Các điều kiện kinh tế của đất nước và mức độ của mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và mở cửa thương mại quyết định tác động của mở cửa thương mại đến mức tiêu thụ năng lượng Cole, 20
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-o0o -
Công trình tham dự Cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương năm 2016
TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI
THUỘC KHỐI ASEAN
Nhóm ngành: KD3
Tháng 7 năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-o0o -
Công trình tham dự Cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương năm 2016
TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI
THUỘC KHỐI ASEAN
Nhóm ngành: KD3
Tháng 7 năm 2016
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ vii
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Cấu trúc bài nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
2.1 Tổng quan tình hình các nước ASEAN 6
2.2 Một số khái niệm liên quan 9
2.2.1 Độ mở thương mại của nền kinh tế (trade openness) 9
2.2.2 Tăng trưởng kinh tế 9
2.2.3 Lượng phát thải CO 2 (Carbon footprint) 9
2.3 Cơ sở lý thuyết 10
2.4 Tổng quan các nghiên cứu tiền nghiệm 12
2.4.1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường 13
2.4.1.1 Nhóm bài nghiên cứu ủng hộ lý thuyết đường cong Kuznet 12
2.4.1.2 Nhóm bài nghiên cứu không ủng hộ lý thuyết đường cong Kuznet 13 2.4.2 Mối quan hệ giữa độ mở thương mại và lượng phát thải CO 2 16
2.5 Khung phân tích 22
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 25
Trang 43.1.1 Mô hình nghiên cứu 25
3.1.2 Giả thuyết nghiên cứu 29
3.2 Dữ liệu nghiên cứu 29
3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 31
3.4 Quy trình nghiên cứu 35
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 37
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 38
4.2 Kết quả hồi quy 43
4.2.1 Kiểm tra đa cộng tuyến 43
4.2.2 Kết quả hồi quy 44
4.3 Thảo luận kết quả nghiên cứu 49
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 52
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Hàm ý chính sách 53
5.2.1 Nhóm giải pháp liên quan đến tăng trưởng kinh tế 54
5.2.2 Nhóm giải pháp liên quan đến độ mở kinh tế 57
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO a PHỤ LỤC f
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 AEC ASEAN Economic Community Cộng đồng kinh tế ASEAN
2 AEEAP Asean Environmental
Education Action Plan
Kế hoạch Giáo dục môi trường ASEAN
3 ADF Augmented Dickey–Fuller test Kiểm định tính dừng Dickey–
Fuller
4 AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
5 AMME ASEAN Ministerial Meeting on
7 ASOEN Meeting of ASEAN Senior
Officials on the Environment
Hội nghị các Quan chức cao cấp ASEAN về môi trường
8 ARDL Autoregressive Distributed Lag Mô hình phân phối trễ tự hồi quy
9 BOD Billing Operations Development Thanh toán hoạt động phát triển
10 CLMV Cambodia, Laos, Myanmar and
Viet Nam
Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam
12 CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng
13 DOLS Dynamic Ordinary Least
Squares
Mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất dạng động
14 ECM Error Correction Model Mô hình sai số hiệu chỉnh
15 EKC Environmental Kuznets Curve Đường cong môi trường Kuznets
16 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
17 FEM Fixed Effects Model Mô hình tác động cố định
18 FGLS Feasible Generalized Least
19 FMOLS Fully Modified Ordinary Least
Squares
Bình phương bé nhất đã được hiệu chỉnh hoàn toàn
Trang 620 FTA Free Trade Agreement Hiệp định thương mại tự do
21 GCC
Gulf Cooperation Council Cooperation Council for the Arab States of the Gulf
Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh Hội đồng Hợp tác các nước Ả Rập vùng Vịnh
22 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
23 GMM Genaralized Method of
26 OLS Ordinary Least Squares Bình phương bé nhất
27 OECD Organization for Economic
Co-operation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
28 PPP Purchasing Power Parity Ngang giá sức mua
29 REM Random Effects Model Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên
30 SAARC South Asian Association for
Regional Cooperation Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á
34 VAR Vector Autoregression Mô hình Vectơ tự hồi quy
35 VECM Vector Error Correction Model Mô hình Vector hiệu chỉnh sai số
37 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 73 Bảng 3.1 Ưu nhược điểm của hai mô hình so với định hướng
5 Bảng 3.3 Các quốc gia trong mẫu nghiên cứu 30
6 Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu cơ bản của các quốc gia nghiên cứu
7 Bảng 4.2 Lượng phát thải CO2 bình quân, mức thu nhập bình
quân trên người và độ mở thương mại 42
8 Bảng 4.3 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 42
13 Bảng 4.8 Kiểm định phương sai sai số thay đổi 47
Trang 9DANH MỤC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ Danh mục hình
2 Hình 2.2 Quan điểm đánh đổi trong mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và thiệt hại môi trường 12
Danh mục sơ đồ
2 Sơ đồ 3.1 Liên hệ các ước lượng và kiểm định 34
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập niên gần đây khí hậu ngày càng có sự chuyển biến phức tạp theo chiều hướng tiêu cực trên toàn cầu Có rất nhiều nghiên nhân dẫn đến quá trình tiêu cực này, cụ thể: phát thải SO2, ô nhiễm nguồn nước,… Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học đại diện có Solomon và cộng sự (2008)[1]cho rằng lượng phát thải CO2 là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất vì đây là nhân tố chủ yếu giải thích cho hiện tượng nóng lên toàn cầu Vào cuối những năm 1990, mức phát tán CO2 hàng năm xấp xỉ bằng
4 lần mức phát tán năm 1950 và hàm lượng CO2 đã đạt đến mức cao nhất trong những năm gần đây Đánh giá của Ban Liên Chính Phủ về biến đổi khí hậu cũng có bằng chứng nhấn mạnh ảnh hưởng của lượng phát thải này lên toàn cầu Những kết quả dự báo gồm việc dịch chuyển của các đới khí hậu, những thay đổi trong thành phần loài và năng suất của các hệ sinh thái, sự gia tăng các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt và những tác động đến sức khoẻ con người… Báo cáo tổng quan môi trường Toàn cầu năm 2000 của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) thống kê trong 100 năm trở lại đây, Trái Đất đã nóng lên khoảng 0,50C và ước tính trong thế kỷ XXI nhiệt độ sẽ tăng từ 1,5
