Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ b n: Hiện nay, một số mô hình tương tự bệnh án điện tử EMR đang áp dụng thường được lưu trữ dưới dạng text thông tin hành chính cá nhân, tiền sử khám ch
Trang 1KS Lê Xuân Thành – Ph ng V t t Thi t - B nh vi n H u Ngh
nhi t t nh gi p t i trong vi p ụng m h nh v o thi t th t ể t i
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Ngoài sự giúp đỡ và hướng dẫn của TS Vũ Duy Hải, tác giả còn nhận được
hướng dẫn của KS Lê Xuân Thành – Phòng Vật tư Thiết bị - Bệnh viện Hữu Nghị
Luận văn này là sản phẩm của quá trình tìm tòi, nghiên cứu của tác giả về các vấn đề được đặt ra trong luận văn Mọi số liệu, quan điểm, phân tích, đánh giá, kết luận của các tài liệu và các nhà nghiên cứu khác được trích dẫn theo đúng quy định Vì vậy, tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
H nội th ng 09 n m 2014
Học viên
Nguyễn Ngọc Xuân
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 5
DANH MỤC BẢNG 7
GIẢI TÍCH TỪ NGỮ, CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 8
MỞ ĐẦU 10
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 14
1.1 Hiện trạng ứng dụng CNTT trong y tế: 14
1.2 Các hệ thống ứng dụng CNTT trong bệnh viện: 15
1.3 Vấn đề trao đổi dữ liệu Bệnh án điện tử 17
CHƯƠNG 2 – ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH BỆNH ÁN ĐIỆN TỬ ĐA PHƯƠNG TIỆN I-EMR TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ BỆNH VIỆN 30
2.1 Kiến trúc tổng thể của hệ thống thông tin quản lý bệnh viện kết hợp I-EMR 30 2.2 Đề xuất các chức năng chính của I-EMR 33
2.3 Các module chính của I-EMR 34
2.4 Chức năng của HL7 CORE SYSTEM tại Bệnh viện 35
2.5 Chức năng của HL7 GATEWAY SYSTEM tại Sở Y tế 40
2.6 Chức năng và mô hình HL7 Interface Engine (HL7 IE) 45
2.7 Mô hình hệ thống lưu trữ và truyền thông hình ảnh y tế PACS 52
2.8 Mô hình Hệ thống thông tin quản lý phòng xét nghiệm 54
CHƯƠNG 3 – MÔ PHỎNG KẾT NỐI THIẾT BỊ CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH SỬ DỤNG CHUẨN KẾT NỐI DICOM VỚI HỆ THỐNG I-EMR 54
3.1 Giới thiệu chuẩn DICOM 54
3.2 Định nghĩa thông tin và dịch vụ trong DICOM 55
3.3 Mã hóa và cấu trúc dữ liệu DICOM 59
3.4 Trao đổi bản tin DICOM 60
3.5 Truyền tin DICOM 62
3.6 Mô hình lưu trữ trung gian DICOM 70
Trang 43.7 Các Dịch vụ File DICOM 74
3.8 Thu nhận và truyền thông dữ liệu ảnh DICOM 81
3.9 Xử lý dữ liệu ảnh DICOM 93
3.10 Kết quả nghiên cứu thử nghiệm 105
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Mô hình hệ thống thông tin quản lý bệnh viện kết hợp với EMR và kết nối
toàn hệ thống 30
Hình 2.2 Kiến trúc tổng thể hệ thống EMR 32
Hình 2.3 Mô hình trao đổi thông tin giữa các HL7 Core tại bệnh viện 35
Hình 2.4 Mô hình trao đổi thông tin giữa HL7 CORE và HL7 Gateway 40
Hình 3 1 Mô hình SOP 55
Hình 3 2 Cấu trúc thành phần dữ liệu và Bộ Dữ liệu 60
Hình 3 3 Cổng RJ-45 61
Hình 3 4: Mô hình truyền tin tổng quát 62
Hình 3 5: DICOM và mô hình OSI 63
Hình 3 6: Cấu trúc tầng ứng dụng DICOM 64
Hình 3 7: Cấu trúc Bản tin DICOM 65
Hình 3 8: Dịch vụ nguyên thuỷ của DIMSE 67
Hình 3 9: Dòng thông báo và thao tác 68
Hình 3 10: Mô hình lưu trữ trung gian DICOM 71
Hình 3 11: Khuôn dạng File DICOM 73
Hình 3 12: Sơ đồ đặt tên bộ file 77
Hình 3 13: Minh hoạ gửi ảnh 82
Hình 3 14: Cơ sở dữ liệu DICOM 86
Hình 3 15: Chất vấn, truy vấn ảnh 88
Hình 3 16: Minh họa dữ liệu điểm ảnh 94
Hình 3 17: Một Lớp hình ảnh 95
Hình 3 18: Mã hóa dữ liệu Overlay 96
Hình 3 19: Hiển thị ảnh và thông tin ảnh DICOM 97
Hình 3 20: Minh họa hình ảnh hiển thị 100
Hình 3 21: Chèn thông tin chẩn đoán 100
Hình 3 22: Các bước cân bằng mức xám đồ 102
Trang 6Hình 3 23: Thay đổi độ sáng tối, tương phản gián tiếp 103 Hình 3 24: Đo các thông sô trên ảnh DICOM 105 Hình 3 25: Mô tả giao diện chương trình chẩn đoán hình ảnh DICOM từ xa 105 Hình 3 26: Hình ảnh hiển thị dữ liệu ảnh bệnh nhân chụp mạch não trên máy cộng hưởng từ hãng GE 106 Hình 3 27: Hình ảnh hiển thị dữ liệu ảnh bệnh nhân chụp sọ não trên máy cộng hưởng từ hãng GE 107 Hình 3 28: Hình ảnh hiển thị dữ liệu ảnh bệnh nhân chụp cắt lớp ổ bụng trên máy
CT của hãng GE 107 Hình 3 29: Hình ảnh hiển thị dữ liệu ảnh bệnh nhân đang đặt Stend mạch vành từ máy chụp mạch của hãng Phillip 108 Hình 3 30: Hình ảnh hiển thị dữ liệu ảnh bệnh nhân siêu âm tim từ máy siêu âm Doppler màu của hãng eSaote 108 Hình 3 31: Hình ảnh hiển thị dữ liệu ảnh bệnh nhân siêu âm ổ bụng từ máy siêu âm Doppler màu của hãng Philips 109 Hình 3 32: Hình ảnh hiển thị dữ liệu hình ảnh bệnh nhân chụp X quang phổi từ số hoá CR của hãng AGFA 109
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1: Các chức năng chính của I-EMR 33
Bảng 2 2: Các chức năng của hệ thống HL7 CORE 37
Bảng 2 3: Các chức năng của HL7 Gateway tại Sở Y tế 43
Bảng 2 4: Các chức năng của hệ thống HL7 Interface Engine 49
Bảng 2 5: Các chức năng chính của PACS 53
Bảng 2 6: Các chức năng chính của LIS 54
Bảng 3 1: Bảng định nghĩa thông tin đối tượng (IOD) 56
Bảng 3 2: Các chân RJ-45 61
Bảng 3 3: Dòng thông báo và thao tác 69
Bảng 3 4: Thao tác Trung gian 76
Bảng 3 5: Sơ đồ bộ file DICOM 78
Bảng 3 6: Bảng trạng thái đáp ứng của C-STORE reponse 82
Bảng 3 7: Bảng thông tin ảnh hiển thị 86
Bảng 3 8: Thông tin hiển thị 99
Trang 8GIẢI TÍCH TỪ NGỮ, CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 Telemedicine: là việc sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin để truyền tải thông
tin dưới dạng âm thanh, dữ liệu, hình ảnh và video clip (các đoạn phim ngắn được quay lại hay trích xuất ra từ một bộ phim) nhằm mục đích cung cấp, trao đổi thông tin phục vụ cho tư vấn, chẩn đoán y tế, điều trị, chăm sóc người bệnh, ngăn ngừa bệnh dịch và đào tạo y tế từ xa
2 Chuẩn qu t HL7 (Health Level 7): HL7 cung cấp giao thức chuẩn về
quản lý, trao đổi và tích hợp các dữ liệu y tế giữa các hệ thống thông tin y tế nhằm
hỗ trợ các hoạt động y tế
3 HL7 CDA (Health Level 7 Clinical Document Architecture): là một tài liệu
tiêu chuẩn quy định cấu trúc và ngữ nghĩa các dữ liệu lâm sàng phục vụ mục tiêu trao đổi dữ liệu giữa các bên liên quan
4 Chuẩn h nh nh s trong tru n th ng t DICOM (Digital Imaging Communications in Medicine): là chuẩn quốc tế xác định giao thức trao đổi, lưu trữ,
xử lý và chia sẻ dữ liệu hình ảnh giữa các thiết bị y tế và các hệ thống thông tin y tế
5 H th ng th ng tin l u tr l v tru n h nh nh PACS (Picture Archiving and Communication System): lưu trữ, xử lý, khai thác cơ sở dữ liệu, âm
thanh, hình ảnh, truyền hình ảnh động và các dữ liệu khác từ những thiết bị chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, Xquang, CT scanner, cộng hưởng từ hạt nhân Các lĩnh vực ứng dụng nhiều nhất của PACS là chẩn đoán hình ảnh từ xa (Teleradiology), chẩn đoán giải phẫu bệnh từ xa (Telepathology)
6 n thu i n t là phiên bản số của đơn thuốc bằng giấy được tạo ra và
xác thực bằng chữ ký số bởi bác sỹ kê đơn Đơn thuốc điện tử được sử dụng xuyên suốt trong các quá trình từ kê đơn, cấp phát thuốc
7 B nh n i n t EMR (Ele troni Me i l Record): là phiên bản số hóa
của bệnh án bằng giấy được tạo ra bởi các bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên y tế trong một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Hệ thống bệnh án điện tử là một hệ thống
Trang 9độc lập cho phép lưu trữ, thu thập, sửa đổi và bổ sung các thông tin chăm sóc sức khỏe
8 B nh n i n t ph ng ti n I-EMR (Electronic Medical Record): là
phiên bản nâng cấp của EMR, bổ sung các tính năng lưu trữ, khai thác, truyền tải dự liệu về quá trình khám và điều trị của bệnh nhân như: các hình ảnh chụp X-Quang,
CT Scanner, MRI, Siêu âm, điện tim ,
9 H s t : là hồ sơ ghi lại thông tin tóm tắt của một hoặc nhiều quá trình
khám bệnh, chữa bệnh và sử dụng dịch vụ y tế của một người bệnh tại nhiều cơ sở khám chữa bệnh khác nhau?
