Do chúng ta hầu như chỉ có các nhà máy sản xuất đường có quy mô lớn, ít cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, sản xuất theo mùa vụ nên sản lượng của chúng ta chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của ngư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
NGUYỄN TÂN THÀNH
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ, CHẾ TẠO THIẾT BỊ VÀ CÔNG NGHỆ SẤY
ĐƯỜNG TRÊN MÁY SẤY THÙNG QUAY
Chuyên ngành :Quá trình và thiết bị Công nghệ sinh học – Công nghệ
Trang 2Mục lục
Lời cam đoan……… 4
Lời mở đầu……… 5
Danh mục các bảng……… 6
Danh mục các hình vẽ, đồ thị và sơ đồ……… 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN……… 8
I Giới thiệu tổng quan về ngành sản xuất đường……… 8
I.1 Sơ lược về ngành sản xuất đường……… 8
I.2 Công nghệ sản xuất đường……… 10
I.3 Các loại sản phẩm đường……… 15
I.4 Phương pháp và thiết bị sấy……… 17
CHƯƠNG 2: TÍNH TOÁN THIẾT KẾ, CHẾ TẠO MÁY SẤY THÙNG QUAY……… 20
II.1 Thiết bị nghiên cứu – Máy sấy thùng quay……… 20
II.1.1 Cấu tạo và nguyên lý làm việc……… 20
II.1.2 Đặc tính nguyên liệu sấy ……… 21
II.1.3 Yêu cầu công nghệ sản xuất sau khi sấy ……… 22
II.2 Tính cân bằng vật liệu và xác định kích thước sơ bộ……… 23
II.2.1 Tính cân bằng vật liệu……… 23
II.2.2 Xác định kích thước sơ bộ hệ thống sấy thùng quay……… 24
II.3 Tính toán nhiệt cho thùng sấy……… 26
II.3.1 Quá trình sấy lý thuyết……… 26
II.3.2 Quá trình sấy thực tế ……… 28
II.4 Tính toán thiết bị caloriphe ……… 37
II.5 Tính hệ thống quạt 39
II.5.1 Xác định cột áp toàn phần ……… 39
II.5.2 công suất của quạt ……… 42
CHƯƠNG 3 : TÍNH CƠ KHÍ ……… 43
III.1 Xác định kích thước cơ bản của thùng sấy ……… 43
III.2 Xác định công suất quay thùng, công suất động cơ và truyền động … 44
III.3 Tính toán các bộ truyền 46
III.3.1 Tính bộ truyền đai thang 46
III.3.2 Tính sơ bộ bộ truyền hộp giảm tốc trúc vít - bánh vít 48
III.4.Tính cơ khí thùng quay 50
III.4.1 Tính các lực, chọn vành đai, bánh răng 50
III.4.2 Tính bền thân thùng, kiểm tra mối hàn, tính điểm đặt vòng bánh răng 51
III.5 Thiết kế hệ điều khiển 53
III.5.1 Xác định số Input – Output 54
III.5.2 Lựa chọn PLC 54
Trang 3IV.5.3 Gán địa chỉ cho Input và Output 54
IV.5.4 Sơ đồ đấu nối mạch ngoài 55
IV.5.5 Lập trình 57
IV.5.6 Sơ đồ mạch lực 59
IV.5.7 Sơ đồ mặt tủ điều khiển 59
CHƯƠNG 4 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TÌM CHẾ ĐỘ SẤY TỐI ƯU 60
IV.1 Phương pháp tiến hành thí nghiệm 60
IV.1.1.Mô hình thí nghiệm và các thiết bị sử dụng 60
IV.1.2 Phương pháp xử lý nguyên liệu 60
IV.1.3 Phương pháp xác định độ ẩm 61
IV.1.4 Phương pháp tiến hành thí nghiệm, điều chỉnh các thông số công nghệ 61
IV.2 Nghiên cứu thực nghiệm xây dựng phương trình hồi quy 61
IV.2.1.Thực hành thí nghiệm và xây dựng mô hình 61
IV.3 Quy hoạch thực nghiệm bậc một ba yếu tố 67
IV.3.1 Phương pháp quy hoạch thực nghiệm bậc một 67
IV.3.2 Kết quả thí nghiệm 69
IV.4.Quy hoạch thực nghiệm bậc 2 ba yếu tố 73
IV.4.1 Phương pháp quy hoạch thực nghiệm bậc 2 73
IV.4.2 Mô hình thực nghiệm bậc 2 78
IV.4.3 Xác định các giá trị tối ưu 90
Kết luận 91
Tài liệu tham khảo 92
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Tân Thành
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập và phát triển, ngành Công nghiệp thực phẩm đang là một
thế mạnh của chúng ta Việt Nam là một nước mà nền nông nghiệp chiếm vị trí quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân, bên cạnh đó chúng ta đang trên đà phát triển về công
nghiệp Đặc biệt ngành công nghiệp mía đường đang ngày càng hiện đại hoá dây
chuyền công nghệ Để đáp ứng nhu cầu của ngành mía đường ngày càng phát triển thì
việc cơ khí hoá, hiện đại hoá máy móc thiết bị là một vấn đề mà chúng ta cần quan
tâm Do chúng ta hầu như chỉ có các nhà máy sản xuất đường có quy mô lớn, ít cơ sở
sản xuất nhỏ lẻ, sản xuất theo mùa vụ nên sản lượng của chúng ta chưa đáp ứng được
nhu cầu tiêu dùng của người dân và hằng năm phải nhập khẩu hơn 300.000 tấn đường
Trong công nghệ sản xuất đường, công đoạn sấy đóng vai trò quan trọng nhằm
nâng cao chất lượng sản phẩm, công nghệ sấy đường hiện nay được thực hiện chủ yếu
trên các thiết bị sấy sàng rung và sấy thùng quay.Việc nghiên cứu công nghệ và thiết
bị sấy thùng quay để sấy đường cho các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả kinh tế là việc cần thiết đối với những người làm công tác
nghiên cứu và kỹ thuật Bên cạnh đó, máy sấy thùng quay có thể ứng dụng để sấy các
loại sản phẩm khác như: sản phẩm dạng hạt, sản phẩm có kích thước nhỏ như đậu đỗ,
cà phê, ngô hạt, muối ăn, quả và củ cắt nhỏ Máy sấy thùng quay có những ưu điểm
lớn như làm việc ổn định, năng suất cao và rất kinh tế
Do vậy, mục đích nghiên cứu của luận văn có hai nội dung chính là thiết kế chế
tạo hoàn chỉnh máy sấy thùng quay và nghiên cứu tìm chế độ công nghệ sấy tối ưu sản
phẩm đường trên máy đó
Trong thời gian làm luận văn do thời gian không nhiều (1năm) nên một số nội
dung không tránh khỏi thiếu sót, còn đôi chỗ chưa thật hoàn chỉnh Tôi xin chân thành
cám ơn TS Tôn Thất Minh đã hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Tôi cũng xin
cám ơn TS Nguyễn Minh Hệ đã giúp đỡ rất nhiều trong phần quy hoạch thực nghiệm
xây dựng phương trình hồi quy cho quá trình và sau cùng tôi xin chân thành cám ơn
toàn thể bộ môn Máy và Tự động hoá CNSH-CNTP đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong
những năm học vừa qua
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng I.1 : Chỉ tiêu hoá lý đường tinh luyện