- 4,50C so với nhiệt độ ở thế kỷ XX Điều này dẫn đến mực nước biển có thể dâng lên cao từ 25cm đến 140cm Thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất thiên tai như gió, bão, động đất, phun trào núi lửa, hoả hoạn và lũ lụt Ví dụ, các trận hoả hoạn tự nhiên không kiểm soát được vào các năm từ 1996- 1998 đã thiêu huỷ nhiều khu rừng ở Braxin, Canada, khu tự trị Nội Mông ở Đông Bắc Trung Quốc, Inđônêxia, Ý, Mêhicô, Liên Bang Nga và Hoa Kỳ
Trong đó, ASEAN là một trong những khu vực kinh tế lớn nhất thế giới, tỷ lệ tăng trưởng cao và ổn định kể từ năm 2000 nhưng vẫn chưa xử lí triệt để được các vấn
đề về môi trường ở một số nước đang phát triển Tính đến năm 2010, lượng phát thải CO2 ở ASEAN đạt ngưỡng 1.070,8 (Mt) (Megaton) Tốc độ tăng trưởng hằng năm đối
với chỉ tiêu này ở ASEAN trong giai đoạn 1990-2020 khoảng 5,2% (Thống kê và ước tính theo “Energy Outlook for Asia and the Pacific”, 2013) Do đó dẫn đến sự ra đời
của nhiều tổ chức, hiệp định và hội nghị với mục tiêu cắt giảm lượng khí thải Tháng 10/2015, tại Việt Nam đã diễn ra lễ khai mạc Hội nghị Bộ trưởng Môi trường ASEAN lần thứ 13, Hội nghị các nước thành viên tham gia Hiệp định ASEAN về ô nhiễm khói
mù xuyên biên giới lần thứ 11, Hội nghị Bộ trưởng môi trường ASEAN+3 lần thứ 14
Trang 11Bên cạnh việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và đưa nền kinh tế ASEAN hội nhập vào nền kinh tế thế giới, việc bảo vệ và phục hồi môi trường đang ngày càng
ô nhiễm cũng là một vấn đề nhức nhối hiện nay
Biểu đồ 1.1 Tổng lượng phát thải CO2 trên toàn thế giới từ năm 1975-2011
(Đơn vị: triệu USD)
Nguồn: nhóm tác giả trích từ data.worldbank.org
ASEAN là một trong những khu vực phát triển nhanh nhất trên thế giới Theo thông báo của ban ASEAN, mức đóng góp GDP của ASEAN vào GDP toàn cầu tăng lên mức 3,3% năm 2014 từ mức 3,18% trước đó Quy mô GDP của ASEAN cũng tương đương khoảng 15% nền kinh tế Mỹ, so với mức 7% vào năm 2004 Tính theo chỉ số ngang giá sức mua (PPP), tổng GDP của ASEAN trong năm 2014 đạt 6,64 nghìn tỷ USD, chiếm 6,1% GDP toàn thế giới theo PPP
Mặt khác, ASEAN được đánh giá là khối kinh tế có độ mở thương mại cao Tính đến năm 2011, các nền kinh tế của ASEAN có độ mở lớn và phụ thuộc nhiều vào hoạt động thương mại với tỷ trọng chiếm từ 90-300% (không tính Myanmar) Tỷ lệ xuất khẩu
so với Tổng sản phẩm quốc nội của khối ASEAN từ 50% như trường hợp của Indonesia, Philippines và đến 75% như Thái Lan, Việt Nam, Malaysia Đặc biệt, tỷ lệ này của Singapore là gần 90% Đây là lý do mà các nước ASEAN luôn muốn tìm đến một chỗ
Trang 12đứng cạnh tranh hơn trên các thị trường lớn để làm chỗ dựa cho tăng trưởng kinh tế bền
vững (Báo Kinh Doanh và Pháp Luật)[2]
Trong khi đó, độ mở thương mại là một thành phần thiết yếu của tăng trưởng
kinh tế và nhu cầu năng lượng (Sadorsky, 2011)[3] Các điều kiện kinh tế của đất nước
và mức độ của mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và mở cửa thương mại quyết định
tác động của mở cửa thương mại đến mức tiêu thụ năng lượng (Cole, 2006)[4] Tăng
cường thương mại cho phép các nền kinh tế đang phát triển nhập khẩu công nghệ tiên tiến từ các nền kinh tế đã phát triển Kéo theo đó, việc áp dụng công nghệ cao đối với các nước đang phát triển sẽ làm tăng năng suất lao động và giảm phát thải CO2 Tuy nhiên trong bối cảnh các nước ASEAN tăng cường mở cửa và hội nhập thông qua việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), khuyến khích tự do thương mại đồng thời duy trì bảo vệ môi trường là một trong những thách thức lớn Mối quan hệ giữa tăng cường tự do hoá thương mại và lượng phát thải CO2, giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cũng phải tìm được lời giải hợp lý đối với một lộ trình hội nhập khoa học Nếu không, các nước đang phát triển của ASEAN khó tránh khỏi trở thành một thị trường tiêu thụ sản phẩm chất lượng thấp, máy móc thiết bị với công nghệ lạc hậu mà hậu quả tới môi trường sinh thái là khôn lường Mô hình tăng trưởng mà các quốc gia
này đang theo đuổi có thể là “cái bẫy” của sự phát triển thiếu bền vững
Theo đó, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với lượng phát thải CO2 tại các nước đang phát triển của ASEAN cũng cần được nghiên cứu thêm Như đã đề cập ở trên, ASEAN có tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng hàng năm, GDP chiếm tỷ trong cao trên toàn cầu Nếu mối quan hệ giữa lượng phát thải CO2 và tăng trưởng kinh tế là đồng thuận thì sẽ rất khó khăn cho các nước đang phát triển của ASEAN để phát triển nền kinh tế bền vững Đây là một yếu tố quan trọng để các nhà hoạch định chính sách mỗi quốc gia cần cân nhắc trong dài hạn
Vì vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại đến sự phát thải CO2 tại ASEAN là cần thiết đối với nhà hoạch định chính sách, các cơ quan hữu quan và doanh nghiệp sản xuất Mặt khác, hai yếu tố tác động này phải được quan sát đồng thời trong mối quan hệ với sự phát thải CO2 để mang đến cách nhìn khái quát và đầy đủ hơn Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố này đến phát thải khí nhà kính, ví dụ Behnaz Saboori và cộng
sự (2012) [4] , Jalil và Mahmud (2009)[5], Farhani, Chaibi và Rault (2014)[6],… Tuy
Trang 13nhiên ở ASEAN, chỉ có một vài nghiên cứu về tác động của một số yếu tố kinh tế cụ thể
đến việc mức tiêu thụ năng lượng ví dụ Nguyễn thị Hoàng Oanh (2014) mà chưa có
nghiên cứu nào xem xét tác động của hai nhân tố này cùng lúc đối với lượng phát thải
CO2
Với những lý do nêu trên, nhóm tác giả tiến hành thực hiện đề tài “TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ ĐỘ MỞ THƯƠNG MẠI ĐẾN LƯỢNG PHÁT THẢI CO2 Ở CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN THUỘC KHỐI ASEAN” thông qua các mô hình hồi quy và tin rằng nó cần thiết trong bối cảnh ASEAN hiện nay
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nhìn nhận được sự cấp thiết của đề tài, bài nghiên cứu gồm 3 mục tiêu sau:
- Phân tích được tình hình chung của các nước đang phát triển ASEAN đối với vấn đề ô nhiễm môi trường;
- Xây dựng kết luận về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại đến sự phát thải CO2 tại các nước đang phát triển thuộc khối ASEAN thông qua các