10 H s t i n t EHR (Ele troni He lth Re or ): là phiên bản số của
hồ sơ y tế bao gồm thông tin nhân khẩu học, tiêm chủng, dị ứng và nhóm máu; Thông tin tóm tắt quá trình điều trị, các triệu chứng và bệnh, , dấu hiệu sinh tồn, kết quả cận lâm sàng, điều trị bằng thuốc…
11 H th ng th ng tin qu n l ph ng ét nghi m LIS (L or tor Information System) là hệ thống có chức năng nhận các kết quả xét nghiệm số hóa
một cách tự động bằng việc tạo kết nối với các thiết bị y tế khác nhau và truyền đưa các thông tin hoàn toàn tự động
12 CNTT: Công nghệ thông tin
13 CSDL (Data Base): Cơ sở dữ liệu
14 Module: Module / thành phần
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Công nghệ thông tin có tầm ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội Đối với hoạt động của ngành y tế, CNTT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh, góp phần trong việc cải cách hành chính, quản lý, điều hành, triển khai và ứng dụng các kỹ thuật cao trong công tác khám chữa bệnh, giảng dạy, đào tạo, giám sát dịch bệnh, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến…
Hiện nay, hầu hết các bệnh viện đều đã ứng dụng CNTT trong quản lý với nhiều cấp độ khác nhau Tuy nhiên, ứng dụng CNTT trong ngành y tế Hà Nội còn mạng tính tự phát, chưa tuân thủ theo các chuẩn chung, chưa có quy hoạch và định hướng tổng thể
Trước những thách thức, khó khăn về ứng dụng CNTT, tôi mong muốn đóng góp một phần kiến thức của mình vào sự phát triển CNTT trong ngành y tế, do vậy
tôi đã xin phép thầy hướng dẫn được chọn đề tài “Nghiên cứu xâ dựng mô hình
cấu trúc bệnh án điện tử đa phương tiện ứng dụng trong mô hình bệnh viện điện
tử và PACS” để có cơ sở tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo ngành Y tế ban hành các
quy định, định hướng chuyên môn ứng dụng CNTT trong lĩnh vực y tế
2 Quá trình nghiên cứu:
Từ tháng 4 năm 2013, tôi đã báo cáo, xin ý kiến với thầy hướng dẫn là TS
Vũ Duy Hải về việc lựa chọn đề tài và người hướng dẫn Đồng thời, tôi cũng đã kết hợp việc xây dựng đồ án với công việc chuyên môn thực tế Cụ thể, tôi đã khảo sát hiện trạng ứng dụng CNTT của một số bệnh viện tại Hà Nội, nghiên cứu cấu trúc bệnh án điện tử do các đồng nghiệp đề xuất để làm căn cứ để nghiên cứu, xây dựng các nội dung đề tài
Từ tháng 8 năm 2013, sau khi nhận được quyết định giao đề tài luận văn thạc
sĩ của Hiệu trưởng nhà trường, tôi đã phối hợp chặt chẽ với TS Vũ Duy Hải để
Trang 11nghiên cứu, đề xuất mô hình kỹ thuật cấu trúc bệnh án điện tử đa phương tiện để ứng dụng trong mô hình bệnh viện điện tử và PACS
Đến nay, sau hơn 1 năm nghiên cứu, xây dựng, được sự giúp đỡ của người hướng dẫn là TS Vũ Duy Hải, KS Lê Xuân Thành – Phòng Vật tư Thiết bị - Bệnh viện Hữu Nghị và các đồng nghiệp trong ngành y tế, tôi đã hoàn thành nội dung đồ
án để báo cáo hội đồng chấm luận văn
3 Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Theo báo cáo của Bộ Y tế, hiện nay ngoài việc sử dụng hệ thống thông tin quản lý bệnh viện (HIS), các bệnh viện vẫn đang tiếp tục phải sử dụng hơn 24 mẫu bệnh án bằng giấy Nhu cầu chuyển đổi từ việc sử dụng các bệnh án trên giấy bằng các bệnh án điện tử thông thường (EMR) và bệnh án điện tử đa phương tiện (I-EMR) trở nên bức thiết hơn bao giờ hết I-EMR sẽ hỗ trợ cải thiện hiệu quả tiến trình công việc, tra cứu thông tin bệnh nhân, đặc biệt là các bệnh nhân tài khám Bên cạnh hệ thống HIS tiêu chuẩn, hệ thống PACS và I-EMR sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự động hóa tất cả các quy trình khám chữa bệnh, loại bỏ những thông tin trùng lặp và đảm bảo tra cứu thông tin chính xác, tức thời, giảm thiểu chi phí và thời gian chờ đợi, góp phần chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khỏe người dân
Nghiên cứu, đề xuất mô hình I-EMR và PACS để đề xuất áp dụng cho các bệnh viện:
+ Khi mô hình được triển khai sẽ giảm thiểu không gian lưu trữ rất lớn bằng
hồ sơ y tế giấy hiện tại thành file điện tử vào các thiết bị lưu trữ điện tử, đĩa quang hay ổ cứng, vì thế việc tìm kiếm và nhập liệu được thực hiện một cách nhanh chóng Người sử dụng có thể sử dụng nhiều phương pháp để nhập dữ liệu vào hệ thống cũng như kết xuất dữ liệu Việc trao đổi và chuyển đổi của các hồ sơ điện tử giữa các bệnh viện trở nên dễ dàng
Trang 12+ Tra cứu hình ảnh đã chụp trong quá khứ ứng với bệnh nhân đang kiểm tra;
tổ chức các danh sách làm việc và thư mục để chia dữ liệu thu thập được trong một PACS thành các dạng dễ dàng truy cập và sử dụng, giao thức hiển thị mặc định, trong đó các hình ảnh tự động hiển thị theo trật tự có tính logic, phù hợp trong môi trường y khoa cũng như các mẫu báo cáo hỗ trợ cho bác sĩ
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
- Quy trình khám bệnh, chữa bệnh tại các bệnh viện;
- Hệ thống thông tin Quản lý bệnh viện (HIS);
- Hệ thống thông tin lưu trữ, xử lý và truyền hình ảnh PACS
- Mô hình Bệnh án điện tử đa phương tiện (I-EMR)
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Quy trình khám chữa bệnh và Hệ thống thông tin Quản lý bệnh viện của một
số bệnh viện tại Hà Nội;
3.4 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ b n:
Hiện nay, một số mô hình tương tự bệnh án điện tử (EMR) đang áp dụng thường được lưu trữ dưới dạng text (thông tin hành chính cá nhân, tiền sử khám chữa bệnh, sử dụng thuốc, kết quả xét nghiệm, chỉ định điều trị,…) và được lồng ghép trong hệ thống thông tin bệnh viện Việc lữu trữ toàn bộ dữ liệu về về bệnh nhân bao gồm các hình ảnh y tế như X-Quang, CT Scanner, MRI còn hạn chế
Mô hình Bệnh án điện tử đa phương tiện (I-EMR) là sự kết hợp bệnh án điện
tử với hệ thống truyền nhận dữ liệu hình ảnh (PACS) chuyển tất cả những thông tin như đơn thuốc điện tử, kết quả xét nghiệm, ảnh chụp CT scanner, X- quang số, cộng hưởng từ MRI, kết quả nội soi, kết quả chẩn đoán và liệu trình điều trị, … thành dữ liệu có cấu trúc để lưu trữ và phục vụ tra cứu
Dữ liệu EMR được lưu trữ tập trung để phục vụ tra cứu theo phân quyền EMR có thể được sử dụng trong chẩn đoán hình ảnh từ xa, phục vụ cho việc hội chẩn qua internet và tiến tới việc trao đổi dữ liệu giữa các bệnh viện
Trang 13I-3.5 Phương pháp nghiên cứu:
- Khảo sát hiện trạng ứng dụng CNTT của các bệnh viện;
- Đề xuất lựa chọn mô hình I-EMR;
- Viết báo cáo và xây dựng phần mềm mô phỏng
Với kỳ vọng tăng cường khả năng trao đổi bệnh án điện tử giữa các bệnh viện cũng như việc trao đổi dữ liệu giữa Sở Y tế, Bộ Y tế và các bệnh viện nằm trong hệ thống khám chữa bệnh, cấu trúc bệnh án điện tử là một nhu cầu cấp thiết,
để các đơn vị xây dựng phần mềm quản lý bệnh viện nghiên cứu thiết kế hệ thống của mình theo hướng dùng chung được trong toàn ngành y tế
Trang 14CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 1.1 Hiện trạng ứng dụng CNTT trong y tế:
