trường đại học bách khoa hà nội --- Nguyễn thuý hường nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men từ dịch sắn có nồng độ chất khô cao trong sản xuất cồn ethanol Ngành: côn
Trang 2bộ giáo dục và đào tạo trường đại học bách khoa hà nội
-
Nguyễn thuý hường
nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men từ dịch sắn có nồng độ chất khô cao trong sản xuất cồn ethanol
luận văn thạc sĩ khoa học
Ngành: công nghệ thực phẩm
Trang 3trường đại học bách khoa hà nội
-
Nguyễn thuý hường
nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình
lên men từ dịch sắn có nồng độ chất khô cao
trong sản xuất cồn ethanol
Ngành: công nghệ thực phẩm
luận văn thạc sĩ khoa học
Người hướng dẫn khoa học Pgs.ts nguyễn thanh hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn Bộ Giáo dục và đào tạo, Viện đào tạo sau Đại học
- Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và Viện công nghệ Sinh học - Công nghệ thực
phẩm đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và hoàn thành bản Luận
văn Thạc sỹ
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn khoa
học PGS.TS Nguyễn Thanh Hằng vì sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong
suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ phòng
thí nghiệm Bộ Môn Công nghệ lên men đã hết sức tạo điều kiện về cơ sở vật chất,
trang thiết bị giúp tôi hoàn thành tốt tiến độ công việc của mình
Cuối cùng, tôi xin gửi tới gia đình, bạn bè và nhưng người thân tình cảm
chân thành nhất vì sự động viên, giúp đỡ tôi vượt qua khó khăn để hoàn thành Luận
văn này
Hà Nội, ngày 28 tháng 09 năm 2011
Formatted: Font: 13 pt
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học mà bản thân tôi đã trực
tiếp thực hiện Tất cả các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực,
khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 28 tháng 09 năm 2011
Nguyễn Thuý Hường
Formatted: Font: 18 pt
Formatted: Font: 13 pt
Trang 6TÓM TẮT
Nhu cầu sử dụng cồn như một nguồn năng lượng sạch ngày càng tăng cao
đặt ra cho ngành công nghiệp sản xuất cồn yêu cầu cải tiến công nghệ nhằm sản
xuất cồn có hiệu suất cao và chi phí thấp Lên men rượu ở nồng độ chất khô cao
trong sản xuất cồn là một trong những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất
cồn, tiết kiệm chi phí và giảm khả năng nhiễm tạp trong quá trình lên men
Nội dung của đề tài là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên
men từ dịch sắn có nồng độ chất khô cao trong sản xuất cồn ethanol Kết quả nghiên
cứu đã thu được các điều kiện thích hợp cho quá trình dịch hóa trong điều kiện lên
men ở nồng độ chất khô cao là Enzyme dịch hóa (Spezym Extra) 0,030%; nhiệt độ
dịch hóa 70oC; thời gian dịch hóa 60 phút Điều kiện thích hợp cho quá trình đường
hóa và lên men ở nồng độ chất khô cao là Enzyme đường hóa (Stargen001) 0,3%;
nấm men 0,5 g/l; Ure bổ sung 1 g/l; thời gian lên men 72h
Formatted: Font: 13 pt
Trang 7ABSTRACT
The need to use ethanol as a clean energy source has been increasing that
requires manufacturing industry to improve technology in production with high
efficiency and low cost Fermentation at very-high-Gravity in the ethanol
production is one of methods in order to improve the efficiency of this industry,
lower cost savings and reduce susceptibility to impurities in the fermentation
process
The content of the diploma thesis topic is study for effects of factors on
fermentation of very-high-Gravity cassava mashes in the alcohol production The
obtained result is that, The optimal condition of liquefaction on fermentation at
very-high-Gravity: Enzyme liquefaction (Spezym Extra) is at 0,030%, temperature
of liquefaction is at 70oC; liquefaction time is 60 minutes; The optimal condition of
saccharification and fermentation at very-high-Gravity: Enzyme saccharification
(Stargen001) is 0,3%; yeast adding dosage is 0,5 g/l; Urea adding dosage is 1 g/l;
fermentation time is 72h
Formatted: Font: 13 pt
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 10
1.1 Tình hình sản xuất Cồn trên thế giới và ở Việt Nam .10
1.2 Nguyên liệu chính để sản xuất cồn etylic .14
1.3 Giới thiệu về một số enzym sử dụng trong đề tài nghiên cứu 20
1.4 Công nghệ sản xuất Cồn 22
PHẦN II 33
NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Nguyên vật liệu nghiên cứu 33
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 34
2.3 Các phương pháp phân tích 34
2.4 Phương pháp công nghệ: 42
PHẦN III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Đánh giá phân tích chất lượng nguyên vật liệu sử dụng cho nghiên cứu 46
3.2 Khảo sát khả năng lên men dịch đường nồng độ chất khô cao 47
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện dịch hoá trong điều kiện lên men nồng độ chất khô cao 49
3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện đường hóa và lên men đồng thời ở nồng độ chất khô cao 4952 3.5 Đề xuất qui trình công nghệ sản xuất cồn………58
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
Formatted: Font: 13 pt Deleted: MỤC LỤC 4¶ MỞ ĐẦU 7¶ CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9¶ 1.1 Tình hình sản xuất Cồn trên thế giới và ở Việt Nam………9¶ 1.2 Nguyên liệu để sản xuất Cồn etylic từ sắn 12¶
1.3 Giới thiệu về một số enzym sử dụng trong đề tài nghiên cứu 19¶
1.4 Công nghệ sản xuất Cồn 22¶
PHẦN II NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34¶
2.1 Nguyên vật liệu nghiên cứu (chuyển phụ lục) 34¶
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 35¶ 2.3 Các phương pháp phân tích 35¶ 2.4 Phương pháp nghiên cứu 42¶ PHẦN III KẾT QUẢ VÀ THẢO
LUẬN 47¶
3.1 Phân tích chất lượng nguyên vật liệu
sử dụng cho nghiên cứu 47¶
3.2 Khảo sát nồng độ tinh bột khả quan 48¶
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện dịch hoá 50¶
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện đường hoá và lên men đồng thời 53¶ 3.4 Đề xuất qui trình công nghệ sản xuất cồn 58¶
KẾT LUẬN 59¶
ĐỀ NGHỊ Error! Bookmark not
defined.¶
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61¶
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Chỉ tiêu sản lượng rượu của Việt Nam Trang 11
Bảng 1.2 Các dự án xây dựng Nhà máy ethanol nhiên liệu tại Việt
Nam
Trang 12
Bảng 1.3 Thành phần hoá học của củ sắn tươi - sắn lát khô Trang 16
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt Nam
Bảng 1.5 Tính chất của Spezyme XTRA Trang 19
Bảng 1.6 Tính chất của Stargen 001 Trang 20
Bảng 2.1 Lượng cồn thu được theo nguyên liệu Trang 20
Bảng 3.2 Hoạt độ của một số emzym sử dụng trong nghiên cứu Trang 36
Bảng 3.3 Kết quả đếm mật độ tế bào nấm men Fermentis Trang 47
Bảng 3.4 Kết quả đếm mật độ tế bào nấm men Mauri – La Ngà Trang 47
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của nồng độ chất khô đến hiệu quả lên men Trang 48
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của nhiệt độ dịch hoá đến hiệu quả lên men Trang 49
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của thời gian dịch hoá dến hiệu quả lên men Trang 50
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của nồng độ enzym Spezyme Trang 52
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của nấm men đến hiệu quả lên men Trang 53
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của nồng độ Stargen001 đến hiệu quả lên men Trang 54
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của tỷ lệ men giống đến hiệu quả lên men Trang 55
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của hàm lượng Ure bổ sung Trang 57
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 18 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Font: 13 pt
Deleted: ¶
Deleted: Bảng 1.1: Chỉ tiêu sản lượng
rượu của Việt Nam 11¶
Bảng 1.2 Các dự án xây dựng Nhà máy ethanol nhiên liệu tại Việt Nam 12¶ Bảng 1.3 Thành phần hoá học của củ sắn tươi - sắn lát khô 16¶
Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn Việt Nam (1999-2008) 19¶ Bảng 1.5 Tính chất của Spezyme XTRA 19¶
Bảng 1.6 Tính chất của Stargen 001 20
Trang 10Hình 2.1 Chế phẩm nấm men La Ngà và Chế phẩm nấm men
Fermentis
Trang 35
Hình 2.2 Sơ đồ nghiên cứu Trang 45
Hình 3.1: Quy trình công nghệ sản xuất cồn Trang 50
Formatted: Font: 18 pt
Formatted: Font: 13 pt Formatted Table Formatted: Font: 13 pt
Formatted: Justified
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Normal
Formatted: Font color: Auto
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Normal
Formatted: Font color: Auto Formatted: Normal Deleted: ¶
Deleted: , ĐỒ THỊ
Trang 11MỞ ĐẦU
Sự cạn kiệt dần của các nguồn năng lượng hóa thạch đòi hỏi thế giới phải
tìm kiếm thêm những nguồn năng lượng khác thay thế và có khả năng phục hồi
được
Nhiên liệu sinh học là các dạng nhiên liệu có nguồn gốc động thực vật
nhưng khác với các dạng nhiên liệu hóa thạch được hình thành do quá trình phân
hủy xác sinh vật trong hàng triệu năm Hiện nay trên thế giới phổ biến nhất là dầu
diesel sinh học và ethanol [7]
Vì thế, nhiên liệu sinh học là một trong những giải pháp ưu tiên trong chính
sách năng lượng của nhiều nước trên thế giới Giải pháp này không những giúp
giảm sự phụ thuộc vào xăng dầu nhập khẩu mà còn thúc đẩy sản xuất nông nghiệp,
giúp xoá đói giảm nghèo, tăng việc làm và tăng thêm sản phẩm hàng hoá cho xã
hội
Ở Việt Nam, ngày 20/11/2007, thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định
số 177/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm
nhìn đến 2025” Mục tiêu tổng quát của đề án là phát triển nhiên liệu sinh học thay
thế một phần nhiên liệu hoá thạch truyền thống nhằm góp phần đảm bảo an ninh
năng lượng và bảo vệ môi trường [7]
Ngành sản xuất cồn đã có từ rất lâu, nhưng cho đến khi con người biết đến
tác dụng của nó thì ngành sản xuất cồn mới thực sự phát triển Cồn dùng pha chế
các loại rượu khác nhau, dùng chế biến các loại hương hoa quả, dung môi hoà tan
các hợp chất vô cơ và hữu cơ, dùng trong cao su tổng hợp, trong y dược dùng làm
chất sát trùng, sản xuất dược phẩm và chữa bệnh Đặc biệt Cồn có thể sử dụng dưới
dạng nguyên chất (E100) hoặc pha với xăng có nguồn gốc dầu mỏ ở bất kỳ tỷ lệ nào
để chạy động cơ xăng
Hiện nay, 47% cồn nhiên liệu trên thế giới được sản xuất từ mía đường và
53% được sản xuất từ nguyên liệu chứa tinh bột Trong số những nguyên liệu ở Việt
Nam có tiềm năng sản xuất cồn thì sắn là nguyên liệu có nhiều ưu điểm: sắn dễ
trồng trên các loại đất khác nhau và trong điều kiện khí hậu khác nhau, giá thành chi
Formatted: Font: 18 pt Formatted: Font: 13 pt
Deleted: Bảng 3.1 Độ ẩm và hàm lượn
tinh bột của bột sắn Đồng Xuân 41¶ Bảng 3.2 Hoạt độ của một số emzym sử dụng trong nghiên cứu 41¶ Bảng 3.3 Kết quả đếm mật độ tế bào nấm men Fermentis 42¶
Bảng 3.4 Kết quả đếm mật độ tế bào nấm men Mauri – La Ngà 42¶
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của nồng độ chất khô đến hiệu quả lên men 43¶ Bảng 3.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ dịch hoá đến hiệu quả lên men 44¶ Bảng 3.6 Ảnh hưởng của thời gian dịch hoá dến hiệu quả lên men 45¶ Bảng 3.7 Ảnh hưởng của nồng độ enzym Spezyme 46¶
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của nấm men đến hiệu quả lên men 47¶
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của nồng độ Stargen001 đến hiệu quả lên men 48¶ Bảng 3.10 Ảnh hưởng của tỷ lệ men giống đến hiệu quả lên men 49¶ Bảng 3.11 Ảnh hưởng của hàm lượng Ure
bổ sung 50¶
¶
Trang 12phí để trồng sắn thấp, nguyên liệu sắn sẵn có quanh năm dưới dạng sắn củ tươi hoặc sắn lát khô, hàm lượng tinh bột cao, giá thành sản xuất cồn cạnh tranh so với các nguồn nguyên liệu khác
Bên cạnh tiềm năng về nguồn nguyên liệu, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất cồn người ta nghiên cứu nâng cao hàm lượng chất khô dịch lên men trong quá trình sản xuất cồn Nâng cao hàm lượng chất khô trong quá trình đường hóa và lên men đồng thời trong sản xuất Cồn giúp tăng năng suất thiết bị đường hóa
và lên men, giảm năng lượng tiêu tốn cho quá trình chưng cất và giảm tổn thất rượu trong bã rượu cũng như trong nước thải làm tăng hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất Đây là một giải pháp công nghệ rất đáng được xem xét, nghiên cứu và kiểm chứng trước khi vào sản xuất với quy mô lớn Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men từ dịch sắn có nồng độ chất khô cao trong sản xuất cồn ethanol”
Mục đích của đề tài:
Đưa ra qui trình công nghệ sản xuất cồn từ dịch sắn có nồng độ chất khô cao
Nội dung nghiên cứu của đề tài:
1 Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình dịch hóa đến quá trình lên men
ở nồng độ chất khô cao
2 Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình đường hóa và lên men đồng thời
ở nồng độ chất khô cao đến hiệu suất lên men
Trang 13C HƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình sản xuất Cồn trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cồn trên thế giới
Nhu cầu cho ethanol đang tăng lên nhanh chóng trên thế giới do giá dầu tăng
cao và sự khuyến khích sử dụng biofuel Nhu cầu của các nước Châu Á dường như
cũng tăng lên, với Nhật bản và Hàn quốc sẽ trở thành những nhà nhập khẩu lớn Mỹ
và Brazil thống trị việc sản xuất ethanol và tiêu thụ chúng với các kế hoạch mở rộng
sản xuất và đầu tư thiết bị tinh lọc
Năm 2003 toàn thế giới đã sản xuất được 38,5 tỷ lít cồn (châu Mỹ chiếm
70%, châu Á 17% và châu Âu 10%), trong đó 70% được dùng làm nhiên liệu, 30%
được sử dụng trong công nghiệp thực phẩm, y tế, hoá chất Đến năm 2007 lượng
cồn sản xuất được đã tăng lên 56 tỷ lít, trong đó tỷ lệ sử dụng làm nhiên liệu tăng
lên 75% Năm 2009, lượng cồn trên thế giới khoảng 66 tỷ lít Dự báo đến năm 2012
(khi nghị đinh thư Kyoto có hiệu lực), lượng cồn trên thế giới sẽ tăng lên 73,9 tỷ lít
và tỷ lệ sử dụng làm nhiên liệu sẽ tăng lên 85%
Braxin, Mỹ là 2 quốc gia đứng đầu trên thế giới về sản xuất và sử dụng cồn
nhiên liệu, chiếm 70% tổng sản lượng cồn thế giới
Những năm 70, Braxin bắt đầu phát triển nhiên liệu cồn để tận dụng triệt để
nguồn tài nguyên nông nghiệp quốc gia, đặc biệt là ưu thế của cây mía, họ đã coi
cây mía là nguồn nguyên liệu chính của kế hoạch phát triển cồn nhiên liệu Sau gần
30 năm nghiên cứu và ứng dụng cồn làm nhiên liệu thay thế xăng dầu, Braxin
không những trở thành quốc gia sản xuất cồn lớn nhất thế giới, mà còn là nước nắm
vững nhất kỹ thuật sản xuất cồn nhiên liệu, Sau 10 năm được chính phủ Braxin đề
xướng và ủng hộ, ngành công nghiệp cồn đã trở thành một ngành sản xuất hết sức
thịnh vượng
Formatted: Font: 18 pt Formatted: Font: 13 pt Deleted: C
Trang 14Trong cuộc khủng hoảng năng lượng đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20, các nhà máy sản xuất cồn được chính phủ Mỹ trợ cấp và xăng pha cồn được dùng khá phổ biến trên thị trường Sang thập kỷ 80, giá dầu lại giảm mạnh làm cho giá cồn cao hơn giá xăng nên một lần nữa nhiên liệu này lại bị đẩy lùi Từ năm 1990 đến nay,
do giá dầu tăng liên tục trở lại nên cồn lại được đưa vào chương trình an ninh lương thực Mỹ Nước Mỹ có đất đai và khí hậu thuận lợi để sản xuất một lượng lớn cồn nhiên liệu từ cây ngô, góp phần hữu hiệu vào việc giảm nhẹ sự phụ thuộc ngày càng lớn vào dầu nhập khẩu [7]
Công nghiệp sản xuất cồn nhiên liệu cũng đang phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Âu Với mục tiêu giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch, EU đặt mục tiêu đến năm 2010 các loại nhiên liệu sinh học sẽ chiếm 5,7% tổng mức tiêu thụ nhiên liệu trong giao thông vận tải [7]
Ở Châu Á ba nước sản xuất cồn lớn nhất là Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan Sản lượng cồn của ba quốc gia trên tăng nhanh qua từng năm bởi Chính phủ mỗi nước đều có những kế hoạch xây dựng và phát triển thêm nhiều nhà máy sản xuất cồn với năng suất cao
Chính phủ Trung Quốc đang tăng cường hỗ trợ cho năng lượng sinh học và hoạt động sản xuất cồn Trong kế hoạch năm 2006 - 2010 chính phủ đạt mục tiêu sản xuất 6 triệu tấn Cồn [7]
Gần Việt Nam nhất là Thái Lan, một nước đã có chính sách sản xuất nhiên liệu sinh học từ 10 năm nay Từ năm 2002, Thái Lan đã xây dựng thêm 4 nhà máy sản xuất cồn nhằm giảm chi phí nhập khẩu xăng dầu Năm 2004, Thái Lan đã sản xuất trên 280.000 m3 cồn, đầu tư thêm 20 nhà máy để năm 2015 có trên 2,5 tỷ lít cồn dùng làm nhiên liệu [6]
Trang 151.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cồn ở Việt Nam
Với nền tảng của một quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm ngũ cốc dồi dào, phong phú đã tạo nên sự đa dạng trong nguồn nguyên liệu cung cấp cho ngành sản xuất rượu cồn
Theo thống kê năm 2007 ở Việt Nam có khoảng 328 cơ sở sản xuất rượu lớn với sản lượng 360 triệu lít/năm, 320 cơ sở sản xuất nhỏ với sản lượng dưới 1 triệu lít/năm, hộ gia đình tự sản xuất ước tính khoảng 250 triệu lít/năm
Theo khảo sát của Bộ Công Thương, hết quý I-2009, rượu tăng 16% so với cùng kỳ năm 2008 Cho đến năm 2010 chính phủ vẫn định hướng chỉ đạo việc tiếp tục gia tăng sản lượng rượu bia do nhiều thành phần kinh tế tham gia sản xuất, chỉ hạn chế dần lượng rượu dân tự nấu
Dự báo mức tiêu thụ rượu bia ở nước ta trong thời gian sắp tới vẫn tiếp tục gia tăng Trong những năm vừa qua, bình quân 1 năm mức tiêu thụ rượu bia tăng từ 8-10% Các chỉ tiêu sản lượng rượu bia được xác định trong quy hoạch tổng thể phát triển ngành rượu bia, nước giải khát Việt Nam (bảng 1.1)
Bảng 1.1: Chỉ tiêu sản lượng rượu của Việt Nam (Đơn vị: Triệu lít)
(Nguồn: Quyết định số 58/2003/QĐ-TTg sửa đổi bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Bia-Rượu-Nước giải khát Việt Nam đến năm 2010)
Như vậy cho đến năm 2010; Chính phủ vẫn định hướng chỉ đạo việc tiếp tục gia tăng sản lượng rượu bia do nhiều thành phần kinh tế tham gia sản xuất, chỉ hạn chế dần lượng rượu tự nấu trong cộng đồng
Trang 16Ngoài ra, để thúc đẩy ngành sản xuất nhiên liệu sinh học phát triển, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/11/2007 đã ra quyết định phê duyệt “Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025” với mục đích thay thế một phần nhiên liệu có nguồn gốc hóa thạch, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng
và bảo vệ môi trường [7]
Nhận thức được tiềm năng thị trường Việt Nam, một số doanh nghiệp trong nước đã tiến hành đầu tư xây dựng các nhà máy ethanol tại các địa phương có nhiều nguyên liệu Một số công ty nước ngoài đến từ Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc cũng đang đẩy mạnh việc tìm kiếm đối tác đầu tư trong nước [7]
Bảng 1.2 Các dự án xây dựng Nhà máy ethanol nhiên liệu tại Việt Nam
Tên nhà máy Công suất Ngày hoạt
động dự kiến Chủ đầu tư Nhà máy Đại Lộc -
Quảng Ninh
100 triệu lít/năm 03/2009 Công ty Đồng Xanh Nhà máy Cu - Dút
Đắc Nông
50 triệu lít/năm 12/2008 Công ty Đại Việt Nhà máy Tam Nông
Phú Thọ
100 triệu lít/năm 06/2011 Công ty PVB thuộc PVO
Nhà máy Dung Quất 100 triệu
lít/năm 07/2011
Petrosetco, NMLD Bình Sơn thuộc PetroVN
Nhà máy Bình Phước 100 triệu
Trang 17lai ở Việt Nam.Các nhà máy ethanol của Tập đoàn sử dụng công nghệ tiên tiến của
Mỹ và Ấn độ Các công nghệ này đã được thực tế kiểm chứng mức độ thành công
và hiệu quả tại Thái Lan [7]
1.2 Nguyên liệu chính để sản xuất cồn etylic
Việt Nam là nước nông nghiệp nên những nguồn nguyên liệu chứa tinh bột
có sẵn và được phân bố rộng rãi khắp cả nước Nguyên liệu chủ yếu mà các nhà máy rượu cồn ở nước ta thường dùng là sắn do đó, trong đề tài này, chúng tôi dùng nguồn nguyên liệu bột sắn khô để nghiên cứu
1.2.1 Giới thiệu về củ sắn
1.2.1.1 Nguồn gốc của sắn
Sắn (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực ăn củ hàng năm, có thể
sống lâu năm, thuộc họ thầu dầu Euphorbiaceae [3]
Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh (Crantz, 1976)
và được trồng cách đây khoảng 5.000 năm (CIAT, 1993) Bằng chứng về nguồn gốc sắn trồng là những di tích khảo cổ ở Venezuela niên đại 2.700 năm trước Công nguyên, di vật thể hiện củ sắn ở vùng biển Peru khoảng 2000 năm trước Công nguyên, những lò nướng bánh sắn trong phức hệ Malabo ở phía Bắc Colombia niên đại khoảng 1.200 năm trước Công nguyên, những hạt tinh bột trong phân hoá thạch được phát hiện tại Mexico có tuổi từ năm 900 đến năm 200 trước Công nguyên (Rogers 1963, 1965) [3]
Sắn được trồng vào hai vụ trong năm:
Vụ Xuân: Cuối tháng 1 đến hết tháng 3
Vụ Thu: Tháng 9 – tháng 10
1.2.1.2 Cấu tạo của củ sắn
Củ sắn gồm ba phần chính: vỏ, thịt củ và lõi; ngoài ra còn có cuống và rễ củ
Vỏ gồm vỏ gỗ và vỏ cùi Vỏ gỗ cấu tạo chủ yếu xenluloza, có tác dụng bảo
vệ củ khỏi tác động bên ngoài; đồng thời hạn chế mất nước của củ Bản thân vỏ
Trang 18cứng nhưng liên kết không bền với vỏ cùi, do đó rễ mất khi thu hoạch và vận chuyển Tỷ lệ vỏ gỗ phụ thuộc giống sắn, độ già và khối lượng củ - thường vào khoảng 1,5 đến 2% [11]
Vỏ cùi dày khoảng 1 đến 3 mm và chiếm 8 - 15% khối lượng củ Vỏ cùi gồm lớp tế bào mô cứng phủ ngoài Thành phần lớp này cũng chủ yếu là xenluloza, hầu như không chứa tinh bột nhưng chứa nhiều dịch bào (mủ sắn) Trong thành phần dịch bào có chứa các polyphenol Tiếp theo là lớp tế bào mô mềm, lớp này ngoài dịch bào còn chứa khoảng 5% tinh bột Các polyphenol, enzim và linamarin có tác dụng bảo vệ củ phát triển bình thường trước thu hoạch, nhưng khi đã đào bới củ khỏi đất chúng lại gây trở ngại cho bảo quản và chế biến Tổng lượng các chất polyphenol trong sắn khoảng 0,1 đến 0,3%, trong đó có tới 85-90% tập trung ở vỏ cùi [11]
Sau vỏ cùi là khe mủ - nơi lưu thông mủ giữa vỏ cùi và thịt củ Do tác dụng này nên liên kết giữa vỏ với thịt sắn không bền, dễ tách vỏ khỏi thịt sắn Lớp tiếp nối là tầng sinh gỗ, với củ phát triển bình thường thì lớp này chỉ nhìn rõ khi luộc chín Tiếp theo tầng sinh gỗ là thịt sắn chứa nhiều tinh bột, protein và các chất dầu Đây là phần dự trữ chủ yếu các chất dinh dưỡng của củ [11]
Lõi sắn nằm ở trung tâm củ, dọc suốt chiều dài Thành phần lõi chủ yếu là xenluloza Lõi có chức năng dẫn nước và các chất dinh dưỡng giữa cây và củ, đồng thời giúp thoát nước khi sấy hoặc phơi khô [11]
Hình 1.1 Cấu tạo của
củ sắn
Trang 19
Hình 1.2 Một số hình ảnh về củ sắn
Trang 201.2.1.3 Thành phần hoá học của sắn
Củ sắn tươi có tỷ lệ chất khô 38-40%, tinh bột 16-32%, giàu vitamin C, Calcium, VitaminB và các chất khoáng, nghèo chất béo, muối khoáng, vitamin và nghèo đạm Trong củ sắn, hàm lượng các acid amin không được cân đối, thừa arginin nhưng lại thiếu các acid amin chứa lưu huỳnh Thành phần dinh dưỡng khác biệt tuỳ giống, vụ trồng, số tháng thu hoạch sau khi trồng và kỹ thuật phân tích [11]
Bảng 1.3 Thành phần hoá học của củ sắn tươi - sắn lát khô
1.2.1.5 Đặc tính của tinh bột sắn
Trang 21Tinh bột sắn có màu sáng trắng, có pH từ 4,5 đến 6,5 Hạt tinh bột sắn có kích thước 5- 40 µm, chủ yếu là hình tròn, có bề mặt nhẵn Hàm lượng amilopectin trong tinh bột sắn tương đối cao, chiếm 78- 80% Tinh bột sắn có độ nở, khả năng
hồ hoá và độ nhớt cao Nhiệt độ hồ hoá của tinh bột sắn 58 - 80oC Độ nhớt dung
dịch tinh bột sắn tăng nhanh và có độ dính cao so với tinh bột từ nguồn khác
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và ở Việt Nam
I.2.2.1 Sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới
Sắn hiện được trồng trên 100 nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) xếp sắn là cây lương thực quan trọng ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và lúa mì
Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol)
Năm 2008, sản lượng sắn thế giới đạt 238,45 triệu tấn củ tươi so với 223,75 triệu tấn năm 2007 và năm 1995 là 161,79 triệu tấn Nước sản xuất sắn nhiều nhất là Nigeria (45,72 triệu tấn), kế đến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92 triệu tấn) Nước có năng suất sắn cao nhất là Ấn Độ (31,43 tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha), so với năng suất sắn bình quân của thế giới là 12,87 tấn/ha (FAO, 2008) Việt Nam đứng thứ mười về sản lượng sắn trên thế giới (9,38 triệu tấn) [7]
Sản lượng sắn củ của Nigeria và 6 nước châu Phi khác năm 2008 tăng 30%
Có được kết quả này là nhờ dự án tài trợ 5,3 triệu USD của Quỹ Phát triển Quốc tế của Mỹ, có thời hạn 2 năm Nigeria là nước sản xuất sắn củ lớn nhất thế giới, với sản lượng hàng năm đạt 38 triệu tấn Năng suất sắn của 7 nước nói trên hiện nay vào khoảng 7-12 tấn/hécta, sẽ tăng lên 12-30 tấn sau khi dự án trên kết thúc [7]
Là nước sản xuất ethanol lớn thứ ba trên thế giới, sau Mỹ và Bra-xin, nhiều địa phương của Trung Quốc đã bắt buộc sử dụng ethanol-blended xăng trong xe hơi Trung Quốc đã xây dựng nhiều nhà máy chế biến nhiên liệu sinh học trên cả
Trang 22nước, đặc biệt là khu vực Quảng Tây, nơi chiếm 70% sản lượng sắn của cả nước,
đạt 7 triệu tấn/năm Trong đó lớn nhất là Nhà máy của China Oil and Food
Corporation (COFCO) tiêu thụ 1,5 triệu tấn sắn/năm
Đồng thời, Chính phủ Trung Quốc cũng liên kết với các nước Lào, Nigieria,
Philippin để trồng sắn tại các nước này, như kế hoạch trồng 4.498 ha tại Lào, trồng
4.500 ha tại Philippin nhằm tăng nguồn cung cho nhu cầu trong nước Nhu cầu đối
với mặt hàng sắn của Trung Quốc là rất lớn Dự kiến mỗi năm nước này phải nhập
khẩu từ 6 - 6,5 triệu tấn sắn/năm mới đáp ứng đủ nhu cầu
1.2.2.2 Sản xuất và tiêu thụ sắn ở Việt Nam
Cây sắn đựơc du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18, (Phạm Văn
Biên, Hoàng Kim, 1991) Sắn được canh tác phổ biến tại hầu hết các tỉnh của Việt
Nam từ Bắc đến Nam Sắn là cây lương thực, thức ăn gia súc quan trọng sau lúa và
ngô Cây sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ nông dân nghèo do sắn dễ
trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế nông hộ
Việt Nam đã đạt tiến bộ kỹ thuật nhanh nhất châu Á về chọn tạo và nhân
giống sắn Năng suất và sản lượng sắn của nhiều tỉnh đã tăng lên gấp đôi do trồng
các giống sắn mới năng suất cao và áp dụng kỹ thuật canh tác sắn thích hợp, bền
vững Năm 2008 sản lượng sắn Việt Nam đạt 9,40 triệu tấn so với sản lượng 1,99
triệu tấn của năm 2000 Đó là kết quả của việc mở rộng diện tích từ 237.600 ha lên
555.700 ha và tăng năng suất từ 8,36 tấn/ha năm 2000 lên 16,91 tấn/ha năm 2008
Trang 23Nguồn: Niên gián thống kê năm 2008
1.3 Giới thiệu về một số enzym sử dụng trong đề tài nghiên cứu
1.3.1 Spezyme XTRA [17]
Spezyme XTRA là một chế phẩm enzym chịu nhiệt thuỷ phân tinh bột α- amylase
với độ bền rất cao ở pH thấp, được sinh tổng hợp từ Bacillus licheniforlis đã biến đổi
gen Endo- amylase có trong Spezyme phân cắt một cách ngẫu nhiên liên kết α- 1,4- glucozit làm giảm nhanh chóng độ nhớt của tinh bột hồ hoá thành dextrin và các oligosaccarit hoà tan được
Ưu điểm của Spezyme XTRA:
- Giúp giảm nhanh độ nhớt
- Có thể hoạt động tốt tại pH dịch hoá thấp khoảng 5,5
Hoạt tính của Spezyme XTRA được biểu diễn bằng đơn vi Anpha Amylase Units (AAU) Hoạt tính của enzym được xác định bởi tốc độ thuỷ phân tinh bột, dựa trên sự giảm khả năng tạo màu với iốt Một đơn vị AAU là lượng enzym cần thiết để thuỷ phân 10 mg tinh bột dưới những điều kiện xác định
Bảng 1.5 Tính chất của Spezyme XTRA
STARGEN 001 là một chế phẩm có chứa enzym α- amylase của Aspergillus
kawachi và glucoamylase của Aspergillus niger có tác động hiệp đồng để thuỷ phân
Trang 24tinh bột sống thành glucose Enzym nội mạch α- amylase và ngoại mạch glucoamylase trong Stargen 001 xúc tác cho sự thuỷ phân hoàn toàn tinh bột sống dưới các điều kiện lên men khác nhau Quan trọng là Stargen 001 có nhiệt độ tối ưu rất thấp (20 - 40oC) đồng thời có pH thích hợp với quá trình lên men rượu Cồn (4 - 4.5) [18]
Hoạt tính của STARGEN 001 được biểu diễn bằng đơn vị Granular Starch Hydrolyzing Units (GSHU) được tính toán dựa vào mức hoạt tính của enzim đối với tinh bột sống và hoạt tính của glucoamylase đối với dextrin hoà tan với những điều kiện xác định
Ưu điểm của STARGEN 001:
- Thực hiện quá trình dịch hoá và đường hoá đồng thời ở nhiệt độ thường Trong đó glucoamylase thuỷ phân khoan sâu vào hạt tinh bột còn α amylase thuỷ phân để mở rộng những lỗ khoan này
- Giữ hoạt độ cao dưới các điều kiện của quá trình đường hoá lên men đồng thời dưới sự trợ giúp của nấm men trong sản xuất ethanol
- Tạo ra Glucose liên tục
- Loại trừ sự cần thiết của các tác nhân như Calci hay muối Natri nhằm làm tăng hoạt tính Enzym
- Khi sử dụng trong một quá trình sản xuất được thiết kế tốt, không có quá trình nấu và so sánh với các hệ thống enzyme có quá trình dịch hoá và đường hoá truyền thống có giai đoạn nấu, chế phẩm này cho:
+ Hiệu suất cồn cao
+ Giảm năng lượng đầu vào
Trang 25+ Giảm các đơn vị vận hành
+ Giảm chi phí sản xuất
Các ứng dụng của Stargen 001
Stargen 001 là chế phẩm được sản xuất cho quá trình sản xuất Cồn từ ngũ cốc
và các nguyên liệu chứa tinh bột khác sử dụng cho quá trình đường hoá và lên men đồng thời không qua giai đoạn nấu
Việc sử dụng enzym có khả năng thuỷ phân tinh bột sống như Stargen có nhiều ưu điểm về mặt năng lượng nhưng cũng có nhược điểm đó là lượng enzyme cần thiết để thuỷ phân tinh bột sống lớn hơn nhiều so với lượng enzyme cần để thuỷ phân tinh bột hoà tan Trong những trường hợp này, chi phí cho enzyme chỉ đứng thứ hai sau chi phí cho nguyên liệu thô Dựa trên những cơ sở về chi phí, sự giảm chi phí Enzyme cũng là cần thiết để duy trì lợi ích từ việc tiết kiệm năng lượng của phương pháp thuỷ phân tinh bột sống
Hình 1.3 Quá trình thủy phân tinh bột với chế phẩm enzym Stargen 001
1.4 Công nghệ sản xuất Cồn
1.4.1 Công nghệ sản xuất cồn truyền thống
Công nghệ sản xuất cồn truyền thống đã và đang được áp dụng tại một số nước đang phát triển Do vấn đề an ninh lương thực nên hiện nay đa số các quốc gia đều chọn sắn làm nguyên liệu chủ yếu cho sản xuất Cồn Quy trình sản xuất gồm
Trang 26các công đoạn chính là: nghiền, nấu, dịch hoá, đường hoá, lên men, chưng cất và tinh chế
- Nghiền nguyên liệu
Mục đích của quá trình nghiền nguyên liệu là làm phá vỡ cấu trúc màng tế bào thực vật, giải phóng hạt tinh bột và tăng cường sự tiếp xúc giữa cơ chất với nước và enzyme, thúc đẩy quá trình nấu, đường hóa và các quá trình thủy phân khác nhanh và triệt để hơn [11]
- Dịch hoá nguyên liệu
Mục đích chủ yếu của của quá trình dịch hoá là nhằm phá vỡ màng tế bào của tinh bột, tạo điều kiện biến chúng thành dạng hoà tan trong dung dịch
Hiện nay, ở các nhà máy người ta sử dụng thêm các chế phẩm enzyme trong quá trình nấu nhằm làm giảm nhiệt độ nấu và thực hiện được ở áp suất thường nên chi phí năng lượng và thiết bị giảm đi đáng kể
Quá trình nấu nguyên liệu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: nhiệt độ; pH dịch; nồng độ enzym; thời gian dịch hoá …
- Đường hóa: sau khi dịch hóa xong, hạt tinh bột trong dịch cháo đã chuyển
sang trạng thái hòa tan, nhưng chưa thể lên men trực tiếp để biến thành rượu được,
mà phải trải qua quá trình thủy phân do xúc tác của enzyme glucoamylase để biến thành đường Quá trình này có vai trò quan trọng trong công nghệ sản xuất cồn Etylic, bởi nó quyết định hiệu suất thu hồi rượu do giảm bớt hoặc gia tăng đường và tinh bột sót sau lên men
Trang 27Hình 1.4 Sơ đồ công nghệ sản xuất Cồn truyền thống
- Lên men: dưới tác dụng của nấm men, đường sẽ biến thành rượu và khí
Cacbonic cùng với nhiều sản phẩm trung gian khác Kết thúc quá trình lên men thu
được hỗn hợp gồm rượu - nước - bã, gọi là dịch dấm chín
- Chưng cất: là quá trình tách rượu và các tạp chất dễ bay hơi như rượu, este,
aldehyt, alcol cao phân tử… khỏi dấm chín Kết quả là nhận được rượu thô hay cồn
thô Tinh chế hay tinh luyện là quá trình tách các tạp chất khỏi cồn thô và nâng cao
nồng độ cồn [11]
1.4.2 Công nghệ sản xuất cồn hiện nay trên thế giới
Ở một số nước trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu thử nghiệm và ứng dụng
công nghệ dịch hoá không qua nấu, với việc bổ sung một số chế phẩm enzyme mới
Người ta không cần tiến hành quá trình dịch hoá ở nhiệt độ 90-100oC nữa mà nhiệt
độ dịch hoá có thể hạ xuống thấp khoảng 60-70oC, thậm chí dịch hoá không gia
nhiệt Công nghệ này đã được áp dụng với một số nguyên liệu tinh bột tại một số
nước như Mỹ, Thái Lan… Công nghệ này cần nghiên cứu, kiểm chứng trước khi
ứng dụng vào sản xuất với điều kiện của nước ta
Formatted: Font: 13 pt
Trang 28- Nghiền nguyên liệu:
Nguyên liệu được nghiền mịn để tạo điều kiện cho Enzym dễ dàng tiếp xúc với hạt tinh bột
- Dịch hóa nguyên liệu
Một số loại enzym mới cho phép thực hiện hiệu quả quá trình hồ hóa và dịch hóa ở nhiệt độ thấp hơn thay vì hồ hóa và dịch hóa ở nhiệt độ sôi theo quy trình truyền thống
Thậm chí, công nghệ sản xuất cồn còn dựa trên việc sử dụng các enzym đặc biệt cho phép thực hiện quá trình đường hóa trực tiếp mà không cần qua quá trình nấu chín tinh bột
Enzym có thể thủy phân tinh bột sống (không cần gia nhiệt) đã được biết đến
từ năm 1944 Tuy nhiên, chỉ có Nhật Bản sản xuất được enzym thương phẩm để thủy phân tinh bột sống dùng trong sản xuất rượu Sake Một lý do quan trọng làm hạn chế sự phát triển của các loại enzym này là giá thành quá đắt do phải sử dụng phương pháp lên men rắn Hiện nay, hãng Genecor đã nghiên cứu và phát triển thành công loại enzym thủy phân tinh bột sống với giá thành hợp lý và có hoạt độ cao nên có thể ứng dụng thủy phân tinh bột sống trong công nghệ sản xuất etanol [21]
Ưu điểm đó không những giúp giảm được thời gian sản xuất, tiết kiệm năng lượng và chi phí cho thiết bị, giảm đi thời gian và chi phí để hạ nhiệt độ xuống nhiệt
độ đường hóa và lên men, đồng thời tạo điều kiện để thực hiện được quá trình đường hóa và lên men đồng thời
Như vậy trong một thiết bị có thể bổ sung vừa enzym đường hóa, vừa nấm men, thời gian cho một chu kỳ đường hóa cũng như lên men giảm rõ rệt [18] [19] [20]
- Quá trình đường hóa và lên men đồng thời
Công nghệ đường hoá và lên men đồng thời (SSF) là công nghệ kết hợp quá trình đường hoá nguyên liệu tinh bột và quá trình lên men đồng thời trong cùng một
Trang 29thiết bị và ở cùng một nhiệt độ với sự trợ giúp của emzyme mới Phương pháp này
có ưu điểm nổi bật hơn là đường tạo ra đến đâu được lên men đến đó nên nấm men không phải chịu áp suất thẩm thấu cao đồng thời làm giảm nguy cơ nhiễm tạp và nâng cao năng suất
Hình 1.5 Sơ đồ công nghệ sản xuất Cồn hiện nay trên thế giới
Hiện nay, quá trình thủy phân tinh bột ít gia nhiệt kết hợp với quá trình đường hóa và lên men đồng thời đã được áp dụng thành công trong sản xuất cồn từ ngô Nhóm tác giả đã sử dụng chế phẩm enzym thủy phân và đường hóa tinh bột sống ít gia nhiệt chứa hỗn hợp α-amylaza và glucoamylaza để thủy phân tinh bột
Trang 30ngô (chỉ ủ ở 480C trong 2 giờ), đường hóa và lên men đồng thời với nồng độ cồn tạo ra tương đương với phương pháp truyền thống Ngoài ra phương pháp đường hóa và lên men đồng thời cho phép giảm đáng kể hàm lượng glucoza có trong dịch đường tại thời điểm bắt đầu quá trình lên men: chỉ còn 7% so với 19% khi sử dụng phương pháp đường hóa song song với thực hiện quá trình lên men Điều này làm giảm ảnh hưởng áp suất thẩm thấu lên tế bào nấm men đồng thời cũng làm giảm nguy cơ nhiễm tạp vi sinh vật trong công đoạn lên men
Theo một số nghiên cứu mới được công bố của hãng Genecor, một số chế phẩm enzym của hãng có thể được sử dụng để sản xuất cồn theo công nghệ tiết kiệm năng lượng (ít gia nhiệt) đối với các nguyên liệu như gạo, ngô (Stargen001), mạch đen, lúa mỳ, đại mạch (Stargen002) [22]
Những nghiên cứu gần đây nhất của Xu và Duan [19] cho thấy có thể sử dụng thế hệ enzym mới để sản xuất cồn không cần gia nhiệt ở nồng độ chất khô cao một cách có hiệu quả đối với nguyên liệu bobo (sorghum) Nồng độ etanol có thể đạt tới 20%v/v sau 90 giờ lên men có sử dụng nấm men khô thương phẩm với dịch được chuẩn bị từ bobo có nồng độ chất khô ban đầu là 35%
Công nghệ sản xuất mới này có nhiều ưu điểm như : giảm được thời gian sản xuất, tiết kiệm năng lượng và chi phí cho thiết bị, giảm đi đáng kể lượng nước dội nguội để hạ nhiệt độ xuống nhiệt độ đường hóa và lên men, đồng thời tạo điều kiện để thực hiện được quá trình đường hóa và lên men đồng thời Như vậy trong một thiết bị có thể bổ sung vừa enzym đường hóa, vừa nấm men, thời gian cho một chu kỳ đường hóa cũng như lên men giảm rõ rệt [18] [19] [20]
Ngoài ra, công nghệ nấu ít gia nhiệt hoặc không gia nhiệt cho phép sản xuất dịch đường lên men có nồng độ cao làm nâng cao năng suất Hơn nữa công nghệ này còn làm nâng cao hiệu suất do giảm thiểu lượng đường khử và axit amin trong phản ứng tạo melanoidin hoặc phản ứng caramen hóa đường xảy ra khi nấu ở nhiệt
độ cao Tuy nhiên do không có thiết bị nấu ở áp suất cao và không gia nhiệt đến nhiệt độ hồ hóa, kích thước hạt tinh bột phải được nghiền mịn hơn so với quy trình
Trang 31truyền thống [23] [24] [25] Công nghệ mới này chi phí enzym cao hơn và do không
có quá trình nấu chín nên nguy cơ nhiễm tạp cao hơn, tuy vậy có thể hạn chế nhiễm tạp bằng sử dụng các chất sát trùng và hạ pH thấp
1.4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men ở nồng độ chất khô cao trong sản xuất ethanol
Sự cạn kiệt dần của các nguồn năng lượng hoá thạch đòi hỏi thế giới phải tìm kiếm thêm những nguồn năng lượng mới thay thế và có khả năng phục hồi được Cồn etylic đã được đầu tư rất rộng rãi vì nó là một loại nhiên liệu thay thế tốt hơn khí đốt cũng như nhiên liệu lỏng khác Tuy nhiên qua nhiều nghiên cứu người ta thấy rằng về mặt kinh tế, Cồn etylic không thể cạnh tranh được với khí đốt và xăng dầu bắt nguồn từ nguyên liệu hoá thạch Bởi vậy, cải tiến quy trình sản xuất cồn là
cơ hội chuyển đổi nhiên liệu, cồn sẽ là sản phẩm kinh tế đầy triển vọng Một trong những biện pháp cải tiến quy trình sản xuất cồn là lên men rượu ở nồng độ chất khô cao Kỹ thuật này giúp làm tăng cả về tốc độ lên men và nồng độ cồn thu được, do vậy làm giảm giá thành sản phẩm
Lên men ở nồng độ chất khô cao trong sản xuất cồn phụ thuộc và việc chuẩn bị
và lên men dịch có chứa nồng độ cacbonhydrat lớn hơn 30% thể tích là:
- Ảnh hưởng của quá trình dịch hoá
- Ảnh hưởng của quá trình đường hoá và lên men đồng thời
Quá trình dịch hóa, đường hóa và lên men đồng thời ở nồng độ chất khô cao chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:
1.4.3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ dịch hoá
Trong quá trình dịch hoá một phần tinh bột trong nguyên liệu được chuyển hóa thành đường, dextrin Nếu dịch hoá ở nhiệt độ cao, đường sẽ bị phân hủy do các phản ứng như phản ứng caramen hóa, phản ứng melanoidin, mức độ phân hủy đường phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, pH và thời gian nấu
Hiện nay qua nghiên cứu người ta thấy nếu sử dụng enzym để dịch hóa thì có thể giảm được nhiệt độ cũng như thời gian nấu đi rất nhiều Khi bổ sung enzym
Trang 32Spezyme vào quá trình dịch hóa thì nhiệt độ dịch hóa chỉ vào khoảng 70oC – 80oC,
giúp hạn chế được sự tổn thất đường và chi phí trong quá trình nấu đi rất nhiều
Vì Enzym có bản chất Protein nên khi tăng nhiệt độ đến một giới hạn nào đó
thì protein sẽ bị biến tính, vận tốc phản ứng enzym sẽ bị giảm dần và có thể bị đình
chỉ hoàn toàn
Đối với quá trình dịch hóa có nồng độ chất khô cao, nhiệt độ dịch hóa cao
làm dịch bột dễ bị cháy, nên trong quá trình này kết hợp Enzyme dịch hóa có khả
năng dịch hóa cao ở nhiệt độ thấp là cần thiết
1.4.3.2 Ảnh hưởng của pH dịch hoá
Mỗi enzym có một pH tối ưu nhất định Trong điều kiện sản xuất, việc điều
chỉnh pH dịch hoá về gần với pH tối ưu của enzyme là rất cần thiết
1.4.3.3 Ảnh hưởng của nồng độ enzym dịch hoá
Khi nghiên cứu về động học enzym thấy rằng, trong điều kiện thừa cơ chất
thì vận tốc phản ứng thủy phân phụ thuộc tuyến tính vào nồng độ enzym Nếu tăng
nồng độ enzym đến một giới hạn nào đó thì vận tốc thủy phân không tăng, lúc này
nồng độ enzym bão hòa Chính vì vậy, trong quá trình dịch hoá, phải tìm một nồng
độ enzym hợp lý để tránh gây lãng phí
Đối với quá trình dịch hóa có nồng độ chất khô cao, Nồng độ Enzyme dịch
hóa phải đạt nồng độ đủ để phản ứng Enzyme xảy ra hoàn toàn
1.4.3.4 Ảnh hưởng của thời gian dịch hoá
Quá trình dịch hoá tinh bột được thực hiện dưới tác dụng của enzym dịch
hoá, diễn ra trong thời gian nhất định Nếu thời gian dịch hoá ngắn thì quá trình
dịch hoá diễn ra chưa hoàn toàn, nếu kéo dài thời gian thì hiệu quả dịch hoá không
tăng
1.4.3.5 Ảnh hưởng của nồng độ enzym đường hoá
Formatted: Line spacing: 1.5 lines
Formatted: Line spacing: 1.5 lines Deleted: ợp
Deleted: ¶
Trang 33Nồng độ enzym đường hoá đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định
lượng đường ban đầu để khởi động quá trình lên men Lượng chế phẩm tăng thì tốc
độ thuỷ phân tinh bột cũng tăng nhưng chỉ trong giai đoạn đầu khi phản ứng còn ở
bậc không Trong quá trình đường hoá và lên men đồng thời, mục tiêu cuối cùng
không phải là tạo được lượng đường cao nhất mà là lựa chọn nồng độ enzym đường
hoá sao cho hiệu suất lên men cao nhất
1.4.3.6 Ảnh hưởng của pH đến quá trình đường hoá
Trong quá trình lên men, pH tối ưu để tạo etylic nằm trong khoảng 4,5 ÷
5,0 Hiện nay, một số enzym đường hoá mới đang được hãng Genencor khuyến cáo
cũng có pH hoạt động là 4,0 – 4,5 rất phù hợp với việc kết hợp đồng thời quá trình
đường hoá và lên men Như vậy có thể lựa chọn pH thích hợp cho cả đường hoá và
lên men là 4,2 – 4,5
1.4.3.7 Ảnh hưởng của nồng độ cơ chất đến quá trình đường hoá và lên men
Nồng độ cơ chất ban đầu chủ yếu ảnh hưởng lên quá trình đường hoá và lên
men đồng thời Hàm lượng đường phù hợp cho quá trình lên men là khoảng
12 ÷ 20% Nếu nồng độ dịch đường thấp thì sẽ không kinh tế vì sẽ làm giảm năng
suất của thiết bị lên men, mặt khác sẽ tốn hơi khi chưng cất và tăng tổn thất rượu
trong bã rượu và nước thải
Hàm lượng đường cao hơn sẽ làm tăng áp suất và làm mất cân bằng trạng
thái sinh lý của nấm men, hầu hết nấm men không có khả năng lên men rượu khi
hàm lượng đường lớn Đường nhiều cũng sẽ dẫn đến tổn thất hoặc phải kéo dài thời
gian lên men, đồng thời, khi lên men ở nồng độ dịch đường cao, lượng cồn tạo ra
nhiều cũng sẽ ức chế cả nấm men và tạp khuẩn
Tuy vậy, với quá trình đường hóa và lên men đồng thời tạo điều kiện cho quá
trình lên men ở nồng độ chất khô cao Vì trong quá trình này, lượng đường tạo ra
đến đâu được lên men đến đó
1.4.3.8 Ảnh hưởng của tỷ lệ men giống đến quá trình lên men
Formatted: Font: 13 pt Formatted: Line spacing: 1.5 lines
Formatted: Line spacing: 1.5 lines
Formatted: Line spacing: 1.5 lines
Formatted: Line spacing: 1.5 lines
Deleted: Nếu nồng độ dịch đường thấp
thì sẽ không kinh tế vì sẽ làm giảm năng suất của thiết bị lên men, mặt khác sẽ tốn hơi khi chưng cất và tăng tổn thất rượu trong bã rượu và nước thải ¶