mô hình hồi quy (Pooled OLS, FEM, REM) và các kiểm định (Hausman test, Pagan Lagrange Multiplier Test, kiểm định F);
Breusch Đề xuất các giải pháp khả thi cho các nhà hoạch định chính sách để đảm bảo phát triển kinh tế bền vững của các nước đang phát triển trong ASEAN trong tình hình các nước đang mở rộng tự do thương mại
1.3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và độ mở thương mại đến sự phát thải CO2 tại các nước đang phát triển thuộc khối ASEAN
1.4 Cấu trúc bài nghiên cứu
Công trình nghiên cứu gồm trang, bảng, hình vẽ, sơ đồ và biểu đồ, cùng phụ lục Ngoài phần kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục hình vẽ , sơ
đồ và biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, bài nghiên cứu được kết cấu gồm 5 chương như sau:
Trang 14Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Giải pháp và đề xuất
Trang 15CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương 2 sẽ tiến hành tổng quan về tình hình ASEAN và các khái niệm, lý thuyết
có liên quan đến đề tài nghiên cứu Nội dung chương 2 cũng sẽ tiến hành lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm có được cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở các lý thuyết này, tác giả tiến hành xây dựng khung phân tích cho luận văn và khung phân tích này sẽ là cơ sở để luận văn giải quyết vấn đề nghiên cứu đã đề ra
2.1 Tổng quan tình hình các nước ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một liên minh chính trị, kinh
tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Tổ chức này được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với năm thành viên đầu tiên là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, và Philippines Tính đến năm 2015, ASEAN đã có 10 quốc gia thành viên, bao gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Brunei, Việt Nam, Lào, Myanmar, Campuchia và có 2 quan sát viên là Papua New Guinea (từ năm 1976) và Đông Timor (từ năm 2015) Thứ nhất, nhóm tác giả không tìm được đầy
đủ số liệu của Myanmar và Đông Timor Thứ hai, Singapore và Brunei là các quốc gia phát triển chính vì thế sự chêch lệnh dữ liệu khá lớn với các quốc gia còn lại Vì hai nguyên do trên nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu dựa trên dữ liệu của 7 quốc gia đang phát triển gồm Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Việt Nam, Lào và Campuchia
Vào những năm 1970, các nước Đông Nam Á có trình độ phát triển kinh tế khá đồng đều, song ngày nay chênh lệch phát triển giữa các nước ASEAN khá rõ ràng, đặc biệt là giữa sáu nước thành viên cũ (Brunei, Indonesia, Malaysia, Singapore, Philippines
và Thái Lan, gọi tắt là ASEAN-6) và bốn nước thành viên mới của ASEAN (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam, gọi tắt là CLMV) Nhóm ASEAN-6 đã phát triển kinh tế thị trường trong hơn 3 thập kỷ qua, với thu nhập bình quân đầu người khoảng 1000$/người, trong khi đó bốn nước thành viên mới của ASEAN đều là các nền kinh tế chuyển đổi với mức thu nhập chưa đến 400$/người Quốc gia phát triển nhất trong nhóm CLMV là Việt Nam nhưng quy mô nền kinh tế vẫn tương đối thấp so với các nước ASEAN-6 Tuy nhiên, số liệu từ WB cho thấy mức chênh lệch này ngày càng thu hẹp đáng kể trong những năm gần đây Nếu như năm 2005, quy mô tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam chỉ bằng 1/3 Thái Lan, gần 1/2 Singapore, gần 1/5 Indonesia thì đến năm
Trang 162013 con số này đã cải thiện đáng kể: bằng 1/2 Thái Lan và trên 1/2 Singapore Tính đến năm 2013, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đứng thứ 7 tại ASEAN, đạt 1.908 USD/người/năm, cao hơn Campuchia, Lào và Myanmar Các quốc gia ASEAN-
6 đạt được thành tựu tăng trưởng kinh tế khá cao và liên tục, trong khi đó các nước CLMV vẫn đang trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường và thúc đẩy hội nhập quốc tế, tăng trưởng kinh tế đạt khá cao, song không đều và chưa có tính liên tục Chênh lệch khoảng cách phát triển là nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng, hạn chế về cơ hội thu nhận lợi ích từ hội nhập một cách hiệu quả Trong khi đó, các nước ASEAN đang tiếp tục phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt khi ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Biểu đồ 2.1: Độ mở thương mại trung bình của 7 quốc gia thuộc khu vực
Đông Nam Á trong giai đoạn 1975-2011
thành giả thuyết “nơi trú ẩn ô nhiễm” đã khiến nhiều quốc gia lo ngại vấn đề mở cửa
thương mại sẽ gây ra tác động xấu đến môi trường Đây là một trong những nguyên nhân khiến các quốc gia này có xu hướng giảm độ mở thương mại mặc dù ngày càng có nhiều hiệp định, tổ chức được hình thành để gắn kết các quốc gia trong khu vực và trên thế giới
Trang 17Biểu đồ 2.2: Xu hướng biến động giá trị trung bình của lượng phát thải CO 2 của
7 quốc gia trong khu vực Đông Nam Á giai đoạn 1975-2011
(Đơn vị: Mt/người)
Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp
Tất cả các quốc gia trong mẫu nghiên cứu đều là những quốc gia đang phát triển,
do vậy lượng phát thải CO2 luôn ở mức khá cao Theo giả thuyết đường cong EKC
(Kuznet, 1955)[7], trong giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng, phát thải ô nhiễm trong
các nền kinh tế sẽ tăng dần tuy nhiên khi đạt đến một ngưỡng nào đó thì lượng phát thải
ô nhiễm bắt đầu giảm xuống do sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật cũng như những tiêu chuẩn ngày càng cao về môi trường sống của con người Theo số liệu thống kê trong suốt quá trình nghiên cứu, lượng phát thải CO2 bình quân của cả 7 quốc gia trong mẫu nghiên cứu đều đang tăng và không có dấu hiệu giảm xuống Bên cạnh đó, kết quả của một số nghiên cứu và số liệu thực tế cho thấy, các nước đang phát triển vẫn có thể đạt được sự cải thiện môi trường và đạt ngưỡng chuyển đổi ở mức thu nhập thấp hơn trong một thời gian ngắn so với các nước phát triển đi trước Lý do ở đây là các nước phát triển sau sẽ có cơ hội học hỏi từ các bài học kinh nghiệm của các nước đi trước, tham khảo các chính sách, quy định và tiêu chuẩn môi trường đã được xây dựng sẵn, kế thừa, chuyển giao và phát triển các công nghệ mới từ các nước phát triển
Phát thải CO2 trên đầu người
Trang 182.2 Một số khái niệm liên quan
2.2.1 Độ mở thương mại của nền kinh tế (trade openness)
