Với mong muốn lựa chọn được chủng loại, thành phần nguồn nguyên liệu thịt thích hợp, chủng VSV, chế phẩm sinh học, quá trình lên men, gia nhiệt và chế độ làm khô, làm chín nhằm kiểm soát
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin được bày tỏ sự kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc đến TS
Phan Thanh Tâm đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho em về chuyên môn,
truyền đạt kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian làm luận văn tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo Viện
Công nghệ sinh học và công nghiệp thực phẩm - Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo
điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành luận văn này
Em xin dành sự biết ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã động viên, khích lệ, giúp đỡ em trong suốt thời gian vừa qua
Hà Nội, Tháng 9 năm 2012
Tác giả
Đàm Thị Thúy Nhung
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
đều do chúng tôi tiến hành thực nghiệm tìm ra và không có bất kỳ sự sao chép nào
về kết quả thí nghiệm từ các nguồn tài liệu và luận văn khác
Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 2012
Học viên
Đàm Thị Thúy Nhung
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU viii
CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1
1.1 Giới thiệu về xúc xích lên men 1
1.1.1 Giới thiệu 1
1.1.2 Định nghĩa và phân loại xúc xích lên men 2
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng của xúc xích lên men 4
1.1.4 Giới thiệu về xúc xích lên men bán khô 5
1.2 Công nghệ sản xuất xúc xích lên men bán khô 7
1.2.1 Nguyên liệu và các thành phần của xúc xích lên men bán khô 7
1.2.2 Quá trình lên men tự nhiên và lên men có bổ sung chủng khởi động 12
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình sản xuất xúc xích lên men 16
1.2.4 Đánh giá chất lượng sản phẩm xúc xích lên men 21
CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Nguyên vật liệu 25
2.1.1 Nguyên liệu 25
2.1.2 Chủng vi sinh vật nghiên cứu 25
2.1.3 Hóa chất và môi trường 25
2.1.4 Thiết bị 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Phương pháp hóa lý 27
2.2.2 Phương pháp vi sinh vật 27
2.2.3 Phương pháp đánh giá cảm quan 27
2.2.4 Phương pháp thực nghiệm 28
Trang 42.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 28
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 29
3.1 Nghiên cứu lựa chọn thành phần nguyên liệu chính và phụ gia trong sản xuất xúc xích lên men bán khô 29
3.1.1 Ảnh hưởng thành phần nguyên liệu chính và hàm lượng đường đến chỉ tiêu pH của sản phẩm 30
3.1.2 Ảnh hưởng thành phần nguyên liệu và hàm lượng đường đến tính chất cảm quan của sản phẩm xúc xích bán khô 31
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chủng, chế phẩm vi sinh vật và chế độ lên men đến quá trình lên men xúc xích bán khô 31
3.2.1 Nghiên cứu lựa chọn riêng rẽ chủng, chế phẩm vi sinh vật đến chỉ tiêu của sản phẩm xúc xích lên men bán khô 32
3.2.2 Nghiên cứu lựa chọn phối hợp chủng, chế phẩm vi sinh vật và chế độ lên men 36
3.3 Nghiên cứu và lựa chọn chế độ làm khô, làm chín xúc xích lên men bán khô 42
3.4 Đánh giá chất lượng của các mẫu xúc xích lên men 50
3.4.1 Đánh giá chỉ tiêu hóa lý và vi sinh vật 50
3.4.2 Đánh giá cảm quan các mẫu xúc xích lên men 51
3.5 Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất xúc xích lên men bán khô 55
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu chữ viết tắt Diễn giải
10 Starter cultures Chủng giống khởi động
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của xúc xích lên men 4
Bảng 1.2 Thành phần các chất khoáng của xúc xích lên men 5
Bảng 2.1 Hàm lượng nguyên liệu phụ cho 1 kg nguyên liệu chính 28
Bảng 3.1 Tỷ lệ thành phần nguyên liệu chính và hàm lượng đường glucose 29
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của thành phần nguyên liệu và hàm lượng đường đến tính chất cảm quan của sản phẩm (sau 4 ngày lên men) 31
Bảng 3.3 Đánh giá cảm quan chung của các mẫu xúc xích lên men sau 4 ngày lên men và 8 ngày làm khô, làm chín 35
Bảng 3.4 Đánh giá cảm quan chung của các mẫu xúc xích lên men 41
Bảng 3.5 Lựa chọn chế độ gia nhiệt sơ bộ (sấy) xúc xích sau quá trình lên men 43
Bảng 3.6 Đánh giá các chỉ tiêu chất lượng của xúc xích lên men bán khô 50
thành phẩm 50
Bảng 3.7 Bảng kết quả đánh giá cảm quan trung bình của các thành viên theo phương pháp mô tả 52
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1 Ảnh hưởng của thành phần nguyên liệu chính và hàm lượng đường đến
chỉ tiêu pH của sản phẩm 30
Hình 3.2 Sự biến đổi pH của các mẫu xúc xích lên men bán khô 32
Hình 3.3 Sự biến đổi NH3 của các mẫu xúc xích lên men bán khô 33
Hình 3.4 Mật độ Enterobacteriaceae của các mẫu xúc xích lên men bán khô 34
Hình 3.5 Mật độ S aureus của các mẫu xúc xích lên men bán khô 34
Hình 3.6 Mật độ vi khuẩn lactic của các mẫu xúc xích lên men bán khô 34
Hình 3.7 Sự biến đổi pH của các mẫu ở chế độ lên men 24 - 25 o C 37
Hình 3.8 Sự biến đổi pH của các mẫu ở chế độ lên men 28 - 30 o C 37
Hình 3.9 Sự biến đổi NH3 của các mẫu ở chế độ lên men 24 - 25 oC 38
Hình 3.10 Sự biến đổi NH3 của các mẫu ở chế độ lên men 28 - 30 oC 38
Hình 3.11 Mật độ Enterobacteriaceae của các mẫu ở chế độ lên men 24 - 25 oC 39
Hình 3.12 Mật độ Enterobacteriaceae của các mẫu ở chế độ lên men 28 - 30 oC 39
Hình 3.13 Mật độ S aureus của các mẫu ở chế độ lên men 24 - 25 oC 40
Hình 3.14 Mật độ S aureus của các mẫu ở chế độ lên men 28 - 30 oC 40
Hình 3.15 Mật độ vi khuẩn lactic của các mẫu ở chế độ lên men 24 - 25 oC 40
Hình 3.16 Mật độ vi khuẩn lactic của các mẫu ở chế độ lên men 28 - 30 oC 40
Hình 3.17 Sự biến đổi pH của mẫu xúc xích làm khô và làm chín với hàm ẩm tương đối của không khí là 80% và 75% 44
Hình 3.18 Sự biến đổi NH3 của mẫu xúc xích làm khô và làm chín với hàm ẩm tương đối của không khí là 80% và 75% 45
Hình 3.19 Sự biến đổi hàm ẩm của mẫu xúc xích làm khô và làm chín với hàm ẩm tương đối của không khí là 80% và 75% 46
Hình 3.20 Mật độ Enterobacteriaceae của mẫu xúc xích làm khô và làm chín với hàm ẩm tương đối của không khí là 80% và 75% 47
Hình 3.21 Mật độ S aureus của mẫu xúc xích làm khô và làm chín với hàm ẩm tương đối của không khí là 80% và 75% 48
Hình 3.22 Mật độ vi khuẩn lactic của của mẫu xúc xích làm khô và làm chín với hàm ẩm tương đối của không khí là 80% và 75% 49
Hình 3.23 Biểu đồ biểu diễn kết quả của phép thử mô tả các mẫu xúc xích lên men bán khô 53
Hình 3.24 Quy trình công nghệ sản xuất xúc xích lên men bán khô 55
Trang 8MỞ ĐẦU
Công nghệ sinh học ra đời và phát triển đã có nhiều đóng góp vào quá trình
chế biến, bảo quản, lương thực và thực phẩm Trong lĩnh vực chế biến thịt phải kể
đến những thành công của ứng dụng bổ sung chủng giống khởi động (Starter
cultures) trong sản xuất thịt lên men Sản phẩm thịt lên men được biết đến từ lâu
nhờ việc bổ sung muối và đường vào thịt để thu được sản phẩm có giá trị dinh
dưỡng cao hơn và hương vị đặc trưng Việc bổ sung này tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển một vài loài vi sinh vật (VSV) có sẵn trong sản phẩm để sinh ra một số
chất làm cho sản phẩm có hương vị đặc biệt và có tác dụng bảo quản sản phẩm lâu