Được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ và lãnh đạo ngành y tế, trong những năm gần đây, ứng dụng CNTT trong y tế đã có nhiều khởi sắc Ứng dụng CNTT trong y tế nói chung và trong quản lý bệnh viện nói riêng đã làm thay đổi cách phục vụ nhân dân theo hướng nhanh, gọn, tiết kiệm thời gian và tiền bạc của bệnh nhân Người đến khám, chữa bệnh chỉ cần khai báo thông tin hành chính một lần Khi đến những khoa, phòng khác nhau, bệnh nhân không cần phải khai báo lại
vì các thông tin của bệnh nhân đã được lưu trữ trên hệ thống, quản lý thông suốt giữa các khoa phòng Việc thanh toán viện phí cũng nhanh và chính xác hơn Các chi phí của bệnh nhân khi phát sinh sẽ được cập nhật ngay vào hệ thống, có thể biết chính xác chi tiết số tiền bệnh nhân đã sử dụng ở bất kỳ thời điểm nào Khi bệnh nhân xuất viện mọi chi phí sẽ được hiển thị ngay trên bảng kê thanh toán ra viện Ứng dụng CNTT trong quy trình khám, chữa bệnh làm giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân, đây là thành quả lớn trong việc nâng cao chất lượng phục vụ Đó là chưa nói đến hiệu quả chuyên môn cũng được cải thiện, các bác sĩ có nhiều thời gian để
tư vấn cho người bệnh, có thể hội chẩn trực tiếp trên mạng và đưa ra kết quả, hướng điều trị nhanh nhất Một hệ thống công nghệ thông tin trong bệnh viện đáp ứng các yêu cầu nêu trên bao gồm các thành phần cơ bản sau:
- Hệ thống thông tin bệnh viện (Hospital Information System - HIS);
- Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh (Radiology Information System - RIS);
- Hệ thống lưu trữ và truyền ảnh (Picture Archiving and Communication System - PACS);
- Hệ thống thông tin quản lý phòng xét nghiệm (Laboratory Information System – LIS)
Có thể thấy ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện đã đem lại hiệu quả rõ rệt, rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, từ đây đã dần hình
Trang 15thành nguồn cơ sở dữ liệu y tế của bệnh nhân đặt nền móng cho hệ thống bệnh án điện tử
Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện mới chỉ dừng lại ở quy mô riêng lẻ mỗi bệnh viện, để xây dựng được hệ thống bệnh án điện tử dùng chung giữa các bệnh viện còn rất nhiều khó khăn Việc lưu trữ, tra cứu, khai thác hình ảnh y tế (X-Quang, MRI, CT-Scanner…) cũng là một bài toán khó giải, đòi hỏi không gian bộ nhớ rất lỡn và thiết kế cơ sở dữ liệu phức tạp, do vậy phần lớn các bệnh viện hiện nay chưa ứng dụng hệ thống lưu trữ và truyền hình ảnh (PACS) mà vẫn duy trì lưu trữ hình ảnh y tế bằng phương pháp truyền thống (ảnh chụp, phim
âm bản…)
Năm 2006, Bộ Y tế đã ban hành bộ tiêu chí khung phần mềm quản lý bệnh viện, bước đầu ngành y tế đã định hình một bộ khung phần mềm theo các module, nhưng quy định này vẫn chưa đưa ra được chuẩn thiết kế xây dựng hệ thống cơ sở
dữ liệu
Chính vì vậy, việc cơ quan quản lý sớm ban hành một chuẩn chung về phần mềm quản lý bệnh viện, cấu trúc bệnh án điện tử là một nhu cầu cấp thiết, để các đơn vị xây dựng phần mềm quản lý bệnh viện nghiên cứu thiết kế hệ thống của mình theo hướng dùng chung được trong toàn ngành y tế
1.2 Các hệ thống ứng dụng CNTT trong bệnh viện:
1.2.1 Hệ thống thông tin qu n lý bệnh viện (Hospital Information S stem-HIS)
HIS có thể quản lý thông tin về: nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất, nhưng quan trọng hơn cả là HIS quản lý thông tin về bệnh nhân, lấy bệnh nhân làm trung tâm, các thông tin hành chính của người bệnh, quá trình điều trị, các y lệnh, các kết quả lâm sang, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh… Tất cả những thông tin này sẽ được chứa đựng trong HIS Khi cơ sở dữ liệu của HIS tuân thủ đúng chuẩn chung thì có thể dùng HIS để trao đổi thông tin hai chiều giữa các khoa/phòng trong bệnh viện và giữa các bệnh viện với nhau
Trang 16Cho đến nay, HIS chỉ cho phép quản lý các thông tin y tế dạng text nhưng HIS đã phát huy hiệu quả rất tốt, đặc biệt đối với đặc điểm ngành y tế Việt Nam, do vậy hầu hết các bệnh viện quy mô vừa và lớn đã triển khai hệ thống này
1.2.2 Hệ thống thông tin chẩn đoán hình nh (RIS):
RIS hỗ trợ các công việc quản trị dữ liệu kết quả lâm sàng trong chẩn đoán hình ảnh, chia sẻ thông tin phục vụ chẩn đoán và điều trị Dữ liệu chẩn đoán hình ảnh vừa nhiều lại vừa có tính đặc thù cao (mỗi thiết bị chẩn đoán hình ảnh lại có chuẩn lưu trữ khác nhau), nên RIS ra đời để hỗ trợ công tác quản lý dữ liệu bệnh viện trong tin chẩn đoán hình ảnh
RIS quản lý cả dữ liệu về hình ảnh và văn bản chứ không đơn thuần là quản
lý văn bản dạng text như trong HIS Dữ liệu ảnh thu nhận được từ các thiết bị như X-quang, CT-Scan, MRI, siêu âm,… sẽ được lưu giữ lại dưới dạng tập các ảnh số hóa Đây chính là tập cơ sở dữ liệu mà RIS quản lý
Nhiệm vụ chính của RIS là:
- Tạo định dạng và lưu trữ kết quả chẩn đoán hình ảnh theo ID bệnh nhân;
- Thao tác với các bản ghi tương ứng với ID bệnh nhân;
- Hồi cứu các kết quả chẩn đoán hình ảnh của bệnh nhân;
- Hỗ trợ chẩn đoán và điều trị
1.2.3 Hệ thống lưu trữ và truyền nh (PACS):
Việc tra cứu, khai thác kết quả chẩn đoán hình ảnh trong quy mô nội bộ bệnh viện thì RIS cơ bản đáp ứng được Tuy nhiên, khi phát sinh nhu cầu lớn hơn về lưu trữ, phân phối và truyền hình ảnh thì RIS trở nên khó đáp ứng được Do vậy cần phải có Hệ thống lưu trữ và truyền ảnh (Picture archiving and Communication System - PACS) để đáp ứng yêu cầu lưu trữ, xử lý, truyền tải thông tin một cách có
hệ thống, nhanh chóng, chính xác, nâng cao chất lượng chẩn đoán và truyền hình ảnh để chẩn đoán hình ảnh từ xa
Trang 171.2.4 Hệ thống thông tin qu n lý phòng xét nghiệm (Laboratory Information System – LIS)
LIS nhận các kết quả xét nghiệm số hóa một cách tự động bằng việc tạo kết nối với các thiết bị y tế khác nhau và truyền đưa các thông tin hoàn toàn tự động
Khi bác sĩ đưa ra yêu cầu kiểm tra, bệnh học lâm sàng hướng dẫn các kiểm tra y tế theo các yêu cầu của bác sĩ và sau đó sẽ chuyển các kết quả kiểm tra lại cho bác sĩ bằng cách nhập dữ liệu vào hồ sơ bệnh án Bởi vì các kết quả xét nghiệm được kiểm tra bằng mắt thường và sau đó được ghi chép lại trong hồ sơ kết quả bằng phương pháp thủ công, vì thế tỷ lệ sai sót thường là rất cao Bên cạnh đó, các kết quả xét nghiệm thường được chuyển liên tục đến bộ phận điều trị và điều dưỡng cho nên mất rất nhiều thời gian
Khi LIS được đưa vào sử dụng, các kết quả xét nghiệm từ mạng của phòng xét nghiệm tự động gửi dữ liệu và lưu vào mục xét nghiệm trong hệ thống đăng ký bệnh nhân Trong khoảng thời gian này, bác sĩ có thể kiểm tra ngay lập tức kết quả xét nghiệm thông qua các thiết bị đầu cuối Trong hầu hết các bệnh viện, các mục cần xét nghiệm sẽ được đưa ra theo yêu cầu của bác sĩ, các khoa không trực tiếp điều trị cho bệnh nhân như bệnh học lâm sàng và phân tích X-Quang sẽ không biết được các vấn đề của bệnh nhân
Như vậy, cứ mỗi phòng xét nghiệm, các bác sĩ có thể đọc hồ sơ bệnh nhân thông qua thiết bị kết nối đầu cuối và xem xét các yêu cầu của kết quả để chẩn đoán
1.3 Vấn đề trao đổi dữ liệu Bệnh án điện tử
Dễ nhận thấy, việc trao đổi thông tin bệnh án giữa các cơ sở khám, chữa bệnh giúp nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh bởi lẽ, thông tin về sức khỏe, lịch sử điều trị và các thông tin trong quá trình khám, chữa bệnh của bệnh nhân được chia sẻ, trợ giúp tích cực cho bác sỹ điều trị có thể chẩn đoán chính xác, kịp thời và từ đó tăng khả năng điều trị khỏi bệnh cho bệnh nhân
Dưới giác độ hệ thống, để có thể trao đổi được các dữ liệu này, tất cả các bệnh nhân cần có một định danh duy nhất, từ đó, các bệnh viện và các cơ sở khám
Trang 18chữa bệnh có thể xác định chính xác các thông tin về người bệnh Đi kèm với hệ thống định danh dùng chung cho tất cả người bệnh, hệ thống các danh mục tham chiếu dùng chung, như ICD-10, NDC,… trợ giúp cho việc diễn giải các EMR một cách thuận tiện cũng góp phần vào việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
Tuy nhiên, hiện nay việc trao đổi thông tin hồ sơ bệnh án điện tử chưa thực hiện được do các nguyên nhân chủ yếu sau:
+ Vấn đề pháp lý: luật khám, chữa bệnh không cho phép các bệnh viện, cơ sở khám, chữa bệnh cung cấp toàn bộ thông tin về sức khỏe của mình cho bên thứ ba
+ Việc sử dụng hệ thống ID dùng chung trên toàn quốc hiện không thể thực hiện do chưa được tổ chức một cách thống nhất
+ Vấn đề chuẩn hóa trong việc sử dụng các danh mục tham chiếu dùng chung tại các bệnh viện và các cơ sở khám, chữa bệnh hiện chưa có Các đơn vị vẫn
tổ chức, sử dụng hệ thống mã hóa cho các danh mục tham chiếu một cách tự phát
+ Các cơ sở khám chữa bệnh không muốn “mở cửa” hệ thống do lo ngại về
an ninh và các yếu tố về quyền bí mật các thông tin cá nhân Để thực hiện việc trao đổi thông tin hồ sơ bệnh án, theo kinh nghiệm của các nước phát triển trong các hệ thống thông tin y tế, khi có yêu cầu của bệnh nhân, các đơn vị có thể cung cấp hồ sơ bệnh án giấy hoặc điện tử để bệnh nhân tự bảo quản và cung cấp cho bên thứ ba khi
có nhu cầu Dĩ nhiên, cách tiếp cận này không linh hoạt, kịp thời, và thường thì bệnh nhân không muốn luôn luôn mang theo hồ sơ bệnh án bên người
Như vậy, việc bảo quản hồ sơ bệnh án, theo luật định, vẫn do các cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện Khi đó, để có thể thực hiện trao đổi hồ sơ bệnh án, các vấn đề chính cần giải quyết như sau:
+ Cần có bộ dữ liệu y tế tiêu chuẩn (hồ sơ bệnh án) xây dựng dựa trên HL7, DICOM dùng trong trao đổi dữ liệu
+ Các bệnh viện cần cam kết tham gia và hỗ trợ tích cực trong quá trình xây dựng hệ thống
Trang 19+ Chuẩn hóa hệ thống các danh mục tham chiếu dùng chung, sử dụng thống nhất tại các bệnh viện và các cơ sở khám chữa bệnh tham gia hệ thống
+ Xây dựng cơ chế và tiến tới áp dụng trong việc xây dựng hệ thống ID bệnh nhân dùng chung toàn quốc, sử dụng công nghệ smartcard hoặc tương đương (trong thời điểm hiện tại, khi chưa có hệ thống ID dùng chung, hệ thống khi xây dựng cần tính toán để hỗ trợ sau này)
1.3.1 Các chuẩn quốc t đang sử dụng trong t :
1.3 1 1 Chuẩn HL7:
Health Level Seven (HL7) là một tổ chức các tình nguyện viên, không lợi nhuận được công nhận bởi một tổ chức phát triển và xây dựng tiêu chuẩn "HL7" cũng được sử dụng như là một cái tên gọi chung cho một số các tiêu chuẩn cụ thể được tạo ra bởi tổ chức này (tức là HL7 v2.x, v3.0, HL7 RIM, v.v) HL7 và các thành viên cung cấp một khung tiêu chuẩn thông dụng nhất thế giới (và liên quan đến tiêu chuẩn) cho việc trao đổi, chia sẻ, hội nhập và tìm kiếm các thông tin y tế điện tử Các tiêu chuẩn có hỗ trợ thực hành lâm sàng và quản lý, phân phối, và đánh giá các dịch vụ y tế, là thông dụng nhất trên thế giới HL7 phát triển khái niệm tiêu chuẩn (tức là HL7 RIM), tài liệu tiêu chuẩn (tức là HL7 CDA), ứng dụng tiêu chuẩn (tức là HL7 CCOW) và bản tin tiêu chuẩn (tức là HL7 v2.x và v3.0) Bản tin tiêu chuẩn được đặc biệt quan trọng bởi vì chúng xác định cách thức các thông tin được đóng gói và truyền đi từ nơi này sang nơi khác Tiêu chuẩn như thiết lập các ngôn ngữ, cấu trúc và các loại dữ liệu cần thiết cho việc tích hợp liền mạch từ một hệ thống này sang hệ thống khác HL7 phiên bản 2.x đã cho phép cho khả năng tương tác tự động giữa hệ thống Quản lý bệnh nhân điện tử (PAS), hệ thống Quản Lý Thực Hành (EPM) điện tử, hệ thống thông tin phòng thí nghiệm (LIS), chế độ dinh dưỡng, Dược phẩm và các hệ thống thanh toán cũng như hệ thống EMR hoặc EHR Hiện nay, chuẩn bản tin HL7 phiên bản 2.x được hỗ trợ bởi mỗi nhà cung cấp hệ thống thông tin y tế lớn tại Hoa Kỳ
HL7 là một trong những chuẩn dữ liệu được sử dụng cho các ứng dụng trong
Trang 20ngành lĩnh vực CNTT y tế HL7 bao gồm các tập định nghĩa các định dạng logic nhằm để đóng gói các thông tin y tế dưới dạng 1 bản tin và truyền đi hay chia sẻ giữa các hệ thống thông tin
Bệnh viện và các tổ chức y tế thường có những hệ thống máy tính khác nhau được sử dụng cho tất cả mọi thứ từ các hồ sơ thanh toán để theo dõi bệnh nhân Tất
cả các hệ thống này nên liên lạc và chia sẻ thông tin với nhau bất cứ khi nào nhận được thông tin mới HL7 quy định cụ thể một số tiêu chuẩn linh hoạt, các hướng dẫn, và các phương pháp mà theo đó hệ thống y tế khác nhau có thể giao tiếp với nhau Theo những tài liệu hướng dẫn thực thi giao thức chuẩn HL7, dữ liệu tiêu chuẩn là một tập hợp các quy tắc cho phép thông tin được chia sẻ và xử lý một cách thống nhất và nhất quán (về mặt ngữ pháp lẫn ngữ nghĩa) Những tiêu chuẩn dữ liệu này tạo điều kiện thuận lợi cho phép các tổ chức y tế dễ dàng chia sẻ thông tin lâm sàng Xây dựng và phát triển các mô hình khái niệm thông tin HL7 (ví dụ, HL7 RIM), tài liệu tiêu chuẩn (ví dụ, HL7 CDA), và các tiêu chuẩn tin nhắn (ví dụ, HL7 v2.x và v3.0) Nhắn tin tiêu chuẩn rất quan trọng bởi vì việc xác định cách các thông tin được đóng gói và truyền đạt nội dung giữa các bên liên quan HL7 phiên bản 2.x định nghĩa một loạt các thư điện tử để hỗ trợ các quy trình hành chính, hậu cần, tài chính cũng như lâm sàng Kể từ năm 1987, chuẩn HL7 đã được cập nhật thường xuyên, bao gồm phiên bản 2.1, 2.2, 2.3, 2.3.1, 2.4, 2.5, 2.5.1 và 2.6 Các tiêu chuẩn v2.x đều có khả năng tương thích ngược (tức là ứng dụng có hỗ trợ phiên bản 2.6 thì có thể xử lý được các phiên bản trước đó như 2.1, 2.2, …) HL7 v2.x chủ yếu
là sử dụng cú pháp mã hóa văn bản dựa trên các dấu phân cách
HL7 phiên bản 2.x tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng tương tác giữa Hệ thống Quản lý bệnh nhân (PAS), hệ thống thông tin phòng thí nghiệm (LIS), hệ thống theo dõi chế độ ăn uống, Dược phẩm và các hệ thống Thanh toán điện tử cũng như hệ thống bệnh án điện tử (EMR) hoặc hệ thống y bạ điện tử (EHR) Hiện nay, tiêu chuẩn của HL7 v2.x tin nhắn được hỗ trợ bởi mỗi nhà cung cấp hệ thống thông tin y tế lớn tại nhiều quốc gia trên thế giới
Trang 21Các bản tin HL7 ADT là các bản tin chứa đựng thông tin của bệnh nhân tương ứng với các sự kiện xuất hiện như: A01 – bệnh nhân đến bệnh viện khám bệnh, A02 - bệnh nhân chuyển viện, A03 – bệnh nhân xuất viện, … Những sự kiện này chính là nguyên nhân thúc đẩy các tiến trình trao đổi và chia sẻ thông tin trên các hệ thống thông tin trong bệnh viện