Phản ánh mức độ giao thương và tầm quan trọng của giao dịch quốc tế liên quan đến giao dịch trong nước, được đo lường bởi tỷ số giữa tổng số thương mại (tức là tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ) so với tổng GDP của quốc gia:
Openness = (Export + Import) / GDP (Lê Thanh Tùng, 2014)[8] Đây là một chỉ số
phản ánh hợp lý của mức độ mở cửa của một nền kinh tế và là cơ sở quan trọng để đưa
ra quyết định đầu tư của các doanh nghiệp FDI Điển hình như ở Việt Nam, trong giai đoạn 2007–2008, khi nước ta hoàn tất gia nhập WTO, dòng vốn FDI đăng ký đã tăng rất mạnh (Năm 2006, tổng vốn FDI đăng ký tại Việt Nam chỉ khoảng 12 tỷ USD, nhưng đến năm 2007, con số này đã tăng vọt lên 21 tỷ USD)
2.2.2 Tăng trưởng kinh tế
Theo định nghĩa trong báo cáo “Tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế” của
Học Viện Tài Chính cho rằng: Tăng trưởng kinh tế là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở rộng qui mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định nhưng trong khuôn khổ giữ nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng
Trong một bài tập chí“Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội” tiến sĩ Bùi Đại
Dũng nhận định rằng: Tăng trưởng kinh tế được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian với thước đo phổ biến là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội trong một năm hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người trong một năm
Tóm lại, tăng trưởng kinh tế phản ánh quy mô tăng lên hay giảm xuống của nền kinh tế ở năm này so với những năm trước đó, thể hiện qua quy mô tăng trưởng (mức
độ tăng hay giảm) và tốc độ tăng trưởng (dùng để so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của cả nền kinh tế qua các năm, các giai đoạn,…) Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế
Lượng phát thải CO2 là một đại lượng chỉ tổng lượng khí phát thải nhà kính phát thải trực tiếp và gián tiếp từ một tổ chức, cá nhân, sự kiện hay một sản phẩm được quy
về lượng CO2 (Trương Thị Minh An và Kiều Thị Hòa, 2010)
Trang 192.3 Cơ sở lý thuyết
Trong một thế giới ngày càng hội nhập, việc giảm rào cản thương mại là quan
trọng và cần thiết Điều này đã dẫn đến lo ngại rằng các ngành công nghiệp “bẩn” sẽ di
dời đến các quốc gia đang phát triển, nơi có quy định về môi trường ít nghiêm ngặt hơn
Giả thuyết “nơi trú ẩn ô nhiễm” đề xuất rằng các nguồn FDI muốn vào các quốc gia
chậm tiến vì luật lệ và kiến thức về ô nhiễm còn thấp nên có khả năng tiết giảm chi phí
về khoản này Nhiều nghiên cứu sau đó được thực hiện để kiểm chứng giả thuyết này
Trong bài nghiên cứu David Wheeler và cộng sự (1998)[8] , tác giả nhận định rằng sự
dịch chuyển của ô nhiễm tới các nước đang phát triển không phải là một hiện tượng lớn
vì nhiều lý do Xu hướng hướng tới hình thành “nơi trú ẩn ô nhiễm” đã tự giới hạn vì
sự tăng trưởng kinh tế đã tạo ra được tác dụng đối kháng thông qua các luật lệ, quy định, chuyên môn kỹ thuật và đầu tư sản xuất sạch hơn Trong thực tế, các tác giả cho rằng
sự tồn tại của “nơi trú ẩn ô nhiễm” là rõ ràng nhưng chỉ là thoáng qua như “nơi trú ẩn
mức lương thấp” Beata và Shang-jin (2001) [9] nhận định rằng giả thuyết này phổ biến
nhờ tính hợp lý của nó nhưng không có tài liệu nào ủng hộ cả Matthew và Robert
(2005)[10] đã thực hiện các nghiên cứu thực nghiệm, tìm ra các bằng chứng chứng minh
sự tồn tại của “nơi trú ẩn ô nhiễm”, nhưng họ vẫn nhấn mạnh vai trò của nguồn vốn
đầu tư và mở cửa thương mại hơn và cho rằng về lâu dài, giả thuyết này sẽ không còn đúng Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về kinh tế môi trường thì giả thuyết đường cong
Kuznets về môi trường (EKC) (Kuznet, 1955)[7] trở nên rất phổ biến Đường cong EKC
thường được sử dụng để biểu thị mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường Nó dựa trên giả thuyết mối quan hệ chữ U ngược giữa sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người (GDP bình quân) và thước đo của chất lượng môi trường (thường là lượng phát thải CO2 bình quân) Hình dạng của đường cong được giải thích như sau: khi GDP bình quân đầu người tăng thì sẽ gây ra tác động xấu dẫn đến môi trường bị suy thoái; tuy nhiên, khi GDP tăng đến một ngưỡng nhất định nào đó, thì sẽ gây ra tác động tốt làm giảm suy thoái môi trường
Trang 20Hình 2.1: Đường cong Kuznets về môi trường
Nguồn: Bài nghiên cứu của Kuznets (1955)
Tuy nhiên cũng có nhiều lý thuyết khác nhau bàn luận việc đánh đổi về mối quan
hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường Lý thuyết giới hạn xem xét khả năng vi phạm ngưỡng môi trường trước khi nền kinh tế đạt tới điểm chuyển đổi EKC Nếu chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế để cải thiện môi trường có thể gây phản tác dụng Đặc biệt, chi phí để khắc phục thiệt hại và cải thiện chất lượng môi trường khi mà nền kinh tế đã vượt qua ngưỡng chuyển đổi có thể cao hơn đáng kể so với chi phí phòng ngừa thiệt hại hoặc thực hiện việc giảm nhẹ ô nhiễm trước đó Ví dụ, khi làm sạch dòng sông bị ô nhiễm, ngay từ đầu, chi phí để phòng tránh tình trạng ô nhiễm thấp hơn hẳn chi phí làm sạch phát sinh sau này Lý thuyết giới hạn định nghĩa mối quan hệ kinh tế - môi trường về khía cạnh thiệt hại môi trường khi chạm ngưỡng trên mà tại đó sự sản
xuất có ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế (Hình 2.2.a)
Một lý thuyết khác đặt vấn đề sự tồn tại của ngưỡng chuyển đổi, và xem xét khả
năng thiệt hại môi trường sẽ gia tăng khi nền kinh tế phát triển (Hình 2.2.b) Điều này tương tự với “quan điểm những chất độc hại mới”, khi mà sự phát thải chất gây ô nhiễm
hiện tại đang giảm xuống đi kèm với tăng trưởng kinh tế tăng cao, tuy nhiên, những chất gây ô nhiễm mới thay thế cho chúng lại tăng lên
Trang 21Stern (2004)[11] đề cập đến mối quan hệ có thể xa hơn giữa tăng trưởng kinh tế
và môi trường trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế Cạnh tranh quốc tế ban đầu làm gia tăng thiệt hại môi trường, đạt tới điểm mà các quốc gia phát triển bắt đầu giảm tác động
môi trường của họ đồng thời “thuê” các nước nghèo hơn thực hiện các hoạt động gây ô nhiễm Kết quả thực tế cho thấy tình trạng này không được cải thiện (Hình 2.2.c) Mô hình này còn được gọi là “cuộc đua xuống đáy”
