BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI PHẠM THỊ THU HIỀN NGHIÊN CỨU CHIẾT, TINH SẠCH THU CHẾ PHẨM SAPONIN TRITERPEN TỪ RAU MÁ VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ HOẠT TÍNH SINH HỌC LU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
PHẠM THỊ THU HIỀN
NGHIÊN CỨU CHIẾT, TINH SẠCH THU CHẾ PHẨM SAPONIN TRITERPEN TỪ RAU MÁ VÀ KHẢO SÁT
MỘT SỐ HOẠT TÍNH SINH HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Chuyên ngành : Công nghệ sinh học
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI CẢM ƠN……….….… v
LỜI CAM ĐOAN……….… vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT……… vii
DANH MỤC BẢNG ……… viii
DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ……….…… x
MỞ ĐẦU ……….… 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ RAU MÁ: 3
1.1.1 Tên gọi và phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái 4
1.1.3 Phương pháp thu hoạch 6
1.1.4 Thành phần hóa học của rau má 6
1.1.5 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 9
1.1.5.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 9
1.2 HỢP CHẤT SAPONIN TRITERPEN 10
1.2.1 Khái niệm và cấu tạo của Saponin 10
1.2.2 Tính chất hóa lý: 11
1.2.3 Hoạt tính sinh học 12
1.2.4 Phân loại Saponin 13
1.3 SAPONIN STEROID 13
1.4 SAPONIN TRITERPEN 15
1.4.1 Cấu tạo và phân loại 15
1.4.1.1 Saponin triterpenoid pentacyclic 16
1.4.1.2 Saponin triterpenoid tetracyclic 18
1.4.3 Tính chất lý hóa của Saponin triterpen 20
Trang 41.4.4 Cấu tạo của các hợp chất Triterpen có trong rau má: 21
1.4.5 Hoạt tính sinh học của các hợp chất saponin triterpen 22
1.4.5.1 Khả năng sản sinh collagen: 22
1.4.5.2 Khả năng kháng khuẩn, nấm và kháng virut: 23
1.4.5.3 Chống ung thư: 23
1.4.5.4 Một số công dụng khác: 24
1.4.6 Ứng dụng Saponin triterpen: 25
1.4.6.1 Ứng dụng trong y tế 25
1.4.6.2 Ứng dụng trong dược phẩm và thực phẩm: 27
CHƯƠNG II: 30
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 NGUYÊN VẬT LIỆU 30
2.1.1 Rau má: 30
2.1.2 Hóa chất: 30
2.1.3 Dụng cụ, thiết bị: 30
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.2.1 Phương pháp chiết tách saponin triterpene 30
2.2.1.1 Tách chiết Saponin triterpene thô bằng dung môi ethanol 30
2.2.1.2 Phương pháp chiết saponin triterpene thô bằng nước cất 31
2.2.2 Phương pháp tinh sạch saponin triterpen: 31
2.2.2.1 Tinh sạch Saponin triterpen bằng n-Butanol và chlorofom: 31
2.2.2.2 Phương pháp kết tủa saponin triterpen bằng ete 32
2.3 PHƯƠNG PHÁP LOẠI BỎ CHẤT MÀU 32
2.3.1 Phương pháp tảy màu bằng than hoạt tính 32
2.3.2 Phương pháp tảy màu bằng silica gel 32
2.4 Phương pháp định tính và định lượng Saponin triterpen 33
2.4.1 Phương pháp định tính Saponin triterpen 33
2.4.1.1 Phương pháp định tính Saponin triterpen bằng phản ứng tạo bọt 33
Trang 52.4.1.2 Phản ứng Liebermann – Burchard: 33
2.4.1.3 Phương pháp sắc ký bản mỏng: 33
2.4.2 Phương pháp định lượng Saponin triterpen 34
2.4.2.1 Định lượng Saponin triterpen bằng phương pháp cân khối lượng không đổi 34 2.4.2.2 Định lượng Saponin triterpen bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp (HPLC)34 2.5 Phương pháp xác định khả năng kháng khuẩn và chống oxy hóa của Saponin triterpen 34
2.5.1 Phương pháp xác định khả năng kháng khuẩn: 34
2.5.2 Xác định khả năng chống oxy hóa theo phương pháp DPPH: 35
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Nghiên cứu, lựa chọn nguyên liệu 36
3.1.1.Nghiên cứu hàm lượng Saponin triterpen trên 02 loại rau má 36
3.1.2.Nghiên cứu hàm lượng Saponin triterpen trong rau má ở các địa phương khác nhau 37
3.1.3 Nghiên cứu hàm lượng Saponin triterpen trong rau má theo thời vụ: 38
3.1.4 Nghiên cứu hàm lượng Saponin triterpen trên các bộ phận của cây rau má: 38
3.1.4 Nghiên cứu thành phần hóa học trong rau má Tây Phi: 39
3.2 Khảo sát hệ dung môi chiết tách các hợp chất Saponin triterpene 40
3.2.1.Nghiên cứu chiết tách Saponin triterpen bằng Ethanol 40
3.2.2 Nghiên cứu chiết tách Saponin triterpen bằng nước 41
3.2.3 Kết quả định tính Saponin triterpen bằng phương pháp tạo bọt 42
3.3 Nghiên cứu lựa chọn dung môi tinh sạch Saponin triterpene trong rau má 43
3.3.1 Tinh sạch saponin triterpen bằng hệ dung môi n- Butanol và chloroform 43
3.3.1.1 Kết quả tinh sạch Saponin triterpen bằng hệ dung môi n-Butanol và Chlorofom 43
3.3.2 Tinh sạch Saponin triterpen bằng phương pháp kết tinh: 45
3.3.4 Nghiên cứu phương pháp tảy màu cho sản phẩm Saponin triterpene 48
Trang 63.3.4.2 Nghiên cứu chất tẩy màu bằng silicagel 50
3.3.4.3 Nghiên cứu phương án tảy màu kết hợp than hoạt tính và silicagel 51
3.4 Xác định thành phần Saponin triterpen bằng phương pháp HPLC 52
3.5 Nghiên cứu sản xuất Saponin triterpene dạng bột 54
3.5.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ dịch tạo bột 54
3.5.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ, lưu lượng dòng khí sấy và áp suất khí nén 56
3.5.2.1 Xác định ảnh hưởng của nhiệt độ không khí sấy: 56
3.5.2.2 Xác định ảnh hưởng của lưu lượng dòng nhập liệu 57
3.5.3.3 Xác định ảnh hưởng của áp suất khí nén 58
3.6 Kết quả xác định hoạt tính sinh học của cao rau má chứa Saponin triterpen 61
3.6 Kết quả xác định hoạt tính sinh học của cao rau má chứa Saponin triterpen 62
3.6.1 Khảo sát hoạt tính kháng khuẩn của Saponin triterpen: 62
3.6.2 Khảo sát hoạt tính chống oxy hóa của Saponin triterpen: 64
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, đóng góp ý
kiến của các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp
Nhân đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS TS Đặng Thị Thu –
Giảng viên Bộ môn Công nghệ vi sinh, Ths Nguyễn Chí Dũng – Trung tâm Công
nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội người đã có nhiều công sức tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận
văn
Tôi cũng xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu Trường
Đại học Bách Khoa Hà Nội, các thầy cô đang công tác và làm việc tại Viện Công
nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm, tập thể cán bộ Viện Đào tạo Sau đại học
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, các đồng nghiệp tại Trung tâm Công nghệ sinh
học và Công nghệ thực phẩm Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho tôi trong
suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn cổ vũ, động viên và giúp
đỡ tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn về mọi sự giúp đỡ!
Hà Nội, ngày 27 tháng 3 năm 2012
Học viên
Phạm Thị Thu Hiền
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu mà bản thân tôi đã trực tiếp thực
hiện Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 27 tháng 03 năm 2012
Học viên
Phạm Thị Thu Hiền
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DPPH 1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl
P aeruginosa Pseudomonas aeruginosa
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tên gọi của rau má 3
Bảng 1.2: Thành phần các Saponin triterpen trong rau má Tây Phi 7
Bảng 1.3: Thành phần hóa học các hợp chất có trong rau má Việt Nam 7
Bảng 1.4: Thành phần các hợp chất hưu cơ có trong rau má Ấn Độ 8
Bảng 1.5: Công thức cầu tạo của các hợp chất Saponin triterpen trong rau má 21
Bảng 1.6: Một số công trình nghiên cứu khả năng chữa bệnh của rau má của các quốc gia trên thế giới 25
Bảng 1.7: Thành phần cao rau má trong các loại thuốc đông y 27
chữa bệnh 27
Bảng 3.1: Các thành phần chính của rau má Tây Phi 39
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của nồng độ than hoạt tính đến khả năng tẩy màu 48
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của nồng độ dịch đến quá trình tảy màu 49
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của nồng độ dịch đến quá trình tảy màu 49
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của nồng độ silicagel đến quá trình tảy màu và dịch 50
Bảng 3.6: Kết quả tảy màu sử dụng than hoạt tính và silicagel 51
Bảng 3.7: Thành phần các Saponin triterpen trong cao rau má 53
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của chất độn đến chất lượng cảm quan sản phẩm sấy phun 55
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của nhiệt độ không khí đầu vào đến hiệu suất thu hồi và giá trị cảm quan của sản phẩm 56
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của áp suất khí nén đến hiệu suất thu hồi và chất lượng sản phẩm 59
Trang 11Bảng 3.12 Thông kê thông số kỹ thuật cho quá trình sấy phun saponin triterpen 60 Bảng 3.13: Khả năng kháng vi khuẩn của Saponin triterpen 62 Bảng 3.14: Kết quả xác định khả năng ức chế gốc tự do 64
Trang 12DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Thân và rễ cây rau má 5
Hình 1.2: Hoa cây rau má 6
Hình 1.3: Cấu tạo chung của Saponin 11
Hình 1.4: Khung Olean 16
Hình 1.5: Khung Ursan 17
Hình 1.6: Khung Lupan 18
Hình 1.7: Khung Hopan 18
Hình 1.8: Khung Dammaran 19
Hình 1.9: Khung Lanostan 20
Hình 1.10: Khung Cucurbitan 20
Hình 1.11: Một số sản phẩm từ rau má: 28
Hình 1.12: Một số sản phẩm thực phẩm sản xuất từ rau má 29
Hình 3.1: Hàm lượng Saponin triterpen trong một số loại rau má 36
Hình 3.2: Hàm lượng Saponin triterpen trong rau má Tây Phi ở các địa phương 37
Hình 3.3: Hàm lượng Saponin trong rau má theo thời vụ 38
Hình 3.4: Hàm lượng Saponin triterpen trong các bộ phận của cây rau má 39
Hình 3.5: Hàm lượng Saponin triterpen chiết bằng ethanol và nước 41
Hình 3.6: Hàm lượng Saponin triterpen toàn phần 42
Hình 3.7: Kết quả định tính Saponin triterpen bằng phương pháp tạo bọt 43
Hình 3.8: Hàm lượng Saponin triterpen trong cao n-butanol 44
Trang 13Hình 3.9: Hàm lượng Saponin triterpen sau khi tinh sạch bằng chlorofom 45
Hình 3.10: Kết quả tinh sạch Saponin triterpen bằng phương pháp hệ dung môi và phương pháp kết tinh 46
Hình 3.11: Sắc ký đồ của Saponin triterpen toàn phần 47
Hình 3.12 : Mẫu được tẩy màu bằng hỗn hợp silicagel và than hoạt tính 51
Hình 3.13: Kết quả phân tích HPLC cho mẫu nghiên cứu 53
Hình 3.14: Kết quả phân tích HPLC – mẫu chuẩn 53
Hình 3.15 : Quy trình công nghệ trên quy mô phòng thí nghiệm 61
Hình 3.16: Kết quả kiểm tra tính kháng khuẩn của sản phẩm Saponin triterpen 63
Hình 3.17: Hoạt tính chống oxy hóa của Saponin triterpen 65
Trang 14MỞ ĐẦU
Rau má thuộc họ hoa tán (Apiaceae), có tên khoa học là centella asiatica, có
nguồn gốc ở các vùng nhiệt đới Srilanca, Indonesia, Iran, Ấn Độ và một phần vùng Đông Nam Á Rau má chứa khá nhiều chất có hoạt tính sinh học như Saponin (asiaticosid, axit asiatic, madicassosid, axit madecassic), các phytosterol, tinh dầu (vallerin, camphor, cineol), các khoáng chất (Ca, Fe, Mg, P, Zn…), các loại vitamin (B1, B2, B3, C và K), amino axit (glutamic, serin, threonin, alanin, lysin, histidin), tanin và alkaloid
Rau má trong lịch sử đã được sử dụng như một loài thảo dược quý, từ nhiều thế
kỷ trước rau má đã được sử dụng làm thuốc ở các nước như Ấn độ, Trung Quốc, Việt Nam… Rau má còn được người Trung Quốc cổ xưa coi là một phương thuốc diệu kỳ
“trường sinh bất lão” Ở các nước Đông Nam Á rau má được sử dụng như là một phương thuốc cải thiện thanh quản, cải thiện hệ trao đổi chất và chữa các bệnh về đường hô hấp như, hen, suyễn, lao phổi; đuờng tiết niệu, làm lành vết thương, vết bỏng nhanh chóng, bệnh nhiễm khuẩn vết thương, ung nhọt… Lợi ích đó có được là nhờ hợp chất triterpene saponin trong rau má (trong đó có 03 thành phần chính là asiaticoside, axit madecassic và axit asiatic chiếm khoảng 1- 4%
Trên cơ sở những nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước cho thấy hợp chất triterpen trong rau má rất được quan tâm, đặc biệt là ở các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản… Các hợp chất của triterpene được ứng dụng trong các sản phẩm y, dược, thực phẩm, mỹ phẩm, nông nghiệp Các nước này không chỉ nghiên cứu chiết xuất ra các hợp chất triterpen hỗn hợp trong rau má mà còn đi sâu nghiên cứu các thành phần trong hợp chất triterpene như asiatic, madecassic và asiaticoside để ứng dụng trong các lĩnh vực khác Ở Việt Nam việc nghiên cứu vấn đề này đang được bắt đầu Xuất phát từ
mối quan tâm này chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu chiết, tinh sạch thu chế phẩm Saponin triterpen từ rau má và khảo sát một số hoạt tính sinh học”
Để thực hiện đề tài chúng tôi tiến hành nghiên cứu một số nội dụng sau:
Trang 15- Nghiên cứu lựa chọn nguyên liệu rau má chứa Saponin triterpen
- Nghiên cứu các hệ dung môi tách chiết hợp chất Saponin triterpen
- Nghiên cứu phương pháp tinh sạch Saponin triterpen
- Khảo sát một số hoạt tính sinh học Saponin triterpen
Trang 16CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ RAU MÁ:
1.1.1 Tên gọi và phân loại
Rau má là một loài cây một năm thân thảo trong họ Hoa tán Rau má hay còn được gọi là Tích tuyết thảo hoặc lôi công thảo Trên thế giới có khoảng 33 loài rau má,
nhưng ở Việt Nam chỉ có một loài là Centella asiatica
Tên khoa học: Centella asiatica
Hydrocotyle asiatica L, Trisanthus
Bảng 1.1: Tên gọi của rau má
Trang 17- Phân loại theo vùng: có 2 loại
+ Rau má vùng đồi: Lá nhỏ, thân nhỏ cứng bò sát mặt đất
+ Rau má vùng đồng bằng: Lá to, thân to
- Phân loại theo đặc điểm thực vật: có 03 loại
+ Rau má cọng tím: Thân tím, phiến là hình răng cưa
+ Rau má mèo: Cây thấp, lá nhỏ bò sát mặt đất
+ Rau má mỡ: Thân to, lá to xanh mướt và cây cao
- Phân loại theo nguồn gốc: có 02 loại
+ Rau má ta: Có nguồn gốc ở Việt Nam từ rất lâu đời: lá nhỏ, thân bò sát mặt đất
+ Rau má tây phi: Có nguồn gốc từ Tây Phi, do nước ta mới nhập về: lá to xanh mướt, cuống lá dài, thân to mượt, mịn và trơn, thường nhiều thân ít lá [2]
1.1.2 Đặc điểm hình thái
Rau má là loài cây rất quen thuộc ở Việt Nam, mọc tự nhiên khắp nơi, từ vùng hải đảo, ven biển đến vùng núi, ở độ cao dưới 1800m Loài cây này ưa ẩm, hơi chịu bóng, thường mọc thành đám ở vườn, bờ đê nương rẫy, bờ ruộng, ven rừng Vào mùa mưa ẩm, rau má sinh trưởng rất mạnh, nhanh và khỏe Cây ra hoa quả nhiều vào cuối mùa hè đầu mùa thu, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt Do có khả năng đẻ nhánh khỏe, cây thường tạo thành từng đám dày đặc
Trang 18a Thân
Thân cây rau má gầy và nhẵn, là loại
thân bò lan, màu xanh lục hay lục ánh
đỏ, có rễ ở các mấu Nó có các lá hình
thận, màu xanh với cuống dài và phần
đỉnh lá tròn, kết cấu trơn nhắn với các
gân lá dưới dạng chân vịt Lá có cuống
dài mọc từ gốc hoặc từ các mấu Lá hơi
tròn, có mép khía tai bèo Phiến lá có
gân dạng lưới hình chân vịt Các lá mọc
ra từ cuống dài khoảng 5 – 20cm
Hình 1.1: Thân và rễ cây rau má
b Hoa
Hoa rau má có màu từ ánh hồng tới đỏ, mọc thành các tán nhỏ, tròn gần mặt đất Mỗi hoa được bao phủ một phần trong hai lá bắc mầu xanh Các hoa lưỡng tính này khá nhỏ (nhỏ hơn 3mm), với thùy tràng hoa Hoa có 5 nhị và 2 vòi nhụy Quả có hình mắt lưới dày đặc, đây là điểm phân biệt nó với các loài trong chi Hydrocotyle có quả với bề mặt trơn, sọc hay giống như mụn cơm
Trang 19c.Rễ
Bộ rễ bao gồm các thân rễ, mọc thẳng đứng Chúng có màu trắng kem và được che phủ bằng các lông tơ ở rễ [2]
1.1.3 Phương pháp thu hoạch
Rau má sau khi trồng được 30 – 35 ngày thu hoạch lứa đầu tiên nhưng năng suất chưa cao vì cây chưa bò dày Năng suất cao từ lần thu hoạch thứ 2, thứ 3
Có hai cách thu hoạch rau má:
Cách thứ nhất: Dùng dao hay liềm sắc cắt ngang cuống lá để lại phần thân (vì thân bò sẽ phân cành và ra lá mới sau khi các mắt đốt có rễ) Thu hoạch rau má theo cách này chỉ dùng rau má với mục đích làm nước giải khát
Cách thứ hai: Thu hoạch hết cả rễ, thân, lá rau má còn gọi là thu hoạch kiểu cuốn chiếu - nghĩa là thu hoạch đến đâu hết đến đó; vì rau má thường mọc lan theo những bụi rất lớn, có thể lan rộng và đan xen giữa bụi này và bụi kia Thu hoạch theo cách này thường để dùng làm thuốc, cây càng già càng tốt [11]
1.1.4 Thành phần hóa học của rau má
Về thành phần hóa học, rau má chứa khá nhiều hợp chấp có hoạt tính sinh học như các saponin triterpen, các phytosterol, tinh dầu (vallerrin, camphor, cineol), các khoáng chất (Ca, Fe, Mg, Mn, P, Zn…), các loại Vitamin (B1, B2, B3, C và K), amino
Hình 1.2: Hoa cây rau má
Trang 20axit cần thiết (glutamic, serin, threonin, alanin, lysin, histidin), tanin và alkaloid có tên
là hydrocotylin [3]
Theo kết quả nghiên cứu của Jacinda T.James và cộng sự năm 2008 thành phần các Saponin triterpen trong rau má Tây Phi như sau: [23]
Bảng 1.2: Thành phần các Saponin triterpen trong rau má Tây Phi
Mẫu Asiatic acid Madecassic
Trang 21Bảng 1.4: Thành phần các hợp chất hưu cơ có trong rau má Ấn Độ
Trang 221.1.5 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
1.1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Centella asiatica được sử dụng đầu tiên vào năm 1700 sau công nguyên
(Madaus, 1938) Có thể nó đã được sử dụng làm thuốc chữa bệnh từ thời tiền sử (Kartnig, 1988) và được dùng như phương thuốc cho thời kỳ sinh nở với tên gọi là
“manduk – parni” (Madaus, 1938) Khoảng 500 năm sau công nguyên, Centella
asiatica đã được ghi lại bằng mật hiệu trong y học Sanskrit của người Ấn Độ Rau má
cũng có tên trong phương thuốc chữa bệnh của người Java, quốc đảo Indonesia, Madagascar và Trung Quốc (Kan, 1986)
Năm 1887, rau má được sử dụng làm thuốc chữa bệnh hủi (Wolfram, 1965) Năm 1940, Bontemp đã chiết tách và tinh sạch được asiaticosid có trong rau má, chứng minh được dược lý quan trọng và khả năng chữa bệnh của rau má là từ chất này; tiếp theo là hàng loạt các nghiên cứu vào năm 1945 (Kartning, 1986) và nhóm nghiên cứu Polonsky đã lần lượt tìm ra được cấu trúc phân tử của các hợp chất triterpenoids trong rau má vào năm 1953-1959 (steingger and Hansel, 1992)
Ngày nay, các hợp chất triterpen được chiết từ rau má đã xuất hiện nhiều trong các dược phẩm của nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, ở các nước châu Âu thường đưa vào dưới dạng kết hợp cùng nhiều hợp chất khác, thường các hợp chất triterpen chiếm tỉ lệ từ 2-4 %; nhưng ở các nước Đông Á con người sử dụng ở dạng tươi hoặc được sấy khô rồi chiết thành dạng cao hoặc chế thành kem bôi
1.1.5.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tính chất, công dụng của rau má đối với sức khoẻ của con người Ở Việt Nam từ thập kỷ 70, trường Đại học Dược đã nghiên cứu chiết suất hỗn hợp triterpen từ rau má và bào chế một số sản phẩm có chứa cao rau
má để làm thuốc chống viêm, chống loét; Giáo sư y học nổi tiếng Việt Nam Tôn Thất Tùng đã sử dụng chế phẩm này để điều trị cho các bệnh nhân mắc bệnh lao
Năm 1982 GS Đặng Hồng Vân (Đại học Dược Hà Nội) đã có những nghiên cứu
về hàm lượng saponin triterpen có trong rau má giữa miền Bắc và miền Nam
Trang 23Năm 1990, nghiên cứu của dược sỹ Trần Việt Hưng về rau má và căn bệnh ung thư
Năm 2007, đề tài nghiên cứu của nhóm tác giả thuộc Khoa Sinh, Đại học Đà Lạt
về công dụng của rau má “Nghiên cứu giải độc lá ngón bằng rau má”
Năm 2008, đề tài nghiên cứu của Thạc sỹ Đỗ Thị Thanh Huyền và cộng sự thuộc
Viện Công nghiệp thực phẩm là “nghiên cứu công nghệ sản xuất một số thực phẩm
chức năng và chế phẩm saponin từ cây rau má phục vụ cho công nghiệp dược phẩm”
Năm 2010, nghiên cứu của Thạc sỹ Nguyễn Chí Dũng và cộng sự thuộc Trung tâm CNSH & CNTP Hà Nội về nghiên cứu quy trình tách chiết và sản xuất viên nang chức năng từ hợp chất Saponin trong rau má
Ngoài ra những ứng dụng của rau má chỉ được nghiên cứu và ứng dụng ở Việt nam chủ yếu dưới dạng cao rau má (dược Hậu Giang)
Thực tế trên cho thấy ở Việt Nam hiện nay mới bắt đầu có những nghiên cứu đi sâu vào việc tách chiết các hợp chất triterpen từ rau má, hợp chất có lợi cho việc cải thiện sức khoẻ cũng như ngăn ngừa bệnh lây nhiễm cho bệnh nhân trong thời gian hồi sức Cũng qua tìm hiểu trên thị trường công nghệ và sản phẩm của Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, các nước Đông Âu, cho thấy với điều kiện của Việt Nam hiện nay, chúng ta chỉ có thể nghiên cứu tách chiết các hợp chất triterpen từ rau má dưới dạng hỗn hợp các hợp chất triterpen Những điều tra về thị trường công nghệ và sản phẩm cho thấy với những nghiên cứu về rau má và hợp chất triterpen trong rau má công nghệ tuy đơn giản nhưng khi đi sâu vào việc tinh chế, làm sạch tạo ra được một sản phẩm được thị trường chấp nhận là một vấn đề không đơn giản, cần có sự nghiên cứu chi tiết và sâu sắc hơn
1.2 HỢP CHẤT SAPONIN TRITERPEN
1.2.1 Khái niệm và cấu tạo của Saponin H
Khái niệm: Saponin là một glycoside tự nhiên thường gặp trong nhiều loài thực
vật và có trong một số động vật như hải sâm, cá sao Theo tiếng Latinh “sapo” có nghĩa
Trang 24là xà phòng và thực tế thường gặp là từ “saponification” có nghĩa là sự xà phòng hóa trong cả tiếng Anh và tiếng Pháp
Cấu tạo: Saponin được cấu tạo từ sapogenin và phần đường Phần đường có thể
gồm một hay một số phân tử monose (thường là D-Glucoza, D-Galactoza, L-Arabioza, L-Rammoza) thông qua liên kết glucosid [ 7, 8]
Hình 1.3: Cấu tạo chung của Saponin
Trang 25Đa số các hoạt chất saponin có liên quan đến vị đắng, dễ gây kích ứng niêm mạc Tan trong nước, trong ethanol, methanol loãng, rất ít tan trong aceton, hexan Các saponin đều là chất hoạt quang, điểm nóng chảy của các saponin thường rất cao (khoảng 2000C)
Tính tan là nhân tố quan trọng đối với hoạt tính sinh học và quá trình tách chiết của saponin Tính tan phụ thuộc vào cấu trúc của monose của saponin và tỷ lệ thành phần, nồng độ của bidesmosit saponin Dạng monodesmosid bản thân ít tan trong nước (dạng tinh chế) và có thể được tách chiết dễ hơn do tác động lên tính tan của các hoạt chất đi kèm Ngoài ra, tính tan của saponin cũng bị ảnh hưởng bởi đặc tính của dung môi chiết tách, nhiệt độ, pH, nước Ví dụ: với nồng độ ethanol từ 30%-100%, tính tan của soyasaponin Bb đạt giá trị cực đại (tại ethanol 60%)
Các Saponin triterpenoid khi tác dụng với antimoin triclorua trong dung dịch chloroform phát huỳnh quang màu xanh dưới tia UV
Trong quá trình chế biến, cấu trúc phức tạp của saponin có thể có sự biến đổi hóa học, nó thậm chí còn có thể biến đổi một số đặc tính Do dưới tác dụng của nhiệt
độ kiên kết glycosid bị đứt tạo thành các aglycone và glycone, các mạch đường oligo hay đường đơn tùy thuộc vào phương pháp thủy phân hay điều kiện thủy phân
Dưới tác dụng của enzim có trong thực vật hay vi khuẩn hoặc do axit loãng, Saponin bị thủy phân tạo thành genin (sapogenin) và phần đường gồm một hoặc nhiều phân tử đường…Phần genin có thể có cấu trúc cholan như sapogenin steroid hoặc sapogenin triterpenoid dạng β-amirin (acid olenoic), dạng α-amirin (acid asiatic), dạng lupol (acid buletinie) hoặc triterpen bốn vòng
Saponin có loại axit, kiềm hoặc trung tính Trong đó, triterpen saponin thường trung tính hoặc axit Steroid saponin nhóm spirostan furostan thuộc loại trung tính, còn nhóm glicoancaloid thuộc loại kiềm [ 9]
1.2.3 Hoạt tính sinh học
Ban đầu người ta sử dụng dịch chiết thô từ các cây có saponin để đánh giá hoạt
Trang 26phát hiện chính xác hoạt tính sinh học có liên quan đến những cấu trúc cụ thể của saponin
Saponin có khả năng làm căng, trương, vỡ hồng cầu gây ra hiện tượng giải phóng hemoglobin là một trong những đặc điểm quan trọng nhất được phát hiện từ saponin
Saponin có độc tính với côn trùng, giun ký sinh, động vật thân mềm, kháng nấm, virus và vi khuẩn Độc tính của saponin với động vật máu nóng phục thuộc và nguồn, thành phần, nồng độ của hỗn hợp saponin Độc tính saponin dường như thể hiện mạnh đối với đường tĩnh mạch và yếu hơn nhiều khi qua con đường tiêu hóa Điều này được cho rằng do khả năng cơ thể hấp thu saponin kém và hoạt tính phân hủy hồng cầu thấp khi có mặt trong thành phần huyết tương
Saponin có khả năng làm giảm nồng độ cholesterol, triterpen và các steroid saponin có tác dụng chống ung thư [ 7, 8]
1.2.4 Phân loại Saponin
Về mặt phân loại, dựa theo cấu trúc của aglycone có thể chia Saponin thành 02 loại: Saponin triterpenoid và Saponin steroid
Trang 27vòng là hydropyran (vòng F) Hai vòng này nối với nhau bởi 01 carbon chung ở C-22 Mạch nhánh này được gọi là mạch nhánh spiroacetal
Ba chất trên là 3 đồng phân Smilagenin và tigogenin khác nhau do cấu hình ở C-5 Còn sarsasapogenin và smilagenin thì khác nhau do cấu hình ở C-25 Sarsasapogenin có nhóm methyl ở C-25 hướng axial có cấu hình tuyệt đối 25S, smilagenin thì nhóm methyl ở C-25 hướng equatorial có cấu hình tuyệt đối 25R
Các sapogenin nhóm này có nối vòng C và D trans (khác với glycosid tim) Còn vòng A và B có thể là cis như ở chất sarsasapogenin và smilagenin hoặc có thể là trans như ở chất tigogenin Công thức lập thể của 3 chất sarsasapogenin Smilagenin và tigogenin
Nhóm spirostan hiện nay được chú ý nhiều vì là nguồn nguyên liệu quan trọng
để bán tổng hợp các thuốc steroid Hai sapogenin quan trọng nhất là diosgenin (có chủ yếu trong các loài Dioscorea) và hecogenin (có chủ yếu trong các loài Agave)
Ở dạng glycosid phần đường được nối vào OH ở C-3, một số ít trường hợp ở C1 Mạch đường thường phân nhánh và phức tạp Ví dụ digitonin là một saponosid có trong cây digital, có mạch đường gồm 5 đơn vị đường và phân nhánh:
b Nhóm furostan: Nhóm này có cấu trúc tương tự như nhóm spirostan chỉ khác
là vòng F bị biến đổi Trường hợp thứ nhất: vòng F mở và nhóm alcol bậc một ở C-26 được nối với đường glucose Nếu glucose ở C-26 bị cắt (bởi enzym hoặc bởi acid) thì xảy ra sự đóng vòng F thành vòng hydropyran và chuyển thành dẫn chất nhóm spirostan Ví dụ sarsaparillosid dưới tác dụng của enzym thủy phân cắt mạch glucose ở C-26 sẽ chuyển thành parillin
Trường hợp thứ hai: vòng F là vòng 5 cạnh do sự đóng vòng 22-25 epoxy ví dụ avenacosid có trong yến mạch (Avena L Họ Lúa - Poaceae) Avenacosid A cũng có 2 mạch đường Khi thủy phân cắt đường glucose ở C-26 thì cũng chuyển thành dẫn chất nhóm spirostan
Sarsaparillosid và avenacosid A đều có 2 mạch đường Người ta gọi đây là các
Trang 28c Nhóm aminofurostan: Ở đây vòng F mở như trường hợp sarsaparillosid nói
ở trên nhưng ở vị trí C-3 đính nhóm NH2 Ví dụ jurubin, là saponin có trong Solanum paniculatum
d Nhóm spirosolan: Nhóm này chỉ khác nhóm spirostan ở nguyên tử oxy của
vòng F được thay bằng NH Một điểm cần chú ý là ở đây có isomer ở C-22 (khác với nhóm spirostan) Ví dụ solasonin có trong cây cà Úc (= cà lá xẻ ) Solanum laciniatum
có cấu trúc (25R) 22a còn tomatin là các saponin có trong cây cà chua thì có cấu trúc (25S) 22b
e Nhóm solanidan: Solanin có trong mầm khoai tây thuộc nhóm này Ở đây 2
vòng E và F cùng chung 1C và 1N
Những chất thuộc 3 nhóm aminofurostan, spirosolan và solanidan đều có chứa N vừa mang tính alcaloid vừa mang tính glycosid nên được gọi là những chất glycoalcaloid
Ngoài những nhóm saponin steroid kể trên người ta còn gặp một số saponin steroid có cấu trúc mạch nhánh khác ví dụ polypodosaponin và oslandin được Jizba phân lập 1971 từ thân rễ cây Polypodium vulgare L Oslandin là một bidesmosid có vị ngọt a-spinasterol glycosid có trong cây chè Camelia sinensis (L.) O K.tze (Thea
sinensis L.) [8, 10]
1.4 SAPONIN TRITERPEN
1.4.1 Cấu tạo và phân loại
Các saponin triterpenoid là các glycoside mà phần sapogenin có cấu trúc triterpen với 30 nguyên tử cacbon Chúng rất khác nhau về cấu trúc hóa học và được chia thành hai loại dựa vào số lượng vòng hydrocacbon Đó là các saponin triterpenoid pentacyclic và các saponin triterpenoid tetracyclic
Các saponin triterpenoid khi dehydrogen hóa với selen thì cho hỗn hợp các dẫn xuất naphatalen và phenanthren, chủ yếu là sapotalen (1,2,7 trimethyl naphtalen)
Ở thực vật, các nhóm saponin triterpenoid được sinh tổng hợp trên nguyên tắc vòng qualen Người ta tìm thấy chúng trong khoảng 70 họ thực vật, phần lớn là loài hai
Trang 29lá mầm và chúng tồn tại ở dạng hòa tan trong dịch tế bào Tỉ lệ các saponin triterpenoid
trong thực vật rất cao Ví dụ: rễ cam thảo có từ 2 – 12%, hạt Aescullus hippocastanum
có 13%, ngoài ra còn có nhiều ở vỏ cây Quillaia và nhân sâm
1.4.1.1 Saponin triterpenoid pentacyclic
Phần aglycone của nhóm này có cấu trúc gồm 5 vòng và phân thành các nhóm nhỏ olean, ursan, lupan, hopan
a - Nhóm olean (I) : Phần lớn các saponin triterpenoid trong tự nhiên đều thuộc
nhóm này Phần aglycon thường có 5 vòng và là dẫn chất của 3-β hydroxy olean ene, tức là β-amyrin Một vài aglycon làm ví dụ (công thức A):
12 Acid oleanolic: R1 = R2 = R4 = R5 = 12 CH3, R3 = 12 COOH
Mạch đường có thể nối vào C-3 theo dây nối acetal, có khi mạch đường nối vào C-28 theo dây nối ester Gần đây người ta phân lập được các saponin có đến 10-11 đơn
vị đường nếu kể cả 2 mạch, riêng một mạch có thể đến 6 đơn vị đường
2
1 0
7 8
Trang 30Các sapogenin nhóm ursan thường là những dẫn chất của 3-β hydroxy ursan 12-ene, tức là α-amyrin Những saponin của nhóm này ít gặp hơn nhóm olean Cinchona glycosid A, Cinchona glycosid B có trong cây canh-ki-na, asiaticosid, madecassoside
có trong rau má là những saponin của nhóm này
Hình 1.5: Khung Ursan VD: Asiaticosid (trong rau má)
c - Nhóm lupan (III): Cấu trúc của nhóm lupan có các vòng A,B,C,D giống như
các nhóm trên, chỉ khác vòng E là vòng 5 cạnh, C-20 ở ngoài vòng và thường có nối đôi ở vị trí 20-29 Lấy một ví dụ là saponin có trong rễ cây Ô rô Acanthus iliciformis Linn.: [α-L - arabinofuranosyl (1-4) β-D glucoropyranosid (1-3)]-3-β-hydroxy-lup-20(29) ene (IIIa) Một số saponin có trong cây ngũ gia bì chân chim cũng thuộc nhóm này
Trang 31d - Nhóm hopan (IV): Cấu trúc của nhóm hopan có các vòng A,B,C,D giống
như các nhóm trên, chỉ khác vòng E là vòng 5 cạnh, C-22 ở ngoài vòng và nhóm methyl góc đính ở C-18 thay vì ở C-17 Saponin đầu tiên được biết là chất mollugocin
A có trong cỏ thảm Mollugo hirta L
1.4.1.2 Saponin triterpenoid tetracyclic
Phần aglycone có cấu trúc 4 vòng và phân thành 3 nhóm chính: dammaran, lanostan, cucurbitan
Trang 32a - Nhóm dammaran (V): Ðại diện là các saponin của nhân sâm Phần aglycon
gồm 4 vòng và một mạch nhánh Khi tác dụng với acid thì mạch nhánh đóng vòng tạo thành vòng tetrahydropyran Bằng các phương pháp đặc biệt để cắt phần đường, người
ta đã thu được các genin thật Hai genin chính là: protopanaxadiol và protopanaxatriol Phần đường nối vào OH ở cabon số 3 hoặc có khi thêm 1 mạch nữa nối vào OH
b - Nhóm lanostan (VI): Holothurin A, một trong những saponin có trong các
loài hải sâm - Holothuria spp là một ví dụ của nhóm này
Một nhóm phụ của nhóm lanostan là nhóm cycloartan có cấu trúc 9,19 cyclo (9b) lanostan Các saponin abrusosid A, B, C, D có trong cam thảo dây Abrus precatorius là những saponin thuộc nhóm này
Trang 3311
15 16
Hình 1.9: Khung Lanostan
c/ Nhóm cucurbitan (VII) Phần lớn các saponin nhóm cucurbitan gặp trong họ
Cucurbitaceae Ở đây nhóm CH3 góc thay vì ở vị trí C10 lại đính ở C9
9
Hình 1.10: Khung Cucurbitan 1.4.2 Tính chất lý hóa của Saponin triterpen
Nhóm Triterpen mang khá đầy đủ tính chất của nhóm Saponin như:
Trang 34Có vị đắng, dễ gây kích ứng niêm mạc, có tác dụng phá huyết và có khả năng tạo bọt nhiều và bền vững trogn môi trường acid
Tan tốt trong nước, trong ethanol, methanol loãng, rất ít tan trong aceton, hecxan Khi thủy phân các saponin (bằng dung dịch acid loãng và nóng bằng enzym) thì sẽ được các phần đường và phần aglycon hay genin
Phản ứng mầu Liebermann – Burchard: Saponin triterpen được hòa tan trong chlorofom và cho vào hỗn hợp dung dịch anhydrid acetic acid sulfuric thấy phản ứng đổi màu từ xanh da trời, lục, hồng đến đỏ
Phản ứng Rosenheim: Các saponin triterpen cho mầu tím, chuyển sang mầu xanh lơ sau 20 phút khi tác dụng với hỗn hợp chlorofom và acid tricloracetic [8, 10]
1.4.3 Cấu tạo của các hợp chất Triterpen có trong rau má:
Trong rau má các Saponin triterpen chiếm chủ yếu là: Asiaticoside, Madecassoside, Asiatic axit và Madecassic acid [8, 10]
Bảng 1.5: Công thức cầu tạo của các hợp chất Saponin triterpen trong rau má
Urs-12-en-28-oic acid, 2,3,23-trihydroxy-, alpha.-L-mannopyranosyl- (1.fwdarw.4)- O-.beta.-D-glucopy ranosyl-(1.fwdarw.6)- beta.-D-
O-6-deoxy-glucopyranosyl ester, (2.alpha., 3.beta.,4 alpha.)-
Công thức: C 48 H 78 O 19
Trọng lượng phân tử: 959.12
O-6-Deoxy-alpha-L- glucopyranosyl-(1.6)-beta-D- glucopyranosyl (2alpha,3beta,4alpha,6b eta)-2,3,6,23-tetrahydroxyurs-12-en-28- oate
mannopyranosyl-(1.4)-O-beta-D-Công thức: C 48 H 78 O 20
Trọng lượng phân tử: 975.12
Trang 35Asiatic acid Tên hóa học:
Urs-12-en-28-oic acid, , (2alpha,3beta,4alpha)- Công thức: C 30 H 48 O 5
2,3,23-trihydroxy-Trọng lượng phân tử: 488.70
8,10,11-trihydroxy-9- hexamethyl-
(hydroxymethyl)-1,2,6a,6b,9,12a- tetradecahydro-1H-picene-4a- carboxylic acid
2,3,4,5,6,6a,7,8,8a,10,11,12,13,14b-Công thức: C 30 H 48 O 6
Trọng lượng phân tử: 504.70
1.4.4 Hoạt tính sinh học của các hợp chất saponin triterpen
Cho đến nay trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm trên động vật và nghiên cứu in vitro về công dụng của Saponin triterpen trong rau má,
cụ thể như sau:
1.4.4.1 Khả năng sản sinh collagen:
Năm 1978, Poizot và Dumez đã nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp asiaticosides lên da, thử nghiệm được tiến hành trên chuột và thỏ; Kết quả cho thấy hỗn hợp asiaticosides góp phần làm mau liền vết thương
Theo nghiên cứu của các nhóm F.Bonte (1994, 1995), R.Tenni (1988) và FX Maquart (1990) từ các dịch chiết Saponin triterpen cho thấy có tác động mạnh mẽ lên việc duy trì làn da khỏe mạnh và ngăn chặn có hiệu quả hiện tượng lão hóa: Asiaticosid và madecassosid, cả hai triterpen này đều có khung ursenoic và đều có tính
Trang 36cả asiaticosid và madecassosid đều kích thích sự hình thành collagen I, trong khi đó một mình madecassosid chỉ giúp tiết ra loại Collagen III Maquart sử dụng công thức gồm 30% acid asiatic, 30% acid madecassic và 40% asiaticosid, kết quả nghiên cứu của ông và đồng nghiệp cho thấy cả 3 hoạt chất đều tạo ra gian bào (làm cho da đầy đặn và nõn nà, bóng bẩy), nhưng chỉ một mình axit asiatic có khả năng kích thích fibroblast tiết ra collagen (làm cho da có khả năng đàn hồi tốt, không thể xay ra hiện tượng gấp nếp và chảy nhão) [14, 27]
1.4.4.2 Khả năng kháng khuẩn, nấm và kháng virut:
Năm 1965, Tschesche và Wulff đã nghiên cứu khả năng kháng khuẩn, nấm của asiaticoside trên 07 loại vi sinh vật khác nhau: Kết quả cho thấy asiaticoside có khả
năng kháng Pseudomonas pyocyaneus và Trichoderma mentagrophytes ở nồng độ là 1000µg asiaticosid/ml canh trường
Năm 2009, M.Obayed Ullah và cộng sự đã thử nghiệm khả năng kháng khuẩn,
kháng nấm trên 16 chủng khác nhau bao gồm: Bacillus cereus, Bacillus megaterium,
Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa, Candida albicans, Aspergillus niger …
Kết quả cho thấy dịch chiết Saponin triterpen từ rau má đều có khả năng kháng 16 loài trên ở nồng độ từ 300 – 5000 µg/ml [23]
Năm 1989, Zheng và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của dịch chiết asiaticosid từ rau má lên HSV -2 (Herpes simplex virus) là loại vi rút gây viêm màng não, kết quả cho thấy asiaticosid có khả năng chống lại hoạt động của HSV-2 [24]
Theo Giáo sư, Dược sỹ Bửu Hội, Rakoto Ratsimamanga và Boiteau, Rau má chứa một glycoside gọi là asiaticosid với công thức C55H88O23 Chất glycoside này có tinh thể tan trong rượu, độ nóng chảy 230 – 2330C, có thể cho dẫn xuất tan trong nước
gọi là oxyasiaticoside có tác dụng điều trị được bệnh lao
1.4.5.3 Chống ung thư:
Nghiên cứu của Dalton và Ehrlich cũng đã ghi nhận phần các hợp chất Saponin triterpen của rau má diệt được các tế bào ung thư loại lymphoma, nhưng đã không xác định được chính xác loại terpenoid nào; trong khi đó hoạt tính diệt bào của các
Trang 37triterpenoids loại ursane như axit ursolic và oleanolic rất có thể giống cơ chế của các axit asiaticoside Các nghiên cứu “in vitro” về axit ursolic va oleanolic ghi nhận các axit này có khả năng ngăn chặn sự phát triển của một số dòng tế bào ung thư ở các
nồng độ từ 1 đến 20 microM (Anticancer Research số 16 – 1996 và Cancer letter số
10 – 1996) Mặt khác cả axit oleanolic và ursolic đều làm giảm sự sinh sản của tế bào
nội mạc ở nồng độ từ 5 đến 20 microM (Planta Medica số 64 – 1998) Do đó các
triterpenoid này rất có thể sẽ hữu dụng để trị ung thư bằng cách ngăn chặn tiến trình angiogenesis (tiến trình tăng trưởng của các mạch máu nhân tạo để nuôi dưỡng tế bào mới sinh) cần đến sự sinh sản của các tế bào nội mạc để tạo ra các mạch máu mới Các axit oleanolic và ursolic cũng có các tác động chống u bướu
Trong nghiên cứu về khả năng chống ung thư của rau má, kết quả ghi nhận là liều cho uống một dịch chiết rau má chứa lượng cao terpenoid 1g/kg trong 5 ngày, uống cách nhật, ức chế được sự tăng trưởng của bướu ung thư và kéo dài được thêm thời gian sống của chuột bị chích tế bào ung thư lymphoma vào cơ thể Sự ức chế rõ rệt hơn khi chuột được cho dùng dịch chiết Rau má trước khi bị chích tế bào ung thư
và cơ thể, kết quả không rõ rệt khi bắt đầu cho chuột dùng dịch chiết rau má 10 ngày sau khi bị chích tế bào ung thư Liều tương đương để áp dụng đối với người vào khoảng 4,8 g/ngày [12]
đã được chứng minh là sinh cốt giao (gelatin), đặc biệt là sinh sợi myosin và elastin là
2 chất cốt giao cơ bản trong việc tham gia cấu tạo da, cơ, xương, sinh hồng cầu, bổ
Trang 38máu, lọc máu, liền sẹo, chống nhăn và giải độc gan, chống xơ gan, tăng trí nhớ, an thần, chống stress… [12, 16]
1.4.5 Ứng dụng Saponin triterpen:
1.4.5.1 Ứng dụng trong y tế
Một số công trình nghiên cứu của thế giới trong những năm gần đây một phần nào đã cho thấy xu hướng sử dụng các sản phẩm từ thảo mộc trong việc bảo vệ, bồi bổ sức khoẻ đã được nghiên cứu từ rất lâu và Saponin triterpen trong rau má được sử dụng làm thuốc chữa khá nhiều, điều này được thể hiện rõ trong các công bố ở bảng 1.7, 1.8 [23, 26]
Bảng 1.6: Một số công trình nghiên cứu khả năng chữa bệnh của rau má của các
quốc gia trên thế giới
Tên bệnh Quốc gia Tác giả nghiên cứu
Viêm
cuống phổi
Ỉa chảy
Ấn Độ Fiji
Ấn Độ Philippin Thái Lan
Burkill (1966) Singh (1986) Saklani (1989) Velazco (1980) Anderson Bệnh lỵ Banglades
Ấn Độ Alam (1992) Burkill (1966), Saklani (1989), Rao (1982),
Pushpangadan (1984), Deka (1982), Boisya (1980)
Malaysia Ramaswamy (1970) Burkill (1966) Sốt Guam
Ấn Độ Nepal Thái Lan
Haddock (1974)
Shah (1971), Sahu (1984) Bhattarai (1989)
Mokkasmit (1971) Viêm dạ
Đài Loan Pushpangada (1984) Yanfg (1987), Lin (1990) Viêm Guam
Ấn Độ Thái Lan Tonga
Hackdock (1974) Rastoni (1960) Panthong (1986) Singh (1984)
Trang 39phong Ấn Độ
Madagascar Nepal
Singh (1980), Jain (1984), Sahu (1989), Ikram (1981), John (1984)
Voigtlander (1984) Suwal (1970) Bệnh bạch
Chopra (1949), Tiwari (1979), Rastogi (1960)
Singh (1986) Adesina (1982)
Nepal Nigeria Thái Lan
Ramaswamy (1970), Rastogi (1960), John (1984), Singh (1980), Shah (1971),
Sebastian (1984), Sahu (1989), Ikram (1981)
Suwal (1970) Adesina (1982) Wasuwar (1967), Mokkhasmit (1971ab) Giảm đau Nigeria
Papua New Guinea
Adesina (1982) Holsworth (19830
Nepal
Chopra (1949) Suwal (1970) Bệnh giang
mai Ấn Độ Nepal Chopra (1949), Ikram (1981) Suwal (1970)
Thuốc bổ Banglades
Trung Quốc
Ấn Độ
Malaysia Nepal Thái Lan
Alam (1992) Shishkin (1973) Chopra (1949), Sebastian (1984), Ikram (1981)
Burkill (1966) Suwal (1970) Anderson (1986), Mokkhasmit (1971) Lành vết
thương Fiji Ấn Độ
madagascar Malaysia Papua New Guinea
Ấn Độ
Singh (1986) Holdsworth (1983), Jain (1984) Voigtlander (1984)
Burkill (1966) Holdsworth (1983) Jain (1984), Sebastian (1984)
Trang 40Bảng 1.7: Thành phần cao rau má trong các loại thuốc đông y
chữa bệnh Tên bệnh Thành phần của cao rau má
100
100 16,6
má dưới dạng creame, lotion gel chống lão hóa, chống nhăn và dưỡng da Ngoài ra, người ta cũng đưa ra hoạt chất rau má vào các dạng mặt nạ chăm sóc mặt và toàn thân, vào các loại dầu massage, các loại xà bông, sữa tắm để điều trị chàm, mụn nhọt và một
số bệnh viêm da