1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện

111 1,3K 20

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có được nguồn thông tin liên quan đến các tiêu chí trên đòi hỏi phải có một công cụ hỗ trợ để quản lý và theo dõi, các phần mềm chuyên dụng về quản lý thiết bị sẽ đáp được một cách đầ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn “Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý

thiết bị y tế tại các bệnh viện” là công trình nghiên cứu riêng của tôi, không sao

chép từ bất cứ tài liệu nào

Tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Nguyễn Thái Hà, các Thầy, Cô

giáo trong Bộ môn Công nghệ điện tử và Kỹ thuật y sinh – Viện Điện tử viễn thông,

các Thầy, Cô giáo đã tham gia giảng dạy tôi trong thời gian học và nghiên cứu đề

tài đã tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và

hoàn thiện luận văn Xin cảm ơn Vụ TTB&CTYT, Cục CNTT Bộ Y tế, công ty cổ

phần phần mêm HT Jsc,các đồng nghiệp trong ngành trang thiết bị y tế và gia đình,

bạn bè đã luôn khuyến khích, động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và công

tác vừa qua

Tác giả

Trịnh Đức Nam

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài: 1

2 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiến của đề tài: 2

NỘI DUNG 4

Chương I Tổng quan về ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành y tế 4

1 Ứng dụng công nghệ thông tin trong y tế trên thế giới 4

2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong y tế tại Viêt Nam 6

3 Thực trạng ứng dụng CNTT trong lĩnh vực khám, chữa bệnh 20

Chương II Nghiên cứu yêu cầu về quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện 29

2.1 Vai trò của trang thiết bị y tế trong bệnh viện 29

2.2 Sự phát triển trang thiết bị y tế trong giai đoạn hiện nay: 29

2.3 Các yêu cầu về quản lý trang thiết bị y tế trong bệnh viện 32

2.3.1 Yêu cầu phân loại trang thiết bị y tế để quản lý 33

2.3.2 Yêu cầu chuẩn hóa tên gọi trang thiết bị y tế 35

2.3.3 Yêu cầu quản lý về bàn giao, lắp đặt, sử dụng, bảo dưỡng thiết bị y tế 36

2.3.4 Yêu cầu quản lý các thông tin chung về thiết bị phục vụ công tác lập kế hoạch40 Chương III Xây dựng phần mềm quản lý trang thiêt bị y tế tại các bệnh viện 49

3.1 Lựa chọn công cụ xây dựng phần mềm 49

3.2 Yêu cầu về nghiêp vụ và tính năng của phần mềm 50

Trang 3

3.3 Yêu cầu về quản trị hệ thống 51

3.4 Các yêu cầu phi chức năng 51

3.5 Giải pháp kỹ thuật – Xây dựng hệ thống 54

3.6 Thiết kế chức năng phần mềm 60

THIẾT KẾ GIAO DIỆN PHẦN MỀM 75

KẾT LUẬN 90

Những vấn đề đã được giải quyết trong luận văn 90

Hướng phát triển 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 91

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT

TTBYT Trang thiết bị y tế

CNTT Công nghệ thông tin

CSDL Cơ sở dữ liệu

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Khả năng tiết kiệm chi phí theo mức độ điện tử hóa dữ liệu 5

Bảng 1.2 Đánh giá khả năng tiết kiệm chi phí khám và chữa bệnh tại nước Mỹ khi các cơ sở y tế triển khai ứng dụng quy trình điện tử hóa thông tin y tế 5

Bảng 1.3 Số lượng bệnh viện theo tuyến và loại bệnh viện 20

Bảng 1.4: Thực trạng hạ tầng CNTT tại 200 bệnh viện 21

Bảng 1.5: Thực trạng về tổ chức và nhân lực CNTT 22

Bảng 1.6: Thực trạng về tổ chức và nhân lực CNTT 22

Bảng 1.7: Ngân sách trung bình chi cho CNTT giai đoạn 2006 - 2009 23

Bảng 1.8 Thực trạng ứng dụng phần mềm quản lý bệnh viện 24

Bảng 2.1: Chi y tế qua các năm (tính bằng % của GDP) 31

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 3.1 Sơ đồ mô hình kiến trúc 54

Hình 3.2 Giao diện đăng nhập hệ thống 75

Hình 3.3 Giao diện nhập thiết bị vào kho 75

Hình 3.4 Giao diện thông tin phiếu nhập và thiết bị 76

Hình 3.6 Giao diện duyệt nhập thiết bị vào kho 77

Hình 3.7 Thêm thông tin phiếu dự trù lĩnh và thiết bị 77

Hình 3.8 Sửa thông tin phiếu dự trù lĩnh và thiết bị 78

Hình 3.9 Duyệt phiếu dự trù lĩnh 79

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua hệ thống y

tế trong cả nước đã được đầu tư, nâng cấp trong đó thiết bị y tế chiếm tỷ trọng lớn

cả về số lượng, giá trị và được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau như Ngân

sách nhà nước, các dự án ODA, các dự án viện trợ,….Việc quản lý, bảo dưỡng, sửa

chữa các trang thiết bị y tế đang là một vấn đề đặt ra đối với ngành y tế Trong

nhiều năm qua, Bộ Y tế đã quan tâm đến vấn đề này nhưng do còn nhiều hạn chế về

nguồn kinh phí, nhân lực nên vẫn chưa triển khai được đầy đủ

Tại đa số các bệnh viện trên cả nước hiện nay, công tác quản lý thông tin về

trang thiết bị tại các phòng Vật tư thiết bị y tế (VTTBYT) tại các bệnh viện chỉ đơn

thuần quản lý và lưu trữ các thông tin về trang thiết bị trên sổ sách Nội dung thông

tin quản lý tương đối nghèo nàn và không khoa học Cách quản lý này chỉ giúp nắm

bắt được số lượng thiết bị hiện có, không có sự liên hệ giữa thực trạng trang thiết bị

hiện đang sử dụng và các thông tin đang được quản lý Với những đơn vị có số

lượng lớn trang thiết bị đang được sử dụng, việc đưa ra những đánh giá nhận xét

liên quan đến tình trạng thiết bị hiện có một cách toàn diện là rất khó khăn Cách

quản lý này rõ ràng ngày càng không đáp ứng được so với nhu cầu, đặc biệt là các

trang thiết bị trong Bệnh viện ngày càng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong

việc duy trì sự hoạt động ổn định của Bệnh viện, ảnh hưởng lớn đến chất lượng

khám chữa bệnh

Hiện nay ở các đơn vị y tế tại các nước phát triển, việc quản lý thông tin trang

thiết bị ngoài những thông tin mang tính pháp lý về các thủ tục mua sắm còn có

nhiều nội dung thông tin liên quan đến quá trình vận hành và sử dụng thiết bị như:

Xem lại lịch sử thông tin thiết bị, giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng và sửa chữa

thiết bị trong thực tế, tình trạng sử dụng, thời gian sử dụng, hiệu suất sử dụng của

thiết bị Từ những thông tin đó người quản lý có thể có những đánh giá, phân tích,

Trang 8

lựa chọn giải pháp liên quan đến công việc trong thực tế nhằm nâng cao chất lượng

và hiệu quả sử dụng thiết bị

Để có được nguồn thông tin liên quan đến các tiêu chí trên đòi hỏi phải có một

công cụ hỗ trợ để quản lý và theo dõi, các phần mềm chuyên dụng về quản lý thiết

bị sẽ đáp được một cách đầy đủ các yêu cầu nêu trên và do vậy, việc triển khai và

ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý trang thiết bị trong các Bệnh viện của

chúng ta trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiêt

Bản thân là một cán bộ làm việc trong ngành quản lý về trang thiết bị y tế, tôi

luôn trăn trở và suy nghĩ làm thế nào để thiết bị hoạt động hiệu quả, đảm bảo chất

lượng, người làm công tác quản lý trang thiết bị y tế tại các bệnh viện nắm vững

được tình hình hiện có, lập kế hoạch chi tiết, chính xác, đảm bảo có đủ trang thiết bị

chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân vì vậy dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thái Hà

tôi đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các

bệnh viện” với hy vọng quản lý tốt hơn hệ thống các trang thiết bị y tế hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

- Mục đích nghiên cứu của luận văn: Nghiên cứu về nhu cầu quản lý trang

thiết bị y tế trong các bệnh viện Xây dựng quy trình để điện tử hóa các thông tin về

trang thiết bị trong một bệnh viện giúp cho công tác lập báo cáo, lập kế hoạch, theo

dõi tình hình trang thiết bị y tế và quản lý sửa chữa, bảo dưỡng, chất lượng trang

thiết bị y tế Xây dựng danh mục tên cơ bản của các trang thiết bị y tế để thống nhất

sử dụng trong bệnh viện Xây dựng phần mềm quản lý trang thiết bị y tế để sử dụng

cho các phòng vật tư thiết bị y tế

- Đối tượng: Phòng vật tư bệnh viện E, Việt Đức, Hữu Nghị

- Phạm vi nghiên cứu: Yêu cầu về quản lý trang thiết bị y tế tại các bệnh viện

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiến của đề tài:

Quy trình quản lý thông tin y tế theo phương pháp truyền thống bằng sổ sách

đã và đang thể hiện nhiều bất cập như: tỷ lệ lỗi cao, khó đọc, lưu trữ cồng kềnh, khó

khăn trong vấn đề tìm kiếm, thống kê và chia sẻ thông tin Trong khi đó, cùng với

đà phát triển và những thành tựu đạt được trong các lĩnh vực như công nghệ điện tử,

Trang 9

công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ xử lý tín hiệu y sinh, thiết bị điện tử

y tế v.v , khối lượng dữ liệu được phát sinh và sử dụng trong ngành y tế ngày một

nhiều Điều này càng làm cho những bất cập trong phương pháp quản lý bằng sổ

sách thể hiện rõ nét hơn

Xử lý thông tin y tế theo hướng điện tử hóa, số hóa thông tin và dữ liệu trong

môi trường y tế theo mô hình bệnh viện điện tử, bệnh án điện tử đang là xu thế phát

triển trên thế giới Với xu hướng điện tử hóa thông tin y tế này, những bất cập phát

sinh trong quy trình quản lý theo phương pháp truyền thống sẽ được khắc phục

Đồng thời những thế mạnh trong lĩnh vực điện tử, thông tin và truyền thông sẽ được

thể hiện như tăng tốc độ xử lý dữ liệu, tăng khả năng chia sẻ thông tin, dễ dàng lưu

trữ thông tin về lịch sử thiết bị, giảm chi phí hoạt động cho bệnh viện, giảm thời

gian và chi phí cho việc báo cáo cơ quan cấp trên

Tại Việt Nam, hầu hết các cơ sở y tế vẫn thực hiện quy trình xử lý thông tin y

tế theo sổ sách Bộ Y tế đã thành lập Ban chỉ đạo triển khai ứng dụng và phát triển

quy trình điện tử hóa thông tin trong ngành y tế từ năm 2006, tuy nhiên tính tới thời