Hình 2.2: Quan điểm đánh đổi trong mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
thiệt hại môi trường
Nguồn: Bài nghiên cứu số 2 “Tăng trưởng kinh tế và môi trường” - Chuỗi phân tích
và dẫn chứng của Defra (Bộ Môi trường, thực phẩm và các vấn đề nông thôn Vương
quốc Anh), 2010
2.4 Tổng quan các nghiên cứu tiền nghiệm
Tính đến năm 2016, trên thế giới vấn đề về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát thải
CO2 đã được nghiên cứu trên nhiều phương diện Nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và mức tiêu thụ năng lượng (trong đó biến thường được sử dụng để
đo lường là lượng phát thải CO2) như Ths.Trần Thị Tuấn Anh (2013), Getzner và cộng
sự (2003)[12], Akpan và Chuku (2011)[13], Maddison và Rehdanz (2008)[14], Saboori
và cộng sự (2011)[4],… Các nghiên cứu về mối quan hệ các chỉ tiêu kinh tế khác đến
lượng phát thải CO2 như Ths.Nguyễn Thị Kim Anh (2012), Nguyễn Thị Hoàng Oanh
(2014), Feng Liang (2008)[15], Tang và Tan (2014)[16], Ang (2007)[17],… Trong đó
hầu hết các bài nghiên cứu tập trung đánh giá mối quan hệ giữa các biến gồm: biến tăng trưởng kinh tế, lượng phát thải CO2 phối hợp với các biến khác như: giá cả năng lượng, FDI, mức độ tiêu thụ năng lượng bình quân, độ mở thương mại, năng suất lao động, tỷ trọng các ngành công nghiệp,…
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu đặt ra, nhóm tác giả tập trung vào 2 nhóm nghiên cứu chính, bao gồm:
Trang 22- Nhóm 1: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường;
- Nhóm 2: Mối quan hệ giữa độ mở thương mại và lượng phát thải CO2
2.4.1 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ô nhiễm môi trường
Đi tiên phong trong lĩnh vực này là nghiên cứu của Kuznet (1955)[7] đề xuất một
mối quan hệ hình chữ U ngược giữa tăng trưởng kinh tế (GDP thực tế bình quân đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu người) với chất lượng môi trường (thường sử dụng biến đại diện là lượng phát thải CO2, SO2 hoặc BOD) Lý thuyết đường cong môi trường Kuznet (EKC) chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế không phải là mối đe dọa bền vững đối với vấn đề ô nhiễm môi trường Rất nhiều nhà khoa học về sau đã tiến hành kiểm định
sự tồn tại của đường cong môi trường Kuznets thông qua các nghiên cứu thực nghiệm với những kết quả trái chiều Dưới đây nhóm tác giả xem lại một số bài nghiên cứu điển hình:
2.4.1.1 Nhóm bài nghiên cứu ủng hộ lý thuyết đường cong Kuznet
Giả thuyết của Kuznet được kiểm chứng và ủng hộ thông qua nhiều bài nghiên cứu cho từng quốc gia riêng lẻ trong một chuỗi thời gian Behnaz Saboori và cộng sự
(2012)[4] áp dụng phương pháp phân phối trễ ARDL kiểm tra mối quan hệ nhân quả
giữa tăng trưởng kinh tế và lượng phát thải CO2 ở Malaysia Sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 1980-2009, kết quả thực nghiệm cho thấy sự tồn tại của mối quan hệ lâu dài hình chữ U ngược giữa GDP và lượng phát thải CO2 khi biến phụ thuộc là lượng phát thải CO2.Cũng sử sụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ ARDL và kiểm định nhân quả Granger dựa trên mô hình vectơ điều chỉnh sai số (VECM), một số bài nghiên cứu
cho các quốc gia khác như Jalil và Mahmud (2009)[5] (Trung Quốc), Esteve và Tamarit (2012)[18] (Tây Ban Nha),… cho kết quả tương tự về sự tồn tại của đường cong môi
trường Kuznets
Đối với nhóm nghiên cứu tập trung về tác động của tăng trưởng kinh tế với ô nhiễm môi trường ở các quốc gia khác nhau, nhiều kết quả thực nghiệm cũng ủng hộ lý
thuyết đường cong môi trường Kuznets Nghiên cứu của Uddin và Wadud (2014)[19]
áp dụng mô hình vecto hiệu chỉnh sai số (VECM) đối với dữ liệu chuỗi thời gian từ năm 1971-2012 của 7 nước khối SAARC Nghiên cứu tìm thấy một mối quan hệ tích cực giữa tăng trưởng GDP và lượng phát thải CO2 trong dài hạn Tương tự, cũng tìm thấy
một mối quan hệ hình chữ U ngược trong nghiên cứu của Wang và cộng sự (2014) [20]
Phương pháp được tiến hành với kiểm định tính dừng, kiểm định đồng liên kết dữ liệu
Trang 23bảng và cuối cùng là ước lượng EKC Nghiên cứu là bằng chứng ủng hộ cho đường cong Kuznets đối với 94 nước ở Châu Á, Châu Mỹ và Châu Âu từ 1972-2003 Ngoài
ra, rất nhiều nghiên cứu thực cũng được tiến hành và củng cố cho giả thuyết này đối với
nhiều không gian địa lý khác nhau như: Grossman và Krueger (1994)[21], Shafik và Bandyopadhyay (1992)[22], Panayotou (1993)[23], Selden và Song (1994)[24],…
Những nghiên cứu này được thực hiện trên hơn 50 quốc gia khác nhau, và dữ liệu được cho là mang tính đại diện cho trình độ phát triền kinh tế khác nhau cũng như điều kiện
địa lý đa dạng (Bennett etal., 1985) [25]
2.4.1.2 Nhóm bài nghiên cứu không ủng hộ lý thuyết đường cong Kuznet
Tuy nhiên, cũng tồn tại song song nhiều nghiên cứu khác không ủng hộ lý thuyết đường cong Kuznets Bên cạnh nhóm bài nghiên cứu cho kết quả củng cố sự hiện diện
của đường cong EKC ở Trung Quốc như Song et.Al (2007)[26], Jalil và Mahmud (2009)[5], Zhang và Cheng (2009)[27],… Wang et.Al (2011)[28], mặt khác, chứng
minh một kết quả trái ngược với giả thuyết EKC ở Trung Quốc thông qua phân tích dữ
liệu bảng từ năm 1995-2007 Lis và Van Montfort (2007)[29] cũng bác bỏ lý thuyết
EKC từ năm 1970-2002 ở Thổ Nhĩ Kỳ, sử dụng mô hình sai số hiệu chỉnh ECM đề xuất bởi Engle và Granger cho các nghiên cứu về chuỗi thời gian nhiều chiều Nghiên cứu
của Niu và Li (2014)[30]thực hiện với 19 quốc gia thuộc nhóm G20 từ 1995-2010 áp
dụng mô hình tuyến tính cũng không tìm thấy bằng chứng cụ thể về sự tồn tại của đường cong Kuznets
Một số nghiên cứu khác còn phát hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và ô
nhiễm môi trường ở những dạng khác nhau Akbostanci (2008)[31] áp dụng đồng thời
dữ liệu chuỗi thời gian từ 1983-2003 và dữ liệu bảng từ 1992-2001 của 58 tỉnh ở Thổ Nhĩ Kỳ để kiểm tra giả thuyết EKC đối với sự phát thải khí CO2 Tác giả tìm ra mối quan hệ hình chữ N giữa mức thu nhập và lượng phát thải Tương tự, Akpan và Chuku
(2011)[13] cũng tìm thấy đường cong môi trường Kuznets là chữ N thay vì là hình chữ
U ngược như đã đề cập phía trên Nghiên cứu áp dụng mô hình phân phối trễ (ARDL),
dữ liệu chuỗi thời gian từ 1960-2008 với Nigeria Mặt khác, Wietze Lise (2005)[32]