Cũng giống như bất kỳ những đề xuất khác, đề xuất sử dụng chuẩn HL7 trong hệ thống thông tin y tế sẽ mang lại những lợi ích trực tiếp và gián tiếp không những cho bệnh nhân mà còn cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách trong các tổ chức hay cơ quan cung cấp dịch vụ y tế:
- Tăng cường khả năng truy cập vào dữ liệu bệnh nhân (có nghĩa là truy xuất thông tin nhanh hơn và đầy đủ hơn giúp nâng cao hiệu quả trong việc chăm sóc sức khỏe bệnh nhân)
- Thông tin chính xác, ở đúng nơi, đúng lúc, giúp hỗ trợ trong việc ra quyết định nhằm cải thiện an toàn bệnh nhân
- Tăng cường khả năng bảo mật và độ an toàn thông tin, nâng cao độ tin cậy của thông tin trong quá trình trao đổi thông tin điện tử
- Cải thiện chất lượng thông tin bởi vì thông tin được truyền đi một lúc, đúng nơi đúng lúc, và giảm thiểu các sai sót không đáng có
- Cải thiện hiệu quả công việc thông qua sắp xếp hợp lý các quy trình và cung cấp thông tin nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực nhân lực trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
- Giảm thiểu chi phí tùy chỉnh các cổng kết nối dữ liệu trong các ứng dụng
- Tăng cường khả năng liên lạc và chia sẻ thông tin giữa các ứng dụng máy tính khác nhau bất kể chúng được xây dựng hay phát triển bởi nhà sản xuất phần mềm thương mại nào
- Giúp quản lý hiệu quả hơn thông qua việc có đầy đủ thông tin đúng lúc, đúng nơi
Trang 22Giao thức ứng dụng tin nhắn chuẩn HL7 đã được xác định cho lĩnh vực truyền thông y tế, đặc biệt là giữa các hệ thống lâm sàng HL7 hỗ trợ truyền thông tin nhắn trong các loại sau:
- Quản lý bệnh nhân (nhập viện, xuất viện, chuyển viện)
- Nhập các chỉ thị, chỉ định (chỉ định dinh dưỡng, chỉ định thuốc, chỉ định xét nghiệm lâm sàng)
- Quản lý tài chính (chẩn đoán, thủ thuật, người bảo đảm, bảo hiểm y tế)
- Báo cáo theo dõi lâm sàng (báo cáo tường thuật, báo cáo điện tim, điện não)
- Tập hồ sơ chính chia sẻ từ điển (cập nhật thư mục xét nghiệm lâm sàng, cập nhật công thức thuốc)
- Hồ sơ bệnh án / quản lý thông tin (theo dõi tài liệu hoặc dữ liệu đầu vào đã
và sẽ được sao chép)
- Lịch hẹn (tạo các cuộc hẹn, và yêu cầu về hoạt động dự kiến)
- Chuyển bệnh nhân (xác định giới thiệu và chuyển bệnh nhân từ một tổ chức
CT, MRI, SPECT, PET Bởi vì có quá nhiều hướng phát triển của các thiết bị hình ảnh y tế, do đó một vấn đề rất quan trọng là phải có một tiêu chuẩn cho các kết nối
và trao đổi thông tin giữa các thiết bị y tế Và cũng vì có nhiều nhà sản xuất trên thị trường cung cấp các thiết bị hình ảnh y tế với phương pháp tiếp cận và công nghệ
Trang 23khác nhau, nên nhu cầu cấp thiết là phải có một tiêu chuẩn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi của các hình ảnh và dữ liệu y tế dễ dàng hơn DICOM (Digital Imaging and Communiation in Medicine) là một tiêu chuẩn xác định giao thức trao đổi dữ liệu hình ảnh không những giữa các thiết bị y tế mà còn hỗ trợ cho những hệ thống thông tin y tế trong việc lưu trữ, xử lý, và chia sẻ hình ảnh
DICOM được phát triển nhằm tiêu chuẩn hóa dữ liệu hình ảnh y tế và các thông tin liên quan khiến cho việc trao đổi thông tin dễ dàng hơn Bên cạnh đó, DICOM còn được xác định theo định hướng dịch vụ mạng hoặc phương tiện truyền thông để truyền hoặc in những hình ảnh y tế DICOM cũng qui định các định dạng trao đổi dữ liệu, cách thức quản lý dòng chảy công việc, tính nhất quán và chất lượng khi xem hình ảnh cũng như yêu cầu về sự phù hợp của thiết bị và chương trình ứng dụng khi áp dụng DICOM
Tiêu chuẩn DICOM gắn liền với lĩnh vực thông tin hình ảnh y tế Trong lĩnh vực đó, nó chỉ trao đổi thông tin kỹ thuật số giữa các thiết bị hình ảnh y tế và các hệ thống thông tin khác
1.3.1.3 Chuẩn CDA (Clini l Do ument Ar hite ture)
Clinical Document Architecture (CDA) khởi đầu từ kiến trúc hồ sơ bệnh nhân (Patient Record Architecture - PRA); hồ sơ được tạo ra để cung cấp một mô hình trao đổi các thông tin lâm sàng như: tóm lược xuất viện, chuyển bệnh nhân và ghi chú bệnh trình; nhằm cung cấp đầy đủ thông tin chăm sóc sức khỏe, và hướng tới đạt được hồ sơ bệnh án điện tử
CDA là một tiêu chuẩn HL7 qui định cho các tài liệu lâm sàng như bản tóm tắt và ghi chú, tham vấn sử dụng kiến trúc XML Mỗi tài liệu XML sẽ có một kiến trúc gồm ba phần: (1) tiêu đề, (2) một cấu trúc DTD của tài liệu, (3) nội dung XML
Tiêu đề bao gồm các thông tin về loại tài liệu, chi tiết xác thực, những vấn đề gặp phải, bệnh nhân, và người thực hiện DTD quy định cấu trúc riêng biệt cho mỗi chuyên ngành / lĩnh vực / hồ sơ CDA chú trọng đến nội dung hơn là cách thức trình bày dữ liệu trên các thiết bị (ví dụ, màn hình máy tính, màn hình máy PDA, hoặc
Trang 24điện thoại) Các mô hình tham chiếu thông tin HL7 (Reference Information Model - RIM) là mô hình tham chiếu thông tin cho lĩnh vực y tế Tất cả các đặc tính kỹ thuật của bản tin HL7 và tài liệu trong tương lai sẽ được lấy từ đây
Khi sử dụng CDA để trao đổi, chuyển thông tin, nội dung của một tài liệu lâm sàng sẽ được ghi lại và sau đó được gửi theo khuôn dạng HL7 đến một tổ chức chăm sóc sức khỏe (Dolin et al 2001) có trách nhiệm điều trị cho bệnh nhân Dữ liệu trong các tài liệu CDA được xác định dựa trên RIM, và dựa trên các tiêu chuẩn khác (ví dụ, LOINC, mã số cho các quan sát trong phòng thí nghiệm lâm sàng), hoặc dựa trên các tiêu chuẩn địa phương
1.3.1.4 Chuẩn CCD (Continuit of C re Do ument)
HL7 CCD là kết quả của nỗ lực hợp tác giữa tổ chức HL7 và ASTM nhằm hòa hợp các định dạng dữ liệu và kiến trúc hồ sơ giữa ASTM Continuity of Care Record (CCR) và HL7 Clinical Document Architecture (CDA) Hồ sơ CCD sẽ cho phép khả năng tương tác cao hơn, hoặc tích hợp dữ liệu lâm sàng y tế và cho phép các bác sĩ gửi thông tin y tế điện tử cho các bác sĩ hay các tổ chức y tế khác mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa và thông tin y tế CCD đã trở thành một trong những tiêu chuẩn quốc tế đáng giá để ứng dụng vào trong các hệ thống tích hợp EMR/EHR
CCR chính là một tập dữ liệu chính (core data set) bao gồm các sự kiện thông tin liên quan đến hành chính, nhân khẩu học, và lâm sàng về chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân, bao gồm một hoặc nhiều sự kiện gặp phải trong y tế CCR cung cấp một phương tiện cho điều dưỡng viên, nhà quản trị hệ thống, hoặc thiết lập các tập hợp tất cả các dữ liệu cần thiết về bệnh nhân và chuyển tiếp nó đến một
hệ thống khác, và do đó, thông tin trong
CCR hỗ trợ việc chăm sóc sức khỏe liên tục cho bệnh nhân Trường hợp sử dụng chính của CCR là cung cấp một bản sao có chứa các dữ liệu như lâm sàng, nhân khẩu học, và hành chính của một bệnh nhân cụ thể trong khoảng thời gian thích hợp cho các đối tác yêu cầu
Trang 25Chuẩn SDMX-HD thường được sử dụng trong các phần mềm y tế nhằm kết xuất ra các bảng báo cáo tổng hợp Chuẩn còn cho phép tạo ra các bảng ánh xạ giữa các chỉ số và các lĩnh vực liên quan hỗ trợ cho phần DataSetDefinition trong SDMX-HD Bên cạnh đó, SDMX-HD còn cho phép người dùng xác định mô hình thông tin nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trình bày dữ liệu Để đạt được mục đích trên, người dùng cần có những thành phần cơ bản sau:
- Mô tả khái niệm: nhằm hiểu được ý nghĩa dữ liệu thống kê, chúng ta cần phải biết các khái niệm liên quan đến nó (ví dụ, chỉ riêng con số 1,2953 là vô nghĩa, nhưng nếu chúng ta biết rằng đây là một tỷ giá hối đoái cho đồng đô la Mỹ so với euro, các yếu tố bổ trợ làm cho chỉ số bắt đầu có ý nghĩa)
- Cấu trúc nhóm dữ liệu: Dữ liệu thống kê có thể được nhóm lại với nhau Các mức được định nghĩa sau đây:
Mức độ quan sát (đo lường của hiện tượng một số)
Các cấp độ (đo theo thời gian của hiện tượng một số người, thường là sau một khoảng thời thường xuyên)
Cấp độ nhóm (nhóm của loạt bài Một ví dụ nổi tiếng là nhóm anh chị em, trong đó có một tập của loạt bài này là giống nhau ngoại trừ việc họ được đo với tần số khác nhau)
Thiết lập các bộ/tập dữ liệu hoặc phân cấp dòng dữ liệu (tạo thành nhiều nhóm, ví dụ để trang trải một tên miền cụ thể thống kê) Các khái niệm mô tả nêu tại điểm 1 có thể được gắn ở các cấp độ khác nhau trong hệ thống phân cấp này
Trang 26- Khía cạnh và thuộc tính: Có hai loại: những yếu tố người có thể xác định và
mô tả được dữ liệu được gọi là khía cạnh hay lĩnh vực dữ liệu, và những yếu tố nào mang tính mô tả thì được gọi là các thuộc tính
- Từ khóa: lĩnh vực dữ liệu được nhóm vào thành những khóa, cho phép việc xác định một tập hợp các dữ liệu Các giá trị từ khóa được gắn ở cấp độ, và được đưa ra theo một trình tự cố định
- Danh sách mã: Mỗi giá trị trong một lĩnh vực được định nghĩa trong một danh sách mã Mỗi giá trị trên danh sách đó được đưa ra một chữ viết tắt (một mã)
và mô tả một ngôn ngữ cụ thể Các thuộc tính đôi khi được đại diện bằng mã số, nhưng đôi khi đại diện bởi các giá trị văn bản tự do Điều này cho chúng ta thấy rằng mục đích của một thuộc tính chỉ là để mô tả và không xác định được dữ liệu
- Xác định cấu trúc dữ liệu: Xác định cấu trúc dữ liệu là xác định một tập hợp các khái niệm trong đó mô tả và xác định một tập hợp các dữ liệu Các khái niệm trong các lĩnh vực (nhận dạng và mô tả), và các thuộc tính đi kèm, và nó mang lại cho mỗi cấp độ của các khái niệm này, dựa trên cấu trúc nhóm (Data Set, Group, Series, Observation) cũng như tình trạng của chúng (so với điều kiện bắt buộc)
Chúng cũng quy định cụ thể trong đó liệt kê giá trị có thể đang cung cấp cho các lĩnh vực liên quan, cũng như các giá trị các thuộc tính nếu có, hoặc như là danh sách mã hoặc các lĩnh vực văn bản tự do
1.3.2 Chuẩn sử dụng biểu diễn EMR dùng trong trao đổi dữ liệu
Các dữ liệu hồ sơ bệnh án khi lưu tại CSDL hệ thống theo các khuôn dạng khác nhau qui định bởi các nhà phát triển phần mềm Do mỗi nhà cung cấp giải pháp phần mềm thiết kế hệ thống CSDL theo các công nghệ, kiểu dữ liệu khác nhau dẫn đến việc khó khăn trong việc trao đổi dữ liệu hồ sơ bệnh án
Để giải quyết vấn đề này, các nhà khoa học đã đề xuất nhiều phương pháp cũng như cách tiếp cận sử dụng SNOMED, CDA… tuy nhiên, các cách tiếp cận thường vấp phải các vấn đề: thiếu tham chiếu miền hay không có khả năng thể hiện các thay đổi bổ sung cũng như các tham chiếu liên quan đến thời gian
Trang 27Có thể nhận thấy vấn đề chính trong việc trao đổi dữ liệu hồ sơ bệnh án giữa các bệnh viện và các cơ sở khám chữa bệnh đó là việc:
+ Không sử dụng chung một hệ thống danh mục chuẩn tham chiếu
+ Dữ liệu được lưu ở các định dạng khác nhau
Qua nghiên cứu các tài liệu và các kinh nghiệm trên thế giới, chúng tôi nhận thấy, việc áp dụng một kiến trúc linh hoạt trong việc biểu diễn dữ liệu y tế cần giải quyết được các vấn đề:
+ Linh hoạt trong khai báo và biểu diễn các cấu trúc dữ liệu khác nhau
+ Có khả năng mở rộng, đáp ứng các miền giá trị có thể không nằm trong các
mô hình tham chiếu
Khi đã có kiến trúc qui định chung cho các hệ thống thông tin y tế, việc trao đổi dữ liệu sẽ dễ dàng hơn rất nhiều
Về mặt công nghệ, để có thể đáp ứng các vấn đề nói trên, SNOMED thiếu khả năng biểu diễn nhiều loại dữ liệu và chỉ được sử dụng như một từ điển tham chiếu Trong khi đó, CDA được phát triển dựa trên HL7, có khả năng bao quát cả SNOMED và LOINC, hệ thống mã hóa các thuật ngữ y tế, biểu diễn dữ liệu sử dụng XML cho phép biểu diễn nhiều kiểu dữ liệu khác nhau
Trong đồ án đề xuất sử dụng CDA như một chuẩn chính thức áp dụng cho việc trao đổi thông tin y tế giữa các cơ sở khám, chữa bệnh
1.3.3 ấn đề xâ dựng bệnh án điện tử dùng chung
Hệ thống quản lý bệnh án điện tử (EMR) được tổ chức nhằm mục tiêu lưu trữ, ghi nhận và quản lý thông tin lưu chuyển trong bệnh viện và các cơ sở khám, chữa bệnh Đối với mỗi chuyên khoa, chuyên khoa sâu lại cần các chỉ tiêu khác nhau áp dụng cho từng bệnh án cụ thể Chính vì vậy, việc xây dựng một bệnh án điện tử dùng chung cho tất cả các chuyên khoa gần như là một nhiệm vụ không thể thực hiện trong thời gian trước đây do các nhà cung cấp tổ chức CSDL của hệ thống theo khuôn dạng khác nhau không tuân theo một tiêu chuẩn chung
Trang 28Hệ thống bệnh án điện tử, như một hệ thống độc lập đóng vai trò lưu trữ dữ liệu hồ sơ bệnh án dưới dạng điện tử tại các bệnh viện là nhằm mục tiêu chuẩn hóa được việc lưu trữ các dạng hồ sơ bệnh án khác nhau Hệ thống này được cung cấp
dữ liệu bởi hệ thống quản lý bệnh viện
Với cách tiếp cận này, các bệnh viện vẫn sẽ an tâm về tính bảo mật thông tin của các hồ sơ bệnh án, đồng thời, đảm bảo tuân theo chuẩn dùng chung trong trao đổi dữ liệu bệnh án
Kiến trúc dữ liệu lưu trữ trong hệ thống bệnh án điện tử tại bệnh viện sẽ dần từng bước được phát triển để có thể mở rộng cho các dạng bệnh án sử dụng riêng cho các chuyên khoa sâu tuân theo kiến trúc tài liệu lâm sàng CDA Theo đó, trong thời gian trước mắt, sẽ thực hiện xây dựng kiến trúc dữ liệu bệnh án cho các bệnh viện nằm trong danh sách địa điểm đầu tư Đúc kết kinh nghiệm và phát triển dần
mô hình CDA áp dụng cho nhiều bệnh viện khác trong hệ thống bệnh viện, cơ sở khám, chữa bệnh tại Việt Nam
Về vấn đề pháp lý liên quan đến cung cấp thông tin hồ sơ bệnh án điện tử, hồ
sơ bệnh án điện tử cần được coi có giá trị pháp lý tương đương với hình thức truyền thống Đương nhiên, việc xác định thông tin nào được phép cung cấp, trao đổi sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành tại Việt Nam
Như vậy, với cách tiếp cận nâng cấp hệ thống quản lý bệnh viện có sẵn tại các bệnh viện với tư cách là hệ thống nguồn cung cấp dữ liệu cho hệ thống bệnh án điện
tử sẽ tránh được lãng phí khi phải xây dựng lại toàn bộ hệ thống mà đã và đang phục
vụ tốt trong công tác quản lý của các đơn vị Đồng thời, hệ thống lưu trữ bệnh án điện
tử được xây dựng như một hệ thống riêng có tương tác với hệ thống HIS giúp cho việc chuyên môn hóa cũng như chuẩn hóa dữ liệu lưu trữ, từ hồ sơ bệnh án cho đến các danh mục tham chiếu dùng chung trên toàn bộ các bệnh viện trong dự án sẽ giúp cho việc tăng cường hiêu quả khi trao đổi dữ liệu hồ sơ bệnh án giữa các đơn vị
Việc giảm thiểu các tác động tiêu cực đến hệ thống HIS đang hoạt động tại các bệnh viện sẽ tránh được ảnh hưởng đến điều hành công việc hàng ngày của hệ
Trang 29thống Hệ thống lưu trữ bệnh án điện tử hoạt động như một hệ thống độc lập, trợ giúp cho việc trao đổi thông tin một cách thuận tiện và nhanh chóng Trong tương lai, các hệ thống này hoàn toàn có thể tiếp tục được nâng cấp để bổ sung và thay thế dần cho các hệ thống HIS vốn không được xây dựng dựa trên nền các chuẩn được quốc tế công nhận và áp dụng nhiều năm nay
Trang 30CHƯƠNG 2 – ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH BỆNH ÁN ĐIỆN TỬ ĐA PHƯƠNG TIỆN I-EMR TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Bệnh án điện tử nói chung và bệnh án điện tử đa phương tiện nói riêng là một thánh phần của hệ thống thông tin quản lý bệnh viện, do vậy để triển khai được I-EMR cần phải tương thích và là một thành phần cấu thành của hệ thống thông tin quản lý bệnh viện tổng thể từ các bệnh viện đến Sở Y tế hoặc Bộ Y tế
2.1 Kiến trúc tổng thể của hệ thống thông tin quản lý bệnh viện kết hợp I-EMR
PC
PC PC
Hệ thống HL7 CORE Bệnh viện/ HL7 IE
Máy chủ CSDL
Máy chủ Ứng dụng Máy chủ Mạng
PC
PC PC
WA/I
tern
et
Hệ thống HL7 CORE Sở Y tế
Máy chủ CSDL
Máy chủ Ứng dụng Máy chủ Mạng
Trang 31một đơn vị, bệnh viện có thể trao đổi thông tin, dữ liệu với nhau đã trở thành khuôn mẫu Thông tin, dữ liệu thực hiện trao đổi giữa các bệnh viện được thực hiện thông qua hệ thống bệnh án điện tử với nguồn dữ liệu tác nghiệp là từ hệ thống HIS Để
có thể thực hiện điều này, các hệ thống HIS tại các bệnh viện cần được chỉnh sửa để đáp ứng các yêu cầu:
- Hỗ trợ đầy đủ hệ thống EMR
- Có khả năng kết xuất thông tin dạng HL7
- Có khả năng nhận thông tin dạng HL7 từ nơi khác chuyển đến (có thể cả từ nước ngoài) thông qua hệ thống HL7 CORE SYSTEM
- Việc kết xuất được thực hiện từ HIS vào hệ thống HL7 CORE BỆNH VIỆN dữ liệu danh mục hệ thống phục vụ cho việc trao đổi này được cung cấp bởi HL7 CORE BỆNH VIỆN (nằm trong hệ thống bệnh án điện tử) HL7 CORE BỆNH VIỆN sẽ cung cấp các danh mục phổ biến phục vụ chuyên môn, báo cáo: ICD10, Địa bàn hành chính, thuốc và dược phẩm, thư viện phác đồ,
Giữa các hệ thống HL7CORE Bệnh viện tồn tại điểm trung gian được đặt tại
Sở Y tế, đảm bảo chức năng điều hành, điều phối khi thực hiện triển khai mở rộng
Hệ thống HL7 CORE GATEWAY đóng vai trò quản lý trung tâm đối với mọi hoạt động trao đổi dữ liệu bệnh án điện tử giữa các điểm và là một phần quan trọng của hệ thống
2.1.2 Mô hình I-EMR:
Hệ thống I-EMR bao gồm các chức năng cơ sở dữ liệu cốt lõi của EMR, phần mềm trung gian HL7 hỗ trợ trao đổi các bản tin HL7, phần mềm trung gian DICOM cho trao đổi hình ảnh y khoa, dịch vụ web, và máy chủ ứng dụng
Hệ thống EMR cài đặt ở bệnh viện phục vụ như một hệ thống quản lý thực tiễn, ví dụ như kê đơn thuốc, và ứng dụng thanh toán y tế Hệ thống EMR cung cấp giao diện hỗ trợ người dùng tương tác với dữ liệu được lưu trữ tại một cơ sở dữ liệu tập trung Các máy chủ cơ sở dữ liệu tập trung được thiết kế và triển khai tuân theo
Trang 32các chức năng lưu trữ và lấy dữ liệu bệnh nhân, lâm sàng từ Các máy chủ cơ sở dữ liệu tập trung bao gồm các máy chủ chính và máy chủ dự phòng Trong trường hợp máy chủ chính bị lỗi hay không hoạt động, các máy chủ dự phòng sẽ được chuyển sang chế độ máy chủ chính để đảm bảo kết nối và hoạt động liên tục
Những người sử dụng (bác sĩ hoặc y tá) có thể sử dụng máy tính cá nhân (laptop or notebook), hoặc các máy trạm, hoặc thiết bị cầm tay kết nối vào hệ thống EMR qua mạngnội bộ hoặc internet Trong thiết kế, các máy trạm được cài đặt các trình duyệt web hay là phần mềm máy con, tất cả phụ thuộc chủ yếu vào các máy chủ trung tâm đảm bảo chocác tiến trình hoạt động, và chủ yếu tập trung vào dữ liệu
đầu vào và đầu ra giữa người dùng và máy chủ từ xa
Chỉ định/LIS/PACS/Lịch hẹn/Quản lý bệnh nhân/Quản lý hồ sơ
Khung ứng dụng chung (Quản lý dữ liệu, quản lý tiến trình, Giao diện/Tích hợp, Dịch vụ
vận chuyển)
LỚP ỨNG DỤNG
LỚP DỮ LIỆU
LỚP TRÌNH BÀY Thiết bị các loại/WEB, Application, User…
XML Local XML
Kho dữ liệu lâm sàng
Hình 2.2 Kiến trúc tổng thể hệ thống EMR
Hệ thống EMR có các phần mềm hay module trung gian để giao tiếp và trao đổi thông tin lâm sàng khi có nhu cầu tích hợp thông tin Những phần mềm hay module trung gian này hỗ trợ thu thập và sắp xếp dữ liệu lâm sàng từ nhiều nguồn khác nhau chẳng hạn từ các thiết bị giám sát y tế, thiết bị hình ảnh y tế, … Các
Trang 33module giao tiếp chính được xử lý bởi module trung gian HL7 Các module HL7 trung gian được phát triển dựa trên tiêu chuẩn quốc tế HL7 nhằm tạo điều kiện thuận lợi, và nâng cao khả năng tương tác cho những phiên giao tiếp và trao đổi thông tin giữa các hệ thống thông tin y tế
Hơn nữa, lớp ứng dụng của hệ thống bệnh án điện tử EMR bao gồm một số ứng dụng thành phần như quản lý dữ liệu, quy trình quản lý, giao diện hoặc module tích hợp, quản lý thông tin, dịch vụ vận tải, vv Một vài ứng dụng liên quan kết nối với EMR như hệ thống thông tin xét nghiệm, hệ thống lịch hẹn, hệ thống lưu trữ hình ảnh, v.v
CDA/CCD là một tài liệu XML có thể bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh,
và nội dung đa phương tiện khác Sự phức tạp của một CDA/CCD có thể được kết hợp và tạo thành do sự phức tạp của vật liệu liên quan sẽ được dùng đến Điều này cho phép một sự tiến triển từ việc sử dụng các tài liệu rất đơn giản để chuyển thành nhiều tài liệu phức tạp nhằm đáp ứng được yêu cầu của các tổ chức sử dụng chúng Ngoài ra, XSL sẽ hỗ trợ việc xác định khung và dịnh dạng dữ liệu cho việc hiển thị trên màn hình máy tính hoặc xuất ra biễu mẫu để in ấn
2.2 Đề xuất các chức năng chính của I-EMR
Các chức năng chính của hệ thống EMR sẽ được mô tả chi tiết trong bảng sau:
Bảng 2 1: Các chức năng chính của I-EMR
1
Điều trị EMR
- Hồ sơ nhập viện
- Khởi tạo hồ sơ cho bệnh nhân ngoại trú
- Hồ sơ theo dõi
- Danh sách các vấn đề
- Danh sách các tiến trình
- Hồ sơ giải phẫu/gây mê
- Hồ sơ xuất viện
Trang 34TT Chức năng Mô tả
- Quá trình điều dưỡng
- Hồ sơ xuất viện
- Hồ sơ y tá đặc biệt
- Hồ sơ thay đổi
- Hồ sơ y tá phòng giải phẫu
Chức năng tài liệu - Mẫu tài liệu, chức năng chỉnh sửa hình ảnh và tài liệu
2.3 Các module chính của I-EMR
Hệ thống EMR được thiết kế và xây dựng dựa trên mô hình các module hoạt động độc lập, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng, triển khai, nâng cấp
và bảo trì hệ thống Hệ thống module phải tuân theo các tiêu chí sau:
Dễ dàng thêm và loại bỏ module
Module có khả năng truy xuất hoàn toàn trên hệ thống