điểm 2011, mới chỉ có một số cơ sở y tế bước đầu triển khai ứng dụng các quy trình

điện tử hóa thông tin y tế bằng việc sử dụng các phần mềm đơn lẻ, rời rạc và thường

không theo một chuẩn y tế cụ thể nào Các nghiên cứu và ứng dụng về công nghệ

thông tin trong y tế tại Việt Nam cũng chưa nhiều, hầu hết mới chỉ tập trung vào

việc nghiên cứu xây dựng các phần mềm quản lý thông tin bệnh viện riêng lẻ tập

trung cho quản lý thông tin bệnh nhân, thông tin dược, nhân lực, tài chính theo

những phần mềm do bệnh viện tự đặt hàng riêng lẻ nên không thống nhất và khó

chuẩn hóa chung cho cả hệ thống Đặc biệt là lĩnh vực trang thiết bị y tế, các phần

mềm chỉ theo dõi về số lượng, chứ chưa có một quy định cụ thể nào để thóng nhất

chung

Trang 10

NỘI DUNG

Chương I Tổng quan về ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành y tế

1 Ứng dụng công nghệ thông tin trong y tế trên thế giới

Xử lý thông tin y tế theo hướng điện tử hóa, số hóa thông tin và dữ liệu trong

môi trường y tế theo mô hình bệnh viện điện tử, bệnh án điện tử đang là xu thế phát

triển trên thế giới Với xu hướng điện tử hóa thông tin y tế này, những bất cập phát

sinh trong quy trình quản lý theo phương pháp truyền thống sẽ được khắc phục

Đồng thời những thế mạnh trong lĩnh vực điện tử, thông tin và truyền thông sẽ được

thể hiện như tăng tốc độ xử lý dữ liệu, tăng khả năng chia sẻ thông tin trong các ứng

dụng y tế từ xa, dễ dàng lưu trữ thông tin về lịch sử bệnh án, giảm chi phí hoạt động

cho bệnh viện, giảm thời gian và chi phí cho bệnh nhân Các nghiên cứu đã chỉ ra

rằng, tính trên nước Mỹ, nếu tất cả các bệnh viện triển khai thực hiện quy trình điện

tử hóa thông tin y tế, bình quân mỗi năm nước Mỹ có thể tiết kiệm được khoảng

41,8 tỷ USD Với tổng số bệnh viện hiện có trên cả nước Mỹ là 15.209 bệnh viện,

trung bình mỗi bệnh viện sẽ tiết kiệm khoảng 2,75 triệu USD/năm Bảng 1 dưới đây

minh họa chi tiết những lợi ích khi triển khai ứng dụng mô hình bệnh viện điện tử

tại Mỹ Trên bảng 2 thể hiện các kết quả về tiết kiệm chi phí cho các bệnh viện tại

Mỹ khi ứng dụng mô hình bệnh viện điện tử so với mô hình bệnh viện quản lý bằng

Gợi ý thuốc thay thế tương đương  

Trang 11

Hóa đơn Giảm chi phí in hóa đơn 

Tiết kiệm chi

năm)

Tổng tiết kiệm sau 15 năm (Tỷ USD)

Tiết kiệm trung bình hàng năm (Tỷ USD)

5.2

1.2 1.1 1.5 8.6 2.4

14.8

1.7 1.5 2.0 11.0 3.3

20.4

13.4 11.9 15.9 92.3 25.6

159.0

0.9 0.8 1.1 6.2 1.7

16.1

10.0 2.2 2.8 27.6 1.9

44.5

13.7 2.6 3.5 34.7 2.4

57.1

106.4 23.4 29.3 289.6 19.9

468.5

7.1 1.6 2.0 19.3 1.3

31.2

Bảng 1.2 Đánh giá khả năng tiết kiệm chi phí khám và chữa bệnh tại nước Mỹ khi

các cơ sở y tế triển khai ứng dụng quy trình điện tử hóa thông tin y tế

Trang 12

Tính đến năm 2005 tại Mỹ đã có 5% số lượng các bệnh viện ứng dụng mô

hình bệnh viện điện tử; 23,9% số lượng các bác sỹ trên cả nước sử dụng bệnh án

điện tử của bệnh nhân trong quá trình khám chữa bệnh Tại các nước phát triển khác

như Anh, Pháp, Đức, Ý, Tây Ba Nha, Thụy Điển, Phần Lan và Hà Lan, việc triển

khai các hệ thống bệnh viện điện tử đã là một nhiệm vụ trọng tâm của Chính Phủ và

ngành y tế trong những qua Tại Anh đã có chương trình Quốc gia 10 năm thực hiện

chính sách điện tử hóa bệnh viện bắt đầu từ năm 2002 Tính đến năm 2006, đã có

98% số lượng bác sỹ tại Hà Lan sử dụng dữ liệu bệnh án điện tử Tại Hàn Quốc,

tính đến năm 2006 đã có 11 bệnh viện có quy mô từ 300 đến 700 giường bệnh sử

dụng bệnh án điện tử cho cả bệnh nhân nội trú và ngoại trú, 3 bệnh viện 500 giường

chỉ áp dụng cho bệnh nhân nội trú và 2 bệnh viện 700 giường chỉ áp dụng cho bệnh

nhân ngoại trú

Tại các nước đang phát triển, việc ứng dụng mô hình bệnh viện điện tử chưa

được rõ nét và đầy đủ như tại các nước phát triển Tuy nhiên, việc triển khai quy

trình điện tử hóa để quản lý một số dữ liệu bệnh án cơ bản của bệnh nhân cũng đã

được thực hiện Hầu hết các nước tại Châu Phi đã ứng dụng hệ thống phần mềm mã

nguồn mở OpenMRS để quản lý dữ liệu bệnh án cho các bệnh nhân HIV/AIDS Tại

Peru, hệ thống PIH-EMR đã được triển khai ứng dụng từ năm 2001 để quản lý dữ

liệu bệnh án điện tử cho khoảng 4.300 bệnh nhân lao Tại Haiti, năm 1999 đã ứng

dụng hệ thống phần mềm HIV-EMR để quản lý dữ liệu bệnh án cho khoảng 4.000

bệnh nhân mỗi năm Tại Brazil, hệ thống điện tử hóa dữ liệu bệnh án SICLOM đã

và đang được triển khai để quản lý cho khoảng 100.000 bệnh nhân mỗi năm

2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong y tế tại Viêt Nam

2.1 Những chính sách đã ban hành về ứng dụng CNTT

Từ những năm của thập kỷ 70, Đảng và chính phủ Việt nam đã rất quan tâm

đến phát triển công nghệ thông tin, coi đó là động lực quan trọng của sự phát triển

kinh tế- xã hội, một loạt chính sách về tăng cường ứng dụng phát triển công nghệ

thông tin đã được ban hành như: nghị quyết số 26/NQ/TW của Bộ Chính trị ngày

30 tháng 3 năm 1991 “ Tập trung phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi

Trang 13

nhọn như điển tử, tin học ”; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCHTW khóa 7 “ Ưu

tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến như công nghệ thông tin phục vụ

yêu cầu điện tử hóa và tin học hóa nên kinh tế quốc dân; Nghị Quyết đại hội đại

biểu Đảng toàn Quốc lần thứ VIII “ Ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các

lĩnh vực ”; Chỉ thị 58/CT-TW năm 2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng

và phát triển CNTT; Luật Công Nghệ thông tin đã được Quốc hội khóa 11 thông

qua ngày 29/6/2006 Đây là những văn bản quan trọng nhất làm tiền đề để ban hành

một loạt các chính sách nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trên các

lĩnh vực Thể chế hoá đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Chính phủ Việt

nam cũng đã ban hành những chính sách liên quan đến CNTT như Nghị định số

49/CP năm 1993 về phát triển CNTT ở Việt nam trong những năm 90; Nghị Định

số 64/2007/NĐ-CP về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước;

Quyết định số 32/2006/QĐ-TTg về kế hoạch phát triển viễn thông Internet; Nghị

định 64 năm 2007 của Chính phủ về việc ứng dụng trong cơ quan nhà nước; Quyết

định số của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển CNTT

đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, trong đó xây dựng Hệ thống thông tin

y tế và chăm sóc sức khỏe là một trong những chương trình trọng điểm quốc gia

Thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước đồng thời tăng cường quản lý, điều

hành nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe

nhân dân, Bộ Y tế đã ban hành một loạt chính sách liên quan đến ứng dụng và phát

triển CNTT như: Quyết định ban hành phần mềm quản lý y tế cơ sở số

1833/2002/QĐ-BYT ngày 17 tháng 5 năm 2002; Quyết định ban hành phần mềm

thống kê bệnh viện ( Medisoft).Quyết định số: 5573 /QĐ-BYT ngày 29 tháng 12

năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế về tiêu chí phần mềm quản lý bệnh viện; Chỉ thị

số 02/CT-BYT về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong ngành Y tế

Quán triệt chính sách của Đảng, nhà nước và của Ngành, nhiều địa phương đã ban

hành chính sách riêng nhằm tăng cường ứng dụng CNTT Tại Bắc giang’ Sở Y tế đã

ban hành một số chính sách như Quyết định quy định bảo vệ an toàn máy tính và

mạng máy tính; Quyết định sử dụng phần mềm quản lý văn bản nội bộ; Kế hoạch

Trang 14

ứng dụng CNTT giai đoạn 2000-2010 và 2011-2015; Quyết định thành lập Ban

hành chỉ đạo phát triển CNTT; Quyết định ban hành quy chế tổ chức hoạt động của

Ban biên tập trang thông tin điện tử Website Sở Y tế; ban hành quy định quản lý, sử

dụng vận hành phần mềm Netoffice để quản lý văn bản đi và đến; Văn bản quy định

về tổ chức nhân sự CNTT và nguồn kinh phí phát triển CNTT v.v Hay tại Cần Thơ

,Sở y tế còn ban hành Quyết định số 2312/QĐ-SYT ngày 30/10/2009 về quy chế sử

dụng hộp thư điện tử trong hoạt động của Ngành Y tế v.v…

Những chính sách về CNTT đã ban hành của Đảng, Nhà nước và của ngành

là hàng lang pháp lý và là cơ sở để các ban, ngành, các đơn vị đầu tư nguồn lực

nhằm đẩy mạnh ứng dụng và trát triển CNTT trong mọi lĩnh vực, khai thác có hiệu

quả thông tin và trí thức trong tất cả các ngành, trong đó có ngành y tế Tuy nhiên

Chính sách về ứng dụng CNTT của từng lĩnh vực, từng ngành chưa thật sự hoàn

thiện và tạo tiền đề cho việc ứng dụng và phát triển CNTT Chính sách phát triển

CNTT trong lĩnh vực y tế chưa quy định cụ thể về chuẩn thông tin y tế, chuẩn quy

trình hoạt động y tế có ứng dụng CNTT; Chưa xây dựng và ban hành mã số cơ sở y

tế, mã số ( ID) cá nhân thuận tiện cho việc kết nối dữ liệu, tránh chồng chéo Chưa

thể hóa chính sách về đãi ngộ và khuyến khích cán bộ chuyên CNTT làm trong lĩnh

vực y tế Chính sách được ban hành nhưng thiếu điều kiện để triển khai do thiếu

nguồn lực đầu tư, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, ngân sách đầu tư hàng năm rất thấp

nên việc dành kinh phí 1% theo tinh thần chỉ thị 02 của Bộ trưởng Bộ Y tế đầu tư

cho CNTT là khó khăn

2.2 Thực trạng ứng dụng CNTT trong hệ thống thông tin y tế

Công nghệ thông tin và truyền thông là công cụ quan trọng phục vụ công tác

thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích, công bố thông tin, xây dựng ngân hàng dữ liệu

thống kê y tế Là phương tiện tập trung luồng thông tin, hình thành Hệ thống thông

tin y tế thống nhất, thông suốt và hiệu quả Việc ứng dụng CNTT trong Hệ thống

không chỉ nâng cao chất lượng số liệu mà còn tăng cường quản lý, điều hành của

các cơ sở y tế, góp phần nâng cao hiệu quả công tác và chất lượng dịch vụ y tế

Trang 15

Chính vì vậy trong những năm qua, ngành y tế đã đầu tư nhằm phát triển và ứng dụng

CNTT trong Hệ thống thông tin quản lý và đã đạt được những thành tích đáng kể

Cơ sở hạ tầng

Tại trung ương: 100 % cán bộ đang làm công tác thông tin Thống kê của

Phòng Thống kê Y tế, vụ Kế hoạch tài chính, cán bộ làm công tác thông tin thống

kê của các vụ, Cục, viện, Các chương trình y tế quốc gia và các bệnh viện Trung

ương đều được trang bị máy vi tính Bộ Y tế đã xây dựng được cổng thông tin điện

tử, các thủ tục hành chính đều đã được đưa lên mạng Thực hiện ứng dụng chính

phủ điện tử, Hệ thống e-Office đã được Bộ Y tế đưa vào sử dụng từ năm 2005 Tất

cả các Vụ, Cục, văn phòng Bộ, Tổng cục đã kết nối mạng nội bộ và kết nối internet

tốc độ cao Các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế đã có 100% đơn vị có mạng LAN và kết

nối internet tốc độ cao, bình quân mỗi mạng có trên 110 máy tính; 58% có hệ thống

e-mail riêng và 43% có hệ thống bảo mật, 53% có hệ thống lưu trữ dữ liệu

Tại các tỉnh: Trung bình mỗi văn phòng Sở có 35 máy tính các nhân;

79.54% Sở có máy chủ, 95,45% Văn phòng Sở có mạng LAN và 100% Sở y tế đã

kết nối được Internet tốc độ cao, 61% Sở Y tế có hệ thống e-mail riêng, 26% có hệ

thống bảo mật và 77.27% có hệ thống lưu trữ dữ liệu

Các bệnh viện địa phương: 52,9% bệnh viện tuyến tỉnh có LAN và 81% kết

nối được Internet tốc độ cao, 37,2% bệnh viện tuyến huyện có mạng LAN và 65%

kết nối internet

Đường truyền: Một số ít cơ sở y tế (chiếm 2%) có đường truyền riêng, trên

70% đơn vị sử dụng đường truyền ADSL

Tại cơ sở đào tạo: 100% các trường Đại học, Cao đẳng Y - Dược có mạng

LAN, kết nối Internet và Website

Tổ chức và nhân lực CNTT

Phát triển nguồn nhân lực CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định

đối với sự phát triển và ứng dụng CNTT trong hệ thống thông tin Y tế Bộ trưởng

Trang 16

Bộ Y tế đã phê duyệt đề án kiện toàn hệ thống tổ chức công nghệ thông tin (CNTT)

trong các đơn vị sự nghiệp y tế giai đoạn 2010 - 2015 nhằm nâng cao hiệu quả ứng

dụng CNTT của ngành, góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả trong quản lý điều

hành hoạt động của các đơn vị sự nghiệp ngành y tế Theo đề án, đến hết năm 2010,

100% các đơn vị sự nghiệp hạng I của ngành y tế thành lập phòng CNTT và 95%

các đơn vị sự nghiệp còn lại có tổ CNTT hoặc cán bộ chuyên trách về CNTT Đảm

bảo đến cuối năm 2012, nguồn nhân lực CNTT trong cơ cấu cán bộ viên chức của

các đơn vị sự nghiệp ngành y tế đạt từ 0,8 - 1%, trong đó 50% có trình độ đại học

chuyên ngành CNTT trở lên và đến năm 2015, tỷ lệ này là 1 - 2%, trong đó 70% có

trình độ đại học chuyên ngành CNTT trở lên Thực hiện đề án kiện toàn tổ chức

CNTT của Bộ Y tế, các địa phương, các đơn vị y tế trong ngành đã quan tâm đến

việc củng cố tổ chức và tăng cường số lượng/chất lượng nhân lực CNTT

Tại Bộ y tế: theo báo cáo hiện nay tại văn phòng Bộ có phòng CNTT với số

cán bộ là 6 đại học và 1 cao đảng, Phòng Thống kê tin học vụ Kế hoạch tài chính

có 4 đại học CNTT chiếm 50% nhân lực của cả phòng, các vụ cục trong cơ quan Bộ

cũng đã có ít nhất 1 kỹ sư CNTT; các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế: bộ phận chuyên

trách về CNTT chiếm 88,7%, trong đó số cán bộ chuyên trách về CNTT là 3,68 cán

bộ/đơn vị Tỷ lệ cán bộ sử dụng máy tính trong công việc 74,4 %

Tại các Sở Y tế: 100 % sở cớ cán bộ CNTT đại học và cao đẳng trong đó bộ

phận chuyên trách về CNTT chiếm khoảng 60%, 100% bệnh viện đa khoa tỉnh,

trung ương có tổ CNTT với số lượng trung bình từ 2-3 cán bộ đại học và trung học

Tỷ lệ cán bộ CNTT của bệnh viện huyện thì vẫn cón thấp khoảng 20%

Hệ thống máy vi tính dùng trong các cơ sở y tế không đồng bộ, hệ thống

mạng quá cũ, tư vấn thiết kế không tốt và trình độ của cán bộ ở nhiều đơn vị y tế

cũng còn hạn chế, dẫn tới việc triển khai các phần mềm quản lý đơn vị hay bệnh

viện gặp nhiều khó khăn

Trang 17

2.3 Cập nhật và thu thập thông tin

Hầu hết các cơ sở y tế các tuyến cập nhật những thông tin ban đầu về cung

cấp dịch vụ chăm sóc và bảo vê sức khỏe người dân vào hệ thống sổ sách biểu mẫu

đã được Bộ Y tế và các cơ quan có thẩm quyền ban hành, trừ một số ít đơn vị sử

dụng phần mềm quản lý thì được nhập trực tiếp vào các form điện tử Số liệu tổng

hợp báo cáo tuyến trên hoặc tính toán một số chỉ tiêu chủ yếu khai thác từ các hồ sơ

bệnh án và hệ thống biểu mẫu ghi chép ban đầu Do cập nhật thông tin bằng

phương pháp thủ công vào hàng loạt biểu mẫu bằng giấy của các cơ sở y tế đã khó

khăn cho cán bộ làm công tác thống kê trong việc thu thập, tổng hợp báo cáo và tìm

kiếm thông tin Chính vì vậy một số chỉ tiêu tuy đã ban hành từ nhiều năm nay

nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được như: bệnh tật và tử vong theo tuổi/giới;

nhân lực y tế theo trình độ chuyên môn kết hợp với giới; dân tộc; khám chữa bệnh

theo đối tượng và theo chi phí …

2.4 Xử lý thông tin

Mặc dù cơ sở hạ tầng về CNTT của trong ngành y tế được quan tâm song

việc xử lý thông tin vẫn còn lạc hậu Hầu hết các trạm y tế xã/phường xử lý số liệu

bằng tay, máy tính năng lượng mặt trời Số ít trạm có máy tính thì xử lý bằng phần

mềm excel Trong mấy năm gần đây, ngành Y tế đã triển khai khám chữa bệnh cho

bệnh nhân có BHYT xuống tận tuyến xã Hàng tháng, trạm Y tế xã, phải tính toán

chi phí khám chữa bệnh cho bệnh nhân theo từng loại dịch vụ như: thuốc; công

khám, vật tư tiêu hao … nên việc xử lý số liệu theo phương pháp thủ công như hiện

nay khá vất vả, tốn nhiều thời gian dành cho công tác chuyên môn của cán bộ trạm

và chất lượng số liệu bị hạn chế

Các cơ sở y tế từ tuyến quận/huyện trở lên xử lý số liệu bằng phần mềm

excel Một số đơn vị sử dụng một số phần mềm chuyên ngành để xử lý số liệu như:

phần mềm kế toán; phần mềm thống kê bệnh viện (Medisoft) xử lý tình hình bệnh

tật và tử vong của các bệnh nhân ra viện; phần mềm xử lý báo cáo thống kê tổng

hợp tuyến huyện và tỉnh; phần mềm BHYT Chỉ có ít bệnh viện được đầu tư từ ngân

Trang 18

sách nhà nước hoặc các dự án triển khai phần mềm quản lý bệnh viện, nhưng cũng

chỉ quản lý được một số hoạt động của bệnh viện như quản lý bệnh nhân, viện phí,

BHYT Hầu hết các phần mềm quản lý bệnh viện vẫn chưa hoàn chỉnh và còn nhiều

lỗi, chưa quản lý được tất cả các hoạt động của bệnh viện nên vẫn phải sử dụng

phần mềm excel để xử lý số liệu và tổng hợp báo cáo là chính Trước thực trạng,

phòng Thống kê tin học, vụ Kế hoạch tài chính, Cục quản lý KCB, các vụ cục khác

và các chương trình y tế quốc gia đang nghiên cứu xây dựng phần mềm phục vụ

quản lý, xử lý số liệu cho các cơ sở y tế các tuyến, cụ thể:

- Phần mềm quản lý thông tin tại Trạm y tế

Phần mềm quản lý thông tin tại Trạm y tế xã do Phòng thống kê xây dựng

dưới sự hỗ trợ của Gavi Phần mềm này chạy trên hệ điều hành Microsoft Windows

XP SP2, và không giao tiếp với hệ thống khác Phần mềm ứng dụng thiết kế đơn

giản dễ sử dụng phù hợp với trình độ cán bộ y tế tuyến Xã

Phần mềm quản lý thông tin của trạm y tế, chạy độc lập trên máy tính cá

nhân, tại các cơ sở y tế tuyến xã Bao gồm hai bộ phận chính: quản lý các thông tin

tiêm chủng mở rộng và quản lý các thông tin thống kê y tế tuyến xã

+ Quản lý tiêm chủng: Những trẻ trong diện tiêm chủng đều được cập nhật

vào phần mềm thay cho việc ghi chép vào sổ như trước đây, nên việc tìm kiếm trẻ

trong mỗi lần cung cấp dịch vụ tiêm/uống rất nhanh, thuận tiện cho việc cập nhật

thông tin Phần mềm có thể kết xuất số trẻ cần tiêm/ uống trong tháng tới phục vụ

tuyên truyền vận động trẻ tiêm phòng đầy đủ, xây dựng kế hoạch cung cấp dịch vụ

tiêm chủng, dự trù vắcxin, đánh giá kết quả hoạt động của chương trình trong việc

phòng chống các bệnh nguy hiểm của trẻ Phần mềm tiêm chủng có thể in ra được

các báo cáo theo yêu cầu của chương trình tiêm chủng và Hệ thống thông tin Y tế

+ Quản lý các hoạt động khác của trạm, như: khám chữa bệnh, chăm sóc sức

khỏe BMTE/KHHGĐ…Phần mềm quản lý trạm y tế, trong tương lai có thể chuyển

số liệu lên tuyến huyện bằng file hoặc tích hợp trực tuyến với hệ thống cơ sở dữ liệu

qua mạng Internet Thông tin từ phần mềm, không những để làm báo cáo thống kê y

Trang 19

tế xã định kỳ theo qui định còn lưu trữ dữ liệu qua các năm Tuy nhiên chương trình

Phần mềm Quản lý thông tin tại Trạm y tế chưa xây dựng kết xuất dữ liệu đầu ra

theo định dạng các file dữ liệu khác nhau nên người sử dụng chưa khai thác số liệu

nhiều chiều từ bộ CSDL từ chương trinh Việc sử dụng phần mềm này chưa được

triển khai rộng rãi mà chỉ thực hiện ở các trạm y tế xã có Dự án Gavi tài trợ, do số

trạm có máy vi tính hiện nay rất ít (chỉ khoảng 20% trạm y tế có máy tính)

- Phần mềm xử lý và tổng hợp báo cáo thống kê

Theo kết quả điều tra đến nay đã có 14% Sở y tế và 12.5% trung tâm Y tế

Quận huyện báo cáo đang sử dụng phần mềm báo cáo thống kê Phần mềm xử lý

báo cáo thống kê, do phòng thống kê Y tế, vụ Kế hoạch tài chính, Bộ Y tế xây

dựng Phần mềm này được sử dụng tại Trung tâm y tế huyện và Sở y tế Đối với

Trung tâm Y tế Huyện, số liệu báo cáo của các trạm y tế xã, các cơ sở y tế tuyến

huyện được cập nhật vào phần mềm này để xử lý số liệu báo cáo Sở Y tế theo biểu

mẫu đã quy định của Bộ Y tế Đối với Sở y tế, phần mềm được sử dụng để xử lý số

liệu của các trung tâm y tế huyện trong tỉnh và các cơ sở y tế tuyến tỉnh gửi Bộ Y tế

và các cơ quan của tỉnh Phần mềm thực hiện trên máy cá nhân cài đặt dễ dàng,

chuyển giao ứng dụng đơn giản, là công cụ hữu ích cho cán bộ thống kê các tuyến

trong việc làm báo cáo tổng hợp số liệu thống kê y tế theo đinh kỳ Giúp cho cán bộ

thống kê giảm được gánh nặng ghi chép và tổng hợp số liệu báo cáo thống kê hàng

tháng, quý và hàng năm Ngoài ra chương trình còn có một số tiện ích giúp cho cán

bộ thống kê có thể khai thác nguồn dữ liệu đã được lưu qua các kỳ báo cáo Phần

mềm Báo cáo Thống Kê Y Tế tuyến tỉnh và tuyến huyện được viết trên Access

2003, chương trình nền này nằm trong bộ Microsoft Office cũng là chương trình

thân thuộc với người sử dụng các Phần mềm trong lĩnh vực quản lý Về dung lượng

của chương trình ứng dụng này rất gọn nhẹ khoảng <10000 KB Có thể nén file

chương trình gửi bằng đường truyền mạng Internet dễ dàng Tuy nhiên phần mềm

có một số nhược điểm: Phần mềm Tổng hợp số liệu báo cáo thống kê y tế được

thiết kế thu thập và xử lý số liệu từ các báo cáo quản lý nên phần mềm này chưa đáp

ứng được nhu cầu thu thập thông tin từng người bệnh đến các CSYT tại tuyến y tế

Trang 20

Phần mềm tổng hợp báo chưa được đưa vào sử dụng một cách chính thống trong hệ

thống quản lý mà mới dừng ở mức tự phát thay thế phương pháp xử lý thủ công

Mặt khác năm 2009, Bộ trưởng Bộ Y tế mới ban hành hệ thống biểu mẫu mới nên

phần mềm này đòi hỏi phải chỉnh sửa và nâng cấp

- Phần mềm Quản trị dữ liệu HealthInfo:

Phần mềm HealInfo được thiết kế và xây dựng trên nền phần mềm VietInfo

5.0, đây là một phần mềm rất mạnh trong việc lưu trữ, phổ biến đặc biệt là trình bày

số liệu thống kê Cơ sở dữ liệu rất thân thiện với người sử dụng, người dùng tin có

thể khai thác số liệu rất dễ dàng, độ linh hoạt cao, có thể thêm vào đó là các thông

tin của từng chỉ tiêu để người dùng tin sử dụng số liệu một cách hiệu quả và đúng

nhất Ngoài ra có thể trình bày số liệu theo nhiều cách như bản đồ, biểu đồ, bảng

Các chỉ tiêu được quản lý theo các tiêu chí khác nhau như: theo mục tiêu chỉ tiêu,

nguồn số liệu… Đặc biệt có thể lưu trữ được số liệu của nhiều nguồn khác nhau và

lưu trữ theo chuỗi thời gian Bộ số liệu được xây dựng với tên gọi Health Info sẽ

cung cấp thông tin về toàn bộ số liệu được xuất bản hàng năm và qua các năm của

Niên giám thống kê Y tế Kèm theo bộ số liệu còn có các thông tin siêu dữ liệu liên

quan như: khái niệm/định nghĩa, phương pháp tính, các lưu ý, khuyến nghị khi sử

dụng nguồn số liệu…cho từng chỉ tiêu Về nhược điểm là phần mềm cung cấp miễn

phí, nhưng yêu cầu về cấu hình máy tính tương đối cao, phần mềm này tương đối

nặng do đó có những hạn chế nhất định đối với người dùng tin Việc khai thác dữ

liệu qua mạng Internet cũng chưa thật sự dễ dàng vì dung lượng của bộ dữ liệu quá

lớn, có quá nhiều thông tin liên quan tích hợp trong bộ dữ liệu như: thông tin siêu

dữ liệu cho từng chỉ số, ngôn ngữ, bản đồ và các trang trí chỉnh sửa riêng cho bộ dữ

liệu Phần mềm này mới triển khai thí điểm tại phòng Thống kê, vụ kế hoạch tài

chính, chưa được triển khai rộng rãi cho các vụ, cục, các chương trình y tế quốc gia

và xuống các tỉnh/thành phố

- Phần mềm quản lý và xử lý số liệu của khối bệnh viện

Trang 21

Phần mềm Medisoft 2003 được Bộ Trưởng Bộ Y tế ký Quyết định ban hành

năm 2004, do vụ Điều trị nay là Cục quản lý KCB, Bộ Y tế xây dựng Hiện nay có

khoảng 20% bệnh viện huyện và 50% bệnh viện tỉnh trên cả nước sử dụng phần

mềm này Phần mềm Medisoft thực chất là phần mềm thống kê dùng để cập nhật và

tổng hợp số liệu mắc/chết theo danh mục bệnh tật ICDX của những bệnh nhân

phòng khám và những bệnh nhân ra viện Sử dụng phần mềm Medisoft đã giảm bớt

công việc cập nhật, xử lý cho cán bộ làm công tác thống kê và cung cấp được thông

tin quan trọng phục vụ đánh giá mô hình và xu hướng bệnh tật, tình hình KCB của

bệnh viện Song phần mềm này không thể hỗ trợ nhiều cho quản lý và giám sát hoạt

động bệnh viện, vì vậy một số bệnh viện tỉnh, bệnh viện trung ương đã tự xây dựng

phần mềm quản lý riêng Phần mềm quản lý bệnh viện khá phức tạp và tốn kém nên

hầu hết phấn mềm quản lý hiện nay đang sử dụng chưa hoàn chỉnh và chưa quản lý

tất cả các hoạt động của bệnh viện Do vậy, hiện tượng sử dụng song song nhiều

phần mềm trong một cơ sở KCB vẫn còn tồn tại Để giảm bớt sự chồng chéo về cập

nhật và xử lý số liệu, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định về tiêu chí phần mềm bệnh

viện, trong đó yêu cầu những phần mềm quản lý mà đơn vị tự xây dựng phải kết nối

được với phần mềm Medisoft xuất hoặc in được báo cáo và kết xuất dữ liệu theo

chuẩn báo cáo thống kê bệnh viện Medisoft 2003 (Chi tiết về sử dụng phần mềm

quản lý bệnh viện xem ứng dụng CNTT trong lĩnh vực điều trị)

- Phần mềm kế toán

Phần mềm Kế toán do Bộ Tài chính cung cấp để các cơ sở y tế xử lý số liệu

về thu/ chi của đơn vị, tổng hợp quyết toán gửi cơ quan tài chính và quản lý tài

chính của đơn vị Hiện nay có 14% cơ sở y tế tuyến tỉnh và 12.5% cơ sở y tế tuyến

quận huyện đang sử dụng phần mềm Kế toán Tuy không phải là phần mềm của Hệ

thống thông tin y tế, những phần mềm tài chính đã cung cấp số liệu khá chi tiết cho

Hệ thống thông tin thống kê y tế tổng hợp về thu/ chi ngân sách của toàn ngành và

lập tài khoản Quốc gia về Y tế Phần mềm kế toán hiện đang được sử dụng rộng rãi

trong các cơ sở y tế từ huyện trở lên

Trang 22

- Phần mềm BHYT

Phần mềm BHYT do BHXH xây dựng Phần mềm BHYT được cài đạt tại

bệnh viện nơi có đăng ký khám chữa bệnh cho bệnh nhân BHYT Phần mềm này hỗ

trợ quản lý toàn bộ chi phí KCB cho từng bệnh nhân có thẻ BHYT Kết xuất báo

cáo theo yêu cầu của BHXH và của Ngành Y tế Sử dụng phần mềm BHYT sẽ cung

cấp được nhiều thông tin chi tiết phục vụ phân tích, đánh giá tình hình chi phí KCB

theo từng đối tượng BHYT, từng loại dịch vụ y tế trên cơ sở đó xây dựng mức thu

BHYT và định mức chi phí KCB được hợp lý

- Phần mềm TNTT

Phần mềm TNTT do Cục Y tế Dự phòng xây dựng để quản lý các trường

hợp bị tai nạn tại cộng đồng và những bệnh nhân vào điều trị tại cơ sở y tế

- Phần mềm giám sát bệnh truyền nhiễm

Phần mềm do Cục Y tế Dự phòng xây dựng Phần mềm giám sát là phần

mềm xử lý báo cáo các bệnh truyền nhiễm gây dịch cho trung tâm y tế Dự phòng

Huyện, trung tâm y tế Dự phòng Tỉnh và các viện Vệ sinh Dịch tễ khu vực Phần

mềm giám sát bệnh truyền nhiễm mới được xây dựng và đang bắt đầu triển khai tập

huấn cho tuyến tỉnh Hy vọng phần mềm này sau khi triển khai sẽ cung cấp đầy đủ,

kip thời thông tin phục vụ giám sát và báo cáo tuyến trên

Ngoài ra còn một số chương trình y tế quốc gia như: Phòng chống

HIV/AIDS, phòng chống Lao, Phong, Sốt rét, Tâm thần… cũng đã xây dựng được

phần mềm theo dõi cung cấp thuốc cho từng người bệnh, phục vụ quản lý của các

chương trình Phần mềm của các chương trình đã kết xuất được báo cáo theo yêu

cầu của Hệ thống thông tin Y tế

Mặc dù một số phần mềm kể trên không hoàn toàn do Hệ thống thông tin

quản lý xây dựng, song việc sử dụng những phần mềm quản lý, xử lý số liệu của

các chương trình, các cơ sở y tế, các vụ, cục, các chương trình y tế đóng một vai trò

quan trọng trong Hệ thống thông tin Y tế, là nguồn số liệu đầu vào phong phú của

Trang 23

hệ thống thông tin thống kê y tế Sử dụng phần mềm quản lý của các cơ sở y tế còn

giảm bớt áp lực về xử lý và tổng hợp số liệu, số liệu được cung cấp nhanh, chi tiết

và chính xác phục vụ phân tích đánh giá, hoạch định chính sách Tuy nhiên, số đơn

vị ứng dụng phần mềm còn rất khiêm tốn phần do nhiều phần mềm vẫn còn nhiều

lỗi, cần phải được hoàn thiện, phần do kinh phí đầu tư triển khai phần mềm khá tốn

kém như phần mềm quản lý bệnh viện Chính vì vậy hiện nay hầu hết các cơ sở y tế

tuyến huyện và nhiều cơ sở y tế tuyến tỉnh, thậm chi tuyến trung ương vẫn sử dụng

phần mềm Excel để sử lý số liệu Hầu hết các trạm y tế xã xử lý số liệu bằng

phương pháp thủ công

2.5 Chuyển tải thông tin

Việc chuyển tải thông tin trong ngành Y tế chủ yếu là tuyến dưới báo cáo

tuyến trên, chưa có hệ thống thông tin phản hồi để phục vụ cho tuyến dưới so sánh,

phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động của mình Tại tuyến xã, hầu hết trạm y tế xã

gửi báo cáo bằng giấy, do số trạm y tế có máy vi tính và số máy tính được kết nối

internet rất ít Đối với các vụ dịch, các bệnh lạ hoặc ngộ độc thực phẩm… tại tuyến

xã, báo cáo nhanh bằng điện thoại Sau mỗi tuần, tháng tổng hợp báo cáo cho

Trung tâm y tế Dự phòng huyện Từ tuyến huyện trở lên, chủ yếu bằng giấy để đảm

bảo tính pháp lý của Dữ liệu Đối với các cơ sở đã kết nối Internet thì ngoài việc

chuyển bằng giấy, còn chuyển bằng File qua họp thư điện tử Email nhằm đảm bảo

tính kịp thời và thuận tiện cho việc tổng hợp số liệu Theo báo cáo của Điều tra

e-health đã có 79% Sở y tế và 70% Trung tâm Y tế quận/huyện gửi báo cáo cả bằng

thư điện tử Tuy nhiên báo cáo về số liệu thống kê còn khá khiêm tốn và không đầy

đủ các bảng biểu theo yêu cầu của Bộ Y tế, năm 2009 số Sở Y tế gửi báo cáo số liệu

thống kê y tế qua hộp thư điện tử chỉ có 6 đơn vị chiêm 9.3%

Phòng thống kê Y tế, vụ Kế hoạch- Tài chính đã xây dựng một trang Web

Thống kê Y tế năm 2008 Nội dung trang web Thống kê: Giới thiệu hoạt động của

hệ thống thông tin Thống kê; chức năng nhiệm vụ của các tuyến, các cơ sở y tế

trong việc thu thập, xử lý và báo cáo; Các văn bản liên quan đến việc xây dựng và

Trang 24

phát triển lĩnh vực Thông tin Thống kê chung trong đó có Thông tin thống kê y tế;

Danh mục và chẩn hóa chỉ tiêu thống kê Y tế, Công cụ thu thập thông tin thống kê

và các sản phẩm thống kê Y tế Tuy nhiên do công nghệ lạc hậu, không có thuê bao

riêng, phải đạt tại máy chủ của Văn phòng Bộ (hệ thống máy chủ này hoạt động

không tốt) nên không phát huy được nhiều chức năng nên chưa đưa sản phẩm

thống kê lên trang web thuận tiện cho người sử dụng Hiện nay rất nhiều cơ sở y tế

tuyến tỉnh, thậm chí các cơ sở y tế tư nhân đã xây dựng được trang web Theo số

liệu điều tra: 100% trường đại học, cao đẳng Y Dược; 16% Sở y tế và 27% đơn vị

trực thuộc Bộ Y tế và nhiều bệnh viện công và tư nhân đã xây dựng được trang

web riêng Việc phát triển trang web của các đơn vị y tế nhằm phục vụ cho việc

quảng bá thương hiệu và khai thác, chuyển tải thông tin phục vụ công tác chuyên

môn Đây là điều kiện thuận lợi cho Hệ thống thông tin xây dựng form điện tử trên

trang web để cập nhật, chuyển tải những thông tin quan trọng trực tuyến (online)

như bệnh dịch lây, tử vong trẻ em, tử vong mẹ, ngộ độc thực phẩm, bạo lực gia

đình…

2.6 Lưu trữ và cơ sở dữ liệu

- Lưu trữ số liệu

Theo báo cáo của điều tra e-health, số liệu của hầu hết các cơ sở y tế, kể cả

tuyến trung ương và Sở y tế lưu trữ khá tản mạn, chủ yếu trên máy tính cá nhân và

bằng sổ sách, biểu mẫu báo cáo, đĩa CD Một số ít bệnh viện sử dụng phần mềm

quản lý thì lưu trữ dữ liệu cả trên server Việc lưu trữ số liệu như hiện nay đã khó

khăn cho việc quản lý và khai thác phục vụ phân tích đánh giá và chuyển số liệu

thành thông tin Việc lưu trữ số liệu như vậy không những không thuận tiện cho

người sử dụng mà còn không đảm bảo an toàn dữ liệu

- Cơ sở dữ liệu

Cơ sở dữ liệu của Hệ thống thông tin y tế còn nghèo nàn và không tập trung

Phòng thống kê Y tế vụ kế hoạch tuy đã cố gắng xây dựng kho dữ liệu của toàn

ngành, song chỉ là số liệu đã qua xử lý, tổng hợp tính toán từ những báo cáo của các

Trang 25

Sở Y tế, các vụ, cục, viện, các chương trình y tế quốc gia… Tương tư như vậy, Sở y

tế và trung tâm y tế huyện, kho dữ liệu cũng chỉ là số liệu tổng hợp từ các báo cáo

của các đơn vị trong tỉnh và báo cáo trong huyện Nguyên nhân của vấn đề này là

do việc ứng dụng công nghệ tin học trong công tác quản lý và điều hành của lĩnh

vực y tế còn hạn chế, mặc dù cơ sở hạng tầng đã được trang bị tương đối tốt song

vẫn còn thiếu và cấu hình máy tính chưa đáp ứng được nhu cầu cơ sở dữ liệu và

phần mềm quản lý Hệ thống phần mềm tuy đã được xây dựng những vẫn chưa

hoàn chỉnh và chưa được đưa vào sử dụng rộng rãi Quy trình thu thập, chuyển tải

thông tin, lưu trữ, phân tích và công bố số liệu chưa hoàn toàn ứng dụng CNTT;

chưa có cơ chế cung cấp và trao đổi thông tin giữa các cơ sở y tế trong ngành y tế

và giữa ngành y tế với các ban ngành liên quan qua mạng, chưa xây dựng được mã

số xác định các cơ sở y tế, tạo điều kiện cho việc kết hợp các cơ sở dữ liệu từ các

nguồn khác nhau Thiếu các thông tin chi tiết để có thể phân tổ thống kê theo yêu

cầu danh mục chỉ tiêu đã được Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Trước thực trạng cơ sở

dữ liệu hiện nay, Bộ Y tế đã ban hành chỉ thị số 02/CT-BYT, trong đó yêu cầu các

cơ sở y tế đẩy mạnh xây dựng kho dữ liệu y tế của đơn vị làm tiền đề kết nối với cơ

sở dữ liệu của Ngành nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ quản lý,

nghiên cứu khoa học và hoạch định chính sách

2.7 Sản phẩm thống tin thống kê và phổ biến số liệu

Hệ thống thông tin thống kê tổng hợp và các tiểu hệ thống đã có nhiều sản

phẩm thông tin sử dụng cho phân tích, đánh giá xây dựng kế hoạch hoạt động và

hoạch định chính sách chung của ngành và trong từng lĩnh vực, chương trình Các

thông tin, số liệu thống kê y tế đã phục vụ thiết thực cho công tác quản lý, đánh giá

kết quả, hiệu quả các hoạt động y tế, nhất là các chương trình y tế Quốc gia Số liệu

thống kê y tế phản ánh tình trạng và diễn biến sức khỏe bệnh tật nhân dân và các

hoạt động của ngành y tế ở tất cả các tuyến Hàng năm Hệ thống thông tin thống kê

y tế đã xuất bản Niên giám thống kê Y tế và các ấn phẩm thống kê khác, với việc

sử dụng thông tin từ báo cáo thống kê của 63 Sở Y tế tỉnh, thành phố, số liệu của

Trang 26

các Vụ, Viện, Chương trình Y tế Quốc gia đã cung cấp được các thông tin cơ bản và

ngày càng chất lượng và phong phú hơn

Một chức năng quan trọng của hệ thống thông tin y tế là kết nối việc sản xuất

số liệu với sử dụng số liệu Các đối tượng sử dụng bao gồm những đối tượng cung

cấp dịch vụ và những người chịu trách nhiệm về việc quản lý, lập kế hoạch, hoạch

định chính, những nhà đầu tư và cả cộng đồng Song việc phổ biến dữ liệu của

Ngành y tế vẫn còn hạn chế Thông tin thống kê y tế thu thập, tổng hợp khá công

phu tốn kém, nhưng cài đạt phân tán, chủ yếu lưu dữ ở dạng các file dữ liệu tĩnh,

chưa phát triển được cơ sở dữ liệu Sản phẩm thông tin thống kê y tế chưa được đa

dạng hóa chủ yếu là sách, biểu mẫu báo cáo, tập san và những tài liệu tóm tắt và

chưa ứng dụng CNTT trong việc phổ biến dữ liệu Sản phẩm chưa được đưa lên các

phương tiện thông tin đại chúng như trang web, internet và chưa có cơ chế khai

thác, cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau Chính vì vậy việc chia sẻ

thông tin còn hạn chế và người có nhu cầu sử dụng thông tin rất khó tiếp cận

3 Thực trạng ứng dụng CNTT trong lĩnh vực khám, chữa bệnh

Dựa trên đánh giá của Bộ Y tế tiến hành khảo sát ứng dụng CNTT của 200

bệnh viện, đại diên cho các tuyến, bao gồm: bệnh viện trung ương, bệnh viện tỉnh

và bệnh viện tuyến huyện ( xem bảng 1)

Tuyến Số lượng Tỷ lệ (%) Loại Số lượng Tỷ lệ (%)

Trang 27

Có 10 bệnh viện Trung ương, 26 bệnh viện tỉnh và 164 bệnh viện huyện

được điều tra Bệnh viện Đa khoa chiếm số lượng lớn nhất là 145 (72,5%), 35 bệnh

viện chuyên khoa (chiếm 72,5%), chỉ có 20 bệnh viện PHCN và YHCT (chiếm 10%)

3.1 Hạ tầng kỹ thuật

a Máy tính, máy chủ:

Tất cả các bệnh viện đề đã được trang bị máy tính để bàn Tuy nhiên số

lượng hết sức chênh lệch giữa các bệnh viện Các bệnh viện Trung ương và các

bệnh viện tỉnh lớn, các bệnh viện được đầu tư xây dựng mới có số lượng máy tính

lớn và đồng bộ Trung bình một bệnh viện có 21 máy tính Pen IV trở lên Nhiều

nhất là Bệnh viện Chợ Rẫy có 360 máy tính Pen IV trở lên đang hoạt động Nguồn

kinh phí trang bị máy có thể là máy được trang bị từ các dự án nước ngoài, từ ngân

sách nhà nước cho hoạt động thường xuyên, hoặc nguồn kinh phí từ hoạt động tự

chủ bệnh viện

Một số bệnh viện đã được trang bị máy chủ có cấu hình cao, đặc biệt là tại

các bệnh viện tuyến trung ương và các bệnh viện có dự án trang bị hệ thống quản lý

bệnh viện Nhưng số lượng này rất hạn chế

Hầu hết là các máy tính có cấu hình cao được tận dụng làm server

Số đơn vị có kết nối Internet tốc độ cao 196 98

Bảng 1.4: Thực trạng hạ tầng CNTT tại 200 bệnh viện

Trang 28

b Mạng Lan và kết nối Internet

58% các bệnh viện đã có mạng LAN Trong đó có 20 bệnh viện đã trang bị kết

nối không dây 58% đã có mạng LAN tới toàn bệnh viện, 30% đã có tới các khoa

Số đơn vị có ban chỉ đạo về CNTT 42 20,1

Số đơn vị có đơn vị chuyên trách về

2 BV có phòng CNTT, còn lại là bộ phận CNTT nằm trong phòng KHTH

Bảng 1.5: Thực trạng về tổ chức và nhân lực CNTT

Hầu hết các bệnh viện đã có kết nối Internet (98%) Nhà cung cấp chính là

VNPT, chiếm tới 90% số bệnh viện Chỉ có số ít bệnh viện còn dùng kết nối Dial-up

(8 bệnh viện), 29 bệnh viện đã có kết nối cáp quang

Số đơn vị có bộ phận chuyên

Số cán bộ chuyên trách về CNTT 202

Số đơn vị có ban chỉ đạo về CNTT 42 20,1

Số đơn vị có đơn vị chuyên trách về

2 BV có phòng CNTT, còn lại là bộ phận CNTT nằm trong phòng KHTH

Trang 29

c Tổ chức và nhân lực và ngân sách CNTT

42 bệnh viện có ban chỉ đạo CNTT, 56 bệnh viện có đơn vị chuyên trách trong đó

có 2 bệnh viện có phòng, còn lại hầu hết là nằm chung với phòng KHTH là tổ/nhóm

công nghệ thông tin

Tổng số nhân lực 202, trung bình 1 bệnh viện có 1 người Có nhiều bệnh viện

không có nhân lực CNTT, hầu hết là các bệnh viện không ứng dụng CNTT

57% có trình độ đại học, trong đó chỉ 15% là có chuyên ngành công nghệ thông tin

Phần lơn là cán bộ kiêm nhiệm Hầu như không có chương trình đào tạo nâng cao

trình độ cho các nhân viên phụ trách CNTT

Bảng 1.7: Ngân sách trung bình chi cho CNTT giai đoạn 2006 - 2009 (ĐVT: 1000

đồng)

95 bệnh viện (51%) có nguồn kinh phí, 2/3 là từ nguồn kinh phí sự nghiệp,

1/3 là từ vốn xã hội hóa cân đối thu chi của bệnh viện và các nguồn tài trợ từ các dự

án Nguồn ngân sách chi cho CNTT tăng dần hàng năm, năm 2005 ngân sách một

bệnh viện chi trung bình là 16 triệu đồng, đến năm 2009 ngân sách trung bình đã

tăng lên 38 triệu đồng, tốc độ tăng trung bình 4,4 triệu đồng/năm tương đương 12%

Trong đó bệnh viện dành ngân sách lớn nhất là 660 triệu đồng Tuy nhiên, đến 70%

kinh phí là dành cho mua sắm phần cứng và hạ tầng mạng Số tiền dành cho đào tạo

là rất thấp chỉ xấp xỉ 10%

Trang 30

Quản lý bệnh nhân điều trị ngoại trú 72 50,35

Quản lý bệnh nhân điều trị nội trú 97 67,83

của BHXH

Bảng 1.8 Thực trạng ứng dụng phần mềm quản lý bệnh viện

Trang 31

Có 143 (chiếm 75%) bệnh viện đã thực hiện ứng dụng CNTT vào quản lý

bệnh viện, nhưng với những mức độ khác nhau Hầu hết các phần mềm đều tuân

theo “Tiêu chí về phần mềm và nội dung một số phân hệ phần mềm tin học quản lý

bệnh viện” ban hành kèm quyết định 5573/2006/QĐ-BYT ngày 29/12 của Bộ

trưởng Bộ Y tế Các phân hệ được kết nối phổ biến là: tiếp đón, phòng khám, nội

trú, ngoại trú, dược

Thực tế một bệnh viện có thể có 3 phần mềm cùng hoạt động: Phần mềm

quản lý bệnh viện do bệnh viện tự đầu tư, phần mềm báo cáo thống kê Medisoft

2003 do Bộ Y tế ban hành để thực hiện báo cáo thống kê chuyên môn bệnh viện, và

phần mềm quản lý bảo hiểm y tế do bảo hiểm xã hội Việt Nam cung cấp Chính sự

không thống nhất về chuẩn dữ liệu của các phần mềm khiến các bệnh viện gặp rất

nhiều khó khăn trong việc sử dụng Bên cạnh đó, việc áp dụng của hệ thống phân loại

bệnh tật quốc tế ICD (version IX & X) chưa được triệt để Việc sử dụng các thông tin

thu thập được từ bệnh viện để lập các chính sách là rất hạn chế, đặc biệt để giải quyết

vấn đề quá tải, nhân lực, hay xây dựng phương thức tính toán viện phí mới

e Quản lý báo cáo thống kê

Medisoft 2003 là phần mềm miễn phí được thiết kế dựa trên C #, DotNet,

XML và cơ sở dữ liệu Microsoft Access đã được triển khai ở bệnh viện tất cả để

quản lý thông tin nhập viện, ra viện và chuyển viện (ADTS) và báo cáo hoạt động

bệnh viện Phân hệ 2 được thiết kế trên C #, DotNet, các báo cáo được định dạng

theo chuẩn XML và cơ sở dữ liệu Oracle đã được triển khai tại Sở Y tế để thu thập

các báo cáo từ tất cả các bệnh viện sau đó lưu vào một tập tin và sau đó báo cáo Bộ

Y tế Sau 3 năm triển khai, hơn 30% số bệnh viện sử dụng phần mềm này để báo

cáo cho Sở Y tế tỉnh và sau đó trình Bộ Y tế Các bài học kinh nghiệm từ quá trình

triển khai hệ thống này có ý nghĩa quan trọng đối với việc lập chính sách và thực

hiện công tác quản lý công nghệ thông tin y tế

Sau 3 năm triển khai, hiện nay khoảng 500 bệnh viện sử dụng phần mềm này để

quản lý các báo cáo và gửi cho Sở Y tế và Bộ Y tế:

Trang 32

- Bệnh viện huyện/vùng: sử dụng phần mềm này để quản lý hồ sơ ra viện, thường

có 1-3 máy tính để quản lý khoảng 70-100 bệnh nhân xuất viện mỗi ngày

- Bệnh tỉnh và trung ương: do số lượng bệnh nhân xuất viện tại bệnh viện này tương

đối cao (300 - 500 bệnh nhân / ngày) vì vậy cần 3 người để nhập dữ liệu chỉ Vì vậy

mà có nhiều bệnh viện chỉ sử dụng phần mềm off-line để quản lý bệnh viện hoạt

động báo cáo

f Telemedicine:

Trong ngành y tế, đã có một số đơn vị trong ngành y tế bước đầu triển khai

ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cung cấp dịch vụ tư vấn khám chữa bệnh

từ xa như: Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Nhi trung ương,…

Tuy nhiên mới chỉ dừng ở mức độ thử nghiệm, trong các buổi hội chẩn nhất định

chưa tiến hành thường xuyên thường kỳ do vấn đề kinh phí và kỹ thuật,…

Ngày 5/5/2005, dựa trên đường truyền cáp quang của VNPT kết nối trực tiếp

giữa thiết bị mổ nội soi và camera quay từ phòng mổ, Bệnh viện Việt Tiệp (Hải

Phòng) đã trực tiếp thực hiện thành công ca phẫu thuật dưới sự tư vấn chuyên môn

của các chuyên gia ở Bệnh viện Việt Đức (Hà Nội)

Ngày 27/2/2006, các chuyên gia của Viện tim mạch Việt Nam đã thực hiện

trao đổi trực tuyến với Singapore trong cuộc phẫu thuật can thiệp tim mạch thông

qua kênh vệ tinh của Công ty viễn thông quốc tế VTI

Tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108 (Hà Nội) và Bệnh viện Quân y 175

(TP Hồ Chí Minh) đều thiết lập hệ thống kết nối 2 máy chẩn đoán hình ảnh chủ yếu

là CT và siêu âm nhằm hỗ trợ tác nghiệp trong xem xét hình ảnh và thực hiện chức

năng hậu xử lý (postprocessing)

g DICOM và PACS:

Việc ứng dụng DICOM và PACS là hết sức hạn chế Hiện tại mới chỉ có

Bệnh viện Hữu Nghị áp dụng PACS ở mức độ thử nghiệm, Bệnh viện Nhi Trung

ương bắt đầu nghiên cứu và triển khai ứng dụng MiniPACS

Trang 33

Ngoài việc khảo sát các bệnh viện công, báo cáo của Bộ Y tế còn phỏng vấn

sâu về ứng dụng CNTT của một số cơ sở y tế tư nhân tại Cần thơ và Bắc Giang

Nhìn chung các cơ sở y tế tư nhân cũng đã và đang đẩy mạnh ứng dụng CNTT

trong quản lý, xử lý thông tin, đặc biệt là quảng bá thương hiệu của Bệnh viện Tại

bệnh viện Hoàn Mỹ, Cần Thơ đã đã trang bị khá tốt về cơ sở hạ tầng để phát triển

CNTT Hiện tại có 1 server, các khoa phòng đều được trang bị máy vi tính Bệnh

viện có 2 kỹ sư CNTT Bệnh viện đã xây dựng được trang Website để giới thiệu

hoạt động cung cấp dịch vụ của bệnh viên; thông tin về chuyên môn và những tiến

bộ y học trên thế giới và trong nước Thông qua thông tin trên trang web, bệnh viện

đã nhận được ủng hộ nhân đạo từ các tổ chức trong và ngoài nước Bệnh viện đã

hợp đồng với đài truyền hình thành phố Cần Thơ, 1 tháng/1 lần khoảng 1 giờ từ

20-21 giờ để tuyền truyền giáo dục sức khỏe tới cộng đồng Về ứng dụng phần mềm

quản lý và xử lý số liệu: bệnh viện đã thuê chuyên gia Đài Loan hỗ trợ xây dựng

phần mềm quản lý, nhưng không đạt kết quả Hiện nay bệnh viện đang sử dụng

phần mềm Medisoft do Bộ Y tế cung cấp miễn phí để xử lý số liệu thống kê Bệnh

viện đã thuê viết phần mềm quản lý BHYT để thanh quyết toán viện phí cho những

bệnh nhân có BHYT Bệnh viện đang sử dụng phần mềm Tài chính do tập đoàn

Hoàn Mỹ cung cấp, tất cả các hoạt động tài chính của bệnh viện được truyền thẳng

về văn phòng tập đoàn tại Tp Hồ Chí Minh

Bệnh viện Sông Hương, tỉnh Bắc Giang, hiện có 30 giường bệnh, bệnh viện

đã trang bị 17 máy tính cho nhân viên bệnh viện Bệnh viện đã triển khai ứng dụng

phần mềm viện phí do BHXH cấp; Phần mềm kế toán Misa mua của công ty Misa;

phần mềm quản lý dược Bệnh viện đã lắp đạt internet Năm 2010 bệnh viện đã đầu

tư 30 triệu đồng cho ứng dụng CNTT Hướng phát triển CNTT của bệnh viện là

triển khai các phân hệ quản lý bệnh nhân phòng khám và điều trị nội trú; xây dựng

trang Website để giới thiếu bệnh viện; đầu tư mua sắm thiết bị như máy chủ, nâng

cấp thiết bị để có thể triển khai phần mềm quản lý bệnh viện Nhiều phòng khám tư

nhân tại các tỉnh cũng đã lắp đạt internet và trang bị máy vi tính để phục vụ khai

Trang 34

thác thông tin và tổng hợp số liệu về thu/ chi tài chính, báo cáo hoạt động cung cấp

dịch vụ y tế thông qua các phần mềm execl và windworld

Theo kết quả phỏng vấn sâu tại một số BV tỉnh, huyện của Hai huyện: Một

số cán bộ lãnh đạo đã biết chỉ thị 02 của Bộ y tế nhưng chưa kết cấu trong NS hàng

năm vì có lĩnh vực ưu tiên cấp thiết khác và không biết cần những thủ tục gì để xin

kinh phí Bộ CNTT hoặc Bộ Y tế, kinh nghiệm sử dụng phần mềm: nên sử dụng

những phần mềm ở gần để thuận tiện cho hỗ trợ sưa chữa theo yêu cầu quản lý,

phần mềm nên đơn giản phù hợp với trình độ ngưới sử dụng,

Trang 35

Chương II Nghiên cứu yêu cầu về quản lý trang thiết bị y tế tại bệnh viện

2.1 Vai trò của trang thiết bị y tế trong bệnh viện

Trang thiết bị y tế (TTBYT) bao gồm các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư,

phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho hoạt động CSBVSK nhân dân, là

một trong những hàng hóa đặc biệt, chủng loại đa dạng luôn được cập nhật ứng

dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ mới, thế hệ công nghệ luôn thay đổi

Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, đặc biệt trong giai đoạn

công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, nhu cầu chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân

dân đòi hỏi chất lượng ngày càng cao TTBYT là một trong những yếu tố quan

trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho người

thầy thuốc trong công tác phòng bệnh và chữa bệnh Tầm quan trọng của TTBYT

còn được nhấn mạnh với quan điểm: nó là thước đo mức độ hiện đại của một cơ sở

y tế, trình độ y học của một quốc gia TTBYT là cánh tay vươn xa của người thầy

thuốc, mở rộng tầm nhìn cho các nhà khoa học TTBYT còn là cơ chế thị trường tạo

ra nguồn kinh phí để nâng cao dịch vụ y tế, từ đó mới có điều kiện giúp bệnh nhân

(BN) nghèo hưởng kỹ thuật cao, nâng cao đời sống CBNV, tạo uy tín, thương hiệu,

hòa nhập với thế giới

2.2 Sự phát triển trang thiết bị y tế trong giai đoạn hiện nay:

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, thời gian qua hệ thống y tế cả nước

đã được nâng cấp, trang thiết bị (TTB) cho các cơ sở thuộc lĩnh vực Y tế dự phòng,

khám chữa bệnh, y dược học cổ truyền, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao

công nghệ sản xuất thuốc được đầu tư Theo thống kê của Vụ Trang thiết bị và công

trình y tế Bộ Y tế tại Hội thảo Quản lý TTBYT, cập nhật thông tin ứng dụng kỹ

thuật cao trong y tế phối hợp cùng với công ty Johnson & Johnson Medical tổ chức

ngày đầu tháng 10-2011, Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là nơi được đầu tư TTBYT

nhiều nhất và tăng mạnh qua từng năm Đặc biệt từ năm 2008, nhờ Chương trình

trái phiếu Chính phủ, tại bệnh viện (BV) các tỉnh, nhiều chuyên khoa được đầu tư

đổi mới TBYT như chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm sinh hóa, phòng mổ và hồi sức

cấp cứu Nhiều thiết bị cơ bản và công nghệ cao được mua sắm như CT-scanner,

Trang 36

máy X.quang cao tần - tăng sáng truyền hình, siêu âm, nội soi, xét nghiệm sinh hóa

nhiều chỉ số, máy huyết học, máy thở, máy theo dõi bệnh nhân, sàng lọc HIV, sàng

lọc máu Các BV huyện được trang bị những thiết bị chẩn đoán thiết yếu: X.quang,

siêu âm, ô tô cứu thương Bên cạnh sự đầu tư từ ngân sách nhà nước và viện trợ,

ngành Y tế Việt Nam đã từng bước mở rộng xã hội hoá, cho phép một số BV công

huy động tài chính dưới các hình thức liên doanh, liên kết đặt máy hoặc đặt máy

độc quyền cung cấp hóa chất Theo đánh giá của Viện Chiến lược và Chính sách Y

tế, bằng hình thức này cả nước đã huy động được trên 3.200 tỷ đồng

Về nhu cầu đầu tư trang thiết bị y tế, Việt Nam là nước có số dân lớn (trên 87

triệu dân), trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới tháng

11/1/2007 và tốc độ phát triển kinh tế tương đối ổn định 6-7%/năm nên được coi là

khá hấp dẫn với thị trường thiết bị y tế Ngành Y tế vốn được coi là ngành có tính

chất sự nghiệp công, nên hệ thống y tế Nhà nước chiếm vai trò chi phối và nhà nước

đảm nhiệm trách nhiệm đầu tư chính cho y tế (bao gồm cả kinh phí trả lương và

một phần kinh phí hoạt động) Chi y tế bình quân đầu người tại Việt Nam có xu

hướng tăng qua các năm, tính theo giá hiện hành qua các năm 1998, 2000, 2005,

2008, 2010 là 17 USD, 21, 38, 66 và 80 USD Tỷ lệ tổng chi y tế và GDP có tăng

song ở mức thấp, đạt khoảng 5-6% Nhờ tổng chi cho y tế tăng lên, các bệnh viện có

ngân sách để mua sắm máy móc, TTB y tế

Năm

Tổng số chi y tế/GDP

NSNN chi y tế/GDP

Trang 37

2007 6.21 2.36 3.94 0.08

2008 6.00 2.74 3.65 0.14

2009 6.55 2.76 3.78 0.15

2010 6.93 3.09 3.84 0.10

Bảng 2.1: Chi y tế qua các năm (tính bằng % của GDP)

Xét về quy mô thị trường TTB y tế, năm 2010 ước tính thị trường Việt Nam

đối với thiết bị y tế và vật tư có giá trị chừng 515 triệu USD, tương đương 6 USD

trên đầu dân Một số con số dự báo lạc quan thị trường Việt Nam sẽ tiếp tục tăng

trưởng từ 10-15% mỗi năm và đạt quy mô trên 1 tỷ đô la Mỹ vào năm 2015 Thị

phần chủ yếu hiện nay là từ nhập khẩu và một phần ba (30-40%) là từ các hãng của

Nhật, Đức và Mỹ Các thiết bị được tiêu thụ chủ yếu là thiết bị chẩn đoán hình ảnh,

xét nghiệm, thiết bị phòng mổ, thiết bị khử trùng, chống nhiễm khuẩn, theo dõi

bệnh nhân và cấp cứu TP Hồ Chí Minh và Hà Nội vẫn là nơi đầu tư TTB y tế nhiều

nhất Theo thống kê của Cục Hải quan TP.HCM, giá trị một số loại máy móc khám

chữa bệnh nhập về VN qua các cảng của TP.HCM tăng mạnh qua từng năm: năm

2009 là gần 203,8 triệu USD; năm 2010 là 261,5 triệu USD; và chưa đến bốn tháng

đầu năm nay đã nhập về hơn 110,2 triệu USD Giá trị xuất khẩu của TTB y tế Việt

Nam còn rất thấp, chỉ đạt 180 triệu USD năm 2008 và chủ yếu là sang Nhật Bản

(29,6%)

Về chi đầu tư phát triển trong tổng chi y tế quốc gia cho thấy chiếm tỷ lệ dao

động xung quanh 10% tổng chi y tế song có xu hướng giảm từ giai đoạn 2004-2007

(từ 13,77% năm 2003 xuống 7,6% năm 2004 và 6,9% năm 2007) nhưng từ 2008

đến nay đã tăng nên nhờ các chương trình trái phiếu Chính phủ theo quyết định số

47/2008/QĐ-TTg và 930/QĐ-TTg đầu tư cho bệnh viện tuyến huyện, tuyến tỉnh và

một số chuyên khoa (lao, tâm thần, ung bướu, chuyên khoa nhi) Từ 2008 đến năm

2013, Chính phủ sẽ tiếp tục các chương trình đầu tư trái phiếu Chính phủ từ năm

2008 đến nay với 17 ngàn tỷ đồng đầu tư cho 624 bệnh viện huyện và trên 32 ngàn

tỷ đồng từ TPCP đầu tư cho một số chuyên khoa và bệnh viện tuyến tỉnh Mặc dầu

Trang 38

số đầu tư cho TTB YT chưa thống kê thực tế được xong ước tính 30% là đầu tư cho

TTB y tế

Bên cạnh đầu tư từ ngân sách nhà nước và viện trợ, ngành y tế Việt Nam đã

từng bước mở rộng xã hội hóa, cho phép một số hình thức huy động tài chính để

trang bị thêm máy móc, trang bị Hiện nay hình thức phổ biến trong các bệnh viện

công huy động tài chính dưới các hình thức: liên doanh, liên kết đặt máy phân chia

lợi nhuận hoặc đặt máy độc quyền cung cấp hóa chất Theo hình thức này, đánh giá

của Viện Chiến lược và chính sách y tế cho thấy ước tính cả nước huy động được

trên 3.200 tỷ đồng, tập trung chủ yếu ở các bệnh viện thuộc TP HCM (trên 1000 tỷ

đồng) và các bệnh viện thuộc Bộ Y tế Nhờ phương thức này, nhiều dịch vụ kỹ

thuật cao đã được triên khai (mà không có nguồn vốn nhà nước) như chẩn đoán

hình ảnh (MRI, CT scan, siêu âm), xét nghiệm, nội soi chẩn đoán và can thiệp;

nguồn thu tài chính của bệnh viện tăng lên và giúp phát triển kỹ thuật tại các bệnh

viện Tuy nhiên, hình thức này thực hiện khi không tách thành pháp nhân độc lập sẽ

có khả năng dẫn tới sự lạm dụng dịch vụ nếu kiểm soát không tốt

Về đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực y tế, theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ

Kế hoạch và Đầu tư), cả nước có trên 70 dự án đầu tư nước ngoài trực tiếp vào lĩnh

vực y tế (y, dược, TTB) với tổng vốn đăng ký là gần 1 tỷ đô la Mặc dù, vốn đầu tư

trực tiếp FDI vào y tế còn khiêm tốn, song nhiều chuyên gia vẫn nhận định rằng

trong những năm tới, số bệnh viện tư nhân và bệnh viện có vốn FDI sẽ tăng mạnh

khi một loạt chính sách ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực khám chữa bệnh được triển khai,

nhiều rào cản trong hoạt động y tế tư nhân được tháo gỡ khi áp dụng chính sách ưu

đãi đặc biệt về thuế

2.3 Các yêu cầu về quản lý trang thiết bị y tế trong bệnh viện

Thông tin y tế là một trong những loại thông tin phức tạp, đa dạng, đồng thời

là cơ sở phục vụ cho không chỉ quá trình khám và chữa bệnh và cả quản lý bệnh

viện Một hệ thông tin y tế thường bao gồm 2 loại thông tin cơ bản như sau: (1)

Trang 39

Thông tin bệnh viện (bao gồm: nhân lực, trang thiết bị, vật tư tiêu hao, dược, tài

chính, bảo hiểm…) và (2) Thông tin bệnh nhân (bao gồm: thông tin nhập viện, dữ

liệu bệnh án, dữ liệu điều trị, thông tin ra viện) [6] Cùng với các thành tựu trong

lĩnh vực khoa học kỹ thuật, các thiết bị điện tử y tế dùng trong hỗ trợ chẩn đoán và

điều trị ngày càng được ứng dụng nhiều Do đó, dữ liệu về trang thiết bị y tế trong

bệnh viện cũng ngày càng đa dạng về chủng loại và phức tạp về cấu trúc

Hồ sơ thiết bị y tế có tính lịch sử và liên tục Điều đó có nghĩa là tất cả những

dữ liệu của trang thiết bị y tế từ khi đưa vào sử dụng cho tới thời điểm hiện tại điều

có ý nghĩa đối với quá trình quản lý, thậm chí có ảnh hưởng đến chẩn đoán và điều

trị cho bệnh nhân Do đó, quy trình quản lý trang thiết bị y tế và khả năng đáp ứng

thông tin khi cần là các yếu tố quan trọng đối với các cơ sở y tế

2.3.1 Yêu cầu phân loại trang thiết bị y tế để quản lý

Trong y tế hiện nay, có nhiều cách để phân loại các thiết bị y tế như dựa theo

chức năng và mục đích sử dụng, theo vị trí của thiết bị được đặt trong bệnh viện hay

theo nguyên lý hoạt động và cơ chế vận hành của thiết bị hoặc phân loại theo mức

độ rủi ro Trên thế giới phổ biến cách phân loại theo mức độ rủi ro, tuy nhiên ở Việt

Nam, phương pháp phân loại dựa theo chức năng và mục đích sử dụng của thiết bị

đang được sử dụng phổ biến trong ngành y tế Theo phương pháp này, thiết bị y tế

thường được phân loại theo các chức năng như chẩn đoán, điều trị và chăm sóc đặc

biệt hay cấp cứu

 Theo chức năng chẩn đoán, thiết bị điện tử y tế chia ra làm 3 loại gồm: (1)

Thiết bị phục vụ chẩn đoán chức năng (thăm dò chức năng); (2) Thiết bị

phục vụ chẩn đoán hình ảnh và (3) Thiết bị xét nghiệm

(1) Thiết bị phục vụ chẩn đoán chức năng chính gồm:

- Thiết bị điện tâm đồ

- Thiết bị điện não đồ

- Thiết bị điện cơ đồ

- Máy đo nồng độ bão hòa ôxy trong máu SpO2

- Máy đo độ loãng xương…

Trang 40

(2) Thiết bị phục vụ chẩn đoán hình ảnh chính gồm:

- Thiết bị siêu âm

- Thiết bị nội soi

- Thiết bị chụp X quang thường quy, CR, DR

- Thiết bị xét nghiệm huyết học

- Thiết bị xét nghiệm sinh hóa

- Thiết bị xét nghiệm nước tiểu

- Thiết bị xét nghiệm miễn dịch

- Thiết bị định danh vi khuẩn…

 Theo chức năng điều trị, thiết bị điện tử y tế chính gồm:

- Máy chạy thận nhân tạo

- Máy tạo nhịp tim

- Máy xạ trị

- Các thiết bị vật lý trị liệu

- Các thiết bị phục hồi chức năng

 Theo chức năng chăm sóc đặc biệt, cấp cứu, thiết bị điện tử y tế gồm:

- Máy sốc tim

- Máy theo dõi bệnh nhân

- Máy thở

- Máy gây mê

- Máy tim phổi nhân tạo…

Ngày đăng: 09/07/2017, 22:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh  Hướng dẫn chụp hình ảnh tối ưu   - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
nh ảnh Hướng dẫn chụp hình ảnh tối ưu  (Trang 10)
Bảng 1.2 Đánh giá khả năng tiết kiệm chi phí khám và chữa bệnh tại nước Mỹ khi - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Bảng 1.2 Đánh giá khả năng tiết kiệm chi phí khám và chữa bệnh tại nước Mỹ khi (Trang 11)
Bảng 1.1 Khả năng tiết kiệm chi phí theo mức độ điện tử hóa dữ liệu trong bệnh - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Bảng 1.1 Khả năng tiết kiệm chi phí theo mức độ điện tử hóa dữ liệu trong bệnh (Trang 11)
Bảng 1.3. Số lượng bệnh viện theo tuyến và loại bệnh viện - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Bảng 1.3. Số lượng bệnh viện theo tuyến và loại bệnh viện (Trang 26)
Bảng 1.5: Thực trạng về tổ chức và nhân lực CNTT - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Bảng 1.5 Thực trạng về tổ chức và nhân lực CNTT (Trang 28)
Bảng 1.6: Thực trạng về tổ chức và nhân lực CNTT - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Bảng 1.6 Thực trạng về tổ chức và nhân lực CNTT (Trang 28)
Bảng 1.7: Ngân sách trung bình chi cho CNTT giai đoạn 2006 - 2009 (ĐVT: 1000 - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Bảng 1.7 Ngân sách trung bình chi cho CNTT giai đoạn 2006 - 2009 (ĐVT: 1000 (Trang 29)
Bảng 2.1: Chi y tế qua các năm (tính bằng % của GDP) - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Bảng 2.1 Chi y tế qua các năm (tính bằng % của GDP) (Trang 37)
Hình 3.1: Sơ đồ mô hình kiến trúc - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Hình 3.1 Sơ đồ mô hình kiến trúc (Trang 60)
Hình 3.3 Giao diện nhập thiết bị vào kho - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Hình 3.3 Giao diện nhập thiết bị vào kho (Trang 81)
Hình 3.4 Giao diện thông tin phiếu nhập và thiết bị - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Hình 3.4 Giao diện thông tin phiếu nhập và thiết bị (Trang 82)
Hình 3.7 Thêm thông tin phiếu dự trù lĩnh và thiết bị - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Hình 3.7 Thêm thông tin phiếu dự trù lĩnh và thiết bị (Trang 83)
Hình 3.6 Giao diện duyệt nhập thiết bị vào kho - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Hình 3.6 Giao diện duyệt nhập thiết bị vào kho (Trang 83)
Hình 3.8 Sửa thông tin phiếu dự trù lĩnh và thiết bị - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Hình 3.8 Sửa thông tin phiếu dự trù lĩnh và thiết bị (Trang 84)
Hình 3.9 Duyệt phiếu dự trù lĩnh - Nghiên cứu, xây dựng phần mềm quản lý thiết bị y tế tại các bệnh viện
Hình 3.9 Duyệt phiếu dự trù lĩnh (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w