phân tích phân li dữ liệu chuỗi thời gian của Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1980-2003 Kết quả chỉ ra mối liên hệ tuyến tính giữa GDP bình quân đầu người và lượng phát thải CO2
bình quân Những dạng mối quan hệ chữ N và tuyến tính này cho thấy tăng trưởng kinh
tế tác động đáng kể đến suy thoái môi trường ở các quốc gia này Do đó, chính phủ cần
Trang 24cân nhắc khi tiến hành các chính sách bảo vệ năng lượng và giảm thiểu phát thải cacbon
mà đi kèm với kiểm soát sự tăng trưởng kinh tế
Tóm lại, mặc dù có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm chứng minh sự tồn tại của đường cong EKC Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu này không cho thấy sự thống nhất Do đó ,việc nghiên cứu thêm về mối quan hệ này đối với nhóm nước đang phát triển ở ASEAN là cần thiết
ủng hộ EKC
2 Jalil và
Mahmud, 2009 1975-2005
ARDL, VECM
Trung Quốc
PCGDP, PCCO2
ủng hộ EKC
ủng hộ EKC
4
Uddin, Wadud
(2014) 1972-2012 VECM
7 nước khối SAARC
PCGDP, PCCO2
ủng hộ EKC
5
Song et Al
(2007) 1985-2005 OLS
Trung Quốc GDP, P
ủng hộ EKC
6
Zhang, Cheng
(2009) 1960-2007 VECM
Trung Quốc
GDP, EC, CO2
ủng hộ EKC
7
Wang và cộng
cự (2011) 1995-2007 VECM
Trung Quốc
GDP, EC, CO2
quan hệ chữ N
Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp
Trang 252.4.2 Mối quan hệ giữa độ mở thương mại và lượng phát thải CO 2
Rất nhiều bài nghiên cứu trước đây đã chỉ ra sự tồn tại mối quan hệ giữa độ mở thương mại nền kinh tế và lượng phát thải CO2 Jena và Grote (2008)[33]nghiên cứu
ảnh hưởng của độ mở thương mại và mức tiêu thụ năng lượng Nhóm tác giả áp dụng
mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hỉnh tác động cố định (FEM) để kiểm định
mô hình được phát triển bởi Antweiler et al (2001) Nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng của
mở cửa thương mại đến mức tiêu thụ năng lượng thông qua kích thích công nghiệp hóa
và các hiệu ứng về quy mô, hiệu quả kỹ thuật, hiệu ứng hỗn hợp và lợi thế cạnh tranh Cũng ủng hộ về sự tồn tại ảnh hưởng của độ mở thương mại đến lượng phát thải CO2,
Grossman và Krueger (1993)[21] kết hợp với Copeland và Taylor (2004)[34] nhận định
rằng độ mở thương mại nền kinh tế có thể tác động tích cực lẫn tiêu cực đến môi trường Nhóm tác giả xin trình bày một số nghiên cứu thực nghiệm cho các kết quả khác nhau,
cụ thể:
Nhiều nghiên cứu, cụ thể: Dedeoglu và Kaya (2013)[35], Ramesh Mohan (2007)[36], Sadorsky (2011)[3],… thể hiện hệ số tương quan dương giữa biến thể hiện
độ mở thương mại và biến phụ thuộc biểu thị lượng phát thải CO2 trong ngắn hạn Tương
tự, Cole (2006)[37] kiểm tra mối quan hệ giữa tự do thương mại và mức tiêu thụ năng
lượng thông qua mô hình tác động cố định (FEM) ở 32 quốc gia khác nhau Kết quả cho thấy tự do hóa thương mại thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, từ đó làm tăng nhu cầu tiêu thụ năng lượng Mặt khác tự do hóa thương mại là cơ sở kích thích nguồn vốn đầu tư, ảnh hưởng đến lượng năng lượng tiêu thụ Tương tự, nghiên cứu của Wahid và cộng sự
(2013)[38] cho Malaysia, Indonesia và Singapore thông qua mô hình VECM cũng tìm
thấy mối quan hệ ngắn hạn này ở Malaysia và Indonesia Điều này cho thấy, trong ngắn hạn, các nhà hoạch định chính sách cần cân nhắc việc tăng cường hoặc hạn chế thương mại quốc tế thông qua thuế, thuế quan và hạn ngạch để giảm lượng phát thải CO2 ở các quốc gia này
Ngược lại, Akin (2014)[39] nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế tiêu thụ
năng lượng và độ mở thương mại đến lượng phát thải CO2 cho 85 quốc gia từ
1990-2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nhân quả một chiều từ lượng phát thải
CO2 đến độ mở thương mại Đồng thời nghiên cứu cũng tìm thấy ảnh hưởng tích cực dài hạn từ GDP bình quân trên người, tiêu thụ năng lượng và độ mở thương mại đến
Trang 26lượng phát thải CO2 Điều này có nghĩa là mở rộng độ mở thương mại có thể giảm lượng phát thải CO2 trong dài hạn
Mặt khác, cho thấy đồng thời cả ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của độ mở thương mại, Nguyễn Thị Hoàng Oanh (2014) sử dụng dữ liệu bảng của 7 nước ASEAN, từ năm 1971-2012.Nghiên cứu dựa trên mô hình hai bước (ECM) để kiểm tra các mối quan hệ động trong ngắn hạn và dài hạn giữa các biến: độ mở kinh tế, lượng phát thải CO2 bình quân, GDP bình quân và mức năng lượng sử dụng bình quân đầu người Trong đó tác giả phát hiện mối quan hệ tiêu cực giữa độ mở kinh tế và tiêu thụ năng lượng bình quân trên người ở Việt Nam và Indonesia; đồng thời tồn tại ít nhất có 3 mối quan hệ tích cực
giữa 2 biến này trong các nước còn lại Nghiên cứu thực nghiệm của Sharma (2011)[40]
cũng cho các kết quả khác nhau khi áp dụng phương pháp ước lượng GMM cho 69 quốc gia với số liệu được chia thành 4 bảng: nhóm quốc gia có thu nhập thấp, nhóm quốc gia
có thu nhập cao, nhóm quốc gia có thu nhập trung bình và nhóm dữ liệu tổng thể Trong
đó, kết quả thực nghiệm của mỗi nhóm quốc gia có thu nhập thấp, trung bình, cao cho thấy hệ số tương quan âm giữa biến giải thích độ mở thương mại và biến phụ thuộc lượng phát thải CO2 Tuy nhiên, khi ước lượng cho nhóm dữ liệu tổng thể, nghiên cứu tìm ra hệ số tương quan dương giữa 2 biến này với mức ý nghĩa 1% Điều này cho thấy, trong mối quan hệ tổng thể nhiều quốc gia, việc tăng cường độ mở thương mại có ảnh hưởng tích cực đến giảm phát thải CO2
Narayan và Smyth (2009)[41] vận dụng phương pháp kiểm định nhân quả
Granger để kiểm tra mối quan hệ giữa độ mở kinh tế và lượng phát thải CO2 ở 6 nước vùng Trung Đông với dữ liệu chuỗi thời gian 1974-2004 Cũng tìm thấy sự tồn tại mối tương quan giữa hai biến này, tuy nhiên nhóm tác giả cho thấy độ mở thương mại nền kinh tế có tác động trung tính đến ô nhiễm môi trường
Tóm lại, mặc dù có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về ảnh hưởng độ mở thương mại nền kinh tế đối với lượng phát thải CO2, nhưng kết quả thực nghiệm chưa chỉ ra sự đồng nhất Do đó, nghiên cứu thêm về mối quan hệ này để làm cơ sở hoạch định chính sách cho các quốc gia đang phát triển ở ASEAN là cần thiết
Trang 27Bảng 2.2: Mối quan hệ giữa độ mở thương mại nền kinh tế và lượng phát thải CO 2
1 Nguyễn thị Hoàng
Oanh (2014) 1971-2012 FMOLS, DOLS
7 quốc gia asean
PCGDP, PCEC, PCCO2, PCOPEN
PCGDP ->
PCOPEN
PCCO2<-> PCOPEN PCOPEN<-> PCEC
2 Farhani, Chaibi và
Rault (2014) [6] 1971-2008 ARDL, VECM Tunisia
PCGDP, PCGDP2, PCEC,PCCO2, open