Bảng I.2 : Chỉ tiêu hoá lý đường trắng
Bảng I.3 : Chỉ tiêu hoá lý đường thô
Bảng I.4 : Chỉ tiêu hóa lý đường vàng tinh khiết
Bảng III.1: Bảng tổng hợp các thiết bị điều khiển
Bảng IV.1 : Thí nghiệm theo nhiệt độ
Bảng IV.2 : Thí nghiệm theo tốc độ tác nhân sấy
Bảng IV.3 : Thí nghiệm theo tốc độ vòng quay của thùng
Bảng IV.4 : Ma trận thực nghiệm yếu tố đầy đủ 23
Bảng IV.5 : Ma trận thực nghiệm và kết quả thí nghiệm
Bảng IV.6 : Bảng tính các giá trị tại các điểm thí nghiệm
Bảng IV.7 : Các giá trị α, β
Bảng IV.8: Ma trận thực nghiệm cấp 2 ba yếu tố
Bảng IV.9: Kết quả các thí nghiệm 2 lần lặp tại mỗi thí nghiệm
Bảng IV.10: Tổng hợp các giá trị thời gian và phương sai
Bảng IV.11: Tính toán các hệ số hồi quy
Bảng IV.12 Tính toán các chỉ số để xác định hệ số có nghĩa của phương trình hồi
quy
Bảng IV.13 Xác định các hệ số hồi quy có nghĩa
Bảng IV.14 Kiểm tra tính thích ứng của mô hình
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ VÀ SƠ ĐỒ
Hình I.1 : Máy sấy thùng quay
Hình I.2 : Máy sấy rung nằm ngang
Hình II.1 : Cấu tạo máy sấy thùng quay
Hình II.2 : Hệ thống đường ống dẫn khí và lọc bụi
Hình III.1 : Lực tác dụng lên con lăn đỡ
Hình IV.1 : Mô tả các toạ độ cực tối ưu
Đồ thị IV.5: Ảnh hưởng của tốc độ vòng quay thùng đến thời gian sấy khi cố định,
tốc độ tác nhân sấy V = 4 m/s , nhiệt độ sấy 80ºC
Đồ thị IV.6: Ảnh hưởng của tốc độ vòng quay thùng đến độ ẩm vật liệu khi cố định,
tốc độ tác nhân sấy V = 4 m/s , nhiệt độ sấy 80ºC
Sơ đồ III.1 : Sơ đồ đấu nối mạch ngoài
Sơ đồ III.2 : Sơ đồ lập trình thang
Sơ đồ III.3 : Sơ đồ mạch lực
Sơ đồ III.4 : Sơ đồ mặt tủ điều khiển
Trang 8CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN
I Giới thiệu tổng quan về ngành sản xuất đường:
I.1 Sơ lược về ngành sản xuất đường
Nước ta nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, nhiều đất đai từ Bắc đến Nam rất
thuận tiện cho phát triển tròng mía, nhất là các tỉnh miền Trung, Đông Nam Bộ, vì
vậy ngành sản xuất đường mía rất có tiềm năng
Sau năm 1975 ngành mía đường được khuyến khích phát triển, đến năm 1994 cả
nước có khoảng 150.000 ha trồng mía, sản lượng 6,5 triệu tấn mía, sản xuất được
0,32 triệu tấn đường quy ra đường thô, trong đó 0,11 triêu tấn được sản xuất trong
14 nhà máy
Trong những năm gần đây nhà nước ta đã và đang thực hiện chương trình mía
đường và hiện nay đã xây dựng được khoảng 40 nhà máy đường, trải khắp mọi
miền đất nước Việt Nam là nước có truyền thống sản xuất đường mía lâu đời
Đường có ý nghĩa quan trọng với ý nghĩa dinh dưỡng cho cơ thể con người, đường
còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp khác ( bánh kẹo,
đồ hộp nước giải khát, hoá học) Đường xuất khẩu thu về ngoại tệ cho đất nước
Việt Nam thuộc thuộc vùng nhiệt đới gió mùa thích hợp cho cây mía phát triển, với
nền kinh tế nước ta phần lớn là nông nghiệp nên rất thuận lợi cho phát triển công
nghiệp mía đường
Năm 1995 để đáp ứng đường tiêu thụ trong nước không phải nhập khẩu, tiến
đến xuất khẩu, nhà nước cho thành lập chương trình mía đường, nhiều nhà máy
đường được xây dựng, giải quyết nhiều việc làm cho lao động trong nước
Năm 1999 đã xảy ra tình trạng thừa đường do nhập lậu
Ngành mía đường Việt Nam thực sự bùng nổ và phát triển trong kế hoạch 5
năm 1995 – 2000 so với tổng cộng là 44 nhà máy đường mía và 2 nhà máy đường
luyện
Tháng 8- 2000 tại hội nghị mía đường Quốc gia, chúng ta đã tuyên bố đạt được
chỉ tiêu đề ra: tới năm 2000 thì đạt được 1 triệu tấn / năm
Theo báo cáo của ngành sản xuất đường mía thì:
Trang 9+ Thị trường thế giới:
- Đầu tháng 9/2010, Ấn độ, nước tiêu thụ đương lớn nhất thế giới công bố sản
lượng cho vụ mía năm nay ( bắt đầu từ 1/10) sẽ tăng khoảng 17% giúp cho nước
này không còn phải nhập khẩu đường cho vụ tới Ngược lại, Ấn độ dự kiến sẽ xuất
khẩu đường trở lại trong vòng 3 tháng tới
- Nguồn cung trên thế giới đang ở mức ổn định vì thời tiết thuận lợi trong vụ
thu hoạch tại brazil, kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11
- Giá đường liên tục tăng kể từ đầu tháng 7, từ 604USD/tấn lên giá hiện tại là
755USD/tấn
+ Thị trường nội địa:
- Tiêu thụ đường trong nước trong tháng 8/2010 ( giai đoạn từ 15/7 đến 15/8 )
chỉ đạt 46,100 tấn, giẩm 50% so với cùng kỳ ượng tồn kho đường còn lại 127,000
tấn Giá đường trong nước từ giữa tháng 8 tăng mạnh, với giá bán tại nhà máy
khoảng 18,000 – 19,000VND/1kg và giá bán lẻ khoảng 20,000 – 23,000VND/1kg
- Giá mía tại một số vùng khu vực miền tây bắt đầu ép sớm đã tăng cao từ 250 –
350VND/1kg so với năm ngoái
Triển vọng cho ngành đường năm 2011:
Thế giới: Cơn sốt giá đường 2009&2010 chủ yếu xuất phát từ sản lượng tụt giảm
của Ấn Độ, nước tiêu dùng 15% sàn lượng của thế giới Vụ mùa 2008/2009, Ấn Độ
thiếu hụt 6 – 7 triệu tấn đường trên tổng thiếu hụt toàn cầu là 10 triệu tấn, trong vụ
mùa 2008/2009, Ấn Độ thiếu hụt 4 triệu tấn đường trên tổng thiếu hụt toàn cầu là 6
triệu tấn Như vậy, những thông tin thế giới gần đây rằng Ấn Độ có thể xuất khẩu
khoảng 2 triệu tấn trong vụ 2010-1011 cho thấy một triển vọng về cung lớn hơn cầu
trong năm tới
Tại Việt Nam: Sản lượng nội địa các năm gần đây chỉ dao động quanh mức 900,000
tấn – 1,1 triệu tấn/năm trong khi nhu cầu khoảng 1,4 – 1,5 triệu tấn/năm Loại trừ
các khoản nhập khẩu lậu qua biên giới, mỗi năm Việt Nam cần nhập khẩu trong hạn
ngạch khoảng 300,000 tấn đường
Trang 10I.2 Công nghệ sản xuất đường
Mật Mật
Xông
CO2
Lọc lần 1
Gia nhiệt 2
Nấu đường
Ly tâm R1
Trợ tinh chân không
Nấu đường R1
Bốc hơi
Trao đổi ion
Cacbonat hóa
Ly tâm
Trợ tinh
Ly tâm Sấy
Trang 11a Xử lý mía trước khi ép
- Mục đích: Tạo điều kiện dễ dàng nâng cao năng suất và hiệu suất ép
- Biến đổi:
+ Mía được băm thành mảnh nhỏ
+ Phá vỡ lớp vỏ cứng của cây mía + Nâng cao mật độ mía trên băng tải Qua trình này sẽ được thực hiện qua nhiều thiết bị: máy san bằng, máy băm mía,
búa đập.Việc phối hợp giữa các thiết bị này tuỳ thuộc vào từng nhà máy
b Trích ly nước mía
- Mục đích: Lấy kiệt lượng nước mía có trong cây mía
- Phương pháp: Có hai phương pháp được sử dụng trong nhà máy
đường
+ Phương pháp ép: Qúa trình này sử dụng kết hợp giữa lực cơ học và
phương pháp thẩm thấu để tách tối đa lượng nước mía trong tế bào
+ Phương pháp khuếch tán: Sử dụng phương pháp ép kết hợp với khuếch
tán bã mía trong các thiết bị khuếch tán Phương pháp này có nhiều ưu điểm như tiết
kiệm được chi phí bảo dưỡng, chi phí lắp mới thấp hơn so với phương pháp ép
Nhưng chi phí năng lượng cho bốc hơi nước mía lớn
- Biến đổi: Lực cơ học làm cho tế bào bị phá vỡ
c Tách riêng bã vụn
Mục đích: Tách bả vụn có trong nước mía sau khi ép
Biến đổi: Nước mía sau khi qua sàng thì được tách bã vụn
Thiết bị : Sàng cong
d Làm sạch:
Trong nước mía hỗn hợp ngoài đường saccharose còn có những chất
không đường có tính chất hoá lí khác nhau Trong đó, chất keo chiếm một tỷ lệ đáng
kể 0,03 – 0,05% Các chất không đường này gây ảnh hưởng bất lợi đến qúa trình
sản xuất đường như: Lọc nước mía, tách mật kết tinh đường khó khăn, đồng thời
cũng tạo cho nước mía có nhiều bọt, giảm hiệu quả tẩy màu Do đó người ta tìm
Trang 12cách loại những chất không đường này và những chất rắn lơ lửng ra khỏi nước mía
Có nhiều phương pháp làm sạch nước mía Nhưng sản xuất đường hiện nay chủ yếu
sử dụng 2 phương pháp đó là phương pháp SO2 và CO2
Các phương pháp làm sạch đều dựa trên các cơ sở lý của hệ keo:
- Tác dụng của PH:
Nước mía hỗn hợp thường có PH = 5,0 – 5,5 Trong quá trình làm sạch do sự
thay đổi PH dẫn đến sự thay đổi tính chất lý, hóa học của các chất không đường có
trong mía Nếu khống chế được PH tốt sẽ giảm được tổn thất đường, nếu không thì
đường Saccharose sẽ bị chuyển hóa thành đường khử hoặc bị phân hủy làm tổn thất
đường, tăng màu sắc của đường thành phẩm Trong nước mía có hai điểm PH làm
ngưng tụ keo: PH trên dưới 7 và PH dưới 11 Điểm PH trước là điểm đẳng điện
Điểm PH sau là điểm ngưng kết của protein trong môi trường kiềm mạnh Sản xuất
đường theo phương pháp cacbonat hóa có thể lợi dụng hai điểm ngưng tụ keo, còn
phương pháp sunfit chỉ lợi dụng được một điểm ngưng tụ keo
- Tác dụng của nhiệt độ: Làm giảm tỷ trọng của nước mía, làm ngưng tụ keo,
tăng nhanh tốc độ lắng của các chất lắng, tiêu diệt vi sinh vật Nếu khống chế không
tốt sẽ làm chuyển hóa đường, tăng sự phân hủy bã vụn có trong nước mía làm tăng
keo trong nước mía
- Tác dụng chất điện ly:
+ Vôi ( Ca(OH)2 ): Là hóa chất được dùng nhiều trong các nhà máy đường Chất
lượng vôi có ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình làm sạch Nếu vôi có chứa nhiều
tạp chất, khi cho vôi vào nước mía sẽ làm tăng tạp chất trong nước mía, lọc và kết
tinh khó khăn Trong quá trình sản xuất người ta sử dụng vôi dưới dạng sữa vôi
bằng cách hòa tan vôi cục đã được nghiền vào nước mía Nồng độ sữa vôi thường
trong khoảng 10 – 18 Be
+ SO2: Trung hòa lượng vôi dư, tạo kết tủa CaCO3 có khả năng hấp thụ chất không
đường và chất, chất keo trong dung dịch nước mía, tẩy màu dung dịch đường Cơ
chế tẩy màu của SO2 như sau:
SO2 + H2O = HSO3 hoặc
Trang 13SO3 + H2O = OH- + HSO3
C=C + HSO3 = ( H-C-C-SO3 )
( H-C-C-SO3 )- + H2O = ( H-C-C-H-HSO4-)
Trước hết tác nhân khử phản ứng với nước tạo thành hidro rồi hidro kết hợp
với phân tử màu tạo thành chất không màu
+ CO2: Phản ứng với vôi tạo thành kết tủa CaCO3 Kết tủa này có tính chất hấp phụ
các chất không đường trong dung dịch nước mía làm giúp sạch nước mía
+ Chất trao đổi ion: Là chất cao phân tử không tan trong nước, có khả năng giải
phóng ra ion và trao đổi ion của mình với các ion khác có trong dung dịch Chất trao
đổi ion khi tiếp xúc với nước bị trương lên, nước mía thâm nhập vào bên trong dẫn
đến sự phân ly chất hoạt động Khi tiếp xúc với dung dịch, chất điện ly có thể thâm
nhập vào mạng lưới của trao đổi ion, nếu ion của chất trao đổi thì xẩy ra sự trao đổi
+ Rút ngắn thời gian kết tinh trong thiết bị nấu
+ Tiết kiệm hơi sử dụng cho nhà máy Do hơi sử dụng gia nhiệt cấp I, II đều có thể
dùng từ hơi thứ của các hiệu bốc hơi
- Biến đổi:
+ Nước mía được cô ở nhiệt độ 60 – 1300C Keetsquar là hơi nước bị bốc đi và trên
cơ bản không có sự thay đổi thành phần hoặc tính chất của chất khô của dung dịch
Tuy nhiên, trong quá trình cô đặc vẫn xảy ra nhiều phản úng hóa học và hóa lí dẫn
đến sự thay đổi thành phần và đặc tính chất tan
- Thiết bị: sử dụng hệ thống bốc hơi nhiều hiệu Thường sử dụng hệ thống bốc hơi
chân không 4 hiệu Thiết bị ống chùm tuần hoàn trung tâm, gia nhiệt nồi một bằng
hơi từ lò hơi
Trang 14f Nấu đường :
- Mục đích: Tách nước từ mật chè, đưa dung dịch đến trạng thái quá bảo hòa Sản
phẩm nhận được sau khi nấu gọi là đường non gồm tinh thể và mật cái Quá trình
nấu đường được thực hiện trong nồi nấu chân không để giảm nhiệt độ sôi của dung
dịch, tránh hiện tượng caramen hóa và phân hủy đường Nhiệt độ nấu đường trong
khoảng 70 – 80oC Quá trình nấu đường chia thành 4 giai đoạn: cô đặc đầu, tạo
mầm, nuôi tinh thể và cô đặc cuối
- Thiết bị: quá trình nấu đường thực hiện trong nồi nấu chân không loại ống chùm
g Trợ tinh:
- Mục đích: đường non nấu giai đoạn cuối ở thể tích lớn, nồng độ mẫu dịch cao, độ
nhớt lớn cho nên đối lưu trong nồi kém Vì vậy nên kết tinh trong nồi cần có nhiều
thời gian nhưng hiệu quả kết tinh không cao, mặt khác tốn nhiều hơi đốt Bởi vậy
sau khi nấu đường đến thể tích nhất định và đạt nồng độ yêu cầu thì ta đưa đường
non xuống thiết bị trợ tinh để thực hiện tiếp quá trình trợ tinh
- Nguyên lý trợ tinh: khống chế nồng độ và nhiệt độ để khống chế độ quá bảo hòa
thích hợp, đồng thời duy trì một khoảng thời gian đầy đủ để thành đường trong
nước cốt tiếp tục được hấp thụ trên bề mặt tinh thể đường
- Thiết bị: Dùng thùng trợ tinh có cách khấy và thiết bị làm mát
h Ly tâm :
- Mục đích: Tách tinh thể ra khỏi mật trong các thùng quay tốc độ cao Sau khi ly
tâm sản phẩm nhận được gồm: đường, mật nâu và mật trắng
- Thiết bị: Sử dụng máy ly tâm gián đoạn, máy ly tâm liên tục
i Sấy :
- Mục đích: Đường cát sau khi ly tâm có độ ẩm từ 1 – 2 % Do vậy phải sấy khô
trước khi đóng gói sản phẩm
- Thiết bị sấy: Tùy thuộc vào từng nhà máy người ta có thể sử dụng các loại máy
sấy sau: máy sấy thùng quay, máy sấy sàng rung
Trang 15I.3 Các loại sản phẩm đường
a) Đường tinh luyện
Đường tinh luyện là đường Saccharose được tinh chế và kết tinh và các tinh
- Màu sắc: Tinh thể trắng óng ánh, khi pha vào nước dung dịch trong suốt
Bảng I.1: Chỉ tiêu hóa lý đường tinh luyện
Sản phẩm Độ Pol % Độ ẩm % Độ tro % RS Độ màu (0UI)
Đường tinh luyện > 99.8 0.05 0.03 < 0.03 30
RS > 99.65 0.05 0.03 < 0.03 < 70
- Dư lượng SO2 (ppm) < 7
- Mức tối đa các chất nhiễm bẩn: Asen 1mg/kg; Đồng 2mg/kg; Chì 0.5mg/kg
- Bao bì nhãn, vân chuyển, bảo quản
+ Bao PP không có mùi không ảnh hưởng đến chất lượng của đường Ghi nhãn theo
quy định 178/1999/QĐ – TT
+ Bảo quản nơi khô ráo, sạch sẽ, tránh mưa nắng Tránh xa nguồn ô nhiễm Không
được vẩn chuyển chung với hóa chất
b) Đường trắng ( TCVN 6950: 2001)
- Đường trắng là đường Saccharose được tinh chế và kết tinh, được chia làm hai
dạng A, B
- Chỉ tiêu về cảm quan
+ Về ngoại hình mùi vị yêu cầu giống đường tinh luyện
+ Về màu sắc đối với hạng đường A: Tinh thể màu trắng, khi pha vào nước cho
dung dịch trong suốt Đối với hạng B: Tinh thể có màu trắng ngà tới trắng, khi pha
vào nước cho dung dịch tương đối trong
Trang 16Bảng I 2: Chỉ tiêu hóa lý đường trắng
- Là đường Saccharose được làm sạch, kết tinh có độ Pol từ 96 – 99 % Tinh thể có
bám một lớp đường vàng, hoặc nâu vàng Được chia thành hai hạng 1 và hạng 2
- Chỉ tiêu cảm quan:
+ Ngoại hình: Tinh thể màu vàng nâu đến vàng nâu, kích thước tương đối đồng
đều, tơi khô, không vón cục
+ Mùi vị: Tinh thể đường hoặc dung dịch đương trong nước có vị tự nhiên, có vị
mật mía, không có vị lạ
+ Màu sắc: Tinh thể vàng nâu tới nâu Khi pha trong nước cất cho dung dịch tương
đối trong
Bảng I 3: Chỉ tiêu hóa lý đường thô
Độ Pol (%) Độ ẩm (%) Độ tro(%) Đường khử (%)
Bảng I 4 : Chỉ tiêu hóa lý đường vàng tinh khiết
Độ Pol %) Độ ẩm (%) Độ tro(%) Đường khử (%) Độ màu (UI) Tạp chất không tan
Trang 17I.4 Phương pháp và thiết bị sấy
I.4.1 Thiết bị sấy thùng quay:
Thiết bị sấy thùng quay cũng là một thiết bị sấy chuyên dùng để sấy vật liệu
dạng hạt, bột hay sản phẩm rời
Độ điền đầy của vật liệu sấy trong thùng cũng phụ thuộc vào dạng vật liệu sấy
và cấu tạo của thùng sấy có thể đạt từ 20 – 50 % Tốc độ tác nhân sấy không nên
vượt quá 2 – 3 m/s
1
11 10
Hình I.1 Máy sấy thùng quay:1.Caloriphe; 2 cửa vào liệu; 3 cơ cấu nạp liệu; 4
thùng quay; 5.quạt hút; 6.xyclon; 7 băng tải tháo liệu; 8 động cơ; 9 hộp giảm tốc;
10 con lăn đỡ; 11.bộ phận bít kín
Tỷ lệ giữa chiều dài so với đường kính thùng quay là L/D tối thiểu nên lấy 3,4
và tối đa nên lấy 10, nghĩa là L/D = 3,5 – 10 Số vòng quay của thùng sấy n = 1,5 –
8 vòng/phút
I.4.2 Máy sấy rung:
Trong các máy sấy rung thì các vật sấy sôi rung dạng hạt cũng sôi, nhưng sự
sôi của lớp hạt được tạo bởi bề mặt rung và chuyển động của dòng tác nhân sấy
Căn cứ vào đó mà ta có thể chia máy sấy lớp sôi rung thành hai loại máy sấy lớp sôi
rung và máy sấy lớp sôi rung khí động
Máy sấy lớp sôi rung và máy sấy lớp sôi rung khí động có ưu điểm là:
Trang 18- Quá trình sôi rung và sôi rung khí động rất ổn định
- Không cần tốc độ dòng khí ( tác nhân sấy) cao cũng sôi được nên ít tốn năng
lượng cho quạt
- Cường độ sấy cao
Nhược điểm của loại máy sấy này và cấu tạo phức tạp, đắt hơn máy sấy tầng sôi
bình thường
Hệ thống lớp sôi rung gồm các bộ phận sau:
- Bề mặt rung mà trên đó lớp vật liệu sấy dạng hạt sôi rung Bề mặt rung có thể là bề
mặt phẳng trơn hoặc đục lỗ đặt nắm ngang hay nghiêng; mặt cong dạng vít xoắn
Mặt rung nhận truyền động từ cơ cấu rung Cơ cấu rung gồm các thanh đỡ bằng lò
xo, bộ phận tạo rung thường là lực quán tính do chuyển động quay của khối lệch
tâm nhận truyền động từ động cơ
- Toàn bộ bề mặt rung có lớp vật sấy sôi rung được đặt trong buồng sấy, có cửa nạp
liệu, cửa tháo sản phẩm, cửa quan sát , cửa lấy mẫu thử
- Hệ thống quạt đẩy, hút hoặc vừa hút, vừa đẩy, xyclon, lọc túi v.v…
- Bộ phận cấp nhiệt là caloriphe, khói lò
9 10
1 2
3 4 5 6
Hình I.2 Máy sấy rung nằm ngang
1- Bộ phận lệch tâm quay tròn tạo rung; 2- động cơ; 3- móng máy; 4- khung đỡ; 5-
bề mặt rung đục lỗ; 6- cửa tháo sản phẩm; 7- các cửa tháo sản phẩm; 8- cửa nạp
liệu; 9- của vào của tác nhân sấy; 10- buồng (hộp) sấy
Trang 19Hình vẽ thể hiện cấu tạo của máy sấy rung nằm ngang với lớp sôi rung
chuyển động ngang Nguyên liệu là các vật sấy dạng hạt được nạp vào cửa 8 vào bề
mặt rung giống như sàng rung Tác nhân sấy được đưa vào buồng sấy 10 qua cửa 9,
đi qua sàng xuyên qua lớp hạt sôi rồi đi qua các cửa 7 các hạt chuyển động sôi nhờ
mặt rung (sàng rung) và tác động của dòng tác nhân sấy lớp hạt vừa sôi rung vừa
chảy về phía cửa 6 thì khô bộ phận rung là khối lệch tâm 1 quay tròn nhờ đai truyền
và động cơ 2 Hộp sấy 10 được treo trên khung 4 bằng các thanh lò xo
Máy sấy lớp sôi rung nói chung có kết cấu phức tạp, giá thành cao, năng suất
sấy không lớn năng suất bay hơi riêng trên một mét vuông bề mặt làm việc (bề mặt
rung l) là AF : AF = 225kg ẩm bay hơi/m2.h (khi làm bay hơi một dung dịch nào đó,
có các hạt nền ) Năng suất bay hơi ẩm là Av : Av = 150 (kg/m3.h) lượng tác nhân
sấy và nhiệt lượng cần cho 1 kg ẩm bay hơi là G’ = 50 (kg/kg), qk = 4200 (kj/kg)
Qua phân tích những hệ thống sấy trên ta thấy ưu điểm của hệ thống thiết bị
sấy thùng quay là quá trình sấy đều đặn và mạnh liệt nhờ tiếp xúc hầu hết giữa vật
liệu sấy với tác nhân sấy, cường độ làm việc tính theo lượng ẩm đạt được cao.Làm
việc ổn định, năng suất lớn Trong thiết bị sấy thùng quay thường không sử dụng tái
tuần hoàn vì trong khí có chứa bụi và yêu cầu phải có thiết bị lọc bụi khí ra khỏi
thùng sấy do đó làm tăng trở lực của hệ thống, tăng vốn đầu tư và chi phí vận hành
dựa vào đặc tính làm việc và những ưu điểm của thiết bị sấy thùng quay và những
đặc tính của vật liệu đem sấy ta thấy thiết bị sấy thùng quay có thể đáp ứng được, áp
dụng cho các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ
Vì vậy các tính chất yêu cầu của đường thì việc chọn máy sấy thùng quay để
sấy đường là hợp lí nhất Chọn quá trình sấy xuôi chiều tác nhân sấy của máy sấy
thùng quay là không khí nóng Không khí từ môi trường bên ngoài được gia nhiệt
bằng calorifer sau đó được thổi vào thùng sấy Dùng tác nhân sây loại này vì các
thiết bị dễ chế tạo ở Việt Nam và có nguyên liệu sẵn có không tốn tiền, thiết bị vận
hành đơn giản, năng suất cao
Trang 20CHƯƠNG 2: TÍNH TOÁN THIẾT KẾ, CHẾ TẠO MÁY SẤY THÙNG QUAY
II.1 Thiết bị nghiên cứu – Máy sấy thùng quay
II.1.1 Cấu tạo và nguyên lý làm việc
II.1.1.1 Cấu tạo:
1
9 10
11
4 2
8
Hình II.1 Cấu tạo máy sấy thùng quay
1.quạt; 2 caloriphe; 3 phễu cấp liệu; 4 bánh răng dẫn động; 5 thùng quay; 6
vành đai; 7 nắp tháo liệu; 8 khung đỡ thùng; 9 động cơ dẫn động thùng quay; 10
hộp giảm tốc; 11 con lăn
II.1.1.2 Nguyên lý làm việc:
Trước khi cho nguyên liệu (đường) vào sấy, ta bật quạt (1) và caloriphe (2)
cho máy chạy một lúc để toàn bộ hệ thống nóng lên, sau đó cấp nguyên liệu sấy vào
phễu cấp liệu (3), nguyên liệu sẽ đi từ đầu thùng đến cuối thùng nhờ cách bố trí
thùng nghiêng một góc 20, thùng được đỡ trên 2 cặp con lăn đỡ, thùng quay được
nhờ hệ thống truyền động gồm động cơ (9), hộp giảm tốc (10) và bộ bánh răng
truyền động (4) Thời gian sấy cũng chính là thời gian mà nguyên liệu đi từ đầu
thùng đến cuối thùng Tác nhân sấy ở đây là không được quạt thổi qua caloriphe và
nóng lên được đẩy vào thùng, trong thùng có các cánh nằm song song với đường
thân khai của thùng, cánh có nhiệm vụ nâng vật liệu lên đến đọ cao nhất định rồi đổ
xuống, vật liệu sẽ tiếp xúc với tác nhân gió nóng và làm bay hơi ẩm
Trang 21II.1.2 Đặc tính nguyên liệu sấy(đường Saccharoza)
Đối với đường, do tính chất của vật liệu nên sự biến đổi của đường dưới điều
kiện sấy có khác so với các loại thực phẩm khác
Sấy các sản phẩm rắn không hòa tan dưới điều kiện không đổi gồm có ít nhất
là hai giai đoạn Giai đoạn thứ nhất gọi là giai đoạn sấy với tốc độ sấy không đổi, độ
ẩm của vật sấy là rất lớn và có một màng nước tồn tại trên bề mặt, nước đó gọi là
nước không liên kết hay còn gọi là nước tự do Trong giai đoạn này, tốc độ bay hơi
nước độc lập với hình thái học của vật thể và chỉ phụ thuộc vào điều kiện của tác
nhân sấy (như độ ẩm, nhịt độ, vận tốc)
Như vậy, hơi bay lên từ bề mặt sấy là hơi nước bão hòa, nhiệt hóa hơi đúng
bằng nhiệt hóa hơi của nước tự do Ta có phương trình biểu diễn sự thay đổi độ ẩm
của vật liệu sấy như sau:
const t
t r dt
du
b t n o
Trong đó:
α : Hệ số tỏa nhiệt từ tác nhân sấy cho vật sấy
tt : Nhiệt độ tác nhân sấy
tb : N hiệt độ bay hơi nước
rn : Nhiệt hóa hơi của nước tự do
u : Độ ẩm trung bình của vật sấy
T : Thời gian sấy
Trong quá trình sấy tốc độ giảm dần, bề mặt vật ẩm không còn ẩm tự do nữa
và độ ẩm phải di chuyển từ sâu bên trong vật sấy đi đến bề mặt, đây chính là nguyên
nhân làm giảm quá trình và hiệu quả bốc hơi nước Ẩm nếu trên được gọi là ẩm liên
kiết và tốc độ bốc hơi của nó phụ thuộc rất lớn vào cấu trúc mao dẫn của vật liệu
sấy (VLS)
Ở giai đoạn này ta có nhiệt độ tb tăng dần và nhiệt độ tác nhân sấy do đó hiệu
(tt – tb) giảm dần Mặt khác ta có nước bốc hơi là nước liên kết, nhiệt hóa hơi của
Trang 22nước liên kết luôn lớn nhiệt hoá hơi của nước tự do r > rn Do vậy phương trình (1)
dT
du có chiều hướng giảm dần nên được gọi là giai đoạn sấy với tốc độ giảm dần
Đối với các vật liệu sấy là chất rắn hòa tan trong nước, chẳng hạn như đường
saccaroza, thì sự phân biệt giữa hai giai đoạn sấy là ít rõ ràng Đối với đường lúc
còn trạng thái ẩm luôn có một lớp màng mật bao quanh tinh thể Do trong quá trình
sấy, nồng độ của lớp mật này thay đổi và phụ thuộc chính vào tốc độ bốc hơi nước
từ lớp mật và khi lớp mật đạt đến trạng thái bão hòa thì có sự xuất hiện các tinh thể
giả trên bề mặt tinh thể đường (dạng gương) Nguyên lý di chuyển của nước trong
giai đoạn sấy tốc độ giảm dần cũng khác so với VLS là các chất rắn không hòa tan
Mặc dùng tinh thể ẩm ướt ban đầu của đường không có cấu trúc mao dẫn,
nhưng do sự hình thành các tinh thể giả trên bề mặt bao quanh tinh thể Đây là một
trạng thái đặc biệt của tinh thể đường ẩm trong quá trình sấy Điều này được giải
thích như sau: Khi nhiệt độ sấy tại bề mặt chung của màng vật và không khí cao,
làm gia tăng rất lớn động lực chuyển khối và kết quả là tốc độ bốc hơi rất cao Do
vậy, làm giảm mạnh lượng nước ở trong lớp màng mật, làm tăng độ quá bảo hòa
của mật Khi độ quá bão hòa đạt đến trị số nhất định, trên bề mặt tinh thể ( ở trong
lớp màng mật) xuất hiện hiện tượng kết tinh và hình thành các tinh thể giả bám vào
bề mặt các tinh thể chính Dẫn đến quá trình chuyển ẩm từ bề mặt tinh thể - màng
mật ra bề mặt màng mật – không khí là rất khó khăn Do đó trong quá trình sấy
đường có thể xem là giai đoạn bắt đầu hình thành lớp tinh thể giả trên bề mặt tinh
thể chính là bắt đầu giai đoạn sấy tốc độ giảm dần và trước đó là giai đoạn sấy tốc
độ không đổi Ẩm nằm trong lớp tinh thể giả được xem như là ẩm liên kết
II.1.3 Yêu cầu công nghê sản xuất sau khi sấy
Đường cát lấy ra từ máy tách mật, vì chứa hàm lượng nước cao, không thể đóng
gói thành sản phẩm xuất xưởng được mà còn phải trải qua các nguyên công xử lý
như làm khô, sàng tuyển, đóng gói và bảo quản
Đường cát của các nhà máy, để tránh trong quá trình bảo quản và vẩn chuyển
đường bị kết vón, bị ẩm và bị biến chất, hàm lượng nước chứa trong đường cát theo
tiêu chuẩn ban hành như sau:
Trang 23- Đường tinh luyện nước thấp hơn 0,06%
- Đường cát trắng lọai I lượng nước thấp hơn 0,07%
- Đường cát trắng lọai II lượng nước thấp hơn 0,12%
- Đường cát vàng lượng nước thấp hơn 3.5%
Theo các tiêu chuẩn này thì đối với đường cát vàng có thể khống chế ngay trong
quá trình tách mật không cần làm khô nữa Còn đối với đường cát trắng lấy ra từ
máy ly tâm, còn chứa hàm lượng nước 0,5 – 1,5% Do vậy cần phải qua xử lý làm
khô để có thể bảo quản sản phẩm
Điều kiện để đánh giá sản phẩm đã đem đi bảo quản được hay chưa có thể dựa
vào hệ số an toàn được tính như sau:
Hệ số an toàn = -
100 - độ chiết quang của đường
- Khi hệ số an toàn lớn hơn 0,333 đường cát đã biến chất
- Khi hệ số an toàn là 0,25 – 0,333 dường cát dễ biến chất
- Khi hệ số an toàn nhỏ hơn 0,25 thì bảo quản bình thường
Đặc điểm của liên kết nước tinh thể đường chủ yếu là liên kết bề mặt Đây là thông
tin công nghệ rất quan trọng cho tính thiết kế hệ thống sấy sản phẩm
II.2 Tính cân bằng vật liệu và xác định kích thước sơ bộ
II.2.1 Tính cân bằng vật liệu:
Tính lượng ẩm cần bay hơi trong một giờ:
Gọi m1, u1 và m2, u2; Tương ứng là khối lượng và độ ẩm tương đối của vật
liệu sấy đi vào và đi ra khỏi buồng sấy:
Theo công thức [59-I]:
∆u= m1-m2 (2.1)
Hay ∆u= m1.w1 -m2.w2 (2.2)
Trong đó:
w1, w2 độ ẩm vật sấy trước và sau khi sấy
∆u: là lượng ẩm cần mang đi khỏi vật liệu cần sấy
Trang 24Nếu viết các giá trị w1, w2 theo giá trị phần trăm (%) Thì công thức (2.2) trở thành
Để đơn giản ta viết độ ẩm của vật liệu sấy theo giá trị thực của nó
Do khối lượng của vật liệu khô trước và sau quá trình sấy là không đổi nên ta
có thể viết: mk = m1(1-w1) = m2(1-w2) (2.4)
Trong đó : mk là khối lượng vật chất khô có trong vật cần sấy
Kết hợp (2.1) và (2.3) chúng ta có thể tính được lượng ẩm cần bốc hơi trong
1 giờ khi biết năng suất thiết bị m2 hoặc biết năng suất vào vật liệu m1 và độ ẩm
trước và sau quá trình sấy w1, w2
Theo đầu bài ta đã có:
Năng suất thiết bị : m2=200kg/h; Độ ẩm trước khi sấy : w1=2%:Độ ẩm sau khi sấy
w2=0,05% ;Nhiệt độ vào t1=1000C; Nhiệt độ ra: t2=700C
Vậy từ công thức (2.3) ta có:
402,01
0005,002,0.200
2 1
Từ đây ta cũng tính được khối lượng vật liệu được đưa vào thiết bị sấy trong
một giờ : m1 = m2 + ∆u= 200 + 4 = 204 (kg/h)
II.2.2 Xác định kích thước sơ bộ hệ thống sấy thùng quay:
Theo công thức [136-I] ta có:
Lưu lượng tác nhân G cũng được tính theo công thức [136-I]:
t t
w
G D
ρβ
Trang 25- ρt là khối lượng riêng của tác nhân sấy kg/m3;
- Dt là đường kính trong của thùng quay:
Chọn: - Hệ số chứa đầy: β =0.15
với ρt=0.916kg/m3 Ở 1000C (tra bảng phụ lục 9[234-1])
Thay các giá trị trên vào công thức (2.6) ta được:
37 , 0 916 , 0 3600 ).
15 0 1 (
14 , 3
7 , 285
2 1
2 2
w w
w w
- ρ: là khối lượng riêng trung bình của vật sấy trong thùng sấy; kg/m3;
- Av: là tải trọng bay hơi ẩm; (theo bảng 10.1[207-II] với vật chất là đường
0006 , 0 02 , 0 9
1588 15 , 0
+ +
−
=
Trang 26II.3 Tính toán nhiệt cho thùng sấy
II.3.1 Quá trình sấy lý thuyết
Để xác định ϕ2, Q0 của quá trình sấy lý thuyết ta phải biết được các thông số
của khí trời và các thông số của tác nhân sau calorifer
Do đặc điểm thời tiết ở Việt Nam, ở miền Bắc chia làm bốn mùa rõ rệt trong
đó mùa đông thường lạnh giá và độ ẩm không khí xuống thấp có khi nhiệt độ xuống
tới 100C và độ ẩm không khí xuống dưới 60% còn mùa hè khí hậu nóng ẩm mưa
nhiều có khi nhiệt độ lên tới 400C và độ ẩm lên tới 95% Hai mùa còn lại nhiệt độ
thường từ 25÷300C độ ẩm thường 70÷85% Trong khi đó ở miền Nam thì khí hậu
lại nắng nóng quanh năm, nhiệt độ trung bình từ 28÷380C, độ ẩm trung bình 89%
Căn cứ vào các điều kiện trên ta chọn điều kiện không khí ngoài trời là:
t0=300C ϕ0=85%
Xác định d0 và I0 ta dựa vào đồ thị I-d [21-I] của không khí ẩm Từ điểm gặp
nhau của các đường t=300C và ϕ=85% ta xác định được điểm có các thông số sau:
I0=21,5 kcal/kgk2khô=90kJ/kg,k2khô
d0=23g/kgk2khô=0,023kg/kgk2khô
Xác định I1 ; ϕ1
Không khí ẩm ngoài trời được đưa vào buồng đốt để nâng nhiệt độ đến nhiệt
độ sấy thành tác nhân sấy trước khi vào thùng sấy, trong quá trình nâng nhiệt của
không khí ẩm thì độ chưa ẩm d không đổi
Từ điều kiện sấy có t1=1000C; d1=d0 ta tìm được điểm B có các thông số sau:
I1= 38,5 kcal/kgk2khô = 161kj/kg,k2khô
Xác định trạng thái của tác nhân ở sau thùng sấy
Để xác định được điểm C là điểm trạng thái của tác nhân sau quá trình sấy ta
phải biết một trong hai thông số t2 hoặc d2 Vì đường sau khi sấy có thể đem đóng
gói ngay hoặc được làm nguội một chút trước khi đóng gói, nên ta chọn nhiệt độ của
tác nhân sấy sau buồng đốt là 600C, vì quá trình sấy lý thuyết là quá trình đẳng I nên
bằng đồ thị I-d [245-X] của không khí ẩm ta xác định được điểm C có các thông số
sau:
Trang 27I2=I1=38,5 kcal/kgk2khô = 161kj/kg,k2khô
d20 = 37g/kgk2khô = 0,037kg/kgk2khô
Từ đây ta có thể xác định được đường cong sấy lý thuyết
Tính lượng không khí cần thiết cho quá trình sấy lý thuyết:
Để tính lượng không khí cho quá trình sấy lý thuyết ta thiết lập phương trình
cân bằng vật chất cho thùng sấy Trong quá trình sấy, tác nhân sấy và vật liệu ẩm
trao đổi ẩm cho nhau:
Theo công thức [63-I] ta có:
m1 w1+G1.d1=m2 w2+G2.d20 (3.1) Trong đó:
- m1, m2 lần lượt là khối lượng của vật sấy đi vào và sản phẩm ra;
- w1, w2 lần lượt là độ ẩm của vật sấy và sản phẩm sấy;
- d1, d2 lần lượt là hàm ẩm của không khí vào và ra;
- G1, G2 lần lượt là khối lượng của không khí vào và ra khỏi thiết bị;
Từ công thức (3.1) ta có:
m1 w1-m2 w2=G2 d20-G2.d20 (3.2) nếu bỏ qua tổn thất không khí tại buồng sấy ta có : G1=G2=G0=G
Mặt khác: m1 w1-m2 w2= ∆u
Thay các giá trên vào công thức (3.2) ta có:
G.(d20-d1) = ∆u (3.3) Hay
1
20 d d
u G
−
=
Chia cả hai vế cho ∆uta được lượng không khí khô cần để làm bay hơi 1kg
ẩm khỏi vật sấy, khi đi qua caloriphe hàm ẩm của không khí không đổi vậy lượng
khí trời cần để làm bay hơi 1kg ẩm từ vật sấy là:
Trang 28kg kgk d
d
023 , 0 037 , 0
1
1 20
II.3.2 Quá trình sấy thực tế
Trong quá trình sấy thực tế không phải chỉ có vật sấy và tác nhân sấy trao đổi
ẩm và nhiệt cho nhau mà luôn tồn tại tổn thất nhiệt ra môi trường qua kết cấu bao
che QBC tổn thất do vật liệu mang vào Qv
Phương trình cân bằng nhiệt của quá trình sấy thực tế :
Theo nguyên tắc cân bằng nhiệt là nhiệt lượng đưa vào thiết bị phải bằng
nhiệt lượng đưa ra khỏi thiết bị:
Nhiệt lượng đưa vào thiết bị gồm:
- Nhiệt lượng do tác nhân nhận được từ caloriphe Qk
- Nhiệt lượng do không khí mang vào G.I0
- Nhiệt lượng do vật sấy mang vào: m1.C1.t1
Nhiệt lượng mang ra khỏi thiết bị gồm:
- Nhiệt lượng khí thải ra G.I2
- Nhiệt lượng do sản phẩm mang ra m2.C2.t2
- Nhiệt lượng tổn thất qua kết cấu bao che QBC
⇒ Phương trình cân bằng nhiệt:
G.Io+Qk+ m1.C1.t1= G.I2+ m2.C2.t2+QBC (3.5) Nhiệt lượng do vật sấy ẩm mang vào được tính theo công thức [66-I]
m1.C1.t1=∆u.Cn.t1+ m2.C2.t2 (3.6)
Trong đó: ∆u là lượng ẩm trong vật ẩm sẽ bay hơi trong quá trình sấy;
Cn là nhiệt dung riêng của nước Tra bảng phụ lục 7 [232-I] ta được
Cn=1 kcal/kgoK=4,1858 kj/kg0K
Từ các công thức (3.5) và (3.6) ta được:
Qk=G.(I2-I0)+m2.C2.(t2-t1)+QBC - ∆u.Cn.t1 (3.7) Chia hai vế của (I.16) cho ∆u ta được qk là năng lượng cần cung cấp cho hệ
thống sấy tính trên 1kg ẩm
qk = G’.(I2-I0)+m2.C2.(t2-t1)/ ∆u+qBC - Cn.t1 (3.8)
Trang 29Đặt: 2 2 (t2 t1)
u
C m
- ∆u là lượng ẩm bay hơi từ vật sấy;
- m2 là khối lượng của sản phẩm sấy; m2=200 kg/h
- C2 là nhiệt dung riêng của sản phẩm sấy;
- C2 = Ck(1-w2)+Cn w2
- Cn là nhiệt dung riêng của nước; Cn= 4,1858 kj/kg.0K
Tra bảng phụ lục 4 [230-I] ta được nhiệt dung riêng của sản phẩm khô:
Ck = 0,27 kcal/kg.0K = 1,07 kj/kg.0K
vậy: C2 = 1,07.(1-0,0005) + 4,1858.0,0005 = 1,072 kj/kg.0K
Thay các thông số trên vào công thức (3.12) ta được:
2140)
3070.(
4
072,1
Theo công thức [69-I]:
Nhiệt tổn thất qua kết cấu bao che được tính bởi:
qBC = q’
BC+q”
BC
Trang 30Trong đó:
- q’BC là nhiệt lượng tổn thất do truyền nhiệt qua bao che:
- q”BC là nhiệt lượng tổn thất do cửa bị hở;
a) Tính q’
BC;
Theo công thức [69-I]:
Nhiệt lượng tổn thất qua bao che được tính bởi:
- Ki là hệ số trao đổi nhiệt giữa tác nhân sấy chảy bên trong và không khí bên
ngoài bề mặt truyền nhiệt thứ I của thùng sấy:
- Fi là diện tích bề mặt truyền nhiệt thứ i;
- ∆tbi là hiệu nhiệt độ trung bình giữa bên trong và bề mặt truyền nhiệt thứ i;
*) Tính diện tích bề mặt truyền nhiệt:
Diện tích bề mặt truyền nhiệt bằng diện tích xung quanh thùng và diện tích
hai đầu thùng:
, 4 /
t t
Theo công thức [129-III];
Hệ số truyền nhiệt qua vách trụ nhiều lớp được tính bởi:
; 1 ln
2
1 1
1
1 1 1
i
d d
d d
K
παλ
ππ
α
W/m.K (3.16)
Khi tỷ số đường kính ngoài và đường kính trong của thùng sấy nhỏ hơn 1,4
ta có thể tính hệ số truyền nhiệt K theo công thức hệ số truyền nhiệt của vách phẳng
Theo công thức [69-I] hệ số truyền nhiệt qua vách phẳng nhiều lớp được tính bởi:
Trang 31; 1 1
j j j
K
αλ
δα
W/m2.K; (3.17)
Trong đó;
- α1,α2: là hệ số toả nhiệt bên trong và bên ngoài bề mặt truyền nhiệt;
- δj : là độ dày của từng lớp cấu tạo nên bề mặt truyền nhiệt;
- λj : là hệ số dẫn nhiệt của mỗi lớp
Để xác định hệ số truyền nhiệt ta dựa vào các phương trình [80-III]:
- Phương trình tiêu chuẩn Nusselt: ;
Lấy kích thước xác định là đường kính thùng Dt=0,38
Thay các giá trị trên vào phương trình (3.19) ta được:
10 93 , 14 10 45 , 25
38 , 0 1
Trang 32Theo công thức [111-III]- tiêu chuẩn Nusselt tính cho dòng khí chảy rối được
xác định bởi:
Nuf = 0,021.Ref0,8Prf0,43 1 .
25 , 0
Pr
Pr
R w
3 = <
=
d l
Theo công thức [31-IV]:
t
t L D
2
1= 1 +
.25,1
Thay các giá trị tìm được vào công thức (3.22) ta được:
Nuf = 0,021.(14,93.104)0,8(0,686)0,43(1)0,25.1,25.1 = 317,45
Từ phương trình tiêu chuẩn đồng dạng (I.28) ta xác định được hệ số toả nhiệt:
8 , 26 1
10 21 , 3 45 , 317
Với giả thiết thiết bị sấy được đặt trong xưởng sản xuất
Theo tiêu chuẩn Grashoft: . .2. ;
3ν
βl t g
Vì chưa biết chắc chắn nhiệt độ của mặt ngoài thùng sấy nên ta giả sử ∆t= 10oC;
Với nhiệt độ trung bình của không khi bên ngoài là 30oC;
Trang 33Tra bảng 7[172-III] ta được:
Chọn vật liệu làm vỏ thiết bị và lớp bảo vệ là thép CT3, chiều dày của vỏ thiết
bị A = 2 mm, chiều dày lớp bảo vệ là A = 0,5 mm
Với thép CT3 hệ số dẫn nhiệt là λ =λ1=λ2=22 W/m oC
Vì nhiệt độ làm việc của thùng sấy là 100oC nên ta chọn vật liệu cách nhiệt là
polystirol giả sử dày A=10 mm(chiều dày A có thể thay đổi để điều chỉnh ∆t cho
10 385 , 0 0033 , 0 81 , 9
− = 72.106 (Grf.Prf) = 0,336.109.0,701= 0,2356.109
Vì 103<(Grf.Prf)<109.Nên tiêu chuẩn Nusselt được tính bởi:
Theo công thức (3.18)
91 , 4 395
, 0
10 67 , 2 95 , 61
δλ
δ
α ik k cn cn
Trang 34Khi đó nhiệt độ ở mặt ngoài thiết bị có thể được xác định như sau:
Theo công thức [70-I] nhiệt độ mặt ngoài và mặt trong thùng sấy được xác định
Tk – nhiệt độ không khí ngoài trời; Ttb
k – nhiệt độ trung bình của tác nhân sấy;
73 ,
Ta thấy với ∆t = 220C có sai khác so với giá trị ta đã giả thiết là 150C Nhưng
nhiệt độ mặt ngoài thùng là 520C ta có thể chấp nhận được Nên ta chọn chiều dày
phần cách nhiệt là AA = 5mm
Thay K1 vào công thức (3.14) ta được :
64 , 75
Gk,Ck là khối lượng không khí chui vào và nhiệt dung riêng của không khí hoặc là
khối lượng tác nhân chui ra và nhiệt dung riêng của tác nhân ;
∆t là chênh lệch nhiệt độ giữa tác nhân sấy và môi trường:
Theo tài liệu [72-I] với doăng bít kín tốt, có thể lấy Gk=15m3=/h
Với
∆t =100-30=700C; Ck=1,005 kJ/kg.K
Trang 35Thay các số liệu trên vào công thức (3.29) ta được:
q’’BC= 263 , 81
4
70 005 , 1
86 , 1 2500
.
t
d I t d
−
−
∆
∆ +
−
70 86 , 1 2500 85 , 2353
023 , 0 85 , 2353 78 , 161
- Ph2: áp suất riêng của hơi nước ở nhiệt độ t2;
Theo công thức [31-II] theo dạng Antoine:
, 5 , 235
42 , 4026 12
42 , 4026 12
Trang 36% 15 15 , 0 303 , 0
1 029 , 0 622 ,
0
029 , 0
ABC – là đường sấy thực tế
Xác định lượng không khí khô cần thiết cho quá trình sấy thực và nhiệt lượng cần
cung cấp cho calorifer:
Theo công thức [73-I]:
023 , 0 029 , 0
1 1
0 2
Trang 37II.4 Tính toán thiết bị caloriphe
Lượng không khí khô cần thiết cho quá trình sấy thực và nhiệt lượng cần cung
cấp cho thùng sấy :
G’=166,67 kg K2/kg.ẩm
qk= 49187 KJ/kg.ẩm
qk ở đây mới chỉ tính cho quá trình sấy vật ẩm phần trước chưa tính tổn thất
nhiệt do kết cấu bao che Caloriphe
Do chưa xác định được các kích thước nên ta chọn sơ bộ diện tích bao che cho
Caloriphe và ống dẫn từ Caloriphe đến thùng sấy là 10m2
Theo công thức [24-I]
u
t F K
q BC
∆
∆
= '1. 1'.
Trong đó : K’1 là hệ số truyền nhiệt; F’1 tổng diện tích bề mặt truyền nhiệt; ∆t1 độ
chênh lệch giữa trong và ngoài thiết bị; ∆U lượng ẩm cần bay hơi ở thùng sấy
Vì K là hệ số truyền nhiệt qua kết cấu bao che của Caloriphe Cách tính hệ số
này giống với cách tính hệ số truyền nhiệt qua kết cấu bao che của thùng sấy
Vì vậy ta bọc cách nhiệt Caloriphe giống bọc cách nhiệt ở thùng sấy và chọn
tốc độ khí, nhiệt độ ra và vào gần giống với thùng sấy thì ta được kết quả tương tự
Vậy ta chọn :
- Tốc độ trung bình dòng khí qua Caloriphe là 1m/s
- Nhiệt độ đầu vào của dòng khí t1’ = 300C
- Nhiệt độ đầu ra của dòng khí là t2’=1000C
Và bọc cách nhiệt như thùng sấy:
Như vậy ta sẽ có được:
4
35 10 73 , 1
1 1 ' '
u
t F K
Trang 38Công suất cần cung cấp cho không khí để nâng nhiệt độ từ 300C đến 1000C là
- l: chiều dài dây
- s: tiết diện dây (m.s=1mm)
Do đó ta có l = Rs/ρ=12752m
Mặt khác ta có : l = 2π.r
1
.
r
L s R
Với chiều dài dây như trên ta chọn khung để mắc dây là hình chữ nhật Như
vậy ta có thể có kích thước của khung mang dây là: axb=400x280
Giữa khung mang dây điện trở và vỏ của caloriphe có lót một lớp amiang
cách nhiệt dầy 5mm và có một khoảng cách công nghệ khoảng 5mm Do đó ta có
thể chọn chiều rộng caloriphe là 500mm và chiều dài coloriphe là 380mm
Như vậy kích thước của coloriphe là :Dài x rộng = 500x380 (mm)
Vỏ coloriphe làm bằng thép không rỉ , khung mắc dây điện trở được làm
bằng thép CT3, vỏ được liên kết bằng phương pháp gò khung được liên kết bằng
Trang 39phương pháp hàn Giữa khung mắc dây và dây được cách điện bằng sứ Sứ vừa có
khả năng cách điện Như vậy, khả năng tổn hao nhiệt là không nhiều
II.5 Tính hệ thống quạt
Tính chọn quạt cho hệ thống sấy cơ sở để tính chọn quạt cho hệ thống sấy
thùng quay là năng suất không khí khô cung cấp cho thiết bị sấy (V) và cột áp toàn
- Trở lực của dòng tác nhân sấy đi qua lớp vật liệu trong thùng sấy
Theo công thức [213-II):
∆PS =
d g
C W L
2
2 ρ 1
Trang 40ν = 23,1.106m2/s; Re = 1.0,001/(23,13.10-6)=52,71
A = 5,85+490/43,23+100/ 43 , 23= 32,39
+ Hệ số đặc trưng cho độ dầm chặt của lớp hạt
Theo công thức [213-II]: C1=1 2
ρ
ρρ
- ρv là khối lượng riêng hạt
- ρdx khối lượng riêng dẫn suất của khối hạt chuyển động trong thùng sấy
Theo công thức [213-II]
- ρdx =
V
m m
2 75 , 0
).
( 25 ,
- ρdx =
3 38 , 0 14 , 3 2 75 , 0
15 , 0 ).
100 42 , 106 ( 25 ,
999 , 0 1
2 =
−
Đường kính trung bình của hạt đường lấy bằng d = 0,001m
Khối lượng riêng của không khí ở nhiệt độ t = 1000C
Theo phụ lục 9 [234-I] : ρk= 0,916kg/m3
Thay các giá trị vào (5.2) ta có : ∆PS= 0 , 0524m
001 , 0 81 , 9 2
001 , 0 916 , 0 1 3 39 ,
II.5.1.2 Xác định áp suất động khí thoát ra
Theo công thức [333-II]: ∆Pd=
g
2 ν2
2O
- ν tốc độ dòng khí thoát ra khỏi quạt ;chọn ν = 20m/s
- ρ là khối lượng riêng của khí ở nhiệt độ t = 1000C; ρ = 0,916kg/m3