bị hỏng Đặc tính quý báu đó của sản phẩm là kết quả của quá trình lên men đường
thành axit lactic thực hiện bởi nhóm vi khuẩn lactic có trong hệ VSV tự nhiên của
thịt
Xúc xích lên men (XXLM) là một trong những sản phẩm thịt lên men khá
phổ biến trên thế giới Tùy từng vùng mà mỗi nơi có những sản phẩm đặc trưng
riêng: Salami (của Ý), Summer (của Mỹ), Pepperoni (của Tây Ban Nha),… Đây là
sản phẩm thịt lên men không chỉ chứa các thành phần dinh dưỡng cao của thịt được
lên men chuyển hóa tốt mà còn cung cấp hệ VSV có lợi cho con người Có rất nhiều
các loại XXLM, trong đó có XXLM bán khô
Xúc xích lên men bán khô được biết đến bởi giá trị dinh dưỡng, hương vị
thơm ngon như xúc xích Chorizo, Summer,…Công nghệ sản xuất sản phẩm này
thường có quy trình xử lý nhiệt nên rút ngắn thời gian sản xuất và nâng cao tính an
toàn cho sản phẩm Ở Việt Nam sản phẩm này hầu như chưa có trên thị trường bởi
công nghệ sản xuất đòi hỏi khắt khe, đặc biệt quá trình lên men, quá trình làm khô
và làm chín Thêm vào đó là nguồn nguyên liệu thịt ở Việt Nam có nhiều nguy cơ
mất an toàn, nhiễm các VSV gây bệnh, trong quá trình giết mổ, vận chuyển, bảo
quản thủ công Do vậy nếu quá trình sản xuất có quá trình lên men tự nhiên sẽ rất
khó khăn kiểm soát chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP)
Trang 9Với mong muốn lựa chọn được chủng loại, thành phần nguồn nguyên liệu
thịt thích hợp, chủng VSV, chế phẩm sinh học, quá trình lên men, gia nhiệt và chế
độ làm khô, làm chín nhằm kiểm soát quá trình sản xuất, đảm bảo VSATTP, phù
hợp với thị hiếu người tiêu dùng, chúng tôi đã chọn đề tài:“Nghiên cứu xác định
các điều kiện thích hợp cho sản xuất xúc xích lên men bán khô” với các nội dung
sau đây:
1 Nghiên cứu xác định nguyên liệu chính và các phụ gia cho sản phẩm xúc
xích lên men bán khô
2 Lựa chọn chủng vi sinh vật, chế phẩm sinh học và chế độ lên men thịt để
tạo hương vị đặc trưng và đảm bảo chất lượng sản phẩm cho xúc xích lên men bán
khô
3 Nghiên cứu và lựa chọn chế độ làm khô, làm chín cho xúc xích lên men
bán khô đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm
4 Đánh giá chất lượng của sản phẩm xúc xích lên men bán khô
5 Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất xúc xích lên men bán khô
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu về xúc xích lên men [9, 18, 10]
1.1.1 Giới thiệu
Xúc xích lên men là sản phẩm xuất hiện từ rất lâu trên thị trường thế giới
như Salami (của Ý), Summer (của Mỹ), Pepperoni (của Tây Ban Nha), Nham (của
Thái Lan),… Đó là một dạng thịt được nghiền nhỏ (thịt nạc, mỡ) và phối trộn với
các gia vị,… được bao gói trong vỏ bao, được lên men tự nhiên hoặc cấy chủng
khởi động, sau đó được làm chín hoặc hun khói Ở Việt Nam chúng ta có nem chua
- một sản phẩm thịt lên men truyền thống Tuy nhiên, nem chua khác với các sản
phẩm xúc xích đó là có quá trình lên men ở nhiệt độ cao, thời gian ngắn nên độ ẩm
cao, thời gian sử dụng ngắn Công nghệ sản xuất sản phẩm này vẫn mang tính thủ
công truyền thống, lên men tự nhiên nên chất lượng sản phẩm không đồng đều và
nguy cơ không đảm bảo vệ VSATTP
Thịt lên men là quá trình “chín sinh hóa” của thịt nhờ vai trò của các enzym
có trong thịt và của hệ VSV Bản chất là quá trình lên men lactic và quá trình thủy
phân protein, lipit thịt tạo ra sản phẩm có hương vị rất đặc trưng
Lịch sử ra đời thịt lên men xuất hiện từ rất lâu, được bắt nguồn từ Châu Âu,
Trung Quốc khoảng 2000 năm trước Việc sử dụng muối và nitrat có từ nhiều năm
trước khoảng thế kỷ thứ 13, tên Salame được bắt nguồn từ chữ latinh “Sale” tức là
muối Ở châu Âu, việc sản xuất XXLM đầu tiên phát triển ở vùng Địa Trung Hải,
rồi được lan rộng về phía Bắc và phía Tây Trước năm 1700 quá trình sản xuất
XXLM ít được biết Công nghệ này được giới thiệu tại Hungary năm 1851 và trải
rộng sang Mỹ bởi những người di cư từ Trung Âu những năm sau đó
Hiện nay, Châu Âu vẫn là nơi sản xuất và tiêu thụ xúc xích khô lên men lớn
nhất Trên thị trường Châu Âu có rất nhiều loại sản phẩm xúc xích khô lên men
được bắt đầu từ sự thay đổi về nguyên liệu ban đầu, công thức phối trộn, và công
nghệ sản xuất đã tạo nên những đặc trưng cho các vùng miền, quốc gia khác nhau
Nhưng từ một nguyên lý lên men lactic, có hai cách tiếp cận sản phẩm có thể phân
biệt như sau:
Trang 11Các sản phẩm ở Miền Bắc bán cầu và vùng Địa Trung Hải có độ axit hóa bởi
vi khuẩn axit lactic cho giá trị pH dưới 5 và hun khói để đảm bảo an toàn, tạo
hương vị thơm ngon và đảm bảo chất lượng của sản phẩm
Các sản phẩm ở vùng Địa Trung Hải độ axit hóa đạt được ở giá trị pH cuối
cùng dưới 5 Sự an toàn một cách chắc chắn chủ yếu là bởi quá trình sấy và hoạt độ
nước thấp
Theo Zeuthen (1995), thịt được bảo quản và lên men là do vi khuẩn lactic tự
nhiên trong thịt (Lactic Acid Bacteria – LAB), một lượng nhỏ nitrat và một lượng
lớn muối Sau chiến tranh thế giới II khi mà nhu cầu về thịt lên men tăng lên, những
nghiên cứu về chủng khởi động nhằm nâng cao chất lượng cho quá trình lên men
được đặt ra Sự cấy chủng bắt đầu bởi Jensen và Paddock năm 1940 với mục đích
giảm thời gian làm chín cũng như đảm bảo chất lượng và mùi vị của xúc xích khô
Các chế phẩm đầu tiên là Pediococcus cerevisiae thuần khiết (1955) ở Mỹ bởi
Niven Cùng thời gian đó, Niinivaara (1955) đã ứng dụng Micrococcus M53 ở châu
Âu và sau đó Nurmi (1966) đã kết hợp Micrococci với Lactobacillus plantarum
Ngày nay, nhiều công ty đã cung cấp chủng Lactobacillus spp, Pediococcus
acidilactici, P pentosaceus, Staphylococcus xylosus hay S carnosus thuần khiết
hoặc là hỗn hợp của chúng cho lên men thịt
1.1.2 Định nghĩa và phân loại xúc xích lên men
1.1.2.1 Định nghĩa [10]
Xúc xích lên men là hỗn hợp của thịt đã xay nhỏ và các phần tử chất béo,
muối, các gia vị khác Hỗn hợp được phối trộn sau đó được bao gói trong vỏ bao,
tiếp đó được lên men, làm chín, làm khô
Xúc xích lên men có các đặc tính đặc trưng về độ rắn chắc, lát cắt mềm, mịn,
màu sắc đỏ hồng thông qua quá trình lên men, làm chín, làm khô ở điều kiện nhất
định để tạo nên hương vị đặc trưng
Nhiên liệu thịt và mỡ phải được xay nhỏ với kích thước nhất định Khi sản
phẩm chín chúng liên kết chặt chẽ và tạo dạng hạt mỡ, thịt ở lát cắt
Trang 12Ngoài quá trình lên men, quá trình làm chín kết hợp với việc giảm độ ẩm là
cần thiết để tạo nên hương vị đặc trưng và cấu trúc cuối cùng của sản phẩm
1.1.2.2 Phân loại xúc xích lên men [10]
Các sản phẩm thịt lên men được phân loại theo nhiều hình thức, có thể theo
thành phần, cấu trúc như là xúc xích lên men, giăm bông,… hay theo mức độ lên
men như chín nhanh, chín vừa, chín chậm
Dựa vào hàm lượng nước, có thể chia xúc xích lên men thành các nhóm:
+ Sản phẩm thường hun khói
Thuộc nhóm này có một số sản phẩm như: Teeurst và Mettwurst (của Đức),
Frishe Braunschweiger
Sản phẩm này dễ hư hỏng nên phải tiêu thụ trong vài ngày
- Nhóm bán khô (semi-dried): Có thể thái lát, chu kỳ sản xuất ngắn (short
+ Chu kỳ sản xuất: 1- 2 tuần
Sản phẩm này sau khi lên men thường có gia nhiệt Ngoài ra, có thể hun khói
trong suốt quá trình lên men
Thuộc nhóm này có một số các sản phẩm như: Summer sausage, Salami,
Holsteiner, Cervelat (Zervelat), Chorizo (của Tây Ban Nha) và Tuhringer
Trang 13Ở Mỹ sản phẩm Summer có nhiệt độ lên men 15 -35 oC trong thời gian 1 - 5
ngày Sản phẩm này không hun khói hoặc khun khói nhẹ Do hoạt động của vi
khuẩn, giá trị pH giảm xuống còn 4,7 - 5,3 (axit lactic 0,5 -1%, độ chua tổng số
1,3%) nhờ đó tạo điều kiện cho quá trình sấy khô bởi protein biến tính, kết quả sản
+ Chu kỳ sản xuất từ 12 -14 tuần
Sản phẩm này có hương thơm hơn sản phẩm bán khô
Ở Châu Âu, hoạt động của vi khuẩn làm giảm pH xuống còn 5,3 - 5,4 làm
cho sản phẩm có hương vị nhẹ hơn so với sản phẩm của Mỹ
Thuộc nhóm này có một số sản phẩm như: Salami khô hoặc cứng (của Ý,
Đức, Hungary), Saucission (của Pháp) và Pepperoni (của Châu Âu, Bắc Mỹ và Úc)
1.1.3 Giá trị dinh dưỡng của xúc xích lên men
Giá trị dinh dưỡng của XXLM được thể hiện qua bảng 1.1 và bảng 1.2
Bảng 1.1 Thành phần dinh dưỡng của xúc xích lên men [12]
tính (ĐVT)
Xúc xích lên men Salami lợn, bò Chorizo lợn, bò
Trang 14Bảng 1.2 Thành phần các chất khoáng của xúc xích lên men [12]
tính (ĐVT)
Xúc xích lên men Salami lợn, bò Chorizo lợn,
1.1.4 Giới thiệu về xúc xích lên men bán khô
Thuộc nhóm này có một số các sản phẩm như: Summer sausage (của Châu
Âu), Salami, Holsteiner, Cervelat, Chorizo (của Tây Ban Nha), Tuhringer
Những xúc xích này khác với xúc xích lên men khô rất nhiều vì nó có hương
vị thơm đặc trưng hơn từ giai đoạn lên men, tích lũy axit lactic và số lượng lớn của
Trang 15thành phần khác từ sự thủy phân trong giai đoạn lên men Ở Mỹ, xúc xích lên men
bán khô được lên men và làm chín nhưng thường không được làm khô Còn ở Châu
Âu hầu hết khối lượng sản phẩm bị giảm sau lên men do quá trình làm chín hoặc
hun khói ở nhiệt độ cao
Những sản phẩm này được sản xuất bằng phương pháp lên men nhanh
Chủng khởi động được sử dụng đồng thời kết hợp với đường Gdl (Glucono – Delta
- Lacton) Điều này làm tăng sự phát triện hệ VSV mong muốn (Vi khuẩn lactic) và
làm giảm nhanh chóng giá trị pH Kết quả là hình thành một loại gel protein và cấu
trúc cứng chắc của xúc xích, cho phép có thể cắt được thành lát Quá trình lên men
và làm chín đầu tiên được thực hiện ở nhiệt độ 24- 26 o
C so với loại xúc xích được làm chín lâu dài và không quá 4- 7 ngày pH cuối cùng của xúc xích bán khô từ 4,7
đến 5,2 - 5,4 Sự giảm giá trị pH này cũng hỗ trợ giải phóng nước trong các mô thịt
từ xúc xích, nhưng vì thời gian lên men ngắn nên độ ẩm cuối cùng không dưới 40%,
hàm lượng axit lactic là 0,5% - 1,3% Xúc xích bán khô thường được hun khói và
làm chín bằng nhiệt độ cao trong tủ hun khói, đôi khi đạt đến gần 60°C trong thời
gian hạn chế nghiêm ngặt Sau khi hun khói, xúc xích có thể được sấy khô trong
thời gian ngắn Các sản phẩm này có hoạt độ nước 0,92 - 0,94 cao hơn so với xúc
khô Do đó giá trị pH thấp rất cần thiết để chống lại các VSV không mong muốn
Thời gian sử dụng loại xúc xích bán khô tương đối dài, có thể được sử dụng
trong vòng một đến hai tháng Những sản phẩm này ít khi bị hư hỏng ngay cả trong
nhiệt độ thường của môi trường xung quanh Quá trình axit hóa trong xúc xích lên
men bán khô xảy ra tương đối rõ rệt, nên chúng làm cho sản phẩm kém hấp dẫn đối
với người tiêu dùng không quen thuộc loại thực phẩm axit Do đó nhiệt độ dưới
18oC và bảo quản lạnh được khuyến khích để bảo quản loại xúc xích này đặc biệt ở
các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới
Trang 161.2 Công nghệ sản xuất xúc xích lên men bán khô
1.2.1 Nguyên liệu và các thành phần của xúc xích lên men bán khô
1.2.1.1 Thịt [9,17]
Thịt là thực phẩm giàu dinh dưỡng, pH trung tính, hoạt độ nước (aw) đạt
0,99, sau giết mổ bảo quản 0 - 2o
C thì pH = 5,6 - 6,2 tạo điều kiện cho quá trình lên men ban đầu và đảm bảo sự giảm pH một cách thích hợp
Để sản xuất xúc xích lên men bán khô, nguyên liệu phải chứa từ 50 - 70%
thịt nạc Thịt có thể được lấy từ nhiều nguồn động vật khác nhau như: Thịt bò, thịt
lợn, thịt cừu,… Thịt lợn được sử dụng hầu như phổ biến ở Bắc Âu, Mỹ và Trung
Quốc, nhưng ở những nơi khác, thịt bò và thịt cừu được sử dụng phổ biến hơn, bên
cạnh đó thịt gà cũng được sử dụng trong sản xuất XXLM Thịt của bất kỳ loại nào
cần phải có chất lượng tốt, không có những khuyết tật có thể như vết máu,…
Thịt cũng nên có chất lượng VSV tốt để làm giảm sự cạnh tranh trong quá
trình lên men Đây là một trong những đặc tính quan trọng đặc trưng cho loại
Salami công nghiệp (Spreadable Salami), trong đó có chứa mật độ VSV chủng khởi
động cao tạo nên sản phẩm cuối cùng đồng nhất Việc sử dụng thịt được thu gom
một cách tùy tiện trong sản xuất XXLM công nghiệp có ảnh hưởng bất lợi về VSV
đối với trạng thái cuối của sản phẩm
Thêm vào đó thịt được cấp đông giúp quá trình cắt xay tạo cấu trúc dạng hạt
thịt và mỡ tạo lát cắt đẹp cho sản phẩm
Chất lượng thịt đánh giá qua: Khả năng giữ nước, giá trị pH, màu sắc,… đặc
biệt mức độ ô nhiễm của VSV Thịt nguyên liệu yêu cầu có VSV tổng số < 105
CFU/gr hoặc 1 cm2
1.2.1.2 Chất béo [9]
Chất béo là một thành phần quan trọng của XXLM và nó có thể chiếm một
tỷ lệ khá cao sau quá trình làm khô Quá trình oxy hóa chất béo có thể dẫn tới sự ôi
thiu và làm giảm thời hạn sử dụng xúc xích thành phẩm, do đó việc sử dụng chất
béo có điểm tan chảy cao và hàm lượng axit béo không no thấp là rất quan trọng
Trang 17Mỡ ở lưng và đặc biệt mỡ gáy của lợn được sử dụng phổ biến, vì loại này có hàm
lượng axit béo không no thấp, thêm vào đó có cấu trúc rắn chắc
Một số nước cho phép bổ sung các chất chống oxy hóa chất béo Tertiary
butyl hydroquinone và butylated hydroxyanisole được sử dụng rộng rãi nhất, nhưng
có nghi ngờ về khả năng gây hại các phản ứng tạo chất độc của chúng Việc hạn chế
sử dụng ở những nơi cho phép đang được thay thế bằng ascorbyl palmitate (axit
6-O- palmitoyl - L - ascorbic), các chất chống oxy hóa tự nhiên như α- tocopherol, các
chất tìm thấy tự nhiên như cao của các chất tự nhiên giàu tocopherol Cỏ, cây hương
thảo và các loại gia vị như tỏi, vỏ nhục đậu khấu cũng có tính chất chống oxy hóa
Axit ascorbic có thể được bổ sung như là chất ức chế sự oxy hóa chất béo, nhưng
trong nhiều trường hợp, vai trò trước tiên của chúng là chất phụ gia cho quá trình xử
lý và bảo quản màu Mặc dù có nhiều loại XXLM có hàm lượng chất béo cao,
nhưng chất béo thường bổ sung như một thành phần riêng biệt và việc sử dụng loại
thịt có hàm lượng chất béo cao là không cần thiết
1.2.1.3 NaCl và các tác nhân xử lý bảo quản [9]
NaCl là phụ gia chính: Chất tạo vị trong các sản phẩm thịt lên men
NaCl làm tăng độ bền gel ổn định cho sản phẩm Có tác dụng chống lại sự
phát triển của VSV Nó được bổ sung từ 1 - 4% (tối thiểu là 1% và 3 % không làm
chậm quá trình lên men), sẽ cho phép axit lactic phát triển và ức chế được các VSV
không mong muốn
NaCl làm giảm hoạt độ nước ban đầu tới xấp xỉ 0,96 Kết hợp cùng với
NaNO2 nồng độ lên tới 150 mg/ kg và với giá trị pH thấp tạo nên hệ thống ức
chế mạnh mẽ
Với Salami Ý được bổ sung NaCl trong sản phẩm khô Sự kết hợp cùng với
NaNO2 nồng độ lên tới 150 mg/kg và với giá trị pH thấp tạo nên một hệ thống ức
chế mạnh mẽ NaCl cũng tham gia quá trình hòa tan protein, nó tạo một lớp màng
bao quanh phần tử chất béo riêng biệt, trong khi đó nitrit là một trong những chất
quan trọng trong việc tạo nên màu sắc của xúc xích thịt và làm chậm lại quá trình
oxy hóa NaCl và NaNO2 góp phần tạo nên sự ổn định cho xúc xích thành phẩm