PCGDP, PCGDP2, EC -> CO2
PCGDP, PCGDP2,
EC, T -> CO2 PCGDP, PCGDP2,
CO2,
3 Akin (2014) [39] 1990-2011
Panel cointegration, ECM, DOLS và FMOLS
85 quốc gia PCGDP, PCCO2,
PGDP, PCO2
Trang 28STT Tác giả Giai đoạn Phương pháp Quốc gia Tên biến Kết quả
5 Sharma (2011)[40] 1985-2005 GMM 69 quốc gia
PCCO2,OPEN, PCGDP, PCEC, URB
15 quốc gia Châu Á
PCEC, PCGDP, OPEN, ENEY PRICE(tính theo giá dầu Dubai, đơn vị đô la)
ả Rập thống nhất
FDI, OPEN, GDP, CO2 clean energy OPEN (-) OPEN (-)
Trang 29STT Tác giả Giai đoạn Phương pháp Quốc gia Tên biến Kết quả
9
Shunsuke Managi,
Akira Hibiki,Tetsyua
sturumi (2009) [45]
1973-2000 (CO2+SO2 Emission) 1980-2000 (BOD emission)
GMM, fixed effect
OLS
một số nước thuộc OECD
CO2, SO2, BOD, OPEN, PCGPD,
LK
OPEN (-) OPEN (-)
10 Cole (2006)[37] 1975-1995 fixed effect OLS
32 quốc gia đang phát triển và đã phát triển
11 Jena, Grote (2008)
[33]
GDP, URB, OPEN, LK, EC và các biến khác
12 Narayan, Smyth
2009[41] 1974-2002 FMOLS, VAR
6 quốc gia Trung Đông OPEN, EL, GDP *
chứng minh tồn tại mối quan hệ giữa các biến
Trang 30STT Tác giả Giai đoạn Phương pháp Quốc gia Tên biến Kết quả
Ngắn hạn Dài hạn
13 Wahid và cộng sự
(2013) [38] 1975-2011 VECM
Malaysia, Indonesia
và Singapore
PCCO2, OPEN, PCGDP, PCEC,và các biến khác
14 Dedeoglu, Kaya
(2013) [35] 1980-2010
VECM, FMOLS, DOLS,ADF, PP
25 nước thuộc OECD
(+): OPEN làm tăng phát thải CO2 PCO2, PCCO2, CO2: Biến thể hiện lượng phát thải CO2
0: OPEN không làm thay đổi phát thải CO2 PGDP, PCGDP, GDP: Biến thể hiện mực thu nhập bình quân
*: Không được đề cập trong bài tham khảo PCEC, EC: Biến thể hiện mức tiêu thụ năng lượng LK: Biến thể hiện năng suất lao động trên đầu người EL: Biến thể hiện mức tiêu thụ điện
URB: Biến thể hiện mức độ đô thị hóa SO2: Biến thể hiện lượng phát thải SO2 BOD: Biến thể hiện lượng các chất thải hữu cơ trong nước có
thể bị phân huỷ bằng các vi sinh vật
FDI: Biến thể hiện vốn đầu tư nước ngoài
Trang 312.5 Khung phân tích
Trên cơ sở lược khảo lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, sơ
đồ 2.1 thể hiện khung phân tích mà tác giả đề xuất để nghiên cứu
Sơ đồ 2.1: Khung phân tích
Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp
Dựa trên khung phân tích, nhóm tác giả nhận thấy nhìn chung chưa khẳng định được tác động của độ mở thương mại và thu nhập bình quân đối với lượng phát thải Một mặt, độ mở thương mại có thể làm giảm phát thải ô nhiễm thông qua lan tỏa công nghệ cao vào các nước đang phát triển Đồng thời, tăng cường mở rộng thương mại quốc
Trang 32tế làm tăng quy mô nền kinh tế Mặc dù việc làm tăng quy mô nền kinh tế chưa được xác định rõ ràng đến khả năng tác động đến lượng phát thải ô nhiễm nhưng hoạt động này có tác động tích cực đến trình độ sản xuất các quốc gia được tiếp nhận đầu tư và từ
đó làm giảm bớt lượng ô nhiễm Mặt khác mức thu nhập bình quân được kỳ vọng ủng
hộ lý thuyết đường cong Kuznet Điều này có nghĩa, ở các nước đang phát triển của ASEAN, mức thu nhập bình quân sẽ làm tăng lượng phát thải trong thời gian đầu nhưng khi vượt qua ngưỡng nhất định thì lương phát thải CO2 sẽ giảm xuống
Trang 34CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung chương 3 sẽ trình bày mô hình bài nghiên cứu sử dụng để nghiên cứu cách thức đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu, nguồn dữ liệu sử dụng, phương pháp ước lượng mô hình và quy trình thực hiện nghiên cứu
3.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
3.1.1 Mô hình nghiên cứu
Mô hình kiểm tra tác động của mức thu nhập bình quân đầu người, độ mở thương mại, độ đô thị hóa và mức sử dụng năng lượng đến lương phát thải CO2 ở 69 quốc gia trên thế giới (trong đó có 28 quốc gia có mức thu nhập cao, 27 quốc gia có mức thu nhập trung bình và 14 quốc gia có thu nhập thấp) trong khoảng thời gian 1985-2005
Mô hình của Susan sunila Sharma:
Trong đó:
β 0 là hệ số chặn của mô hình, β1→4 là hệ số ước lượng của các biến độc lập, uit là
sai số ở quốc gia i và thời điểm t;
CO 2 là biến phụ thuộc phản ánh lượng phát thải CO2 bình quân đầu người;
T là biến độc lập thể hiện độ mở thương mại của nền kinh tế;
Y là biến độc lập thể hiện mức thu nhập bình quân đầu người;
U là biến độc lập thể hiện mức độ đô thị hóa;
E là biến độc lập thể hiện mức độ sử dụng năng lượng
Mô hình nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi các quốc gia thuộc GCC (Gulf Cooperation Council bao gồm Bahrain, Kuwait, Oman, Qatar, Saudi Arabia và United Arab Emirates thuộc khu vực Tây Nam Á) trong khoảng thời gian 1980-2009 và các quốc gia có đặc điểm là có trữ lượng dầu mỏ lớn và các quốc gia phát triển nhưng lại là nơi có mức độ phát thải CO2 lớn
Mô hình của tác giả Al-mulali và Tang:
Trong đó:
β 0 là hệ số chặn của mô hình, β1→3 là hệ số ước lượng của các biến độc lập, u it là
sai số của đối tượng i ở thời điểm t;
Trang 35CO 2 là biến phụ thuộc phản ánh lượng phát thải CO2 bình quân và được lấy logarit tự nhiên;
FDI là biến độc lập phản ánh mức đầu tư thực từ nước ngoài được lấy logarit tự
nhiên;
EC là biến độc lập phản ánh mức độ tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người
được lấy logarit tư nhiên;
GDP là biến độc lập phản ánh mức thu nhập bình quân đầu người thực được lấy
Trang 36Bảng 3.1: Ưu nhược điểm của hai mô hình so với định hướng nghiên cứu của
- Sử dụng mẫu nghiên cứu dạng bảng phạm vi tương đối rộng trên các quốc gia GCC kết hợp chuỗi thời gian
- Làm mềm số liệu bằng các lấy logarit để hạn chế sự chênh lệch giữa các dữ liệu ở những biến khác nhau, hệ số hồi quy sẽ không bị hút vào các biến có dữ liệu lớn, giảm phương sai trong quá trình hồi quy
Nhược điểm
- Sử dụng số liệu không lấy logarit tự nhiên nên dữ liệu lớn và khó đồng nhất dẫn đến phương sai
sẽ lớn và khó thấy được xu hướng
và ý nghĩa vì các tỉ lệ hệ số chênh lệch cao
- Cần sử dụng các mô hình lớn để
có thể thấy được tính tổng thể trong mẫu
- Chưa kiểm định được giả thuyết EKC
- Không đồng nhất với mục tiêu nghiên cứu của nhóm tác giả
- Chưa kiểm định được giả thuyết EKC
quốc gia i vào năm t tương ứng và được lấy logarit tự nhiên Lượng phát thải CO2 được
Trang 37dùng để đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường bởi đây là loại khí phát thải phát sinh trong hầu hết các quá trình sản xuất và CO2 đóng một vai trò quan trọng vào quá trình biến đổi khí hậu của trái đất (hiệu ứng nhà kính) Ngoài ra, kết quả lược khảo sát nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các tác giả cũng thường sử dụng chỉ tiêu này để phản ánh cho
tình trạng ô nhiễm môi trường không khí ở các quốc gia theo các tác giả như Tang và tan (2015)[16], Copeland và Taylor (2004)[34], Narayan và Smyth (2009)[41], Wahid
và cộng sự (2013)[38], Dedeoglu và Kaya (2013)[35], Sadorsky (2011)[3]
Các biến giải thích trong mô hình gồm:
ứng và được lấy logaric tự nhiên Biến lnGDP 2 là mức thu nhập bình quân bình phương
và được lấy logarit tự nhiên Dựa trên giả thuyết đường cong EKC (Kuznet, 1955)[7]
cho thấy rằng giai đoạn đầu của quá trình tăng trưởng, phát thải ô nhiễm trong các nền kinh tế sẽ tăng dần cho đến khi đạt một ngưỡng giới hạn nào đó thì lượng phát thải ô nhiễm bắt đầu giảm xuống do sự tiến bộ của khoa học công nghệ và kỹ thuật hiện đại cũng như những tiêu chuẩn ngày càng cao hơn về bảo vệ môi trường sống của con người được đưa ra Bên cạnh đó, nhiều kết quả nghiên cứu thực nghiệm cũng đã ủng hộ cho giả thuyết này là mối quan hệ giữa mức thu nhập GDP và lượng phát thải CO2 theo hình
chữ U ngược theo các tác giả như Kuznet (1995)[7], Behnaz Saboori và cộng sự (2012)[4], Jalil và Mahmud (2009)[5], Esteve và Tamarit (2012)[18], Uddin và Wadud (2014)[19], Song et Al (2007)[26], Zhang và Cheng (2009)[27] nên bài nghiên cứu đã
sử dụng hai biến lnGDP và lnGDP 2 để giải thích cho lượng phát thải ô nhiễm ở các
quốc gia đang phát triển ở khu vực Đông Nam Á
lnEI it là biến độ mở thương mại của nền kinh tế (Trade Openess) ở quốc gia i
vào thời gian t tương ứng và được lấy logaric tự nhiên Chỉ tiêu này được đo bằng dữ liệu thứ cấp bằng cách tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chia cho giá trị của tổng sản phẩm trong nước trong thời kỳ đó Độ mở thương mại có tác động không nhỏ đến lượng phát thải CO2 ở các quốc gia theo các tác giả như Nguyễn thị Hoàng Oanh (2014),
Farhani, Chaibi và Rault (2014)[6], Akin (2014)[39], Chebbi et al (2009)[42], Sharma (2011)[40], Ramesh Mohan (2007)[36], Samia Nasreen và Sofia Anwar (2014)[43], Rashid Sbia và Muhammad Shahbaz (2013)[44], Shunsuke Managi, Akira Hibiki và Tetsyua sturumi (2009)[45]
Trang 383.1.2 Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lược khảo các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, nhóm tác giả đề xuất các giả thuyết nghiên cứu như sau:
Giả thuyết 1: Khi mức thu nhập bình quân đầu người tăng sẽ kéo theo sự gia
tăng lượng phát thải CO2, tuy nhiên sau đó lượng phát thải CO2 sẽ bắt đầu giảm khi đạt
đến một ngưỡng nào đó nên giá trị của hệ số β1 được kỳ vọng mang dấu dương trong khi β2 được kỳ vọng mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê
Giả thuyết 2: Độ mở thương mại của nền kinh tế của các quốc gia trong mẫu
nghiên cứu sẽ tác động dương đến sự phát thải CO2 ở các quốc gia tương ứng và β3 được
kỳ vọng mang dấu dương và có ý nghĩa thống kê
3.2 Dữ liệu nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp được trích xuất thì
http://data.worldbank.org/ của WB để đo lường các biến số trong mô hình nghiên
cứu Kết quả thu thập dữ liệu cho thấy nghiên cứu được tiến hành dựa trên dữ liệu của
7 quốc gia đang phát triên trong khu vực Đông Nam Á trong gia đoạn 1975-2011 bao
gồm Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Việt Nam, Lào và Campuchia Do dữ liệu nghiên cứu thu thập ở nhiều quốc gia khác nhau trong khoảng thời gian 1975-2011
và một số quốc gia không có đầy đủ thông tin về các biến trong suốt thời gian nghiên
Trang 39cứu nên dữ liệu ở dạng bảng không cân bằng Tổng số quan sát trong mẫu nghiên cứu
là 198 quan sát
Bảng 3.2 dưới đây sẽ trình bày cụ thể các quốc gia trong mẫu nghiên cứu cũng như số quan sát của mỗi quốc gia trong mẫu nghiên cứu
Bảng 3.3: Các quốc gia trong mẫu nghiên cứu
Theo Gujariti (1995), việc sử dụng dữ liệu bảng để phân tích có một số ưu điểm
so với dữ liệu chéo hoặc dữ liệu chuỗi thời gian như:
- Dữ liệu bảng xem thông tin của các quốc gia trong thời gian nhiều năm nên
sẽ có tính không đồng nhất trong các đơn vị này Các kỹ thuật dựa trên dữ liệu bảng có thể tính đến tính không đồng nhất này một cách rõ ràng;
- Bằng cách kết hợp chuỗi thời gian của các quan sát chéo, dữ liệu bảng chứa đựng được nhiều thông tin hơn, tính biến thiên nhiều hơn, giảm được hiện tượng đa cộng tuyến, tăng bậc tự do và đạt được tính hiệu quả cao hơn;
- Việc nghiên cứu lặp lại nhiều lần các quan sát dữ liệu chéo thời gian, dữ liệu bảng sẽ phù hợp trong quá trình nghiên cứu sự năng động của các thay đổi theo thời gian của nhiều đối tượng khác nhau;
- Dữ liệu chéo hay dữ liệu chuỗi thời gian thuần túy sẽ không thể quan sát hết được những đo lường tác động mà dữ liệu bảng đem lại, giúp cho nghiên cứu các mô hình phức tạp hơn;
- Việc kết hợp các yếu tố không gian và thời gian sẽ giúp cho số quan sát tăng lên đáng kể, làm giảm các sai số ngẫu nhiên có thể xảy ra trong việc phân tích các mô hình
Trang 403.3 Phương pháp phân tích dữ liệu
Với sự hỗ trợ của phần mềm Stata, nhóm tác giả đã tiến hành các bước xử lý sau
đây để giải quyết mục tiêu quan trọng của nghiên cứu là ước lượng tác động của độ mở thương mại đến lượng phát thải ô nhiễm ở các quốc gia đang phát triển thuộc khu vực Đông Nam Á
Bước 1: Mã hóa dữ liệu thu thập được, tiến hành sàng lọc, loại bỏ các nghiên
cứu bị khiếm khuyết hoặc tồn tại giá trị di biệt để có được một mẫu nghiên cứu bao gồm các quan sát ít sai biệt với nhau
Bước 2: Thực hiện thống kê mô tả để biết được khuynh hướng trung tâm, độ
phân tán, hình dạng,… của dữ liệu thu thập được
Bước 3: Các tiếp cận đơn giản để ước lượng cho dữ liệu bảng là bỏ quan bình
diện không gian lẫn thời gian của dữ liệu và chỉ cần sử dụng hồi quy OLS thông thường (Pooled OLS) để ước lượng Tuy nhiên việc bỏ qua không gian và thời gian dường như
là những giả định vô cùng hạn chế nên mô hình các ảnh hưởng cố định FEM (Fixed Effects Model) và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên REM (Random Effects Model) được
sử dụng để giải quyết các vấn đề trên
Giả sử mẫu quan sát bao gồm n quốc gia, trong t năm, như vậy dữ liệu bảng sẽ bao gồm n*t quan sát Phương trình hồi quy tổng quát có dạng: