LỜI MỞ ĐẦU 1. Tầm quan trọng của đề tài Thực tiễn thế giới trong những thập kỷ qua và trong các thập kỷ tới đã, đang và sẽ thay đổi một cách nhanh chóng, mà người Trung Quốc gọi là thời kỳ đại biến động. Tuy nhiên, tư duy của con người đã không thay đổi kịp, tạo ra một độ trễ, thậm chí là tụt hậu. Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng. Triết học là một khoa học đã có từ lâu đời. Ở mỗi thời kỳ, Triết học được phát triển qua nhiều trường phái khác nhau với nhiều quan điểm khác nhau tại các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Ngày nay, Triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất kì hình thái kinh tế nào. Những vấn đề Triết học về lý luận
Trang 1"…một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận"
C.Mác và Ph.Ăngghen:Toàn tập,tập 20, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.489
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của cả nhóm 1, chúng em đãnhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ, động viên từ phía gia đình, các cá nhân đoànthể trong và ngoài trường
Trước hết chúng em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới các thầy côgiáo và Ban giám hiệu trường Đại học Thương mại đã giúp em định hướng đúng đắntrong học tập và tu dưỡng đạo đức trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt chúng em xin gửi lời cảm ơn, lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên PGS.TSPhương Kỳ Sơn – người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng em trong quá trình hoànthành đề tài này
Cuối cùng em xin kính chúc thầy và các bạn lớp CH22B - KT luôn dồi dào sứckhỏe và thành công trong công việc
Là công trình nghiên cứu đầu tay, do điều kiện còn hạn chế về kiến thức cũng nhưtài liệu nên khó tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết Vì vậy, chúng em rất mongnhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo và các bạn để nội dung của đề tài nàyđược hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2016
Nhóm 1, Lớp CH22B - KT
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan:
1 Những nội dung trong đề tài này là do chúng em thực hiện dưới sự hướng dẫncủa giảng viên PGS.TS Phương Kỳ Sơn
2 Các kiến thức thu được là do chúng em trực tiếp theo dõi, thu thập với một thái
độ hoàn toàn khách quan trung thực
3 Toàn bộ nội dung đề tài là do chúng em tự xây dựng và nghiên cứu có sự thamkhảo các tài liệu liên quan, không sao chép toàn bộ từ bất kỳ bài nghiên cứu nàotương tự
Hà Nội, ngày 06 tháng 12 năm 2016
Nhóm 1, Lớp CH22B - KT
Trang 4
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tầm quan trọng của đề tài
Thực tiễn thế giới trong những thập kỷ qua và trong các thập kỷ tới đã, đang và sẽthay đổi một cách nhanh chóng, mà người Trung Quốc gọi là thời kỳ đại biến động.Tuy nhiên, tư duy của con người đã không thay đổi kịp, tạo ra một độ trễ, thậm chí làtụt hậu Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vậnhành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủnghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, bài học tôn trọng khách quan và đổi mới
tư duy, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đốitượng
Triết học là một khoa học đã có từ lâu đời Ở mỗi thời kỳ, Triết học được pháttriển qua nhiều trường phái khác nhau với nhiều quan điểm khác nhau tại các quốc gia
và vùng lãnh thổ trên thế giới Ngày nay, Triết học là một bộ phận không thể tách rờivới sự phát triển của bất kì hình thái kinh tế nào Những vấn đề Triết học về lý luậnnhận thức và thực tiễn, bài học tôn trọng khách quan và đổi mới tư duy,…luôn là cơ sở,
là phương hướng cho xây dựng và phát triển xã hội, kinh tế, là tôn chỉ cho hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Nếu xuất phát từ một lập trường Triết học đúng đắn,doanh nghiệp có thể có được cách giải quyết phù hợp với các vấn đề do thị trường đặtra
Khác với các nước Đông Âu và Liên Xô, ở Việt Nam nhu cầu đổi mới các chínhsách là xuất phát từ chính lĩnh vực kinh tế, chứ không phải hệ quả của những biến độngchính trị Vì thế, muốn phát triển thì các doanh nghiệp không thể không đổi mới tư duy
và phải đổi mới tư duy làm sao để áp dụng vào doanh nghiệp đạt hiệu quả cao Giảiquyết được vấn đề giữa lý luận và thực tiễn, giữa sáng tạo và hiện thực sẽ là cơ sở đểnghiên cứu về mối liên hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới tư duy Một khi doanhnghiệp có thể thấy rõ, hiểu rõ vấn đề này thì không những doanh nghiệp sẽ có một cáinhìn tổng quát về việc phát triển doanh nghiệp mà còn có thể kết hợp giữa đổi mới tưduy và đổi mới kinh doanh để làm cho sự phát triển của doanh nghiệp có những bướcnhày vọt
Trang 5Nhận thức được tầm quan trọng của bài học đổi mới tư duy và việc vận dụng bàihọc này vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và vị trí công tác củatừng tác giả nói riêng, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài " Bài học đổi mới tư duy, vận dụng bài học vào vị trí công tác của mình" để làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở lý luận về bài học đôi mới tư duy, các tác gia biết vận dụng bài họcnày vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và vận dụng bài học vàotừng vị trí công tác của từng tác giả, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanhnghiêp cũng như nâng cao hiệu của công việc của bản thân
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về vật chất, ý thức và nội dung bài học đổimới tư duy
- Vận dụng bài học đổi mới tư duy vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
và từng vị trí công tác để đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp
Bài thảo luận gồm hai phần chính:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bài học đổi mới tư duy
Chương 2: Vận dụng bài học đổi mới tư duy vào hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp
4 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
- Về lý luận: Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận về bài học đổi mới tư duybao gồm phạm trù vật chất, ý thức, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, nội dung bàihọc đổi mới tư duy
- Về thực tiễn: Nghiên cứu đề tài này làm cơ sở khoa học cho các cá nhân, tổchức, doanh nghiệp ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp nói chung cũng như nâng cao hiệu quả công tác của các tác giả tham gianghiên cứu nói riêng
Trang 6CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÀI HỌC ĐỔI MỚI
TƯ DUY1.1 Vật chất và ý thức.
1.1.1 Vật chất
1.1.1.1 Phạm trù vật chất
Vật chất là phạm trù triết học phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau về nó.V.I.Lênin đã khẳng định bản chất vật chất của thế giới và đưa ra định nghĩa kinh điển
về vật chất như sau: “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản anh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Theo định nghĩa của Leenin về vật chất:
Thứ nhất, cần phân biệt khái niệm vật chất với tư cách là phạm trù triết học (tứcphạm trù khái quát thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vật chất vàđược xác định từ góc độ giải quyết vấn đề cơ bản của triết học) với khái niệm vật chấtđược sử dụng trong các khoa học chuyên ngành (tức khái niệm dùng để chỉ những dạngvật chất cụ thể, cảm tính; những biểu hiện cụ thể của thế giới vật chất tự nhiên hay xãhội)
Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất của mọi tồn tại vật chất được khái quát trongphạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng là thuộc tính tồn tại khách quan,tức là tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người
Thứ ba, vật chất là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp haygián tiếp tác động đến giác quan của con người; ý thức của con người là sự phản ánhđối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh
1.1.1.2 Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
a Vận động là phương thức tồn tại của vật chất
Ăngghen định nghĩa “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất – tức được hiểu làmột phương thức tồn tại vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất
cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơngiản cho đến tư duy”
Trang 7Dựa trên thành tựu khoa học ở thời đại mình, Ăngghen đã phân chia vận độngthành 5 hình thức vận động cơ bản là vận động cơ giới (sự di chuyển vị trí của các vậtthể trong không gian); vận động vật lý (vận động của các phân tử, điện tử, các hạt cơbản, các quá trình nhiệt, điện…); vận động hóa (sự biến đổi các chất vô cơ, hữu cơtrong những quá trình hóa hợp và phân giải); vận động sinh vật (sự biến đổi của các cơthể sống, biến thái cấu trúc gen…); vận động xã hội (sự biến đổi trong các lĩnh vựckinh tế, chính trị, văn hóa, đời sống xã hội,…).