Trang 18Nhưng trong hầu hết các trường hợp, vai trò trước tiên là tạo điều kiện thuận lợi cho
việc lựa chọn các chủng vi khuẩn axit lactic trong công đoạn đầu của quá trình lên
men và để ngăn chặn sự phát triển các VSV không mong muốn Vai trò của nitrat
trong việc giữ sự ổn định của sản phẩm thành phẩm là vai trò quan trọng trong xúc
xích bán khô có hàm lượng nước và mức aw cao tương ứng KNO3 có thể được bổ
sung hay thay thế cho NaNO2 trong XXLM nhưng không vượt quá mức cho phép
Cả nitrat và nitrit đều không được bổ sung vào hỗn hợp để sản xuất XXLM
theo phương pháp truyền thống như Chorizo của Tây Ban Nha
Nitrit có vai trò bảo quản, tạo màu và chống oxy hóa, làm chậm sự ôi chất
béo, ổn định màu sắc, cấu trúc và hương vị đặc trưng cho sản phẩm Nitrat không có
vai trò trực tiếp mà khử thành nitrit nhờ VSV Micrococus và Staphylococcus
Nitrat và nitrit thường được sử dụng kết hợp Nitrat thường được sử dụng
như một nguồn dự trữ cho nitrit, có lợi trong quá trình chế biến lâu dài Nitrit như
một hàng rào, nó ức chế sự phát triển của vi khuẩn Quá trình lên men có thể có một
lượng lớn VSV nguy hiểm nếu không được sử dụng nitrit
Theo Cục quản lý dược và thực phẩm Mỹ (FDA) khuyến cáo về việc sử dụng
các chất bảo quản này ở một giới hạn cho phép, chẳng hạn như nếu sử dụng nitrit
hay nitrat hoặc hỗn hợp cả hai loại thì sản phẩm cuối cùng phải có lượng nitrit
không được lớn hơn 200ppm trong sản phẩm cuối cùng Theo TCVN 7050 – 2002
thì hàm lượng nitrit trong sản phẩm thịt không qua xử lý nhiệt là không vượt quá
134mg / kg sản phẩm
Lượng nitrit được sử dụng trong xúc xích lên men không ức chế sự phát triển
của Salmonella spp, Clostridium botulinum và Staphylococcucs aureus mà phải kết
hợp với pH, aw Tiêu chuẩn EU yêu cầu NO2 ≤ 150ppm
1.2.1.4 Chủng khởi ộng [9, 16]
Việc sử dụng chủng khởi động chủ yếu phổ biến trong quá trình sản xuất xúc
xích lên men bán khô và được nhân rộng trong quá trình sản xuất xúc xích lên men
khô ở các nước như Đức Ở các khu vực khác, chủng khởi động được sử dụng ít
phổ biến hơn mặc dù giá trị của chúng đang ngày càng được thừa nhận Chủng khởi
Trang 19động chủ yếu là vi khuẩn lactic và chúng được bổ sung để cải thiện độ chắc của sản
phẩm và để kiểm soát quá trình lên men Ở những sản phẩm mà KNO3 được bổ
sung mà không có NaNO2 thì thường được bổ sung chủng có khả năng phân giải
nitrat như Micrococcus hay Staphylococcus làm chủng khởi động Staphylococcus
cũng có thể được sử dụng mà không có sự có mặt của vi khuẩn lactic
Một số chủng VSV được dùng phổ biến:
- Lactobacillus: L plantarum, L pentosus, L.sakei, Pediococcus
pentosaceus, Pediococcus acidtilactici: Chúng có có khả sinh tổng hợp axit lactic,
giúp kìm hãm VSV gây bệnh và gây thối, thúc đẩy quá trình làm khô và tạo màu
- Enterococcus faecium, Enterococcus faecalis, Enterococcus durans và
Enterococcus pseudoavim
- Micrococcaceae (Micrococcus varians)
- Staphylococcin (Staphylococcin carnosus, Staphylococcin xylosus): Có
tác dụng khử nitrat thành nitrit, thủy phân lipit và hạn chế oxi hóa, cung cấp
protease, giúp tạo và cố định màu, ngăn chặn sự ôi thiu, tạo hương vị và điều hòa
lượng nitrit
Nấm men: Debaryomyces hansenii, Candida famata: Giúp thủy phân lipit,
ngăn chặn sự oxy hóa nhằm tạo hương vị và làm giảm sự ôi thiu
Nấm mốc: Thường là Pennicillium nalgiovense, P chrysogenum, P
camemberi: Có tác dụng thủy phân lipit, protein, phá hủy proxit, làm giảm sự oxy
hóa, giúp tạo màu, tạo vị và ức chế sự ôi thiu
Một trong tính chất cơ bản của chủng khởi động là khả năng cạnh tranh với
các vi khuẩn bản thể có sẵn trong thịt để tồn tại trong môi trường này và để thống trị
được cộng đồng vi khuẩn của các sản phẩm thịt lên men Sự thành công của các sản
phẩm thịt bằng các chủng khởi động là một điều kiện tiên quyết cho sự đóng góp
của chúng đối với chất lượng sản phẩm cuối cùng
1.2.1.5 Carbohydrate [5,9]
Carbohydrate được bổ sung vào hỗn hợp xúc xích ban đầu với mục đích đảm
bảo đủ cơ chất cho sự lên men thúc đẩy sự phát triển của vi khuẩn lactic và sự tạo
Trang 20thành axit hữu cơ Số lượng và loại carbohydrate bổ sung thể hiện sự cân bằng giữa
sự cần thiết thiết lập một quá trình lên men có sự ảnh hưởng của lactic và sự cần
thiết phải tránh sự giảm pH quá nhanh Glucose là loại đường được chuyển hóa rất
nhanh, thường được bổ sung kết hợp với một loại oligosaccharide mà được chuyển
hóa chậm hơn Carbohydrate thường được bổ sung với hàm lượng trong khoảng 0,4
- 0,8 % Trong xúc xích có chứa nitrat, nhưng không có nitrit thì được bổ sung với
hàm lượng thấp hơn nhằm làm giảm tốc độ tạo thành axit hữu cơ và do đó tránh
được sự ức chế sớm đối với các chủng phân giải nitrat Ngược lại, có tới 2%
glucose được bổ sung vào một số loại xúc xích bán khô được sản xuất tại Mỹ nhằm
đảm bảo sự giảm pH nhanh chóng
Trong một số nước, bột sữa có thể được bổ sung làm nguồn đường lactose và
bột khoai tây được bổ sung làm nguồn tinh bột Tuy nhiên ban đầu chúng có vai trò
là chất kết dính thịt (extender) và những vấn đề gặp phải trong quá trình làm khô là
do tính chất kết hợp nước của các chất bổ sung này
1.2.1.6 Các chất axit [9]
Các chất axit được bổ sung để đảm bảo sự giảm pH nhanh chóng trong giai
đoạn đầu của quá trình lên men Việc sử dụng các chất axit được xem là do một số
mong muốn thiết yếu cho sự an toàn của XXLM mà được sản xuất có bổ sung
chủng khởi động Các axit thường được dùng kết hợp với chủng khởi động trong
xúc xích Spreadable, trong loại xúc xích này yêu cầu sự giảm pH nhanh đặc trưng
Tuy nhiên trong các sản phẩm khác việc sử dụng kết hợp các axit với các chủng
khởi động thường tạo nên chất lượng thấp Sự axit hóa trực tiếp bằng axit lactic
hoặc các axit hữu cơ khác được sử dụng trong quá trình sản xuất một số loại
XXLM, độ chắc của hỗn hợp bị thay đổi do sự kết lắng của protein thịt, điều này
gây khó khăn cho quá trình đóng gói vào bao bì
1.2.1.7 Các thành phần khác [9]
Các loại gia vị khác như hạt tiêu, thảo quả, mù tạt, nhục đậu khẩu, ngừng,
quế, tỏi, và các thành phần khác Thường có trong công thức lên men thịt Các loại
gia vị được sử dụng để tạo hương vị, chống oxy hóa và kích thích sự tăng trưởng
Trang 21của vi khuẩn lactic Sodium ascorbate được dùng để cải thiện, làm ổn định màu sắc
và làm chậm quá trình oxy hóa
Xúc xích lên men Trung Quốc có chứa rất nhiều loại gia vị tạo hương với
rượu Bên cạnh các chất axit hóa, axit L- glutamic được phép sử dụng làm chất tăng
vị nhưng không phải là tất cả các nước
Các chất kết dính thịt được phép sử dụng ở một số nước Protein thực vật,
nổi bật là protein của đậu nành được sử dụng với hàm lượng lên tới 5%, tuy nhiên
có những tác động phụ có hại tới chất lượng khi hàm lượng cao hơn khoảng 2%
Protein đậu nành tinh chế có tính chất giữ ẩm và cho phép giảm tới mức nào
đó hàm lượng NaCl Chất lượng của sản phẩm cuối vẫn được chấp nhận mặc dù có
sự thay đổi trong quy trình lên men và có thể tạo nên sự khác biệt về cảm quản so
với công thức thông thường
1.2.2 Quá trình lên men tự nhiên và lên men có bổ sung chủng khởi động
Quá trình lên men có thể được coi là công đoạn mà trong đó sự phát triển và
sự chuyển hóa đường glucose thành axit lactic của vi khuẩn lactic xảy ra kèm theo
sự giảm pH rất nhanh Tuy nhiên, cần phải hiểu rõ rằng những biến đổi quan trọng
khác cũng diễn ra trong giai đoạn này, hơn nữa sự phát triển của chủng khởi động
thường tiếp tục trong quá trình làm khô và hun khói của loại xúc xích bán khô Quá
trình lên men xảy ra cùng lúc với giai đoạn đầu của quá trình làm khô và hoạt tính
của enzym VSV vẫn tồn tại thậm chí cả khi các điều kiện không cho phép sự phát
triển của VSV
1.2.2.1 Quá trình lên men tự nhiên [9,13]
Trong một số trường hợp, quá trình lên men tự nhiên phụ thuộc hoàn toàn vào
sự có mặt của chủng vi khuẩn lactic trong thịt tươi Chủng này xuất hiện trong thịt
là điều bất biến nhưng ban đầu với số lượng thấp, trừ khi thịt được bảo quản một
thời gian trong các túi chân không Sự lựa chọn các điều kiện ban đầu ngăn cản
quần thể VSV gram âm nổi trội trong thịt và các vi khuẩn sinh gram dương bao
gồm Micrococcus và các loài Staphylococcus coagulase dương và âm, cũng như sử
dụng các chủng khởi động Người ta chứng minh rằng quá trình lên men theo thứ tự
Trang 22bắt đầu là các loài Enterobacteriaceae, tiếp theo là Enterococcus và cuối cùng là
Lactobacillus và Pediococcus Ở những loại xúc xích có bổ sung nitrat mà không có
mặt của nitrit thì các loại vi khuẩn có thể phát triển rộng hơn và điều này làm cải
thiện chất lượng của xúc xích lên men khô một cách rõ rệt Với những loại xúc xích
được lên men theo đúng công nghệ thì vi khuẩn lactic phát triển nhanh và đạt mức
8
6
10
10 CFU/gr sau 2-5 ngày lên men Sự giảm giá trị pH tương ứng làm cho
chủng Pseudomonas và các loại cầu khuẩn gram âm nhạy cảm với axit khác bị tiêu
diệt trong vòng 2-3 ngày, mặc dù có nhiều loài có thể chống chịu axit hơn như
Salmonella, có thể tồn tại trong thời kỳ kéo dài Hàm lượng lactic có xu hướng giảm
sau khi đạt được cực đại, mặc dù trong các loại xúc xích được chín bởi nấm mốc thì
thời kỳ thứ hai của quá trình sinh trưởng thường diễn ra khoảng sau 15 ngày trùng
với sự tăng giá trị pH do sự chuyển hóa lactate Sự trì hoãn quá trình lên men lactic
ban đầu và sự giảm chậm giá trị pH tạo thuận lợi cho sự phát triển của S aureus và
có thể sinh Enterotoxin Lượng hương thấp cũng có thể do sự phát triển của các
VSV không mong muốn
Các loài thuộc chủng Lactobacillus nổi trội trong quá trình lên men xúc xích tự
nhiên Các loài xuất hiện phổ biến nhất là Lb bavaricus, Lb curvatus, Lb
farciminis, Lb plantarum và Lb Sake, Lb sake có thể là loài đóng vai trò quan
trọng nhất, tiếp đó là Lb curvatus Các loài không mong muốn như loài Lb
viridescens sinh H2O2, cũng có thể xuất hiện với số lượng rõ rệt Pediococcus xếp
thứ 2 sau chủng Lactobacillus, nó nổi trội hơn về số lượng trong quá trình lên men
Các loài Pd damnosus, Pd acidilactici và Pd pentasacceous đều đóng vai trò quan
trọng Lactococcus và Leuconostoc thường chỉ xuất hiện với số lượng nhỏ, mặc dù
chủng Leuconostoc với hàm lượng lớn thường đi kèm với các loại xúc xích kém
chất lượng
Quá trình lên men kết thúc khi pH ≤ 5,2 – 5,3 tạo cho sản phẩm có trạng thái
cấu trúc rắn chắc và ức chế VSV có hại phát triển
Trang 23Nếu pH ≤ 4,8 thì hương vị xúc xích tốt nhưng trạng thái cấu trúc và tính chất
của sản phẩm bị giảm đi Tuy nhiên nếu pH thấp thì thời hạn sử dụng kéo dài hơn
Lượng đường thêm vào từ 0,3 – 2%
Quá trình lên men truyền thống xuất hiện trước những năm 1940 đa số là quá
trình lên men lactic tự nhiên
1.2.2.2 Quá trình lên men c bổ sung chủng khởi ộng [19]
Xúc xích lên men có thể sản xuất mà không cần sử dụng chủng giống, nhưng
việc sử dụng chủng khởi động cho quá trình sản xuất đang tăng lên với mục đích để
không làm biến tính các tính chất cảm quan của sản phẩm (như mùi, vị, màu sắc,
cấu trúc) và ngăn chặn được các vi khuẩn không mong muốn phát triển và rút ngắn
thời gian làm chín Kỹ thuật sản xuất XXLM đã được cải tiến bằng cách sử dụng
các chủng ban đầu dưới dạng đông khô
Chủng vi khuẩn được bổ sung trong sản phẩm XXLM thường là vi khuẩn lên
men tạo axit lactic, thường là các chủng VSV Lactobacillus Vi khuẩn Lactobacillus
có tác dụng làm giảm giá trị pH, cải thiện độ chắc của sản phẩm và để kiểm soát
quá trình lên men Tuy nhiên thịt rất nhảy cảm với các hư hỏng mà VSV gây ra, đó
là do các điểm sinh thái của thịt (aw, pH và các dưỡng chất) Trong thịt, vi khuẩn
lactic là các VSV dễ phát triển sau khi thịt được chế biến thành XXLM, bảo quản
cực lạnh hoặc đóng gói chân không hoặc trong môi trường có biến đổi thành phần
không khí Ngoài vai trò chính lên men tạo axit lactic để hình thành cấu trúc và
hương vị cho sản phẩm thì vai trò kháng khuẩn của vi khuẩn lactic trong thịt lên
men nhằm nâng cao tính an toàn và kéo dài thời hạn sử dụng là một trong những
tính chất không kém phần quan trọng Cơ chế kháng khuẩn hay cạnh tranh môi
trường của vi khuẩn lactic là do gây ra sự nhiễu VSV đối với các vi khuẩn gây hỏng
và gây bệnh thông qua một số cơ chế như cạnh tranh oxi và dưỡng chất, cạnh tranh
vị trí tấn công/ bám dính và sản sinh ra một loạt các chất ức chế: Axit lactic,
acetaldehit, diacetyl, hydroperoxit, reuterin,… và bacterioxin Trong đó bacterioxin
một thành phần kháng khuẩn có bản chất protein chỉ được sinh ra bởi một số loài
Nhiều loại bacterioxin có phổ kháng khuẩn khá rộng đặc biệt là có khả năng kháng
Trang 24được các VSV gây bệnh, sinh độc tố Do có bản chất là protein nên rất dễ bị phân
hủy bởi proteinaza trong hệ tiêu hóa, do vậy hiện nay trên thế giới nó được quan
tâm đặc biệt nhằm ứng dụng trong chế biến và bảo quản thực phẩm
Các tiêu chuẩn đối với các chủng được chọn làm chủng khởi động trong quá
trình lên men xúc xích
- Phải có khả năng cạnh tranh hiệu quả đối với các chủng bản thể
- Phải sinh axit lactic có tính chất tương xứng
- Phải có khả năng chống chịu NaCl và có thể phát triển nồng độ ít nhất 6%
- Phải có khả năng chống chịu được NaNO2và có thể phát triển ở nồng độ ít
nhất là 100mg/kg
- Phải có khả năng phát triển trong khoảng 15- 40°C, tối ưu ở 30-37°C
- Phải là chủng lên men đồng hình
- Phải không phân giải protein
- Phải không sinh H2O2với số lượng lớn
- Nên có catalase dương
- Nên có khả năng phân giải Nitrat
- Nên có khả năng tăng cường hương cho xúc xích thành phẩm
- Nên không sinh nhày nhớt
- Nên có khả năng đối kháng với các VSV gây hư hỏng và các VSV không
mong muốn
- Nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của các chủng khởi động:
+ Số lượng ban đầu của các chủng bản thể trong hỗn hợp lên men
+ Bản chất của các chủng bản thể
+ Mật độ cấy chủng khởi động
+ Trạng thái sinh lý học của chủng khởi động
Thường bổ sung các chủng khởi động vào quá trình phối trộn, thời gian lên
men khoảng 24h ở nhiệt độ 24 - 25o
C
Trang 251.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình sản xuất xúc xích lên men
1.2.3.1 Nhiệt ộ [12]
Sự phát triển của vi khuẩn thường quan sát thấy ở nhiệt độ trên 20 oC và dưới
40 oC Sự lên men xúc xích thường diễn ra ở 22 - 24 oC Nhiệt độ lên men trên 25
o
C, nguy cơ sự phát triển Staphylococcus aureus tăng
Chia xúc xích làm 3 nhóm phụ thuộc lên men:
- Lên men ở nhiệt độ cao: 40 oC và thời gian lên men 15 - 20 giờ
- Lên men ở nhiệt độ truyền thống Châu Âu: từ 20 - 24 oC, làm chín ở nhiệt
Quá trình lên men ngắn ở nhiệt độ cao được tiến hành ở độ ẩm tương ứng là
98%, nhưng ở nhiệt độ thấp hơn có một quy tắc chung là độ ẩm tương ứng trong bể
lên men nên thấp hơn 5 - 10% so với xúc xích (tức là khoảng 80%)
1.2.3.3 Hoạt ộ nước [12]
Hoạt độ nước được quyết định bởi việc bổ sung hay loại trừ nước bằng các
chất hòa tan (đặc biệt là NaCl) và việc bổ sung chất béo
Giai đoạn đầu aw giảm tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn lactic,
Micrococus phát triển trong giai đoạn khởi động của quá trình lên men Sự giảm aw
của xúc xích lên men trong quá trình làm khô ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển và
sống sót của các VSV có hại, và ảnh hưởng rất mạnh tới độ chắc của xúc xích và
hoạt động của các enzym trong quá trình làm chín
1.2.3.4 Quá trình làm khô và làm chín [15]
Quá trình gia nhiệt (sấy hoặc hun kh i
Gia nhiệt là quá trình có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nhiều sản phẩm
thực phẩm Từ ngày xa xưa sấy và hun khói được biết đến với nhiều loại sản phẩm
khác nhau trên toàn thế giới Hun khói là quá trình có thể giảm lượng nước, hun
khói còn giảm sự phát triển của VSV và sự ôi trên bề mặt, làm cho sự bay hơi nước
Trang 26dễ dàng hơn Hun khói cũng đem lại hương vị thơm ngon đặc trưng, dễ chịu Quá
trình sấy ở nhiệt độ thấp thời gian ngắn nhiệt độ thường 50 - 65 oC Ở nhiệt độ sấy
này có thể tiêu diệt hầu hết các VSV gây bệnh, gây hư hỏng sản phẩm
Quá trình sấy và hun khói để đạt được các mục đích làm chín giảm hàm
lượng nước cho sản phẩm Gia nhiệt nhẹ là điều cần thiết để các chất hòa tan vào
thịt một cách dễ dàng hơn
Những biến đổi xảy ra trong quá trình sấy và hun khói:
- Tạo màu nâu trên bề mặt sản phẩm bằng các phản ứng giữa các hợp chất
cacbonyl trong khói gỗ với nhóm amin tự do trong thịt
- Tạo lớp màng cho sản phẩm bởi phản ứng giữa axit của khói và các phenol
cao phân tử với protein của thịt, ngăn cản sự oxy hóa sản phẩm
- Tạo màu hồng đỏ bền của thịt bởi sự chuyển hóa từ nitrosomyglobin thành
nitrosoferhemocrom dưới tác dụng của nhiệt
- Tạo gel protein sợi tơ cơ bao quanh chất béo và cho sản phẩm có cấu trúc
rắn chắc
- Gia nhiệt làm giảm mối nguy VSV giúp cho sản phẩm kéo dài thời gian bảo
quản và an toàn hơn cho người sử dụng
- Tạo hượng vị màu sắc do các phản ứng xảy ra như phản ứng Maillard là sự
tham gia của các hợp chất đường với các axit amin của thịt
Quá trình làm khô, làm chín
Quá trình làm khô và làm chín, bay hơi nước cũng có thể được điều chỉnh
bằng độ ẩm nhiệt độ của môi trường, đấy là lý do tại sao có thể tạo nên các sản
phẩm xúc xích khô truyền thống Quá trình sấy hay làm khô quyết định một phần
đến tính chất của sản phẩm, màu sắc, hương vị, cấu trúc của sản phẩm
Độ ẩm tương đối cao ở điểm khởi đầu của hoạt động làm khô, giữ vỏ xúc
xích ướt và mềm, và hạ thấp dần độ ẩm tương đối của không khí trong giai đoạn
đầu của quá trình làm chín làm khô này là yếu tố quan trọng để cho phép độ ẩm di
chuyển từ bên trong ra các xúc xích với lớp bên ngoài
Trang 27Trong quá trình làm khô hơi nước thấm qua vỏ bao và bay hơi Điều này có ý
nghĩa đối với sản phẩm bởi nó làm giảm hoạt động của VSV Làm giảm khối lượng
sản phẩm, tăng cấu trúc rắn chắc cho xúc xích Và tạo hương thơm, màu sắc đặc
trung cho sản phẩm Nhờ quá trình làm khô mà có thể nâng cao kết cấu của sản
phẩm thịt so với nguyên liệu thịt ban đầu Quá trình làm khô có tác dụng trong quá
trình bảo quản các sản phẩm thịt lên men bởi hoạt độ nước giảm sẽ ức chế sự phát
triển của VSV Hoạt độ nước còn phụ thuộc vào pH, pH cao hơn thì hoạt độ nước sẽ
giảm Các thành phần khác của thịt như chất béo không ảnh hưởng đến hoạt độ
nước aw và do đó aw không phụ thuộc vào độ ẩm của vào độ ẩm của vật liệu Các
thành phần hòa tan làm giảm giá trị aw và sấy là điều cần thiết để các chất hòa tan
vào thịt dễ dàng hơn Hàm lượng muối NaCl có thể làm cho quá trình khô chậm
hơn
Nhiệt độ và độ ẩm không khí bên trong buồng làm khô cần được điều chỉnh
cẩn thận để hỗ trợ quá trình chín và làm khô Nhiệt độ trong buồng chín ban đầu
được giữ ở 22 °C và từ từ giảm đến +19 °C Độ ẩm tương đối giảm dần từ giá trị
điển hình của 92 - 94% vào ngày đầu tiên đến 82 - 84% trước khi xúc xích được
chuyển giao cho các phòng làm chín và làm khô Trong quá trình chín nhiệt độ
được duy trì ở mức <16 °C tại độ ẩm tương đối của không khí 75 -78%
Các tham số vật lý được áp dụng để đảm bảo kiểm soát quá trình lên men
của vi khuẩn kết quả trong việc giảm độ pH 4,9 - 5,4 và mất nước dần dần kiểm
soát kết quả độ ẩm còn lại trong xúc xích lên men thấp khoảng 30% Thời gian của
quá trình làm khô và làm chín chủ yếu phụ thuộc vào đường kính của xúc xích và
độ ẩm tương đổi của không khí Độ ẩm được giữ quá cao, quá nhiều nước được giữ
lại ở bề mặt thường dẫn đến sự phát triển của vi khuẩn tăng lên trên bề mặt, do đó
tạo thành một lớp nhầy nhụa Nếu độ ẩm giảm quá nhanh đặc biệt là trong giai đoạn
đầu của quá trình, một lớp vỏ khô cứng và được hình thành ở lớp ngoài cùng là xúc
xích Lớp vỏ này là không thể để điều chỉnh đường kính giảm gây ra bởi liên tục
thua lỗ của độ ẩm và như là một vết nứt kết quả sẽ xuất hiện ở trung tâm của sản
phẩm
Trang 28Một vấn đề trong thời gian chín có thể là nấm mốc và nấm men tăng trưởng
trên các vỏ xúc xích, và giảm trong qúa trình làm chín và làm khô
Hơi nước bốc ra từ bề mặt sản phẩm do đó làm thay đổi thành phần của lớp
bề mặt Hơi nước tiếp tục di chuyển từ trong ra ngoài làm giảm lượng nước của sản
phẩm Trong giai đoạn đầu của quá trình sấy khô độ ẩm của lớp bên ngoài giảm,
trong khi nước bên trong chưa giảm Cân bằng hàm lượng nước lớn nên nước bên
trong dịch chuyển dần ra ngoài Khi cân bằng của hàm lượng nước trở nên thấp hơn
do đó làm chậm quá trình làm khô Sự khác biệt về hàm lượng nước các lớp hầu
như không thay đổi sau khi kết thúc quá trình phơi khô Nếu bề mặt thịt bị bao bọc
bởi chất béo, quá trình sản xuất thu được hương thơm rất chậm Hơi nước thoát ra
sẽ làm tăng độ ẩm tương đối của không khí xung quanh vì vậy để duy trì độ ẩm
tương đối của không khí để quá trình làm khô diễn ra dễ dàng hơn
Các nhân tố điều chỉnh trong quá trình làm khô sản phẩm thịt là độ ẩm tương
đối của không khí, nhiệt độ, mức độ lưu thông không khí Trong đó nhiệt độ là điều
hiệu quả nhất đặc biệt đối với sản phẩm thịt Nhiệt độ quá trình bắt đầu làm khô cần
thấp khoảng 10oC để ngăn chặn hoạt động của vi khuẩn Các sản phẩm khô chậm
hơn vì sự thoát hơi nước chậm hơn ở nhiệt độ này Tuy nhiên thì sự an toàn cao hơn
và trường hợp xơ cứng ít xảy ra hơn Phạm vi độ ẩm tương đối của không khí từ 70
- 95% tùy theo loại sản phẩm
Các biến ổi trong quá trình làm khô
Các tính chất cơ học của sản phẩm biến đổi nhiều so với nguyên liệu thịt ban
đầu: Sản phẩm dai hơn, dễ dàng thái mỏng hơn, tạo độ cứng chắc và tính linh hoạt
là rất quan trọng trong quá trình làm khô:
- Độ dẻo ban đầu của thịt dần mất đi
- Độ dai và khả năng thái lát được cải thiện
Hàm lượng nước quá thấp trong các sản phẩm quá khô gây ra sự biến tính
của protein và giảm sự trương nở Kết quả là sản phẩm đó quá dai, mất nước gây ra
độ bền kéo ở lớp ngoài Quá trình làm khô nhanh làm cho biến tính lớp ngoài do đó
lớp này trở nên không thể phục hồi, lớp vỏ bị xơ cứng Các lớp bên ngoài bị tách ra
Trang 29từ các lớp bên trong, gây ra các hốc và vỡ Vì vậy không khí xâm nhập sâu hơn vào
phía trong của sản phẩm Với oxy trong đó tạo điều kiện cho vi khuẩn hiếu khí hoạt
động làm cho bên trong ôi và có màu xanh lá cây, mùi hôi xuất hiện Điều đó lý giải
vì sao sản phẩm phải được sấy khô từ từ để tránh các trường hợp xơ cứng Một điều
lưu ý khi nhồi sản phẩm là không tạo các lỗ khí sẽ làm cho sản phẩm trở nên rỗng
hơn dễ dàng Trong các sản phẩm ít chất béo thường xuyên xảy ra hiện tượng này
Chất béo có tác dụng làm mềm sản phẩm vì vậy làm khô là việc cần thiết để sản
phẩm có độ cứng Các hạt chất béo cần phải dính vào thịt để tránh tạo ra các lỗ
hổng, điều này làm ảnh hưởng đến độ cứng chắc cũng như chất lượng của sản phẩm
cuối cùng
- Tạo hương thơm, mùi vị
Quá trình làm khô là quá trình quyết định hương thơm của sản phẩm XXLM
Hương thơm của sản phẩm tạo nên do sự biến đổi các chất protein, các thành phần
hòa tan kết hợp với sự mất nước trong quá trình làm khô và làm chín Hương thơm
của sản phẩm còn là sự kết hợp của nhiều phụ gia sử dụng Vị mặn của sản phẩm
cũng trở nên hài hòa hơn trong quá trình này vì muối tan dần vào trong sản phẩm
cùng với sự dính kết của protein và chất béo tự do
- Giảm các VSV
Hoạt độ nước ban đầu của thịt là 0,966- 0,990 đây là hoạt độ nước cho mọi
VSV phát triển có thể gây bệnh, gây hư hỏng sản phẩm Trong quá trình làm khô và
làm chín hoạt độ nước của sản phẩm giảm đáng kể Khi giá trị hoạt độ nước cuối
cùng của sản phẩm thịt < 0,95 hầu hết đã ức chế các vi khuẩn G (-), thay thế dần
bằng các nhóm Lactobaccilli và các VSV chịu mặn Ở giá trị thấp hơn 0,88 - 0,90
nhiều vi khuẩn và nấm men đã ngừng hoạt động
Mật độ và chủng loại VSV phụ thuộc nhiều vào hoạt độ nước:
+ Vi khuẩn Gram (-): 0,97
+ Vi khuẩn Gram (+): 0,9
+ Nấm men: 0,88
+ Nấm mốc: 0,80
Trang 30+ VSV ưa mặn : 0,75
Đặc biệt trong các sản phẩm có gia nhiệt như sấy hoặc hun khói thì lượng
VSV giảm đi đáng kể so với lượng VSV ban đầu có trong thịt Sự giảm đi của các
VSV đảm bảo chất lượng và sự an toàn cho người sử dụng
- Sự tạo màu
Trong thịt có chứa nhiều mioglobin, muối nitrit tác dụng với mioglobin cho
màu đỏ tươi Phản ứng đơn giản: Mb + nitrit Nitroso Mb
Trong quá trình làm khô, nitrat chuyển thành nitrit, rồi thành oxit nitric
Nitrit làm chậm phát triển của độc tố làm hỏng thịt (do Clostridium botulinum tiết
ra) giữ cho thịt chậm ôi, chậm trở mùi, mất mùi Trong thịt có myoglobin làm cho
thịt có màu đỏ tự nhiên, oxit nitric kết hợp với myoglobin thành nitro – oxit
myoglobin có màu đỏ sậm Khi gia nhiệt, màu đỏ sậm này chuyển thành màu hồng
nhạt, làm gia tăng màu sắc, hương vị thịt Ngoài ra các chất phụ gia khác như
vitamin C, đường glucoza bổ sung thêm vào cũng có tác động chuyển hóa NaNO2
nhanh và hoàn toàn cho sản phẩm có màu đỏ tươi nhiều hơn
Sản phẩm được bổ sung chất phụ gia muối nitrit nên trong quá trình này dưới
tác dụng của nhiệt độ sẽ tạo màu sắc đẹp đỏ hồng cho sản phẩm cuối cùng
1.2.4 Đánh giá chất lượng sản phẩm xúc xích lên men
Chất lượng sản phẩm cuối cùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng
nguồn thịt ban đầu, quá trình lên men và quá trình làm khô làm chín Sản phẩm
XXLM được đánh giá là an toàn vì:
- Quá trình lên men vi khuẩn lactic phát triển mạnh tạo ra nhiều axit lactic hạ
thấp pH của sản phẩm xuống còn 4,8 - 5,3 và gần như pH ít thay đổi trong quá trình
làm khô và làm chín pH thấp là điều tiên quyết ngăn chặn sự phát triển của các
VSV không có hại khác
- Quá trình làm khô và làm chín độ ẩm giảm, hoạt độ nước giảm tiêu diệt
được phần lớn VSV trong quá trình này
+ Nấm men và mốc
Nấm men và mốc thường được phát hiện trong hầu hết các loại xúc xích ở
các mức độ khác nhau từ 2,0 đến 4,5 log CFU/gr sản phẩm Một vài tác giả thấy
Trang 31được sự phát triển chậm của nó trong suốt giai đoạn chín với mức độ không tăng lên
và sau đó hầu như giảm xuống
Đến cuối giai đoạn chín hầu như không thấy sự phát triển của nấm men và
nấm mốc ở các sản phẩm lên men
+ VSV gây bệnh
Samonella thường không được phép có mặt trong xúc xích truyền thống
Staphylococci thường chỉ có mặt trong một số loại xúc xích của Pháp và Ý
Ở Salami Milano, Staphylococcus aureus được tìm thấy ngay ở giai đoạn đầu
trong quá trình sản xuất và giảm dần trong giai đoạn chín, cho đến khi nó không còn
xuất hiện trong giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất Nó vẫn liệt kê là có
trong một số sản phẩm xúc xích của Ý sản xuất thủ công ở mức độ giới hạn 2,5 -
4,5 log CFU/gr sản phẩm [11]
Ở xúc xích Pháp Staphylococcus aureus cũng có mặt trong một vài trường
hợp, ví dụ có mặt trong các mẫu mùa đông, không có trong mùa xuân
Listeria monocytogens thỉnh thoảng thấy có mặt trong mẫu đầu Nhưng mức độ
thường giảm xuống hoặc không tìm thấy vào giai đoạn cuối cùng của quá trình lên
men trong các loại xúc xích của Hy Lạp
Listeria monocytogens được liệt kê có trong 3 hãng sản xuất truyền thống ở
Pháp ở hơn 10 nghiên cứu Mức sản xuất đầu tiền, mức độ của Listeria
monocytogens giảm dần cho đến cuối giai đoạn chín Mức thứ hai, Listeria
monocytogens được tìm thấy trong sản phẩm cuối cùng dưới mức giới hạn 2
CFU/gr
+ VSV gây hƣ hỏng
Các vi khuẩn vật gây hư hỏng thường gặp là Pseudomonas và
Enterobacteriaceae có mức độ ban đầu khác nhau Chúng nằm trong phạm vi 1,0 -
4,4 log CFU/gr đối với Enterobacteriaceae và từ 1,5 - 5,2 log CFU/gr đối với
Pseudomonas Trong quá trình làm khô và làm chín số lượng VSVnày giảm đặc
biệt là Enterobacteriaceae Pseudomonas thường không còn xuất hiện trong sản
phẩm cuối cùng do hoạt độ nước thích hợp của Pseudomonas khá cao 0,97 trong
Trang 32quá trình làm chín và làm khô hoạt độ nước giảm làm giảm sự phát triển của sinh
vật này [13]
- Đối với xúc xích chất lượng không an toàn do một số VSV còn tồn tại và
phát triển thường gặp các dạng hư hỏng:
+ Lên men chua
Thường xuất hiện các sản phẩm lên men tự nhiên không sử dụng các chủng
khởi động Màu sắc và cấu trúc của XXLM không thay đổi nhưng xuất hiện nhiều
vị chua Những chỗ tiếp xúc với không khí có thể có màu xanh xám
+ Thối rữa
Một vài tác giả cho rằng Pseudomonas và Enterobacteriaceae tăng lên trong
suốt quá trình lên men, sau đó Enterobacteriaceae được giữ lại trong suốt quá trình,
trong khi đó Pseudomonas được giữ lại không đổi hoặc không tồn tại ở cuối quá
trình Ngoài ra có thể do vi khuẩn nhiễm vào trong quá trình chế biến do không tuân
thủ các quy định và chế độ công nghệ Chủ yếu protein bị phân giải ngoài ra còn có
lipid và glucid bị phân giải
+ Vị đắng
Vị đắng của sản phẩm sinh ra trong thời gian bảo quản là do các VSV
Pseudomnonas fluorescens liquefaciens, Bacteria prodigiosum, Cladosprodium
butyric, gây ra Trong quá trình này chất béo bị phân ly thành glycerin và axit béo,
những chất này bị oxy hóa thành aldehit và ceton gây nên vị đắng cho sản phẩm
Xúc xích có vị đắng đồng thời có mùi hăng cay và chất béo trở nên vàng
+ Bị mốc
Do các loại nấm mốc ưa nước như Mucor, Aspergillus nhiễm vào trong quá
trình làm khô làm chín cũng như trong quá trình bảo quản Nấm mốc phát triển trên
bề mặt sản phẩm và có thể đột nhập vào sâu bên trong Nấm mốc làm cho sản phẩm
có mùi mốc, độ nhớt cao và biến màu Những sản phẩm bị mốc trong quá trình bảo
quản không nên bảo quản tiếp và cần đem sử dụng ngay hoặc bỏ lớp mốc ngoài
trước khi ăn Một số loài mốc có thể gây ngộ độc khi dùng nên các sản phẩm mốc
nên tránh dùng
Trang 33Như vậy sản phẩm XXLM đạt chất lượng là sau quá trình làm khô đem đi
bảo quản sản phẩm cuối cùng sẽ có màu sắc đỏ hồng với sản phẩm có gia nhiệt và
màu đỏ hơi nâu với sản phẩm không gia nhiệt Hương vị hài hòa của lactic, mùi
thơm của các chất phụ gia, không bị mùi ôi chất béo, sản phẩm hài hòa về vị mặn,
vị chua lactic Quá trình làm khô làm cho cấu trúc sản phẩm rắn chắc hơn tạo độ
dai, độ đàn hồi, có thể cắt lát mỏng mà không bị vỡ
Sản phẩm XXLM chất lượng tốt có hương vị thơm ngon cấu trúc rắn chắc và
đảm bảo VSATTP cho người sử dụng
Trang 34CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nguyên vật liệu
2.1.1 Nguyên liệu
Nguyên liệu để sản xuất xúc xích lên men bán khô là thịt bò nạc, thịt lợn nạc,
thịt lợn ba rọi, mỡ phần (mỡ lưng hoặc gáy) mua ở chợ và các phụ gia khác như
muối, đường, tiêu, tỏi,…
2.1.2 Chủng vi sinh vật nghiên cứu
* Các chủng vi khuẩn lactic sử dụng làm chủng khởi động:
Chủng Lactobacillus plantarum (H1.40) trong bộ sưu tập Bộ môn Công
nghệ sau thu hoạch Đại học Bách Khoa Hà Nội Chủng được phân lập từ nem chua,
có khả năng sinh tổng hợp bacterioxin, có hoạt lực cao và nhiều đặc tính tốt
Chủng L plantarum (H1.4) trong bộ sưu tập Bộ môn Công nghệ sau thu
hoạch- Đại học Bách Khoa Hà Nội Chủng được phân lập từ nem chua, có nhiều
đặc tính tốt như khả năng kháng khuẩn cao, lên men tốt, thủy phân tốt protein thịt
Chủng Lactococcus sakei DSM 6333 trong bộ chủng sưu tập trường Đại học
Torino, Italia Chủng có hoạt tính sinh tổng hợp sakasin A, bacterioxin, có hoạt lực
kháng khuẩn cao và nhiều đặc tính tốt
* Chế phẩm thương mại:
- Chế ph m TM1: TEXEL SA 306 của Công ty DANISCO (Đan Mạch) là
một hỗn hợp gồm 3 chủng (L sakei, S carnosus, S xylosus) đây là nhóm chủng
giống phổ biến được dùng cho lên men xúc xích trên thế giới
- Chế ph m TM2: Cargill France SAS dùng cho xúc xích lên men (starter
cultures - Starterkulturn- Fermentos) GY2/100kg
2.1.3 Hóa chất và môi trường [2, 3]
2.1.3.1 H a chất
Cao thịt (Pháp), cao nấm men (Pháp), pepton (Trung Quốc), glucoza (Trung
Quốc), natri axetat (Trung Quốc), citrat amon (Trung Quốc), tween 80 (Trung
Quốc), magie sunphat (Trung Quốc), mangan sunphat (Trung Quốc), kalihyđro
Trang 35photphat (Trung Quốc), aga (Hải Long), natri nitrat (Trung Quốc), manitol (Trung
Quốc)
2.1.3.2 Môi trường
Môi trường Man Rogosa Sharpe (MRS) ặc (Phân lập và ếm vi khu n
lactic)
Thành phần: Cao thịt (10g), cao nấm men (5g), pepton (15g), glucoza (20g),
natri axetat (5g), tween (1ml), citrate amon (2g), magie sunphat (0,1g), mangan
sunphat (0,05g), kalihydro photphat (2g), nước cất (1 lít), aga (môi trường đặc 20g,
môi trường xốp 7g)
Chỉnh pH tới 6,5 ± 0,2
Môi trường Staphylococcus 110 (g/l) (FDA) (Phân lập và ếm St aureus)
Thành phần môi trường:
Peptone: 10g, cao nấm men: 2,5g, gelatin:30g, lactose: 2g; D-Mannitol: 10g,
NaCl: 75g, dipotassium phosphate: 5g, thạch:15g, nước 1 lít
Hấp ở 121oC trong 15 phút
Môi trường VRBGA (Phân lập và ếm tổng Enterobacteriaceae)
Cao nấm men: 3g, pepton 7g, NaCl: 5g, muối mật No3: 1,5g, glucoza: 10g;
đỏ trung tính: 3mg; tím violet: 2mg, thạch: 12g; nước: 1 lít; pH từ 7,2 – 7,6 ở 25 o
C Hấp ở 121o
C trong 15 phút
2.1.4 Thiết bị
- Tủ cấy Việt Nam
- Tủ nuôi 25-30-370C Trung Quốc
- Cân điện tử FAORIUS- Nhật
- Thiết bị khử trùng HYLAYAMA HV 25/50/85/100- Mỹ
- Máy đo pH 320pH Metter METTLER POLEDO
- Thiết bị sấy chân không Heraeus vacutherm- Đức
- Tủ ổn nhiệt, ổn ẩm – Hàn Quốc
- Các thiết bị khác: tủ lạnh, lò vi sóng,…
- Máy ly tâm lạnh
Trang 362.2 Phương pháp nghiên cứu [2, 3]
2.2.1 Phương pháp hóa lý
2.2.1.1 Xác ịnh pH bằng máy o iện cực Metter METTLER POLEDO
2.2.1.2 Xác ịnh ộ m của sản ph m bằng phương pháp sấy khô ến trọng lượng
2.2.2.2 Xác ịnh tổng số VSV ường ruột Enterobacteriaceae bằng phương pháp
chu n quốc tế F18 phân lập trên môi trường VRBGA agar
2.2.2.3 Xác ịnh tổng số vi khu n lactic bằng phương pháp phân lập trên môi
trường MRS
2.2.3 Phương pháp đánh giá cảm quan [7]
Phương pháp đánh giá cảm quan được sử dụng là phép thử mô tả (Hay còn
gọi là phương pháp xây dựng profil sản phẩm) Là phép thử gồm hai hay nhiều mẫu
và người thử được mời xác định xem các mẫu này khác nhau ở đặc tính nào và độ
lớn của sự khác nhau này là bao nhiêu Phép thử này được dùng khi người ta đã biết
là giữa các mẫu có sự khác nhau muốn tìm hiểu đặc trưng của sự khác nhau này
Phép thử mô tả cũng được sử dụng để mô tả chi tiết các tính chất cảm quan
của một số sản phẩm để nghiên cứu các tính chất đặc trưng của sản phẩm đó
Phương pháp tiến hành: Phép thử mô tả được thực hiện qua 3 bước:
- Lựa chọn các đặc tính cần đánh giá
- Thực hiện các phép thử sơ bộ để các thành viên cùng thống nhất cách sử
dụng thang cường độ đã đưa ra
- Đánh giá cường độ của các đặc tính đã chọn trên thang
Các đặc tính cần đánh giá, thang cường độ đánh giá xúc xích lên men bán
khô được thể hiện trong phiếu trả lời (Phụ lục 02)
Trang 37Lập hội đồng cảm quan (từ 8- 10 thành viên có qua huấn luyện), mỗi thành
viên sẽ nhận được phiếu cho điểm và các mẫu sản phẩm cần đánh giá Họ sẽ nếm
thử từng mẫu và xác định cường độ từng chi tiết yêu cầu trên thang điểm đã sử dụng
qua các chỉ tiêu: màu sắc, mùi vị, cấu trúc
Nguyên liệu chính: Thịt bò nạc, thịt lợn nạc, thịt lợn ba rọi, mỡ lợn Tỷ lệ của
các nguyên liệu thịt được nghiên cứu qua các thí nghiệm
Nguyên liệu phụ tính cho 1kg nguyên liệu
Bảng 2.1 Hàm lượng nguyên liệu phụ cho 1 kg nguyên liệu chính
STT Tên nguyên liệu phụ Khối lƣợng (gam)
Trang 38CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Nghiên cứu lựa chọn thành phần nguyên liệu chính và phụ gia trong sản
xuất xúc xích lên men bán khô
Trong quá trình sản xuất xúc lên men bán khô, thành phần nguyên liệu chính
và chất phụ gia đóng vai trò rất quan trọng để tạo nên thành phẩm Chúng không chỉ
ảnh hưởng đến các chỉ tiêu hóa học mà còn ảnh hưởng đến các chỉ tiêu hóa lý và
cảm quan của sản phẩm
Tỷ lệ của các nguyên liệu chính: Thịt bò nạc, thịt lợn nạc, ba chỉ và mỡ khác
nhau thì tính chất vật lý của các sản phẩm thành phẩm sẽ khác nhau
Các chất phụ gia được bổ sung vào xúc xích lên men cũng ảnh hưởng lớn
đến quá trình lên men tạo thành phẩm Trong đó phải kể đến hàm lượng đường, đây
chính là cơ chất của quá trình lên men Theo các tài liệu tham khảo [5,17], tùy thuộc
vào nguồn nguyên liệu đưa vào lên men mà tỷ lệ đường có khác nhau, lượng đường
tối thiểu là từ 0,5 - 2% Khi có đủ lượng đường cần thiết thì vi khuẩn lactic mới có
cơ chất cho quá trình lên men và sản sinh ra một lượng axit lactic tối thiểu đủ để
làm giảm giá trị pH môi trường đến mức ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây thối,
giữ ổn định chất lượng sản phẩm
Để lựa chọn được thành phần nguyên liệu chính và hàm lượng đường cho
phù hợp với sản xuất xúc xích lên men bán khô chúng tôi đã tiến hành thay đổi tỷ lệ
thành phần nguyên liệu chính và hàm lượng đường, cố định hàm lượng của các chất
phụ gia (NaCl, NaNO2, Sodium tripolyphosphate (STPP), mì chính, tỏi, bột ớt) và
bổ sung chủng H1.40 với mật độ 106 CFU/gr sản phẩm như sau:
Bảng 3.1 Tỷ lệ thành phần nguyên liệu chính và hàm lượng đường glucose