Module cho phép cập nhật, chỉnh sửa và nâng cấp
Module phải có khả năng đồng bộ với các dữ liệu/thông tin trên hệ thống Module phải cung cấp cơ chế hòa nhập EMR với nhu cầu của người dùng trên hệ thống
* Các module chính dự kiến bao gồm:
Module tạo mẫu
Module các triệu chứng
Module tích hợp theo chuẩn SDMX-HD
Module hồ sơ bệnh nhân
Module báo cáo
Trang 35Module thẻ từ, barcode Module Xform Module sao lưu dữ liệu
Module xem các đoạn video clip
Module nhập/xuất (các tài liệu)
Module viện phí
Module quản lý ghi lại vết
Module tích hợp dữ liệu bệnh nhân
Module quản lý bảo hiểm
Module quản lý thông tin xét nghiệm
Module danh mục các thuật ngữ
Máy chủ CSDL Bệnh viện B Máy chủ CSDL Bệnh viện A
CSDL Trao đổi
HL7 Interface Engine
Máy chủ CSDL Sở Y tế HL7 CORE GATEWAY
INFO EXCHANGE
HL7 Interface Engine EMR EMR
Hình 2.3 Mô hình trao đổi thông tin giữa các HL7 Core tại bệnh viện
Dữ liệu EMR được gửi từ các hệ thống HL7CORE tại các bệnh viện thông
Trang 36qua hệ thống HL7CORE GATEWAY tại Sở Y tế tới hệ thống HL7CORE tại bệnh viện Việc nhận EMR từ các hệ thống khác tuân theo qui trình sau:
(1) Dữ liệu EMR được mã hóa, áp dụng giao thức HL7 với định dạng CDA tại nơi gửi thông qua HL7CORE GATEWAY tới vùng tạm trao đổi dữ liệu trong hệ thống HL7CORE bệnh viện
(2) Quản trị hệ thống thực hiện duyệt danh sách các EMR được gửi đến qua
hệ thống HL7CORE và thực hiện chuyển các EMR này vào hệ thống
(3) Chuyển các EMR đã được kiểm tra vào hệ thống HIS, phục vụ công tác khám/chữa bệnh cho bệnh nhân
(4) Ghi nhận vết trao đổi dữ liệu
Dữ liệu EMR của bệnh nhân được gửi đến hệ thống HL7CORE đích thông qua HL7CORE GATEWAY Việc gửi EMR từ các hệ thống khác tuân theo qui trình sau:
(1) Dữ liệu EMR được mã hóa và đóng gói với định dạng CDA
(2) Bổ sung thông tin về nơi gửi, nơi nhận, thời gian tồn tại, tại bệnh viện (3) Gói dữ liệu nói trên được chuyển đến HL7CORE GATEWAY
(4) Ghi nhận vết trao đổi dữ liệu
Hệ thống HL7 CORE cần đáp ứng các yêu cầu nêu trong phần trên, với các mục tiêu chính:
+ Hỗ trợ quản lý các hồ sơ bệnh án điện tử
+ Cung cấp công cụ diễn giải thông tin bệnh án dưới dạng HL7, hỗ trợ đưa vào lưu trữ trong CSDL hệ thống
+ Cung cấp công cụ kết xuất thông tin bệnh án dưới dạng HL7
+ Cung cấp công cụ với giao diện thực hiện trao đổi dữ liệu với các bệnh viện, cơ sở khám, chữa bệnh qua mạng internet hoặc hình thức file, USB,
+ Cung cấp công cụ nhận dữ liệu đã được ánh xạ bởi Interface Engine từ các
Trang 37thông tin kết xuất bởi hệ thống HIS
+ Công cụ trao đổi, quản lý danh mục chuẩn
Xây dựng hệ thống HL7 CORE phục vụ trao đổi thông tin Bệnh án điện tử tại BỆNH VIỆN
Bảng 2 2: Các chức năng của hệ thống HL7 CORE
- Thông tin hành chính bệnh nhân
- Thông tin về các thuốc đã sử dụng
- Thông tin về thực hiện các phác đồ điều trị
- Thông tin tiền sử bệnh tật (danh sách các bệnh mắc phải)
- Thông tin gia đình
- Các thông tin về chức năng sống gần nhất
- Thông tin dị ứng
- Các thông tin chủng ngừa
- Các y lệnh đã ra và kết quả
- Các kết quả chẩn đoán, hình ảnh
- Các ghi chép của điều dưỡng viên
- Thông tin thanh toán: bảo hiểm y tế, chi phí dịch vụ tự chi trả, cùng chi trả,…
- Cho phép xem thông tin nêu trên nếu trường hợp dữ liệu bệnh án được gửi dưới dạng file điện tử theo chuẩn HL7
Trang 38TT Yêu cầu
- Cho phép xem lại thông tin bệnh án đã kết xuất để kiểm tra
- Cho phép xác nhận bệnh án đã đượckiểm tra trước khi gửi đi
4
Module thực
hiện, theo dõi
giao diện
- Cho phép kiểm tra tính sẵn sàng của hệ thống nguồn
- Cho phép đặt lịch đồng bộ dữ liệu với hệ thống HIS
- Cho phép thực hiện đồng bộ bằng công cụ manual
- Cho phép ghi vết quá trình đồng bộ: bao nhiêu EMR thành công, bao nhiêu hồ sơ thất bại, bao nhiêu EMR đủ thông tin, bao nhiêu EMR thiếu thông tin
- Cho phép tạo hồ sơ đồng bộ với từng bệnh viện nếu chưa đồng bộ lần nào
- Cho phép quản lý các hồ sơ giao diện: thêm, cập nhật, sửa, xóa các hồ sơ giao diện
- Cho phép báo cáo thống kê tình trạng giao diện dữ liệu tổng hợp theo ngày, tháng, năm hoặc theo thời điểm bất kỳ
- Đóng gói và mã hóa các gói dữ liệu
- Kiểm tra thông tin quyền mở mã hóa gói dữ liệu EMR dạng HL7
Module quản
lý danh mục
- Danh mục địa bàn hành chính theo Tổng Cục Thống kê
- Danh mục mã bệnh chuẩn ICD10
- Danh mục mã dược phẩm ATC theo WHO
- Mã quản lý danh mục phòng xét nghiệm LOINC
- Mã SNOMED CT danh mục hệ thống hóa trong y tế
- ELINCS chuẩn trao đổi dữ liệu từ các máy xét nghiệm Các chức năng chung cho module quản lýdanh mục
- Cho phép nhập thêm, cập nhật, chỉnh sửa, hỗ trợ song ngữ Anh, Việt
- Cho phép đồng bộ dữ liệu từ các nguồn dữ liệu từ HL7 CORE tại bệnh viện bất kỳ
- Cho phép kiểm duyệt nội dung danh mục mới trước khi đưa vào hệ thống tại đầu cuối
- Cho phép tìm kiếm các danh mục
- Cho phép thống kê các danh mục mới theo thời gian bắt đầu hiệu trong hệ thống địa phương; tình hình áp dụng hệ thống
mã danh mục trong toàn mạng lưới các HL7 CORE
6 Module quản - Tạo lập, phân quyền người sử dụng (account) cho các bệnh
Trang 39- Chức năng chuyển thông tin EMR của bệnh nhân tới đích là một bệnh viện khác tham gia mạng chia sẻ thông tin y tế trong một khoảng thời gian do người dùng định nghĩa: ngày, tuần, tháng
- Chức năng tự động vô hiệu hóa truy cập đến EMR sau khi hết hạn cho phép truy cập
- Giao diện lập trình mã hóa 2 chiều thông tin bất kỳ dùng
mã hóa các thông tin EMR khi gửi trên đường truyền
- Chức năng tiếp nhận EMR được gửi từ cơ sở khác trong mạng chia sẻ
- Chức năng khai báo các dữ liệu trong HL7 CORE được phép trao đổi theo các mức ưu tiên khác nhau: chỉ xem thông tin thuộc chuyên môn có liên quan khi trao đổi
- Chức năng sao lưu CSDL tự động
- Chức năng đặt lịch sao lưu
- Chức năng kích hoạt sao lưu tại thời điểm bất kỳ
vị trực thuộc
- Cung cấp khả năng tra cứu, khai thác hồ sơ bệnh án điện tử tại HL7 CORE SYSTEM cho các đối tượng bệnh nhân, bệnh viện, Sở Y tế … theo quy định
- Tích hợp các kênh thông tin, ứng dụng và dịch vụ công của Bệnh viện và các đơn vị trực thuộc vào Portal theo lộ trình cải cách hành chính và hiện đại hóa bệnh viện
- Giới thiệu những thông tin về Bệnh viện và các đơn vị, hệ thống thuộc Bệnh viện trên mạng Internet
- Phục vụ công dân, doanh nghiệp và các tổ chức trong và ngoài nước, khai thác và trao đổi thông tin, sử dụng dịch vụ bệnh viện công thông qua Internet Portal một cách thuận tiện, hiệu quả và an toàn
- Xây dựng, ban hành và triển khai các tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất cho hệ thống cổng thông tin điện tử trong ngành,
Trang 402.5 Chức năng của HL7 GATEWAY SYSTEM tại Sở Y tế
HỆ THỐNG HL7
CORE - BỆNH VIỆN
HL7 CORE GATEWAY – SỞ Y TẾ (hoặc BỘ Y TẾ)
Hình 2.4 M ô hình trao đổi thông tin giữa HL7 CORE và HL7 Gateway
Như hình trên đã mô tả đầy đủ các luồng thông tin trao đổi giữa hệ thống Quản lý bệnh viện và Hệ thống HL7CORE SYSTEM Việc chuyển dữ liệu giữa các bệnh viện sẽ được thực hiện theo qui trình: