phải là ngôn ngữ chính để trẻ học tập, vui chơi và giao tiếp với xã hội Do đó bắt buộc trẻ phải học ngôn ngữ thứ hai khi bước vào ngưỡng cửa trường mầm non với một hình thức giống với tiếng mẹ đẻ, nhưng với một môi trường hẹp hơn là lớp học, là cô giáo và các bạn Trẻ học ngôn ngữ tiếng Việt song song với việc học tri thức và bước đầu trẻ phải tập làm chủ ngôn ngữ thứ 2 để đảm bảo làm chủ tri thức, tư duy của mình…
Trang 5Ngôn ngữ có thể chuyển tải được tất cả các nội dung thông tin khác nhau
mà người nói có nhu cầu ( từ việc bộc lộ cảm xúc, thái độ… của người nói đến người nghe; đến những nhu cầu về trao đổi kinh nghiệm chinh phục thiên nhiên hoặc truyền bá tri thức… Mà trong đó ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của người dân tộc thiểu số chỉ phục vụ được một phần nhỏ số người có nhu cầu trong cộng đồng Chỉ có ngôn ngữ tiếng Việt mới giúp họ hoà chung vào sự phát triển của xã hội
Chương 2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
2.1 Thuận lợi:
- Được sự chỉ đạo sát sao, quan tâm giúp đỡ của ngành và trường
- Giáo viên tham gia bồi dưỡng chuyên đề tăng cường Tiếng việt
- 100% trẻ là con em dân tộc Pa cô nên việc giao tiếp rất thuận lợi giữa cô
và trò
2.2 Khó khăn:
- Có 60% trẻ mới bắt đầu ra lớp và cũng là lúc trẻ bắt đầu làm quen với ngôn ngữ tiếng Việt
- Nhiều phụ huynh chưa thành thạo tiếng phổ thông và chưa chú trọng vào việc dạy tiếng phổ thông cho trẻ tại gia đình
- Đồ dùng phục vụ cho hoạt động dạy ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ chưa phong phú đa dạng, chưa có sự đầu tư và chưa có sự sáng tạo
- Đối với trẻ mới ra lớp ngôn ngữ nói tiếng Việt của trẻ còn hạn chế trẻ chậm chạm, nhút nhát, chưa tự tin
- Vốn Tiếng việt của trẻ còn hạn chế
- Một số phụ huynh chưa thật sự quan tâm đến kết quả học tập của con em mình còn hay ỷ lại đến giáo viên
Kết quả khảo sát thực trạng trẻ đầu năm học 2016 – 2017:
* Bảng1: Khảo sát ngôn ngữ tiếng việt của trẻ đầu năm học
Kết quả
Trang 6động và trò chuyện cùng cô
3 Trẻ biết một số từ đơn giản
trong giao tiếp diễn đạt của
mình
Chương 3 Các giải pháp và kết quả thực hiện
3.1 Các giải pháp:
Để khắc phục những khó khăn trên giáo tôi đã thực hiện như sau:
- Nắm vững những đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 3 – 4 tuổi
- Có các giải pháp hướng dẫn trẻ học tiếng Việt một cách linh hoạt, phù hợp với khả năng và điều kiện thực tế của nhà trường, phù hợp với địa phương
và khả năng nhận thức của trẻ trong lớp
- Thường xuyên tham khảo tài liệu, sưu tầm các thông tin trên mạng intenet, dự giờ kiến tập đồng nghiệp, học hỏi kinh nghiệm
- Tuyên truyền cho các bậc phụ huynh cùng với giáo viên tích cực dạy tiếng phổ thông cho trẻ
Để giúp trẻ tăng khả năng nghe hiểu và thực hành tiếng Việt một cách tốt nhất tôi kiên trì, sáng tạo và gần gũi với trẻ Bằng sự hiểu biết của mình tôi lựa chọn những nội dung những bài học và những hình thức, những hình ảnh đẹp hay những tình huống hẫp dẫn giúp trẻ học tiếng việt có hiệu quả vì vậy tôi đưa
ra các biện pháp sau:
3.1.1 Dạy trẻ học tiếng Việt theo trình tự nghe – hiểu – thực hành.
+ Trẻ học hiểu nghĩa của từ và câu trước khi nói chính xác từ và câu đó.
Bước vào ngưỡng cửa trường mẫu giáo trẻ bắt đầu làm quen với ngôn ngữ thứ hai và đây cũng là thời kỳ đầu tiên trong quá trình trẻ học nói tiếng Việt, tiếp thu kiến thức bằng tiếng Việt Mọi lời nói hướng dẫn, cách truyền đạt của cô đều thật khó đối với trẻ Nửa đầu học kỳ 1, nhiệm vụ quan trọng nhất là phát triển khả năng nghe hiểu lời nói của cô
Với mục đích trẻ hiểu nghĩa của từ ngữ rồi trẻ thực hành tiếng Việt Yêu cầu đối với giáo viên không cấm trẻ nói tiếng mẹ đẻ và cần tránh dạy trẻ nói mà không hiểu nghĩa Ở đây tôi thường xuyên sử dụng đồ dùng trực quan, hành động với đồ vật, bằng ngôn ngữ hình thể để diễn đạt một cách cụ thể dễ hiểu nhất giúp trẻ một phần nắm bắt dễ dàng và hiểu một cách chính xác vấn đề
Ví dụ: Trẻ làm quen với tên gọi các bạn: đây là bạn Mai Chi, đây là bạn Mai Trang… cô dắt trẻ lên và giới thiệu cho các bạn nghe, lần lượt các bạn trong lớp
Trang 7Cho trẻ làm quen với tên gọi và đồ dùng đồ chơi ở các góc trong lớp học: Đây là viên gạch, đây là quả táo…Khi cô giới thiệu cho trẻ nghe cô hỏi lại để kiểm tra đối với các trẻ Cô giới thiệu và làm mẫu một số hành động cụ thể : đứng lên, ngồi xuống, đi ra ngoài… kết hợp sử dụng tiếng mẹ đẻ để giải thích nghĩa của từ và câu, nhất là những từ trừu tượng, khó hiểu Tôi thường xuyên dùng những từ ngữ nhẹ nhàng để khen ngợi trẻ, nêu những điểm nổi bật làm trẻ thích thú và chăm chú nghe
cô nói
Sử dụng đồ dùng cho trẻ tiếp cận theo nhóm đối tượng giúp trẻ dễ sâu chuỗi được vấn đề hơn:
Vi dụ: Cho trẻ quan sát tranh các con vật cô hỏi “ Con gì đây” và “đây là con gì” đầu tiên trẻ chưa biết tôi hướng dẫn trả lời rồi cho trẻ bắt chước sau đó trẻ tự trả lời, và cứ như vậy trẻ sẽ tự hiểu đó là những con vật Vì vậy khi cho trẻ tiếp súc đối tượng tôi thường đưa các đối tượng có cùng chủng loại: các loại quả, các đồ chơi
Tôi thường xuyên trao đổi với trẻ bằng cách chọn từ ngữ sao cho ngắn gọn,
dễ hiểu kết hợp hướng dẫn giúp trẻ hiểu những vấn đề, nhiệm vụ gần gũi đối với trẻ: Ví dụ: Khi trẻ đến lớp cô nhắc “ Chào cô nào” và cô hướng dẫn cho trẻ thực hiện nói “ Cháu chào cô” và các khái niệm, các từ chỉ tên người, đồ vật ví dụ: Tên bạn, quần áo, bát đĩa, tên đồ dùng đồ chơi trong lớp, một số hoạt động hàng ngày trẻ phải thực hiện ví dụ: con hát nào, con hãy đọc thơ, con thực hiện cùng
cô nào…
Tôi luôn chú ý phát rõ âm để trẻ dễ tiếp thu, dạy trẻ cần phải kèm tranh minh họa, vật thật đôi khi cần có cả sự giải thích, khi sử dụng từ ngữ cô lựa chọn cầu từ ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp với trẻ Chú ý cung cấp từ mới cho trẻ phải nhắc đi nhắc lại giúp trẻ nghe rõ và hiểu vấn đề một cách cụ thể
Tạo cho trẻ năng lực bắt chước kết hợp âm thanh, trẻ thường xuyên học nhắc lại những gì nghe được từ cô và các bạn, đây cũng là một trong những biện pháp trẻ dễ học dễ hiểu nhất: Ví dụ: Trong giờ học tôi đưa một bức tranh và hỏi trẻ cô có gì đây? Một số trẻ trả lời “ Tranh con vịt” cô khẳng định là đúng và cho
cả lớp và cá nhân bắt chước nói giống cô và các bạn cứ như vậy trẻ học rất nhanh và hiệu quả cũng rất cao
Nghe với những hình ảnh động: Các hình ảnh đính kèm những ngôn ngữ làm cho trẻ ‘hiểu’ được ít nhiều nội dung của vấn đề, mà không cần phải ‘dịch’ từng câu
Ví dụ: Thường xuyên mở các bài hát, đoạn video về các con vật, các hiện tượng tự nhiên hay các sự kiện… cho trẻ xem, trẻ chăm chú phán đoán và trẻ cũng dần hiểu một số câu từ trong những đoạn video, clip đó
Trang 8Luyện nghe cho trẻ cũng rất quan trọng, luyện cho trẻ nghe được các âm vị cấu trúc âm tiết khác nhau , nghe biểu cảm về phương diện âm thanh
Mặc dù có thể hơi khó với trẻ nhưng đọc hay kể chuyện cho trẻ nghe ngay
từ những ngày đầu tới lớp của trẻ là một trong những cách tốt nhất giúp trẻ làm quen với ngôn ngữ tiếng Việt Thông qua việc dành thời gian đọc, kể cho trẻ nghe từ đó giúp trẻ nhận biết những điều kỳ diệu mà ngôn ngữ đem lại và sự thích thú của trẻ đối với những điều kỳ diệu đó sẽ biến trẻ thành người ham học Yêu cầu ở nội dung này cô cần phải kiên trì, thường xuyên trò chuyện giao tiếp cùng trẻ có nhiều biện pháp giúp trẻ nghe hiểu một cách chính xác nội dung
cô cần truyền đạt Do vậy tôi luôn chú ý đến lời nói phải chính xác, rõ ràng, mạch lạc, tránh nói lắp, nói ngọng
Lựa chọn nội dung giáo dục và hoạt động phù hợp với khả năng của trẻ
Ví dụ: Lựa chọn những bài thơ, bài hát ngắn gọn dễ hiểu, tìm những bài thơ,
ca dao, đồng dao giúp trẻ dễ đọc dễ nhớ và cũng thuận lợi trong việc khai thác nội dung
Luôn chú ý hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ để đảm bảo tình phù hợp, chính xác và có tính mở chú trọng lấy trẻ làm trung tâm Đặc biệt khi lựa chọn
đề tài này cần phải chú trọng hơn khi xây dựng nội dung giáo dục để đảm bảo tính hiệu quả phù hợp với nội dung và đối tượng vùng miền
+ Trẻ học tiếng Việt gắn với những tình huống thực tế.
Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch… nói chung là các hoạt động nhằm giúp trẻ tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Việt một cách tự nhiên, không gượng ép Các hoạt động đa dạng sẽ giúp trẻ từng bước hình thành phong cách riêng trong học tập và sử dụng tiếng Việt Phong cách riêng chính là nền tảng của chất lượng và hiệu quả học tập tiếng Việt cho trẻ em Nắm bắt được đặc điểm này tôi đã không ngừng học sưu tầm những trò chơi hay, mới lạ trên báo chí, thông tin đại chúng để tạo các tình huống và đưa vào dạy trẻ phù hợp theo nội dung từng chủ điểm
Ví dụ: Tổ chức các trò chơi cho trẻ như:
-Trò chơi những chiếc thuyền: Cô đổ nước vào chậu hoặc bát to Để 3 cái hộp rỗng vào Cần thổi chúng chuyển động từ bờ bên này sang bờ khác Cô nói với Trẻ: “Con tưởng tượng xem, đây là biển nhé Để cho tàu ra khơi, cần có gió đẩy thuyền đi Con hít sâu vào rồi thổi mạnh đi!” Điều quan trọng là theo dõi việc thở ra và khuyến khích trẻ thực hiện theo yêu cầu của cô.Để kích thích khẩu ngữ của bé, cô đặt những câu hỏi: “Thời tiết trên biển thế nào con nhỉ?”, “Con thấy mặt nước trông như thế nào?”…cô cho trẻ chơi theo nhóm nhỏ các trẻ
Trang 9khác quan sát và nhận xét về các con thuyền, nhận xét cách chơi của các bạn cùng với những lời tán thưởng của cô trẻ rất thích thú cổ vũ cho những con thuyền, đây cũng là một hình thức trẻ được chơi một cách thoải mái nhất nhưng trẻ lại nhớ lâu những từ mới như “con thuyền”, “mặt nước”, “thổi mạnh”,
“thuyền đi nhanh, thuyền đi chậm”… bởi qua lúc chơi trẻ hò reo cổ vũ theo cô
và các bạn
- Trò chơi dàn nhạc đặc biệt: Cần 6 cái hộp và 3 kiểu vật liệu hạt rời (ngũ cốc, đường, bột, hạt cườm…) Điều quan trọng là đổ từng đôi hộp số lượng vật liệu như nhau để âm thanh trùng nhau chính xác Nhưng âm thanh của đôi hộp này cần khác biệt với đôi khác Một bộ đưa cho trẻ, còn bộ kia cô giữ Cô lắc
“Hộp” bất kì, còn trẻ cần tìm trong bộ của mình cái thùng có âm thanh y như thế Cô tăng dần số lượng hộp Cô nghĩ ra những tên gọi lí thú cho những dụng
cụ đó: Tiếng ồn, quả bom, lúc lắc, lạo sạo… trẻ được chơi cả lớp và yêu cô yêu cầu cá nhân lên chọn “Hộp” cả lớp cùng nhắc giúp bạn với sự gợi ý của cô Cô nói các con chú ý xem chiếc “Hộp” này có tiếng kêu thế nào ? ai giỏi lên tìm hộp có tiếng kêu giống hộp của cô nào Trẻ sẽ phải lắc các hộp để tìm cùng với
sự chỉ dẫn của các bạn “ Hộp này, hộp kia, đúng rồi, sai rồi, tìm đi, lắc hộp đi…”
đó là những từ được nhắc nhiều trong trò chơi, trẻ cổ vũ, chỉ dẫn cho bạn, đây cũng là cách trẻ được học những từ mới mà không cần cô chỉ dẫn song vẫn đạt yêu cầu… trẻ em rất thích điều đó
- Trò chơi cái bao bí ẩn: Cần một cái bao hoặc túi không trong suốt để không nhìn thấy được những vật dụng bên trong túi Cho vào đó những đồ vật hình oval và hình tròn (trứng, quả bóng nhỏ, bóng lục lạc, cái hộp…) Trước khi
cô cho những vật trên vào bao, hãy cho trẻ sờ chúng trước và gọi tên những vật
đó Sau đó, đề nghị trẻ tìm vật cần thiết qua cảm ứng: “Bàn tay con có đôi mắt thần kì đó Con hãy dùng tay lấy cho cô quả bóng xem nào!” (hoặc vật khác)
Cô hỏi trẻ về đồ vật trẻ lấy ra khỏi bao: “Đây là cái gì?”, “Có thể chơi bóng như thế nào nhỉ?”
- Các tình huống gắn liền với hoạt động trong ngày cũng là những cơ hội để giáo viên giúp trẻ tăng cường tiếng Việt Tôi giúp trẻ làm giàu thêm vốn từ vựng của mình và giúp trẻ phát triển khả năng nghe, phản xạ bằng cách yêu cầu trẻ nêu tên tất cả những đồ vật mà trẻ biết bắt đầu bằng những tên bạn trong lớp, tên
cô, tên các đồ dùng đồ chơi
Ví dụ: Cô hướng trẻ với những sự vật hiện tượng sung quanh để trò chuyện và
mở rộng ngôn ngữ cho trẻ, gợi ý tạo sự tò mò của trẻ vào những thay đổi khác thường chẳng hạn: Cây đào sân trường ra hoa, trời mưa rất to, bạn Lan có váy mới…
Trang 103.1.2 Trực quan hành động.
Phương pháp này rất hiệu quả đối với người bắt đầu học một ngôn ngữ mới (ngoài tiếng mẹ đẻ), cho phép người học tiếp thu ngôn ngữ mới một cách dễ dàng và tự nhiên mà không bắt buộc phải quá tập trung hay căng thẳng Phương pháp này được áp dụng rộng rãi và hiệu quả ở nhiều hình thức khác nhau Với phương pháp này, người học được sử dụng tích cực các giác quan và vận động của cơ thể trong suốt quá trình tham gia vào hoạt động học tập và thực hành ngôn ngữ mới Các kỹ năng nghe - quan sát - phản hồi (bằng hành động của cơ thể) được sử dụng hiệu quả trong quá trình học tập Phương pháp này giúp giáo viên và trẻ có thể áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các hoạt động dạy và học
để đạt được những giờ học thực sự tích cực Sử dụng đồ dùng trực quan đẹp, bắt mắt đó cũng là cách làm trẻ tò mò xem đó là gì, thích được tham gia vào hoạt động với đồ dùng đó
Ví dụ: Các giờ hoạt động khám phá môi trường, ngoài việc cung cấp kiến thức cho trẻ cô cũng đồng thời tăng cường tiếng Việt cho trẻ một cách rất hiệu quả Thông qua những hình ảnh, mô hình, vật thật trẻ được sờ, được nếm, được ngửi, được nghe cùng với những từ ngữ có chọn lọc cô cung cấp kiến thức và từ mới cho trẻ: Với hoạt động làm quen các loại quả trẻ biết tên quả, quả có màu
gì, ăn có vị gì, con thích quả gì Cô nhắc lại những đặc điểm rồi cho trẻ nhắc lại
cứ như vậy trẻ học từ mới một cách tự nhiên theo nhiều hướng khác nhau Với chương trình giáo dục mầm non thực hiện chủ đề nhánh theo tuần vậy nên trong tuần trẻ được tiếp súc làm quen nhiều loại quả với nhiều hình thức khác nhau như: xem tranh, xem hình ảnh trên video, quả thật và qua sự miêu tả của cô… ở các hoạt động vui chơi và hoạt động khác nữa Trẻ dần khắc sâu ngôn ngữ tiếng Việt cùng với tư duy của mình
Giáo viên sử dụng các đồ vật/đồ chơi gần gũi, quen thuộc với trẻ để dạy tiếng Việt cho trẻ Với trẻ lớp bé, trẻ mới ra lớp nên lựa chọn các vật thật hoặc các đồ dùng, đồ chơi sẵn có trong lớp và trẻ thường được chơi và sử dụng để cho trẻ học Tôi không chụp ảnh các đồ vật sẵn có trong lớp, những đồ vật tôi có thể chuẩn bị được để đưa vào máy tính và trình chiếu cho trẻ quan sát mà sử dụng các đồ vật/đồ chơi thật giúp trẻ vừa được học từ, học câu và vừa được thao tác với đồ vật/đồ chơi có kết hợp sử dụng ngôn ngữ, ngôn ngữ thứ hai sẽ trở nên gần gũi hơn với đời sống hàng ngày của trẻ
Đối với trẻ nhà trẻ và mẫu giáo 3 – 4 tuổi tôi tiến hành trò chuyện kết hợp với trực quan, hướng chú ý của trẻ lên đối tượng, sau đó gợi cho trẻ nhớ lại bằng những câu hỏi đơn giản