b Không gian và thời gian cũng là những phạm trù đặc trưng cho phương thứctồn tại của vật chất
Ăngghen viết: "Các hình thức cơ bản của mọi tồn tại là không gian và thời gian;tồn tại ngoài thời gian thì hết sức vô lý như tồn tại ở ngoài không gian." TheoĂngghen thì không gian và thời gian gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau và cả hai đều làthuộc tính cố hữu của vật chất Không thể có vật chất nào tồn tại bên ngoài không gian
và thời gian, cũng như không thể có không gian, thời gian nào tồn tại bên ngoài vậtchất Lênin cũng đã nhận xét rằng: "Trong thế giới, không có gì ngoài vật chất đangvận động và vật chất đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian vàthời gian"
Không gian và thời gian có những tính chất của vật chất, đó là tính khách quan;tính vĩnh cửu và vô tận; tính ba chiều của không gian và tính một chiều của thời gian
1.1.2 Ý thức
1.1.2.1 Khái niệm về ý thức
Ý thức là sự phản ánh của bộ óc con người đối với thế giới vật chất khách quan,
là tổng hòa các quá trình tâm lý như cảm giác, tư duy…cũng là hạt nhân để con ngườinhận thức về mình cũng như về thế giới Nói cách khác, ý thức là sự phản ánh thế giớivật chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo
Trang 8trong đó thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người, từ đó tạo ra khả năng hìnhthành ý thức của cong người về thế giới khách quan.
- Nguồn gốc xã hội của ý thức: có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc xã hội của ýthức nhưng trong đó cơ bản nhất và trưc tiếp nhất là nhân tố lao động và ngôn ngữ.+ Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tựnhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người Trong quátrình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm thế giới bộc lộ nhữngquy luật của nó và biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thểquan sát được Những hiện tượng ấy thông qua hoạt động của các giác quan, tác độngvào bộ óc con người, tạo ra khả năng hình thành nên tri thức nói riêng và ý thức nóichung
+ Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ýthức Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và pháttriển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội Ý thức là sự phản ánh hiện thực kháchquan vào trong bộ óc người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Ýthức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội
Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội Sự ra đời và tồn tại của
ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự cho phối của các quy luật tự nhiên và
xã hội, được quy định bởi nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiệnthwck của đời sống xã hội
b Kết cấu của ý thức
Ý thức có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều thành tố có quan hệ với nhau Tùytheo cách tiếp cận mà có thể phân tích kết cấu đó theo các tiêu thức khác nhau Có thểphân tích cấu trúc đó theo hai chiều dưới đây:
Trang 9Thứ nhất, theo chiều ngang: ý thức bao gồm các yếu tố cấu thành như tri thức,tình cảm, niềm tin, lí trí, ý chí…trong đó tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi.
Thứ hai, theo chiều dọc: ý thức bao gồm các yếu tố như tự ý thức, tiềm thức, vôthức…Tất cả những yếu tố đó cũng với những yếu tố khác quy định tính chất phongphú, phức tạp trong thế giới tinh thần và hoạt động tinh thần của con người
1.1.3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1.1.3.1 Vai trò của vật chất đối với ý thức
Trong mối quan hệ với ý thức, vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vậtchất là nguồn gốc của ý thức, vật chất quyết định ý thức, ý thức là sự phản ánh đối vớivật chất
Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉkhi có con người mới có ý thức Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật
Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉkhi có con người mới có ý thức Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vậtchất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sảnphẩm của thế giới vật chất Kết luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển hết sứclâu dài của khoa học về giới tự nhiên; nó là một bằng chứng khoa học chứng minhquan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ ócngười, thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh, laođộng, ngôn ngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc lànhững dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ánh, lao động, ngônngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chấtnên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất Sự vận động và phát triển của ýthức, hình thức biểu hiện của ý thức bị quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự tácđộng của môi trường sống quyết định Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nênvật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũngnhư mọi sự biến đổi của ý thức
1.1.3.2 Vai trò của ý thức đối với vật chất
Trang 10Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông quahoạt động thực tiễn của con người.
Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đén vai trò của ý thức là nói đến vaitrò của con người Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiệnthực Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất.Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý thứckhông phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con ngườitri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề raphương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phươngtiện…để thực hiện mục tiêu của mình Ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mìnhđối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng; tích cựchoặc tiêu cực Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cáchmạng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luậtkhách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thựchiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo – đó là sự tác động tích cực của ý thức;còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chấtquy luật khách quan thì ngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lạicác quy luật khách quan, hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đối với hoạt động thựctiễn, đối với hiện thực khách quan
Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thểquyết định hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai,thành công hay thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả
Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất,của ý thức có thể thấy: Vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khảnăng sáng tạo của ý thức, là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khảnăng tác động trở lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông quahoạt động thực tiễn (hoạt động vật chất) của con người Sức mạnh của ý thức trong sựtác động này phụ thuộc vào trình độ phản ánh của ý thức, mức độ thâm nhập của ý thứcvào những người hành động, trình độ tổ chức của con người và những điều kiện vậtchất, hoàn cảnh vật chất, trong đó con người hành động theo định hướng của ý thức
Trang 111.2 Nội dung bài học đổi mới tư duy
1.2.1 Tư duy
1.2.1.1 Khái niệm tư duy
Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đemnhững cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất,làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật và ứng xử tích cực với nó
1.2.1.2 Quá trình hình thành tư duy
Tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất xã hội của con người Trong quá trình
đó, con người so sánh các thông tin, dữ liệu thu được từ nhận thức cảm tính hoặc các ýnghĩ với nhau Trải qua các quá trình khái quát hóa và trừu tượng hóa, phân tích vàtổng hợp để rút ra các khái niệm, phán đoán, giả thuyết, lý luận.v.v Kết quả của quátrình tư duy bao giờ cũng là sự phản ánh khái quát các thuộc tính, các mối liên hệ cơbản, phổ biến, các quy luật không chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở một nhóm sự vậtnhất định Vì vậy, tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức
đã nắm được từ trước
Tư duy bắt nguồn từ hoạt động tâm lý Hoạt động này gắn liền với phản xạ sinh lý
là hoạt động đặc trưng của hệ thần kinh cao cấp Hoạt động đó diễn ra ở các động vậtcấp cao, đặc biệt biểu hiện rõ ở thú linh trưởng và ở người Nhưng tư duy với tư cách làhoạt động tâm lý bậc cao nhất thì chỉ có ở con người và là kết quả của quá trình laođộng sáng tạo của con người
1.2.1.3 Đặc điểm của tư duy
Tư duy là năng lực bản chất của con người
Tư duy, trên thực tế là năng lực bản chất của con người Đỉnh cao của nó lànăng lực nhận thức lý tính, trừu tượng, cái cho phép khái quát hoá mọi nhận biết kháccủa con người về sự vật, hiện tượng, quá trình
Trang 12 Tư duy phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan
Tư duy là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan Tư duy phảiđược biểu đạt thành ngôn ngữ Do đó, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy Tư duy
có tính năng động, sáng tạo, nó có thể phản ánh được mối liên hệ bản chất bên trongcủa sự vật Nhận thức lý tính hay tư duy được thể hiện ở các hình thức như khái niệm,phán đoán và suy lý
Tư duy là năng lực sáng tạo tinh thần
Tư duy không chỉ là năng lực phản ánh tinh thần mà còn là năng lực sáng tạotinh thần Nói chính xác hơn, bản chất đặc thù của tư duy là sự thống nhất của hai mặtmâu thuẫn: phản ánh tinh thần và sáng tạo tinh thần
1.2.1.4 Vai trò của tư duy
Theo cách hiểu thông thường, tư duy là hình thức phản ánh cao nhất hiện thựckhách quan vào bộ óc con người Nhưng tư duy còn có nhiệm vụ góp phần cải tạo thựctại khách quan Tuy nhiên ở đây cần có sự phân biệt về chất giữa trực quan sinh động
và tư duy trừu tượng Trực quan sinh động chỉ là giai đoạn thấp của quá trình nhậnthức, thực chất là quá trình nhận thức cảm tính, dựa trên cơ sở hoạt động sinh, tâm lýcủa các giác quan như mắt (thấy), tai (nghe)… Còn tư duy trừu tượng là giai đoạn caocủa quá trình nhận thức, thực chất là quá trình nhận thức lý tính, bằng các hình thứcnhư khái niệm, phán đoán và suy lý mà phản ánh được những thuộc tính, quan hệchung, phổ biến, cơ bản, tất yếu của các sự vật hiện tượng
1.2.2 Nội dung bài học đổi mới tư duy
Một trong những nội dung hết sức quan trọng của đổi mới tư duy là đổi mớicách thức nhận thức hiện thực nhất là khi hiện thực vận động ngày càng phức tạp Tưduy mới cho phép ta khám phá bản chất, thực chất của các hiện tượng mới và cũ đangtồn tại và phát huy tác dụng trong đời sống
Đổi mới tư duy là phát huy tính năng động chủ quan, phát huy vai trò tích cực,năng động, sáng tạo của ý thức và phát huy vai trò nhân tố con người trong việc vật
Trang 13chất hóa tính tích cực, năng động, sáng tạo ấy Điều này đòi hỏi con người phải tôntrọng tri thức khoa học, tích cực học tập, nghiên cứu để làm chủ tri thức khoa học vàtruyền bá nó vào quần chúng để nó trở thành tri thức, niềm tin của quần chúng, hướngdẫn quần chúng hành động Mặt khác, phải tự giác tu dưỡng, rèn luyện để hình thành,củng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm, nghị lực cách mạng để có sự thống nhấthữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng hành động.
Thực tiễn là cơ sở và mục đích của nhận thức Đối với phép biện chứng duy vậtthì thực tiễn là một quá trình mà trong đó, toàn bộ hoạt động vật chất của con ngườigắn liền với quan điểm phát triển Chính thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm nghiệm quá trìnhđổi mới tư duy
Đổi mới tư duy là một quá trình liên tục có tính quy luật nhằm khắc phục sự trìtrệ trong nhận thức, tư tưởng Đổi mới tư duy sẽ góp phần khắc phục tình trạng trì trệ
và lạc hậu về nhận thức lý tuận Kiến thức khoa học thực sự trở thành cơ sở, nền tảngcần thiết cho công cuộc đổi mới tư duy Không có tri thức khoa học mới thì không có
tư duy mới Kiến thức cũ, muốn hay không cũng là tư duy cũ
Đổi mới tư duy không có nghĩa là quá trình đổi mới này đi ngược với quan điểmđời sống, quan điểm thực tiễn của chủ nghĩa Mác mà là tìm ra sự nhất trí chung củatoàn xã hội, bắt đầu từ việc nhận thức đúng tình hình thực tế, những diễn biến đang sảy
ra trong đời song hiện thực nhằm tạo ra chiến lược đổi mới hợp lý trong quan hệ kinh
tế, chính trị, xã hội…
1.2.2.1 Đổi mới tư duy về kinh tế
Bước ngoặt trong đổi mới tư duy kinh tế của Đảng là chúng ta chuyển từ nềnkinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa
Qua 25 năm, sự nghiệp đổ mới của Việt Nam đạt được những thành tựu nhưngày hôm nay là nhờ có Đảng lãnh đạo và do Đảng đã luôn luôn chủ động, sáng tạotrong đổi mới tư duy về kinh tế Đường lối và chính sách đổi mới từ Đại hội VI (1986)của Đảng đã đặt cơ sở, nền tảng ban đầu cho giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ của nền
Trang 14kinh tế nước ta Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc, trong đó có đổimới tư duy về kinh tế, đột phá khởi đầu cho đổi mới các lĩnh vực tiếp theo Tuy nhiên,trong giai đoạn phát triển mới của đất nước đòi hỏi phải xây dựng nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, do vậy chúng tacần phải tiếp tục đổi mới mạnh hơn nữa tư duy kinh tế cho phù hợp với điều kiện củađất nước, xu hướng phát triển của thế giới và của thời đại
1.2.2.2 Đổi mới tư duy về hệ thống chính trị
Để đổi mới tư duy về hệ thống chính trị cần phải bắt đầu từ những nhận thứcmới về chính trị và hình thành tư duy chính trị mới Đây là tiền đề nhận thức khoa họcrất quan trọng để đổi mới hệ thống chính trị trong thực tiễn một cách có hiệu quả
Thực chất của nhận thức mới về chính trị và tư duy chính trị đó là: Đảng cầmquyền để lãnh đạo xã hội và lãnh đạo Nhà nước nhằm định hướng và phát huy tốt nhấtmọi năng lực phát triển của dân để dân làm chủ trong một Nhà nước mạnh chứ Đảngkhông làm thay Nhà nước, không đứng trên xã hội Đảng hoạt động trong khuôn khổpháp luật, nêu gương cho dân chúng bằng việc nghiêm chỉnh thực thi pháp luật Nhànước là sức mạnh quyền lực và ý chí của dân Nhà nước ở trong xã hội chứ không trùmlên xã hội, lấn át xã hội, thay thế xã hội Các tổ chức, đoàn thể chính trị của dân là môitrường xã hội thể hiện và thực hiện sức mạnh dân chủ của dân, chứ không hành chínhhóa, quan liêu hóa, không ký sinh vào nhà nước và xã hội Dân chủ và pháp quyền sẽđảm bảo cho yêu cầu đó được thực hiện
1.2.2.3 Đổi mới tư duy về văn hóa, xã hội
Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã cónhững bước phát triển mới trong tư duy lý luận về văn hóa, về xây dựng và phát triểnnền văn hoá; quan niệm về phát triển, về mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển và vaitrò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.2.4 Đổi mới tư duy trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
Trang 15Trước hết của đổi mới tư duy trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn làđổi mới công cụ nhận thức, công cụ hoạt động khoa học xã hội, mà thực chất, là đổimới về phương pháp Và, hơn thế, đổi mới trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhânvăn là nhìn nhận lại mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn Trong mối quan hệ này,thông tin có vai trò quan trọng đặc biệt, “không có thông tin thì lý luận và thực tiễnkhông có ý nghĩa gì” Vai trò của khoa học chính trị và đi đến khẳng định, tất cả nhữngvấn đề cấp bách trong công cuộc đổi mới hệ thống chính trị đều có liên hệ mật thiết vớikhoa học chính trị.
Trang 16CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG BÀI HỌC ĐỔI MỚI TƯ DUY VÀO HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP2.1 Nhận thức chung
2.1.1 Toàn cảnh đất nước
Qua vấn đề đổi mới tư duy lý luận ở Việt Nam hiện nay có thể xác định kết quả
tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới đất nước được thể hiện thành sự lựa chọn môhình, bước đi, chính sách cho quá trình phát triển của đất nước Đảng Cộng sản ViệtNam, nhà nước Việt Nam đã lựa chọn được đường lối, mô hình phát triển thích hợp,hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
2.1.2 Liên hệ công ty kinh doanh nhà nước chiếm cổ phần chi phối
Trên con đường phát triển Ban lãnh đạo các Công ty đã đặt ra mục tiêu: phát triểncông ty ngày càng tăng trưởng, vững mạnh, chất lượng cuộc sống của người lao độngđược cải thiện và nâng cao Ban lãnh đạo Công ty không ngừng cố gắng, tìm phươnghướng cho sự đổi mới để đạt mục tiêu trên Tuy nhiên trên phương diện cá nhân nhóm
1 nhận định để hướng tới mục tiêu phát triển thì mô hình này cần phải đổi mới Quanghiên cứu về thực trạng một số doanh nghiệp thuộc mô hình trên, nhóm 1 xin phépđưa ra những nhận định cá nhân của mình về việc sự cần thiết phải đổi mới của mô
hình này là việc tái cơ cấu tổ chức công ty
2.2 Phân tích ưu nhược điểm trong mô hình quản lý công ty Nhà nước nắm giữ
cổ phần chi phối
Theo luật doanh nghiệp 2014:
Doanh nghiệp có vốn nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước đầu tư, góp vốn mộtphần hoặc toàn bộ vốn điều lệ Ở các doanh nghiệp này, nhà nước là một chủ đầu tư,một cổ đông nắm giữ phần vốn góp từ 0% đến 100% vốn điều lệ Nhà nước có thể làchủ sở hữ duy nhất hoặc đồng sở hữu đối với các tổ chức, cá nhân khác Phụ thuộc vàophần vốn góp của nhà nước là dưới 50%, trên 50% hay 100% vốn điều lệ mà quyền vànghĩa vụ của nhà nước với doanh nghiệp cũng sẽ khác nhau
Đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp có vốn nhà nước: