1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Trích rút thực thể có tên và quan hệ thực thể trong văn bản tiếng việt

121 430 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bài toán được đặt ra trong trích rút thông tin từ dữ liệu văn bản là: trích rút thực thể có tên, trích rút các thuộc tính của thực thể, trích rút thông tin về thời gian và trích rút

Trang 1

-***** -

SAM CHANRATHANY

TRÍCH RÚT THỰC THỂ CÓ TÊN VÀ QUAN HỆ THỰC THỂ TRONG VĂN BẢN TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Hà Nội - 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

- -

SAM CHANRATHANY

TRÍCH RÚT THỰC THỂ CÓ TÊN VÀ QUAN HỆ THỰC THỂ TRONG VĂN BẢN TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Hệ thống Thông tin

Mã số : 62.48.05.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS.TS Nguyễn Thanh Thủy

2 PGS.TS Lê Thanh Hương

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận án được hoàn thành tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội Để hoàn thành luận án này, tác giả đã nhận được sự chỉ bảo tận tình, cùng những yêu cầu nghiêm khắc của GS TS Nguyễn Thanh Thủy, PGS.TS Lê Thanh Hương Thầy, Cô đã truyền đạt rất nhiều kiến thức quí báu cũng như những kinh nghiệm nghiên cứu khoa học trong suốt thời gian tác giả làm nghiên cứu sinh Lời đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Thầy và Cô

Tác giả xin chân thành gửi lời biết ơn đến: Ban lãnh đạo Viện Công nghệ thông tin và Truyền thông, Bộ môn Hệ thống Thông tin, Viện Đào tạo Sau đại học, Trung tâm Tính toán Hiệu năng cao, thuộc trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tác giả cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo ở Bộ môn Hệ thống Thông tin-Viện Công nghệ Thông tin và Truyền thông, trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã động viên và trao đổi kinh nghiệm để tác giả có thể hoàn thiện luận án

Tác giả cảm ơn TS Nguyễn Hữu Đức và các cán bộ các anh chị em ở Trung tâm Tính toán Hiệu năng cao, đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ và trao đổi học hỏi trong quá trình làm luận án

Sự quan tâm, mong mỏi của mọi thành viên trong gia đình là một trong động

cơ để tác giả nỗ lực học tập, nghiên cứu Luận án này như một món quà tinh thần, xin đáp lại những niềm quan tâm, mong mỏi đó

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân và bạn bè đã

ưu ái, giúp đỡ, động viên, khích lệ để tác giả hoàn thành luận án này

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả được viết chung với các tác giả khác đều được sự đồng ý của đồng tác giả trước khi đưa vào luận án Các kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Sam Chanrathany

Trang 5

MỤC LỤC

Trang bìa phụ i

Lời cảm ơn ii

Lời cam đoan iii

Mục lục v

Danh mục các chữ viết tắt x

Danh mục các bảng xi

Danh mục các hình xii

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU .1

1.1 Động cơ nghiên cứu của luận án 1

1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận án 5

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 5

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu 6

1.3 Đóng góp chính của luận án 7

1.4 Cấu trúc của luận án 8

1.5 Các thuật ngữ được sử dụng trong luận án 8

CHƯƠNG 2 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 10

2.1 Bài toán trích rút thông tin 10

2.2 Bài toán trích rút thực thể 12

2.2.1 Các đặc trưng được sử dụng trong bài toán NER 13

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước về bài toán NER sử dụng học máy 14

2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước về bài toán NER 17

2.3 Bài toán trích rút mối quan hệ giữa các thực thể (RE) 18

2.3.1 Các đặc trưng được sử dụng trong bài toán RE 18

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước về bài toán RE 19

2.3.3 Tình hình nghiên cứu trong nước về bài toán RE 23

Trang 6

2.4 Một số phương pháp học bán giám sát khác 25

2.5 Các phương pháp đánh giá kết quả trích rút 26

2.5.1 Cách đánh giá dựa trên độ trùng khớp 27

2.5.2 Cách đánh giá của MUC 28

2.6 Kết luận chương 2 28

CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG PHÁP HỌC MÁY DÙNG TRONG LUẬN ÁN 29

3.1 Mô hình trường ngẫu nhiên có điều kiện 29

3.1.1 Khái niệm mô hình trường ngẫu nhiên có điều kiện CRF 29

3.1.2 Huấn luyện CRF 31

3.1.3 Gán nhãn cho dữ liệu dạng chuỗi 33

3.2 Mô hình máy vectơ hỗ trợ 33

3.3 Mô hình Dirichlet ẩn 37

3.4 Các phương pháp học bán giám sát 40

3.4.1 Phương pháp lan truyền nhãn 40

3.4.2 Phương pháp bootstrapping 42

3.5 Kết luận chương 3 43

CHƯƠNG 4 TRÍCH RÚT THỰC THỂ TỪ VĂN BẢN TIẾNG VIỆT 45

4.1 Một số đặc điểm tiếng Việt ảnh hưởng đến việc trích rút thực thể 45

4.2 Trích rút thực thể sử dụng trường ngẫu nhiên có điều kiện 50

4.2.1 Mô hình học bán giám sát dựa trên kết hợp luật đồng tham chiếu về tên với CRF 50

4.2.2 Mô hình học bán giám sát sử dụng CRF theo dạng Bagging 56

4.3 Trích rút thực thể sử dụng phương pháp lan truyền nhãn 57

4.3.1 Phương pháp đo mức độ tương đồng giữa các từ 58

4.3.2 Điểm yếu của giải thuật lan truyền nhãn và cách cải tiến 61

4.4 Thử nghiệm và đánh giá 61

4.4.1 Tập dữ liệu và phương pháp thử nghiệm 61

4.4.2 Kết quả thực nghiệm 62

4.5 Kết luận chương 4 65

Trang 7

CHƯƠNG 5 TRÍCH RÚT MỐI QUAN HỆ TỪ VĂN BẢN TIẾNG VIỆT 67

5.1 Tính chất quan hệ giữa các thực thể trong văn bản tiếng Việt 67

5.2 Trích rút mối quan hệ dựa trên máy vectơ hỗ trợ SVM 69

5.2.1 Mô hình học có giám sát dựa trên phương pháp ngôn ngữ mức nông 70

5.2.2 Mô hình học bán giám sát dựa trên phương pháp ngôn ngữ mức nông theo kiểu Bagging Bootstrapping 73

5.3 Trích rút mối quan hệ dựa trên phương pháp lan truyền nhãn 74

5.3.1 Đo độ tương đồng giữa hai câu dựa trên phương pháp so trùng thuộc tính từ 75

5.3.2 Đo độ tương đồng giữa hai câu dựa trên phương pháp LDA 79

5.4 Thử nghiệm và đánh giá 80

5.4.1 Tập dữ liệu và phương pháp thử nghiệm 80

5.4.2 Kết quả thực nghiệm 82

5.5 Kết luận chương 5 84

CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN 86

6.1 Các kết quả đạt được……… 86

6.1.1 Kết quả về thuật giải……….86

6.1.2 Kết quả thử nghiệm……… 87

6.2 Hướng phát triển……… 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO………90

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ……… 99

PHỤ LỤC Phụ lục 1 TẬP D LIỆU……… 100

Phụ lục 2 GIAO DIỆN CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ GÁN NHÃN………… 109

Trang 8

DANH MỤC CH VIẾT TẮT

ACE Automatic Context Extraction

BIO Begin Inside Outside

CRFs Conditional Random Fields

CONLL Computational Natural Language Learning

EM Expectation Maximization

GLK Global Context Kernel

HMM Hidden Markov Model

IE Information Extraction

JSRE Java Simple Relation Extraction

MEMM Maximum Entropy Markov Model

LCK Local Context Kernel

LDA Latent Direchlet Alocattion

MUC Message Understanding Conference

NER Named Entity Regconition

Trang 9

RE Relaiton Extraction

SLK Shallow Linguistic Kernel

SVM Support Vector Machine

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Định dạng từ 13

Bảng 2.2 Đặc trưng từ điển 14

Bảng 2.3 Bảng so sánh nhãn của hệ thống so với nhãn được gán bằng tay, kèm theo mô tả lỗi tương ứng 27

Bảng 4.1 Định dạng về tên thực thể .45

Bảng 4.2 Nhóm luật nhận dạng thực thể (Nhóm luật 2 ) 47

Bảng 4.3 Kết quả thực nghiệm của hệ thống NER sử dụng phương pháp học

bán giám sát 63

Bảng 4.4 So sánh kết quả lần lặp thứ 9 của 3 phương pháp nói trên 63

Bảng 4.5 So sánh kết quả trích rút thực thể CRF có giám sát với lan truyền nhãn 64

Bảng 5.1 So sánh hệ thống RE có giám sát các hàm nhân ngữ cảnh tổng hợp 82

Bảng 5.2 So sánh kết quả hệ thống bán giám sát với hệ thống có giám sát 82

Bảng 5.3 So sánh kết quả khi chưa chuẩn hoá và sau khi chuẩn hoá ma trận 83

Bảng 5.4 So sánh kết quả phương pháp so trùng thuộc tính từ với LDA 83

Bảng 5.5 So sánh độ đo F của ba phương pháp lan truyền nhãn sử dụng so trùng thuộc tính từ, SVM, và SVM kết hợp Bootstrapping……….84

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Phạm vi nghiên cứu của luận án 6

Hình 2.1 Các thao tác chính của bài toán trích rút thông tin .11

Hình 2.2 Đồ thị phụ thuộc của ví dụ 2.4 19

Hình 3.1 Đồ thị vô hướng mô tả CRF 30

Hình 3.2 Siêu phẳng phân chia tập mẫu huấn luyện 34

Hình 3.3 Mô hình sinh LDA .38

Hình 3.4 Biểu diễn trực quan của phương pháp Bootstrapping 43

Hình 4.1 Câu trúc trong cây phân cấp ngữ nghĩa 60

Hình 5.1 Các mẫu kernel ngữ cảnh toàn cục của ví dụ 5.9 71

Hình 5.2 Các mẫu kernel ngữ cảnh cục bộ của ví dụ 5.9 73

Trang 12

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU

1.1 Động cơ nghiên cứu của luận án

Hiện nay, với sự phát triển của Internet và việc kết nối băng thông rộng, khả năng tiếp cận thông qua máy tính được kết nối Internet với khối lượng lớn các kho dữ liệu văn bản khắp nơi trên thế giới là rất lớn Tuy nhiên, chính khối lượng dữ liệu quá lớn có thể làm người dùng bị “chìm ngập” trong thông tin hoặc mất quá nhiều thời gian để có được thông tin mong muốn Vấn đề này được quan tâm giải quyết trong các hệ thống trích rút thông tin (Information Extraction – IE) theo miền ứng dụng nhằm trích rút thông tin từ các dữ liệu phi cấu trúc hoặc bán cấu trúc, chuyển thành dữ liệu có cấu trúc Trên cơ sở đó, ta có thể thực hiện các truy vấn đa dạng và phức tạp hơn với việc tìm kiếm theo từ khóa đơn thuần hiện có, hoặc xây dựng các ứng dụng như khai phá dữ liệu, hỏi đáp, mạng ngữ nghĩa, … Vấn đề trích rút thông tin đang được quan tâm nghiên cứu nhiều trên thế giới Mặc dù vậy, các kết quả đạt được vẫn còn hạn chế Các bài toán được đặt ra trong trích rút thông tin từ

dữ liệu văn bản là: trích rút thực thể có tên, trích rút các thuộc tính của thực thể, trích rút thông tin về thời gian và trích rút thông tin về mối quan hệ giữa các thực thể Trong thực

tế, các hệ thống trích rút thông tin thường được cài đặt cho một ứng dụng cụ thể Các ứng dụng khác nhau sẽ được giải quyết ở các khía cạnh và mức độ khác nhau Phần lớn các hệ thống trích rút thông tin hiện nay chỉ trích rút được các thông tin theo một khuôn dạng nhất định, như thời gian (dd/mm/yy), mã vùng, mã nước, v.v… Có rất nhiều dạng thực thể và thuộc tính mà các hệ thống IE chưa khai thác được

Quá trình trích rút thông tin bao gồm các bước chính là: (1) Tiền xử lý văn bản (2) nhận dạng thực thể (3) phân tích đồng tham chiếu (4) trích rút mối quan hệ giữa các thực thể và (5) xuất ra theo khuôn dạng định nghĩa trước (có thể là cơ sở dữ liệu hoặc ontology) Tiền xử lý là bước phân tách câu, phân tách từ, gán nhãn từ loại … cho văn bản hoặc tập văn bản đầu vào Thực thể được quan tâm ở đây là những đối tượng được tham chiếu qua

tên gọi như tên người, tên tổ chức, tên địa điểm, hoặc các đối tượng khác được tham chiếu

theo tên riêng [21] Khái niệm thực thể có thể mở rộng, kèm theo cả thời gian và số lượng

Trang 13

Nhiệm vụ của công việc nhận dạng thực thể là định vị và phân lớp các từ và cụm từ được trích rút thành các lớp thực thể

Bước phân tích đồng tham chiếu nhằm giải quyết các tham chiếu trùng nhau thông qua các đại từ và các thực thể cần trích rút

Trích rút mối quan hệ giữa các thực thể có tên là việc xác định mối quan hệ giữa các

thực thể trong văn bản Ví dụ, câu “Ông Kiên làm việc ở trường ĐHBKHN” có hai thực thể thuộc kiểu tên người là “Kiên” và thuộc kiểu tên tổ chức là “trường ĐHBKHN” Trong câu này tồn tại một quan hệ làm việc cho (tên người – tên tổ chức) giữa thực thể này

Bài toán trích rút mối quan hệ giữa các thực thể khác với bài toán trích rút thực thể ở chỗ trích rút thực thể là bài toán quan tâm đến các chuỗi từ, tức là tìm và phân lớp chuỗi từ hoặc, nói cách khác, gán nhãn cho các chuỗi từ, trong khi đó bài toán trích rút mối quan hệ giữa các thực thể lại không gán nhãn cho dãy từ, mà quan tâm đến xác định mối quan hệ giữa các thực thể

Trong hơn một thập niên qua đã có nhiều nghiên cứu về trích rút thực thể [17, 25, 28, 58] và trích rút mối quan hệ giữa các thực thể [15, 16, 86, 101, 102] Phần lớn các nghiên cứu được chia thành hai hướng: đó là tiếp cận dựa trên học luật thủ công và tiếp cận học máy Chẳng hạn, đối với bài toán trích rút thực thể, dữ liệu đầu vào (văn bản thông thường hoặc hoặc văn bản trên trang web) được tách thành các từ hoặc cụm từ, sau đó dựa vào các dấu hiệu đặc biệt để xác định các từ hay cụm từ là thực thể Các dấu hiệu xác định thực thể

có thể được xây dựng một cách thủ công hoặc một cách tự động, dựa trên các kỹ thuật học máy Việc xây dựng luật xác định giá trị thuộc tính của thực thể một cách thủ công dựa trên các đặc điểm của thực thể cần trích rút Ví dụ, một địa chỉ ở trong tiếng Việt thường

chứa các xâu ký tự như phố, đường, ngách, hẻm,…Vì vậy, các từ khóa này có thể sử dụng

để xác định thông tin về địa chỉ

Do luật được xây dựng dựa trên việc quan sát dữ liệu nên thường có độ chính xác cao Tuy nhiên, cách tiếp cận này không xử lý được các trường hợp chưa được nhắc đến trong tập luật Hơn nữa, với các trường dữ liệu không có khuôn dạng nhất định như lĩnh vực nghiên cứu thì cách tiếp cận này không khả thi Ở Việt Nam đã có một số công ty xây dựng hệ thống trích rút thông tin theo cách tiếp cận này Dữ liệu sau khi trích rút được lưu trong CSDL và giao diện người dùng là giao diện truy vấn CSDL thông thường

Trong khi đó, các kĩ thuật học máy thường sử dụng một tập các dữ liệu đã được gán nhãn cho trước để xây dựng nên một mô hình phục vụ cho mục đích của bài toán (học có

Trang 14

giám sát) Đây là cách tiếp cận tự động, cho phép học những luật, xuất hiện trong dữ liệu huấn luyện, nhưng khó có thể phát hiện được bằng quan sát thủ công của con người Ban đầu khi dữ liệu mẫu dùng để học còn ít, cách tiếp cận này có thể cho kết quả không chính xác như cách tiếp cận dựa trên tập luật được xây dựng thủ công Tuy nhiên, khi dữ liệu học nhiều, độ chính xác của hệ thống sẽ tăng Ngoài ra, hệ thống còn cho phép xử lý được các loại dữ liệu không có khuôn dạng nhất định

Một thách thức lớn trong thực tế áp dụng tiếp cận học máy là đòi hỏi tập dữ liệu được gán nhãn (khi đó ta nói học máy có giám sát) có kích cỡ cực lớn, phục vụ cho việc huấn luyện mô hình trích rút Để có được tập dữ liệu huấn luyện lớn, chúng ta thường phải đầu tư nhiều thời gian và công sức Đây là điểm thật sự đáng lưu ý đối với tiếng Việt, do thiếu các tri thức chuyên sâu và các tập dữ liệu huấn luyện cỡ lớn Bên cạnh tiếp cận thủ công và tiếp cận học máy có giám sát đã nêu trên, những năm gần đây bắt đầu xuất hiện một số hệ thống sử dụng cách tiếp cận học máy không giám sát nhằm giải quyết bài toán trích rút thực thể và quan hệ giữa các thực thể Lợi thế của các hệ thống học máy không giám sát là không đòi hỏi dữ liệu huấn luyện, nhưng thường cho một hiệu năng trích rút không cao, không đáp ứng được các yêu cầu về độ chính xác cần thiết

Những hạn chế của các cách tiếp cận đã được đề cập ở trên gợi ý cho ta ý tưởng lựa chọn một giải pháp mềm dẻo hơn cho bài toán trích rút thông tin đó là sử dụng phương pháp học máy bán giám sát, chỉ đòi hỏi một tập nhỏ dữ liệu huấn luyện để định hướng cho quá trình trích rút, đồng thời tận dụng các tri thức chuyên sâu sẵn có để khai thác dữ liệu bán huấn luyện với các văn bản đầu vào chưa gán nhãn nhằm nâng cao hiệu năng trích rút thực thể và các mối quan hệ giữa chúng của hệ thống

Đối với hướng tiếp cận học máy, nhiều kỹ thuật đã được áp dụng cho bài toán trích rút thông tin như mô hình trường ngẫu nhiên có điều kiện (Conditional Random Fields – CRF) [58, 63], máy vectơ hỗ trợ (Support Vector Machine – SVM) [89, 92], mô hình markov ẩn (Hidden Markov Model –HMM) [62], mô hình markov entropy cực đại (Maximum Entropy Markov Model- MEMM) [13], v.v… Bản chất của trích rút thực thể

là gán nhãn các từ, cụm từ trong văn bản với loại thực thể tương ứng (như tên người, tên tổ

chức) Vì vậy, có thể coi bài toán trích rút thực thể là bài toán phân lớp dữ liệu, tức là phân

lớp mỗi từ thành kiểu thực thể mà nó thuộc vào SVM là phương pháp phân lớp dữ liệu, nên được coi là một giải pháp cho bài toán này Vấn đề khó khăn là việc gán nhãn kiểu

thực thể cho một từ phụ thuộc vào nhãn của các từ xung quanh nó Ví dụ, từ "phát triển"

Trang 15

trong cụm từ "công ty phát triển phần mềm FPT " có từ bên trái và từ bên phải được gán nhãn là tên tổ chức nên từ "phát triển" cũng được gán nhãn là tên tổ chức Hạn chế của

SVM là không giải quyết được vấn đề phụ thuộc nhãn giữa các từ Vì vậy ta cần đến một

mô hình khác có thể giải quyết được vấn đề này, đó là mô hình CRF CRF có ưu điểm hơn các phương pháp khác như SVM hay HMM ở chỗ nó có thể giải quyết được vấn đề phụ thuộc giữa các từ Ngoài ra nó có ưu điểm hơn phương pháp MEMM ở chỗ có thể giải được vấn đề sai lệch nhãn CRF cho phép ta tích hợp nhiều đặc trưng của bản thân từ, cũng như các từ xung quanh của nó, để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nên thích hợp hơn cho bài toán này SVM phù hợp với bài toán trích rút mối quan hệ giữa các thực thể hơn do bài toán trích rút mối quan hệ giữa các thực thể không gán nhãn cho chuỗi từ mà chỉ quan tâm đến xác định mối quan hệ giữa các thực thể, cụ thể là xác định xem một câu có thuộc mối quan hệ đang xét hay không Do SVM và CRF đều là các phương pháp học có giám sát, ta sẽ sử dụng các phương pháp này dưới dạng học bán giám sát, kết hợp với kỹ thuật khác như kỹ thuật Bootstrapping1, do các tác giả trong [7] đề xuất

Ở Việt Nam, các nghiên cứu xung quanh lĩnh vực này còn ít và chưa có nhiều kết quả thực tiễn Theo luận án được biết, hầu hết các nghiên cứu về trích rút thông tin đều tập trung vào trích rút thực thể và chỉ có một nghiên cứu liên quan đến trích rút quan hệ [88] với mục đích xác định mối quan hệ giữa các thực thể trong câu hỏi của hệ thống hỏi đáp Ngoài ra, chúng ta chưa có một tập dữ liệu tiếng Việt đã gán nhãn nào được công bố phục

vụ cho bài toán trích rút thông tin Như trên đã nói, việc xây dựng từ đầu một tập ngữ liệu

đủ lớn cho phương pháp học có giám sát phục vụ bài toán trích rút thông tin mất rất nhiều thời gian và công sức

Trên cơ sở các vấn đề còn tồn tại trong trích rút thông tin nói chung và trích rút thông tin cho tiếng Việt nói riêng như đã trình bày ở trên, luận án muốn tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:

- Nghiên cứu các phương pháp học bán giám sát để giải quyết vấn đề thiếu tập dữ liệu tiếng Việt đã gán nhãn,

- Đề xuất các phương pháp nhằm nâng cao độ chính xác của trích rút thực thể cho văn bản tiếng Việt,

- Đề xuất các phương pháp trích rút mối quan hệ giữa các thực thể cho văn bản tiếng Việt

1 Khái niệm được định nghĩa ở mục 1.5

Trang 16

1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận án

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Từ động cơ nghiên cứu nêu trên, luận án đề xuất mở rộng một số phương pháp học máy bán giám sát cho bài toán trích rút thực thể có tên và trích rút mối quan hệ giữa các thực thể có tên Đây là vấn đề cốt lõi và đồng thời là mục tiêu nghiên cứu của luận án

Theo các tác giả trong [61, 87, 99], học bán giám sát có nhiều phương pháp khác nhau và cũng đã có một số phương pháp được sử dụng trong trích rút thông tin [18, 28, 58,

22, 47, 100] Ở đây, luận án đề xuất sử dụng hai phương pháp là phương pháp Bootstrapping và phương pháp lan truyền nhãn

Mỗi phương pháp trên đều có ưu điểm và nhược điểm như đã được phân tích trong Chương 2 và Chương 3 Trên cơ sở việc nghiên cứu các phương pháp này (xem Chương 2

và Chương 3) và những giải pháp đã được công bố trên thế giới [7, 12, 22, 45, 58, 63, 96, 100], luận án đề xuất cách tiếp cận trong việc biểu diễn dữ liệu, các thuộc tính cho quá trình trích rút thực thể và mối quan hệ giữa các thực thể vàphương pháp huấn luyện các hệ thống đó

Định hướng đến tính khả thi trong nghiên cứu lý thuyết và thử nghiệm đạt được kết quả mong muốn, luận án tập trung vào:

(a) Nghiên cứu và phát triển phương pháp trích rút thực thể, dựa trên học bán giám sát, kết hợp CRF với các luật tìm đồng tham chiếu về tên

2 Khái niệm được định nghĩa ở mục 1.5

Trang 17

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung vào việc trích rút thực thể và quan hệ giữa chúng từ văn bản phi cấu trúc thuộc lĩnh vực tin tức Các tập dữ liệu thử nghiệm được thu thập từ các tờ báo điện tử trực

tuyến Hệ thống sẽ trích rút từ văn bản phi cấu trúc này các thực thể : tên người, tên tổ

chức, tên địa điểm, chức vụ và từ đó, tìm mối quan hệ giữa các thực thể như : làm việc tại

(tên người-tên tổ chức), sống ở (tên người-tên địa điểm), chức vụ (tên người-chức vụ) Như

đã nói ở trên, hệ thống trích rút thông tin bao gồm năm bước chính là: tiền xử lý, trích rút thực thể, phát hiện đồng tham chiếu, trích rút mối quan hệ giữa các thực thể và xuất ra theo khuôn dạng định nghĩa trước Do phần mềm tiền xử lý trong văn bản tiếng Việt (tách câu, tách từ, phân tích từ loại) đã đạt được độ chính xác khá cao (> 93%), nên luận án sử dụng lại các công cụ sẵn có đó và nếu có lỗi thì sẽ sửa lại trực tiếp bằng tay

Phạm vi nghiên cứu của luận án được thể hiện trong hình 1.1

Hình 1.1.Phạm vi nghiên cứu của luận án

Luận án sẽ tập trung giải quyết các bước sau (xem Hình 1.1):

- Nhận dạng thực thể, tập trung vào các thực thể đã liệt kê ở trên

- Nhận dạng mối quan hệ giữa các thực thể, tập trung vào quan hệ giữa các thực thể nằm trong cùng một câu Vì lý do đó, trong bước phân tích đồng tham chiếu luận

án chỉ tập trung vào tìm các đồng tham chiếu về tên, nhằm phục vụ cho bài toán tìm thực thể có tên và coi như là một phần trong bước nhận dạng thực thể Các

Văn bản thô

Nhận dạng thực thể có tên

Nhận dạng mối quan hệ giữa các thực thể

Tiền Xử Lý

Tách câu Tách Từ Phần tích từ loại

…………

Bảng dữ liệu

Trang 18

phát hiện đồng tham chiếu chung chung (phục vụ bước nhận dạng mối quan hệ đã nói ở trên) sẽ bỏ qua

- Kết xuất kết quả dưới dạng bảng dữ liệu.

1.3 Đóng góp chính của luận án

Luận án đã đạt được một số đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

 Với bài toán trích rút thực thể

- Đề xuất thuật giải kết hợp 11 luật đồng tham chiếu về tên với mô hình CRF cho quá trình học bán giám sát cho tiếng Việt 11 Luật đồng tham chiếu về tên này được áp dụng trong việc phát hiện thêm thực thể để bổ sung dữ liệu huấn luyện Các dữ liệu này sẽ được tăng cường vào tập dữ liệu huấn luyện, phục vụ quá trình huấn luyện hệ thống ở các vòng lặp sau

- Đề xuất thuật giải kết hợp sử dụng luật đồng tham chiếu về tên và CRF với phương pháp Bagging [12] nhằm nâng cao độ chính xác của hệ thống và đồng thời bổ sung thêm dữ liệu huấn luyện mới

- Đề xuất thuật giải lan truyền nhãn [96] cho bài toán trích rút thực thể sử dụng phương pháp học bán giám sát Ba đóng góp chính là: (i) đề xuất lựa chọn các cụm danh từ thành ứng cử viên cho việc nhận dạng thực thể; (ii) đề xuất các phương pháp đo độ tương tự ngữ nghĩa giữa các từ; (iii) đề xuất phương pháp giảm ảnh hưởng của các nhãn có tần suất xuất hiện lớn đến quá trình lan truyền nhãn

 Với bài toán trích rút mối quan hệ giữa các thực thể:

- Đề xuất thuật giải học có giám sát dựa trên phương pháp hàm hạt nhân mức nông

- Đề xuất thuật giải tích hợp học có giám sát dựa trên phương pháp hàm hạt nhân mức nông với phương pháp Bagging Bootstrapping [7, 12] cho việc huấn luyện hệ thống học bán giám sát

- Áp dụng và cải tiến thuật giải lan truyền nhãn cho bài toán trích rút mối quan

hệ giữa các thực thể sử dụng phương pháp học bán giám sát Đề xuất các phương pháp đo độ tương đồng giữa các câu phục vụ cho thuật toán này

Trang 19

1.4 Cấu trúc của luận án

Luận án được chia thành sáu chương và phụ lục Chương 1 trình bày mục tiêu, phạm vi,

những đóng góp chính, cấu trúc của luận án

Chương 2 giới thiệu tổng quan về trích rút thông tin, các nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước về bài toán trích rút thực thể và trích rút mối quan hệ giữa các thực thể và các phương pháp đánh giá kết quả trích rút

Chương 3 giới thiệu các phương pháp học máy sử dụng trong luận án bao gồm: CRF, SVM, LDA và một số phương pháp học bán giám sát

Chương 4 trình bày phương pháp học máy bán giám sát cho bài toán trích rút thực thể từ văn bản tiếng Việt Luận án đề xuất ba phương pháp để giải quyết bài toán này là: (i) tiếp cận sử dụng CRF kết hợp với các luật đồng tham chiếu về tên; (ii) sử dụng phương pháp CRF kết hợp với kỹ thuật Bagging-Bootstrapping; (iii) sử dụng phương pháp lan truyền nhãn Các thuộc tính được sử dụng trong quá trình huấn luyện cũng được trình bày trong chương này

Chương 5 trình bày cách tiếp cận và kết quả của luận án trong bài toán trích rút mối quan hệ giữa các thực thể Chương này mô tả kiến trúc hệ thống trích rút mối quan hệ giữa các thực thể Luận án đưa ra giải pháp phù hợp với văn bản tiếng Việt, đề xuất các đặc trưng mới phục vụ cho việc trích rút quan hệ thực thể Giải pháp học bán giám sát sử dụng phương pháp Bagging-bootstrpping [7, 12] và phương pháp ngôn ngữ mức nông cũng được đưa ra Một kết quả khác của luận án là kỹ thuật lan truyền nhãn sử dụng độ tương đồng giữa các câu, cũng được trình bày ở trong chương này

Chương 6 tổng kết lại các kết quả đạt được của luận án và đề xuất các hướng nghiên cứu trong tương lai có liên quan đến luận án

1.5 Các thuật ngữ được sử dụng trong luận án

- Phân lớp thực thể: bài toán trích rút thực thể có thể coi là bài toán tìm và phân

lớp các từ hoặc cụm từ cho trước thành các lớp như tên người, tên tổ chức,…Vì

vậy, trong luận án khi đề cập đến phân lớp thực thể có thể hiểu là trích rút thực thể

- Phân lớp quan hệ: bài toán trích rút mối quan hệ giữa các thực thể có thể coi là

bài toán tìm và phân lớp các câu thành lớp quan hệ như sống ở, làm việc cho Vì

Trang 20

vậy, trong luận án khi đề cập đến phân lớp quan hệ có thể hiểu là trích rút mối quan hệ giữa các thực thể

- Bộ phân lớp hoặc mô hình phân lớp hoặc mô hình trích rút: chỉ tới mô hình

hoặc hệ thống nhận được trong quá trình huấn luyện

- Tập dữ liệu huấn luyện: chỉ tới các dữ liệu đã gán nhãn

- Bagging: là phương pháp tạo thêm một số mẫu từ một mẫu ban đầu, sau đó sử

dụng các mẫu này để huấn luyện các mô hình phân lớp Sử dụng các mô hình phân lớp vừa học được để phân lớp mẫu mới nhằm để tìm mẫu tốt nhất, dựa trên việc tính trung bình kết quả của các mô hình phân lớp

- Bootstrapping (Tự nâng): là phương pháp huấn luyện hệ thống cải tiến dần, bằng

cách học lặp đi lặp lại trên tập dữ liệu gán nhãn và chưa gán nhãn

Trang 21

CHƯƠNG 2

CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

Trong chương này, luận án sẽ trình bày các kiến thức cơ bản về trích rút thông tin và các nghiên cứu trong nước và ngoài nước về trích rút thông tin, bao gồm: các định nghĩa trích rút thông tin, trích rút thực thể, trích rút mối quan hệ giữa các thực thể, các phương pháp đánh giá chất lượng hệ thống và các cách tiếp cận đã được đề xuất nhằm giải quyết bài toán trong các tài liệu chuyên môn trong nước và ngoài nước

2.1 Bài toán trích rút thông tin

Có nhiều định nghĩa về trích rút thông tin Trên cơ sở nghiên cứu các nghiên cứu liên quan [14, 23, 24, 86], có thể định nghĩa trích rút thông tin như sau :

Định nghĩa 2.1: Trích rút thông tin (Information Extraction - IE) là việc nhận biết các

đoạn văn bản ứng với các lớp thực thể và mối quan hệ giữa các thực thể từ dữ liệu dạng văn bản và chuyển chúng sang dạng biểu diễn có cấu trúc (ví dụ, cơ sở dữ liệu)

Việc trích rút ra các thông tin có cấu trúc từ dữ liệu phi cấu trúc là một công việc rất khó khăn, thu hút được sự quan tâm của cộng đồng các nhà nghiên cứu trong hai thập kỉ qua Bắt nguồn từ cộng đồng các nhà xử lý ngôn ngữ tự nhiên, IE đã nhanh chóng được quan tâm chú ý bởi những cộng đồng nghiên cứu khác nhau về học máy, truy vấn thông tin, cơ sở dữ liệu, Web và phân tích văn bản Hai hội nghị quan trọng về các nghiên cứu về trích rút thông tin là: Message Understanding Conference (MUC) [25, 44, 46, 103, 104] và Automatic Content Extraction (ACE) [6, 75]

Có nhiều mức độ trích rút thông tin từ văn bản như: trích rút thực thể (Named Entity Recognition – NER), trích rút quan hệ giữa các thực thể (Relation Extraction - RE), phân giải đồng tham chiếu (Co-Reference Resolution)…Các kĩ thuật được sử dụng trong trích rút thông tin gồm có: phân đoạn, phân lớp, kết hợp và phân cụm

IE có nhiều ứng dụng rộng rãi và hữu ích Trên thế giới, IE được ứng dụng khá nhiều vào việc trích rút thông tin trên Internet Các ứng dụng thực tế bao gồm: lấy thông tin về tên của các công ty, tên người điều hành công ty, theo dõi thông tin về các dịch bệnh, theo dõi các sự kiện khủng bố… IE còn được ứng dụng vào việc chăm sóc khách hàng, đó là việc tìm kiếm và trích rút ra các thông tin của khách hàng như: họ tên, địa chỉ, email, số điện thoại rồi lưu vào cơ sở dữ liệu (CSDL) hay phục vụ các hệ thống quản lý thông tin cá

Trang 22

nhân Gần đây IE đặc biệt được chú trọng trong lĩnh vực y học Đã có khá nhiều nghiên cứu được tiến hành nhằm ứng dụng IE vào việc trích rút các thực thể trong y học như tên các protein và gene

Theo MUC [31, 44, 47, 103, 104], hệ thống trích rút thông tin có các thao tác chính như sau:

Hình 2.1 Các thao tác chính của bài toán trích rút thông tin

rút mối quan hệ giữa các thực thể Các bài toán đó sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần sau Phần 2.2 trình bày khái niệm về trích rút thực thể, các nghiên cứu liên quan về trích rút thực thể và các đặc trưng hay được sử dụng trong trích rút thực thể Phần 2.3 trình bày khái niệm về trích rút mối quan hệ các thực thể, các nghiên cứu liên quan về trích rút mối quan

hệ giữa các thực thể và các đặc trưng được sử dụng để giải quyết vấn đề này Phần 2.4 trình bày các phương pháp đánh giá hiệu quả của các hệ thống trích rút Cuối cùng, Phần 2.5 sẽ tóm lược những vấn đề đã trình bày trong chương này

Văn bản đầuvào

Trang 23

2.2 Bài toán trích rút thực thể

Định nghĩa 2.2: Trích rút thực thể (Entity Extraction), còn được gọi là nhận dạng thực

thể có tên (Named Entity Regconition-NER) hoặc xác định thực thể (Entity Identification),

là việc xác định các từ, cụm từ trong văn bản đóng vai trò là thực thể thuộc một lớp định nghĩa trước Khái niệm này thường được nhắc đến trong các bài báo tiếng Anh với tên viết tắt là NER Vì vậy sau này luận án gọi bài toán trích rút thực thể là bài toán NER

Có thể coi trích rút thực thể là việc tìm kiếm và phân lớp các từ (cụm từ) trong văn

bản vào các nhóm thực thể như tên người (person), tên địa điểm (location), tên tổ chức (organization), ngày tháng (date), thời gian (time), tỷ lệ (percentage), tiền tệ (monetary)…

Hiện nay, trích rút thực thể được mở rộng sang nhiều lớp khác như tên protein, chủ đề bài báo, tên tạp chí,… Hội thảo MUC-6 [44] đã phân bài toán NER thành ba loại: trích rút tên

các thực thể bao gồm: tên người, tên tổ chức, tên địa điểm, nhận dạng các biểu thức thời

gian như “9-2-2000”, “09/02/2000”, ”10h:20’” và trích rút các biểu thức số, như “45%”,

“15m”, “25kg”,…Dưới đây là văn bản ví dụ được trích từ [86], được gán nhãn theo 3 loại

thực thể là: Per (tên người), Loc (tên địa điểm), Org (tên tổ chức)

Ví dụ 2.1:

According to <Per>Robert Callahan</Per>, president of <Org> Eastern’s

</Org> light attendants union, the past practice of <Org> Eastern’s</Org> parent, <Loc> Houston </Loc>-based <Org> Texas Air Corp.</Org>, has

involved ultimatums to unions to accept the carrier’s terms

NER là bước cơ bản và quan trọng trước khi giải quyết các bài toán phức tạp hơn

Rõ ràng là trước khi nhận dạng được các quan hệ giữa các thực thể ta phải xác định được đâu là các thực thể tham gia vào mối quan hệ đó Ban đầu, NER được xem là một thao tác đơn giản trong IE Nhưng hiện nay, NER có một vai trò quan trọng quyết định đến các bài toán khác có độ phức tạp cao hơn như truy vấn thông tin (Information Retrieval-IR) hay các hệ hỏi đáp (Question Answering Systems - QA)

Các phương pháp được đề xuất để giải quyết cho bài toán trích rút thực thể được chia thành hai nhóm: nhóm các phương pháp dựa trên tri thức [2, 29, 35, 74, 77] và nhóm các phương pháp dựa trên kỹ thuật học máy [17, 18, 90, 91] Các hệ thống dựa trên tri thức chủ yếu dựa trên tập luật được xây dựng một cách thủ công, sử dụng các ngôn ngữ đặc thù như văn phạm JAPE [29, 30, 35] Ý tưởng của kỹ thuật học máy là học các đặc trưng (sử dụng

để mô tả thuộc tính của từ ) của mẫu dương (lớp tương ứng với các nhãn quan tâm chẳng

Trang 24

hạn như tên người, tên địa điểm) và mẫu âm (lớp không tương ứng với nhãn quan tâm, qui

ước là nhãn O) từ tài liệu đã được gán nhãn Trong luận án sẽ tập trung vào nhóm các kỹ thuật học máy

2.2.1 Các đặc trưng được sử dụng trong bài toán NER

Sau đây là các đặc trưng hay được sử dụng trong bài toán NER:

Từ loại: mỗi từ được gán một nhãn, xác định kiểu từ loại của từ đó trong câu dựa trên sử

dụng từ điển các nhãn đã được định nghĩa sẵn Thông thường, từ điển từ loại có các nhãn sau: Danh từ, Động từ, Tính từ, Mạo từ, Đại từ, Giới từ, Phó từ, Trạng từ, Liên từ

Định dạng từ: liên quan đến đặc điểm cấu tạo của từ, như là chữ viết hoa, là số

Bảng 2.1 Định dạng từ (Othorgraphic)

- Toàn bộ các chữ trong từ là chữ viết hoa

- Bao gồm các chữ viết hoa và chữ thường (ví

dụ, ProSys, eBay) Punctuation - Kết thúc bằng dấu chấm, có dấu chấm bên

trong (ví dụ: St.,I.B.M)

- Bao gồm cả chữ cái, lẫn chữ số (ví dụ: W3C, )

- Từ kết thúc bằng một cụm chữ chung (ví dụ: Các từ kết thúc bằng chữ ish trong tiếng Anh

là Spanish, Danish,…)

Đặc trưng từ điển: trong tiếng Anh, đặc trưng này còn được gọi là “gazetteer”, ”lexicon”,

“dictionary” và gọi chung là danh sách

Bảng 2.2 Đặc trưng từ điển

Danh sách chung - Danh sách từ đệm, hư từ (stop word)

Trang 25

- Danh sách chữ viết hoa, ngày tháng (ví dụ trong tiếng Anh: January, March, …)

- Danh sách chữ viết tắt Danh sách các thực thể - Tên tổ chức: government, airline,

- Họ, tên đệm, tên

- Tên địa điểm: Hà Nội, Việt Nam,…

Danh sách từ gợi ý về thực thể - Từ viết tắt chung cho một loại tổ chức ( Inc., )

- Từ viết cùng với tên người như: Mr, Ms,

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước về bài toán NER sử dụng học máy

Phần lớn các nghiên cứu về NER hiện nay đều sử dụng các cách tiếp cận dựa trên học máy, bao gồm học có giám sát, học không giám sát và học bán giám sát Trong phần này, luận

án sẽ giới thiệu và phân tích ưu nhược điểm của từng cách tiếp cận

Học có giám sát

Ý tưởng của học có giám sát như sau: Cho tập các đối tượng và nhãn của chúng, xác định qui luật gán nhãn của dữ liệu Trên cơ sở đó, cho một đối tượng mới, hệ thống có thể gán nhãn cho đối tượng này dựa trên qui luật gán nhãn vừa học được

Hiện nay, phần lớn các công trình giải quyết bài toán trích rút thực thể thường sử dụng các kỹ thuật học máy có giám sát như mô hình Markov ẩn [17, 62], cây quyết định,

mô hình Maximum entropy [13, 55], máy vectơ hỗ trợ (SVM) [66, 92], mô hình trường ngẫu nhiên có điều kiện CRF [11, 60, 63, 82]

Phương pháp học có giám sát cho kết quả chính xác, nhưng đòi hỏi một tập dữ liệu huấn luyện được gán nhãn có kích cỡ lớn Hiệu quả trích rút của hệ thống phụ thuộc nhiều vào việc tập dữ liệu huấn luyện đủ lớn để bao quát được các hiện tượng phức tạp trong ngôn ngữ Thông thường, để xây dựng được những tập dữ liệu huấn luyện lớn như vậy, đòi hỏi tồn nhiều thời gian, công sức cũng như đòi hỏi phải có các kiến thức chuyên sâu có liên quan Bên cạnh đó, việc gán nhãn bằng tay cho các dữ liệu tương đối buồn tẻ, có thể xảy ra những sai lầm ngoài ý muốn, do sự mất tập trung của các chuyên gia gán nhãn Những khó khăn kể trên làm cho các tập dữ liệu huấn luyện được gán nhãn đảm bảo chất lượng tương đối khan hiếm Mặt khác, các kho dữ liệu chưa gán nhãn ngày càng xuất hiện nhiều và chưa được khai thác một cách tương xứng Thực tế này đòi hỏi phải tìm cách giảm yêu cầu

Trang 26

về qui mô tập dữ liệu huấn luyện, đồng thời vẫn đảm bảo hiệu năng của hệ thống trích rút đầu ra bằng cách khai thác tốt lượng dữ liệu lớn chưa được gán nhãn

đó, cho một đối tượng mới, hệ thống có thể đưa đối tượng này vào cụm có nhiều điểm chung nhất với nó

Tiếp cận trích rút thực thể bằng việc phân cụm các đặc trưng từ dựa trên mức độ tương tự về ngữ cảnh, có sử dụng các các tài nguyên từ vựng (ví dụ, Wordnet), các mẫu từ vựng, kết hợp với phương pháp học thống kê trên tập dữ liệu chưa gán nhãn có kích cỡ lớn

Các hệ thống học máy không giám sát không đòi hỏi dữ liệu huấn luyện, nhưng khả năng phát hiện thực thể không cao và độ chính xác thấp

Học bán giám sát

Như đã trình bày ở trên, phương pháp học có giám sát cho ta kết quả trích rút có độ chính xác cao, nhưng đòi hỏi tập dữ liệu huấn luyện cỡ lớn, trong khi đó phương pháp học không giám sát không đòi hỏi tập dữ liệu đã gán nhãn, nhưng hiệu quả trích rút lại rất thấp Phương pháp học bán giám sát có thể khắc phục được nhược điểm của hai phương pháp trên, bằng cách huấn luyện hệ thống với một tập dữ liệu huấn luyện gán nhãn nhưng số lượng nhỏ và sau đó học lặp đi lặp lại, để cải thiện chất lượng hệ thống bằng cách đưa thêm các dữ liệu, vừa được gán nhãn nhận được từ mô hình học áp dụng vào tập dữ luyện huấn luyện và dùng chính tập dữ liệu mới được gán nhãn này để huấn luyện lại mô hình

Có thể kể đến một số nghiên cứu về trích rút thực thể sử dụng phương pháp học bán giám sát như [18, 28, 58]:

Brin [18] sử dụng các đặc trưng từ vựng được biểu diễn dưới dạng biểu thức chính quy để tạo ra danh sách các cặp tiêu đềvà tên tác giả Hệ thống ban đầu sử dụng tập tên cơ bản như {Isacc, Asimov, The Robot of Dawn} và một tập luật (ví dụ như biểu thức chính qui [A-Z][A-Za-z.,&]5,30[A-Za-z]) để mô tả tiêu đề Trên cơ sở đó, hệ thống xây dựng tập mẫu chứa các website phù hợp với tập luật đã xây dựng Cặp tiêu đề và tên tác giả thường

Trang 27

được nhận dạng sử dụng các ràng buộc đơn giản như sự giống nhau giữa ngữ cảnh trước,

giữa và sau của cặp đang xét Ví dụ: Đoạn “The Robots of Dawn, by Issac Asimov

(Paperback)” cho phép hệ thống tìm được trong cùng một website đoạn “The Ants, by Bernard Werber (Paperback)”

Collin và Singer [28] sử dụng phân tích từ loại cùng với tập dữ liệu để tìm các ứng viên mẫu thực thể Ví dụ, mẫu là danh từ riêng (được xác định dựa trên từ loại) đi cùng với

cụm danh từ dưới dạng phần chú thích (ví dụ, “Maury Cooper, a vice president at S&P”)

Các mẫu được đưa ra dưới dạng cặp {spelling,context}, trong đó spelling là danh từ riêng, context là các cụm danh từ ngữ cảnh của chúng Bắt đầu hệ thống sử dụng tập cơ sở chứa

các luật spelling ( ví dụ: luật 1: nếu spelling là “New York” thì cụm từ đang xét là tên địa

điểm; luật 2: nếu spelling chứa “Mr.” thì cụm từ đang xét là tên người; luật 3: nếu spelling

chứa tất cả đều là chữ viết hoa, thì cụm từ đang xét là tên tổ chức) để phát hiện các ứng cử

viên Các ứng cử viên thỏa mãn luật spelling được phân lớp dựa trên luật Các ngữ cảnh hay xuất hiện nhất được đưa vào tập luật context Tập luật context lại được sử dụng để tìm các luật spelling Tiếp tục làm như vậy, tập luật context vừa nhận được lại được sử dụng để tìm thêm luật spelling

Liao [58] sử dụng một tập dữ liệu đã được gán nhãn ban đầu có kích cỡ nhỏ L để học

ra một mô hình trích rút thực thể M sử dụng phương pháp CRF Mô hình này lúc đầu có độ chính xác chưa cao, vì dữ liệu huấn luyện ban đầu chưa lớn, chưa bao hàm nhiều các đặc trưng ngôn ngữ (ngữ cảnh) phục vụ cho quá trình trích rút Để nâng cao độ chính xác của

mô hình M, các phương pháp học máy bán giám sát tìm các cách thức khác nhau để bổ sung tự động vào L những dữ liệu huấn luyện mới Những dữ liệu huấn luyện mới này cần cung cấp cho mô hình những đặc trưng mới, đặc biệt là những đặc trưng với tần suất xuất hiện thấp, để làm tăng thêm hiểu biết của mô hình về các hiện tượng ngôn ngữ Từ đó, cải thiện khả năng nhận diện thực thể của mô hình Để thực hiện việc này, Liao đã áp dụng mô hình ban đầu M để gán nhãn (trích rút thực thể) cho một tập dữ liệu chưa gán nhãn cho trước U, sau đó sử dụng các thực thể E trong U được nhận biết bởi M với độ tin cậy thấp, nhưng được nhận biết bởi các tri thức chuyên gia bên ngoài với một độ tin cậy cao, để bổ sung vào tập dữ liệu huấn luyện L ban đầu Ta gọi tập dữ liệu L khi đã được bổ sung thêm

dữ liệu huấn luyện mới là L’ Với việc các thực thể E có độ tin cậy thấp trong M được bổ sung vào tập dữ liệu huấn luyện L, mô hình mới M’ được học ra từ tập dữ liệu huấn luyện

Trang 28

mới L’ sẽ tốt hơn mô hình ban đầu M Liao đề xuất các tri thức để tìm các dữ liệu huấn luyện mới, các tri thức bên ngoài được sử dụng là hai giả định ngôn ngữ sau đây:

1 Giả định xuất hiện nhiều lần: Những cụm từ (viết hoa) giống hệt nhau cùng xuất

hiện trong một văn bản thường có kiểu thực thể giống nhau Chẳng hạn, trong một

văn bản tài chính, “John” có thể xuất hiện nhiều lần với cùng một tên là “John”

2 Giả định ngữ cảnh: Các thực thể như con người, tổ chức, địa điểm thường có các

ngữ cảnh xung quanh giúp chúng ta nhận biết được chúng một cách dễ dàng

Chẳng hạn, tên một tổ chức thường được đi cùng bởi các hậu tố như: Inc., Co.,…; tên một người thường được đi cùng bởi các tiền tố như: Mr.,CEO,…

Trên cơ sở phương pháp học bán giám sát đề xuất bởi Liao [58], luận án đề xuất cách

mở rộng các tri thức phục vụ việc tìm các dữ liệu huấn luyện mới bằng cách sử dụng tập luật đồng tham chiếu về tên của tiếng Việt Chi tiết của phương pháp này được đề cập trong Chương 4

2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước về bài toán NER

Đã có một số nghiên cứu về trích rút thực thể cho tiếng Việt Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều tập trung vào trích rút thực thể, sử dụng phương pháp học có giám sát Tran và các cộng sự [89] sử dụng mô hình máy vectơ hỗ trợ SVM cho việc phân lớp thực thể Nguyen

và các cộng sự [76] sử dụng trường ngẫu nhiên có điều kiện CRF cho việc trích rút thực thể Các tác giả trong [3, 4, 68, 69, 70, 71, 72, 73] đã sử dụng phương pháp lặp cải thiện dần bằng cách sử dụng các luật đồng tham chiếu về tên, ontology, các tri thức nhận được

từ trang wikipedia, kết hợp với mô hình thống kê để phân giải nhập nhằng giữa các tên, tức

là ánh xạ tên đúng với thực thể mà chúng tham chiếu Ví dụ, Philip có thể là giáo viên của trường đại học hoặc là cảnh sát viên

Nhược điểm của các phương pháp trong [76, 89] chính ở chỗ chúng đòi hỏi tập dữ liệu huấn luyện đã được gán nhãn có kích cỡ lớn, trong khi đó tiếng Việt chưa có một tập

dữ liệu như vậy Hơn nữa, việc xây dựng một tập dữ liệu như vậy cần rất nhiều thời gian

và công sức Vì vậy, để giải quyết vấn đề này, luận án đề xuất phương pháp học bán giám sát, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ tiếng Việt Phương pháp này sẽ được nói chi tiết ở Chương 4

Trang 29

2.3 Bài toán trích rút mối quan hệ giữa các thực thể (RE)

Định nghĩa 2.3: Trích rút mối quan hệ giữa các thực thể (Relation Extraction - RE) là

việc xác định quan hệ giữa các cặp thực thể trong văn bản

Ví dụ, chúng ta có quan hệ sống ở giữa hai thực thể “ tên người” và “tên địa điểm”, quan hệ họ hàng giữa hai thực thể “tên người” và “tên người” Bài toán trích rút mối quan

hệ giữa các thực thể khác với bài toán trích rút thực thể ở chỗ trích rút thực thể là bài toán quan tâm đến các dãy từ, tức là tìm và phân lớp dãy từ, hay nói cách khác, gán nhãn cho các dãy từ; trong khi đó bài toán trích rút mối quan hệ giữa các thực thể lại không gán nhãn cho dãy từ, mà quan tâm đến xác định mối quan hệ giữa các thực thể Trong luận án tập trung vào việc tìm mối quan hệ giữa các cặp thực thể nằm trong cùng một câu

2.3.1 Các đặc trưng được sử dụng trong bài toán RE

Các đặc trưng thường sử dụng để giải quyết bài toán RE bao gồm:

Từ: Các từ xung quanh hai thực thể, các từ nằm giữa hai thực thể có thể chứa các

quan hệ giữa các thực thể Ví dụ, quan hệ “is_situated” giữa hai thực thể: tên công ty và

tên địa điểm sẽ được xác định thông qua cụm từ “located in” nằm giữa hai thực thể:

Ví dụ 2.2 :

<Company> Kosmix </Company> is located in the <Location> Bay area

</Location>

Từ loại: từ loại đóng vai quan trọng trong việc trích rút mối quan hệ Cụ thể là, do

các thực thể đều là danh từ, hoặc cụm danh từ Nên ta chỉ sử dụng các danh từ, cụm danh

từ để nhận dạng thực thể, còn các động từ, cụm động từ được sử dụng như là các dấu hiệu

để tìm mối quan hệ giữa các thực thể

Ví dụ 2.3 :

<Location>The University of Helsinki </Location> hosts <Conference> ICML

</Conference> this year

Trong câu trên, mối quan hệ “held in” giữa hai thực thể: tên hội nghị và tên địa điểm được xác định qua động từ “hosts”

Cây phân tích cú pháp: cây phân tích cú pháp cho phép nhóm các từ trong câu

thành các kiểu cụm từ như: cụm danh từ, cụm động từ và cụm trạng từ Do đó, cây phân tích cú pháp có vai trò quan trọng hơn từ loại khi nhận dạng mối quan hệ giữa các thực thể

Trang 30

Ví dụ 2.4 :

<Location> Haifa </Location>, Located 53 miles from <Location> Tel Aviv

<Location> will host <Conference>ICML</Conference> in 2010

Dựa trên khoảng cách (so với thực thể ICML), cặp thực thể “ Tel Aviv” và “ICML” được xem là có mối quan hệ “held in” mạnh hơn cặp thực thể “Haifa” và “ICML” Tuy nhiên, dựa trên cây cú pháp của câu trên, thực thể ICML sẽ gần thực thể “Haifa” hơn so với thực thể “Tel Aviv”, bởi vì “Haifa” là đầu của cụm danh từ “Haifa, located 53 miles

from Tel Aviv” và cụm danh từ này đóng vai trò chủ ngữ của cụm động từ “will host ICML

in 2010”

Đồ thị phụ thuộc: là đồ thị có hướng miêu tả sự phụ thuộc giữa các nút Do việc tạo

ra cây cú pháp đầy đủ thường rất khó khăn và có độ chính xác không cao, đồ thị phụ thuộc

có thể tránh được việc tạo cây cú pháp bằng cách kết nối mỗi từ với các từ mà nó phụ thuộc vào Ví dụ, đối với câu trên, đồ thị phụ thuộc của chúng được cho trong hình 2.2

Đồ thị này cho thấy động từ “host” được kết nối theo các thực thể tên địa điểm

“Haifa” và thực thể tên hội nghị “ICML” Và đồ thị này cho phép tạo được mối quan hệ gần giữa chúng Ngược lại, đường đi giữa “ICML” và “Tel Aviv” đi qua “Haifa” và

a) Phương pháp dựa trên đặc trưng

Phương pháp này biến đổi các dấu hiệu cho việc trích rút quan hệ giữa các thực thể (chẳng hạn như: chuỗi từ, cây cú pháp hoặc đồ thị phụ thuộc) thành tập các đặc trưng

Giả sử x là câu đầu vào, x i là từ ở tại vị trí thứ i và E 1 , E 2 đoạn trong câu x tương ứng

với hai thực thể cần xác định mối quan hệ Giả sử mỗi thực thể chứa 1 từ Từ x i gắn với các

Trang 31

tập đặc trưng p 1 …p k Các đặc trưng bao gồm từ x i , định dạng từ (orthographic) của x i, lớp

khái niệm của x i trong ontology, nhãn của x i và từ loại của x i

Ví dụ 2.5 : Dưới đây là một ví dụ của phương pháp dựa trên đặc trưng

<Location> Haifa </Location>, Located 53 miles from <Location> Tel Aviv

<Location> will host <Conference>ICML</Conference> in 2010

Nếu xét đặc trưng của dãy từ, câu trên sẽ có dãy đặc trưng như sau:

Đặc trưng unigram:

[[ Từ=”host”, flag=”none”]]

[[ Từ loại = “Verb”, flag=”none”]]

Đặc trưng bigram:

[[ Từ = “(host, ICML)”, flag =”(none,2)”]]

[[ Từ loại = “(Verb, Noun)”, flag = “(none,2)”]]

[[ Từ =”host”, thẻ từ loại = Noun ]]

Đặc trưng trigram:

[[ Từ = “(will, host, ICML)”, flag = “(none, none,2)”]]

[[ Từ loại = “(Modifier, Verb, Noun)”, flag= “(none, none, 2)”]]

Trong đó thẻ flag gắn liên với mỗi từ, có thể có 3 giá trị: “1” khi từ đó là E1, “2” khi

từ đó là E2, “none” khi từ đó không phải là E1 và E2

Dựa trên các mẫu này, hệ thống sẽ thực hiện tính số đặc trưng lớn nhất của mỗi kiểu

quan hệ Giả sử d(p i ) là số giá trị có thể có của thuộc tính thứ i và là tổng

giá trị theo các thuộc tính Ta thấy số đặc trưng unigram là 3d, đặc trưng bigram là 3 2

dụ, sống ở, làm việc cho,…) Như vậy, mỗi cặp ứng cử viên, sử dụng hàm hạt nhân K(X,

X’) để đo mức độ tương đồng 2 cấu trúc X và X’ Sau đó, giải thuật phân lớp SVM xác

định mối quan hệ giữa hai thực thể như sau:

- Với mỗi mẫu huấn luyện i và mối quan hệ r, xác định trọng số

Trang 32

- Giả sử mỗi dữ liệu huấn luyện có dạng (x i , , , r i ), i=1, ,N, trong đó, X i tương

ứng với (x i

, , ) Cho một cặp mẫu mới X=(x, E 1 , E 2 ), mối quan hệ kiểu r được

tính bằng:

= , trong đó được tính trong quá trình huấn luyện hệ thống Chi tiết của phương pháp này được trình bày ở chương 3

Một số hàm hạt nhân đã được các tác giả sử dụng trên cây phân tích cú pháp, hoặc

đồ thị phụ thuộc, hoặc kết hợp cả cây phân tích và đồ thị phụ thuộc để biểu diễn câu Dựa trên cách biểu diễn đó, thực hiện việc tính độ tương đồng giữa các câu [15, 16, 20, 81, 95,

98, 102] Trong các phương pháp biểu diễn trên, hàm hạt nhân trên đồ thị phụ thuộc hay được sử dụng nhất Phần dưới đây sẽ mô tả phương pháp đó

Giả sử T và T’ là hai cây phụ thuộc của hai mẫu huấn luyện tương ứng là X=(x, E 1 ,

E 2 ) và X’=(x’, , ) Hàm hạt nhân K(X, X’) được định nghĩa như sau

Giả sử đường đi ngắn nhất kết nối giữa các thực thể trong T là P và trong T’ là P’ Các nút trên đường đi P được gắn với một tập các thuộc tính p 1 ,…,p k Hai nút được coi là giống nhau nếu có nhiều thuộc tính chung Mức độ tương tự giữa hai nút được định nghĩa qua hàm hạt nhân như sau:

Culotta và Sorensen [20] mở rộng phương pháp hàm hạt nhân dạng cây cú pháp thành hàm hạt nhân đồ thị phụ thuộc Đầu tiên các câu đã được biểu diễn dưới dạng cây phụ thuộc, sau đó thực hiện đo mức độ tương đồng trên các cây phụ thuộc của mỗi câu Cuối cùng, sử dụng SVM để phát hiện và phân lớp kiểu quan hệ giữa các thực thể

hao và Grishman [98] kết hợp phương pháp hàm hạt nhân dạng cây cú pháp và hàm hạt nhân dạng đồ thị phụ thuộc ở trên để biểu diễn và tính độ tương đồng giữa các câu SVM được sử dụng trong hệ thống của họ để học và phân lớp kiểu quan hệ giữa các câu

Trang 33

Các phương pháp ở trên đều dựa trên phân tích cú pháp, nhưng các hệ thống phân tích cú pháp phần lớn cĩ độ chính xác chưa cao, dẫn đến lỗi hệ thống khi dự đốn Thay vào đĩ, Giuliano và các cộng sự [45] đề xuất hướng tiếp cận sử dụng từ loại, từ, thuộc tính của từ gốc, đặc điểm định dạng từ cho việc trích rút mối quan hệ giữa các thực thể Phương pháp này sử dụng thuật tốn học máy SVM và được gọi là phương pháp hàm hạt nhân ngơn ngữ mức nơng3 Trong phương pháp này, hàm hạt nhân ngữ cảnh tồn cục và hàm hạt nhân ngữ cảnh cục bộ được kết hợp với nhau nhằm tích hợp hai nguồn thơng tin Hàm hạt nhân ngữ cảnh tồn cục được tạo bởi ngữ cảnh tồn cục chứa thơng tin của tồn bộ câu Hàm hạt nhân ngữ cảnh cục bộ được xác định trên ngữ cảnh cục bộ xung quanh hai thực thể ứng cứ viên Kết quả thử nghiệm của các tác giả trong trong [45] đã chứng minh rằng phương pháp của họ tốt hơn các phương pháp trước đây Do hiện nay độ chính xác của các

hệ phân tích cú pháp tiếng Việt chưa cao, khơng sử dụng phân tích cú pháp trong trích rút quan hệ giữa các thực thể, luận án sẽ đề xuất cải tiến phương pháp trong [45] trích rút mối quan hệ giữa các thực thể Phương pháp này sẽ được trình bày cụ thể trong Chương 5

( hoặc gán nhãn dương) khi thoả mãn các ràng buộc như sau: Nếu chuỗi từ giữa e i và e j

khơng dài hơn một ngưỡng nào đĩ; trong cây cú pháp đường đi giữa ei và ej khơng đi qua

mệnh đề quan hệ; Cả e i và e j khơng chứa đại từ (ii) Các dữ liệu vừa được tự động gán nhãn này sẽ được biểu diễn thành dạng vectơ đặc trưng (từ loại, từ, số từ…) Sau đĩ đưa vào bộ huấn luyện sử dụng phương pháp Nạve Baye để tạo ra bộ phân loại

3 Khái niệm hàm nhận được giới thiệu ở mục 3.2

Trang 34

nhân (seed), tập chứa mối quan hệ giữa cặp thực thể tổ chức- địa điểm có kích cỡ nhỏ, gán

nhãn cho các dữ liệu chưa có nhãn Mỗi dữ liệu vừa gán nhãn này sẽ đưa ra dạng ngữ cảnh

( trước, e1, giữa, e2, sau) và được biểu diễn dạng vectơ đặc trưng, trong đó mỗi từ vựng sẽ

gắn với một trọng số Sau đó qui nạp mẫu từ dữ liệu các vectơ này dựa trên việc so khớp

và độ tin cậy Tiếp đó áp dụng các mẫu này trên các dữ liệu chưa có nhãn để thu được các cặp thực thể mới đưa vào tập seed Và lặp đi lặp lại công việc này cho tới khi hội tụ Chen và các cộng sự [22] đề xuất phương pháp bán giám sát, sử dụng giải thuật lan truyền nhãn (label propagation) Họ biểu diễn các mẫu (có nhãn và chưa có nhãn) dưới dạng các nút, khoảng cách giữa các nút là trọng số các cạnh của đồ thị Trên cơ sở đó, xây

dựng hai ma trận Y và T Ma trận Y có kích thước m x n, với n là số mẫu có nhãn và chưa

có nhãn, m là số nhãn cần xét Ma trận T, có kích thước n x n, đo độ tương đồng giữa các

mẫu Thực hiện nhân hai ma trận này và lặp lại quá trình đó nhiều lần cho đến khi hội tụ

Kết thúc quá trình, trong ma trận Y, các mẫu sẽ có nhãn tương ứng với phần tử có giá trị

lớn nhất Như vậy, điểm nhấn của phương pháp này là đo mức độ tương đồng giữa các mẫu

hang và các cộng sự [100] giải quyết bài toán trích rút mối quan hệ giữa các thực thể bằng cách sử dụng phương pháp Bootstrapping kết hợp với SVM Đầu tiên, họ biểu

diễn câu dưới dạng (c pr , e 1 , c m , e 2 , c pt) r, trong đó e1 và e 2 là thực thể đang xét mối quan

hệ r, c pr , c m , c pt lần lượt là ngữ cảnh trước, giữa và sau cặp thực thể Sau đó, sử dụng phương pháp Bagging Bootstrapping để huấn luyện hệ thống Ý tưởng của phương pháp

này là: Giả sử có L mẫu có nhãn và U mẫu chưa gán nhãn Đầu tiên, nhân bản các mẫu có nhãn L thành B gói và huấn luyện B bộ phân lớp sử dụng dữ liệu đã nhân bản B bộ phân lớp này được áp dụng trên dữ liệu chưa có nhãn U Sau khi đã gán nhãn cho tập dữ liệu U,

hệ thống thực hiện tính độ tin cậy để tìm S câu có độ tin cây cao (độ tin cậy này được tính

bằng hàm entropy) và đưa thêm vào dữ liệu huấn luyện Quá trình này được lặp lại cho đến khi không tìm được dữ liệu nào thỏa mãn nữa

2.3.3 Tình hình nghiên cứu trong nước về bài toán RE

Đã có một số nghiên cứu về trích rút thông tin cho tiếng Việt Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào trích rút thực thể

Theo luận án được biết chỉ có một nghiên cứu liên quan đến trích rút quan hệ [88] với mục đích xác định mối quan hệ giữa các thực thể trong câu hỏi của hệ thống hỏi đáp

Trang 35

Dựa trên tập các ví dụ mẫu (gọi là hạt giống), hệ thống lặp lại quá trình học để sinh ra các mẫu và một tập nhiều hơn các hạt giống cho quan hệ Các mẫu thô được xây dựng dựa trên

sự đồng xuất hiện của các từ/cụm từ Sau khi các mẫu thô được gom cụm, tâm của cụm, gọi là mẫu tinh chỉnh, sẽ được xác định Để sinh hạt giống mới, hệ thống tạo ra các truy vấn từ tập mẫu tinh chỉnh này và sử dụng máy tìm kiếm Google để tìm các đoạn văn bản chứa các hạt giống mới Để xác định quan hệ được câu hỏi nhắm đến, hệ thống lựa chọn mẫu phù hợp nhất với câu hỏi Quan hệ của mẫu chính là quan hệ mà câu hỏi đang hỏi Ngoài ra, các tác giả trong [69, 71] đã giải quyết vấn đề nhập nhằng giữa các thực thể tức là giải quyết bài toán trích rút mối quan hệ ở mức cao hơn, Ví dụ, có thể phát hiện

được tên thực thể là đường Tạ Quang Bửu, nhưng ở Việt Nam có thể nằm ở Hà Nội, hoặc

ở Sài Gòn Để giải quyết vấn đề này, tác giả đã đề xuất phương pháp lặp cải thiện dần sử

dụng các luật kết hợp với nguồn tri thức Ontology chứa các thông tin về cặp thực thể ứng

cứ viên, ví dụ như Tạ Quang Bửu - Sài Gòn Họ sử dụng các luật thực hiện phân hạng các

ứng cứ viên dựa trên mối quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng Ứng viên có càng nhiều các mối quan hệ như thế càng được phân hạng cao, tức là, nếu một ứng viên có nhiều mối quan hệ ngữ nghĩa với các thực thể đã được xác định trong toàn bộ văn bản, thì ứng viên đó được xem là đúng thực thể đang xét đề cập đến Ngoài ra, họ còn sử dụng các luật quan hệ đồng tham chiếu về tên để phân giải nhập nhằng cho các thực thể khác cùng đồng tham chiếu với thực thể vừa được phân giải nhập nhằng đồng tham chiếu Các thử nghiệm của họ cho thấy phương pháp này đạt kết quả khá tốt, nhưng vẫn tồn tại một số nhược điểm sau: Thứ nhất, ontology được xây dựng bởi một nhóm nhỏ các chuyên gia, trong đó các tính chất của các thực thể đã được thiết lập cố định, sẽ không chứa đủ các thông tin mô tả về các thực thể Điều này ảnh hưởng hiệu quả của phân giải nhập nhằng Thứ hai, do mỗi tên nhập nhằng, chỉ khai thác mối quan hệ dựa trên Ontology giữa ứng viên với các thực thể

đã được xác định, nên điều này dẫn đến tình huống: hoặc là thực thể có mối quan hệ với ứng viên xuất hiện trong văn bản, hoặc là thực thể đó xuất hiện trong văn bản nhưng không tìm thấy mối quan hệ nào với ứng viên trong Ontology Trên thực tế các từ xuất hiện xung quanh các thực thể cũng có thể giúp ích cho việc phân giải nhập nhằng

Để giải quyết vấn đề này các tác giả đã đề xuất thêm phương pháp mới giải quyết phân giải nhập nhằng bằng cách kết hợp phương pháp thống kê với phương pháp phân hạng dựa trên các luật Quá trình phân giải nhập nhằng là lặp cải thiện dần, bao gồm hai giai đoạn Giai đoạn thứ nhất sử dụng các luật để thực hiện thu gọn các ứng viên nhận

Trang 36

được từ trang wikipedia và thực hiện ánh xạ nếu có thể Giai đoạn thứ hai áp dụng mô hình phân hạng dựa trên thống kê để chọn ứng viên tốt nhất Đối với phương pháp thống kê, mỗi tên trong văn bản được trích rút đặc trưng bao gồm các tên cùng xuất hiện trong văn bản, các từ xuất hiện xung quanh tên đang xét, các từ xung quanh tên đồng tham chiếu với tên đang xét và định danh của các thực thể Mỗi tên ứng viên trong trang wikipedia cũng được trích rút đặc trưng bao gồm nhan đề trang thực thể, nhan đề trang đổi hướng, nhãn thể loại, nhãn liên kết ra vào, nhãn của các liên kết vào Các đặc trưng của mỗi thực thể được chuyển thành một túi từ Sau đó, thực hiện phân hạng bằng cách đo độ tương tự giữa hai túi từ Sau mỗi bước lặp, các thực thể được phân giải sẽ được bổ sung vào danh sách các thực thể đã được xác định, phục vụ cho việc phân giải nhập nhằng cho các trường hợp còn lại

2.4 Một số phương pháp học bán giám sát khác

Ngoài các phương pháp học bán giám sát sử dụng trong trích rút thông tin đã đề cập đến trong các phần 2.2 và 2.3, học bán giám sát còn được sử dụng trong các bài toán khác như gán nhãn từ loại, phân tích cụm từ

Clark và các cộng sự [36] đề xuất ra phương pháp học bán giám sát cho bài toán gán nhãn từ loại Họ sử dụng phương pháp đồng huấn luyện (Co-Training) như sau : Bắt đầu từ

dữ liệu đã gán nhãn nhỏ, huấn luyện hai bộ phân loại (một bộ phân loại được tạo ra sử dụng mô hình Markov, bộ phân loại thứ hai sử dụng mô hình cực đại hoá Entropy) Tiếp theo, sử dụng hai bộ phân loại này gán nhãn cho dữ liệu chưa có nhãn Sau đó huấn luyện

bộ phân loại Markov sử dụng dữ liệu vừa gán nhãn bởi bộ phân loại cực đại hoá Entropy,

và ngược lại Tiến trình sẽ lặp đi lặp lại cho đến khi gán nhãn hết cho dữ liệu chưa có nhãn Sogaard và các cộng sự [83] đề xuất ra phương pháp học bán giám sát láng giềng gần nhất cô đọng cho bài toán gán nhãn từ loại Đây là phương pháp kết hợp phương pháp tự huấn luyện với phương pháp cô đọng tập dữ liệu huấn luyện Việc cô đọng tập dữ liệu

huấn luyện được thực hiện như sau Gọi C là tập dữ liệu cô đọng của tập dữ liệu gốc A đã gán nhãn Loại bỏ các dữ liệu có nhãn mà nhãn của nó có thể dự đoán bởi tập C (sử dụng

thuật toán láng giềng gần nhất) Sau đó thêm dữ liệu vừa được gán nhãn bằng thuật toán

láng giềng gần nhất sử dụng tập dữ liệu có nhãn gốc A với độ tín cậy >0.90 vào tập C, ta được tập cô đọng mới là C’ Kết quả thử nghiệm minh chứng sự nổi trội so với thuật toán

học chỉ dựa trên giêng gần nhất cô đọng có giám sát

Trang 37

Daume II và các công sự [38] nghiên cứu kỹ thuật ánh xạ các đầu vào dưới dạng đồ thị sang đầu ra có cấu trúc dựa trên thuật toán học xấp xỉ Điểm chính của đề xuất thuật học mới là xem quá trình học như một quá trình tối ứu hoá tìm kiếm với các cơ chế cập nhật tham số, đảm bảo tính hội tụ Hai cơ chế cập nhật tham số được nghiên cứu là : cập nhật Peceptron và cấp nhận lề xấp xỉ Kết quả thử nghiệm minh chứng sự nổi trội so với thuật toán học dựa trên tìm kiếm chính xác, nhưng chi phí tính toán thấp hơn

Suzuki và các cộng sự [83] công bố bài báo nghiên cứu mô hình phân biệt (có thể sử dụng trong nhận dạng thực thể có tên, gán nhãn và phân tích cú pháp) tuy đơn giản song khá hiệu quả trên kho dữ liệu chưa được gán nhãn, có kích cỡ cực lớn Kỹ thuật được đề xuất JESS-CM về thực chất là một phát triển của mô hình trường ngẫu nhiên có điều kiện bán giám sát (Semi-Supervised Conditional Random Field-SSCM) chứa những mô hình xác suất liên hợp Các thử nghiệm của mô hình phân biệt được đề xuất cho các bài toán : nhận dạng thực thể có tên, gán nhãn và phân tích cú pháp vượt trội hơn so với các kết quả nghiên cứu đã được công bố

2.5 Các phương pháp đánh giá kết quả trích rút

Kết quả hệ thống trích rút thông tin nói chung và hệ thống trích rút thực thể hoặc trích rút mối quan hệ các thực thể nói riêng được đánh giá bằng cách so sánh kết quả đầu ra của hệ thống với kết quả, được chuyên gia gán nhãn thủ công Sau đây là hai phương pháp đánh giá được sử dụng trong MUC, IREX, CONLL Để dễ hiểu phương pháp đánh giá, chúng ta xem ví dụ được trích từ văn bản ví dụ của MUC như sau:

Ví dụ 2.6 Ta có văn bản được gán nhãn bằng tay:

Unlike <Person>Robert</Person>, <Person>Jonh Briggs Jr </Person> contacted

<Organization> Wonderful Stockbrockers Inc </Organization> in <Location> New York </Location> and instructed them to sell all his shares in <Organization> Acme</Organization>

Ví dụ 2.7 Giả sử sau đây là kết quả được gán nhãn bởi hệ thống:

<Location>Unlike</Location> Robert, <Organization> Jonh Briggs Jr

</Organization> contacted Wonderful <Organization> Stockbrockers

</Organization> Inc <Date> in New York </Date> and instructed them to sell all his shares in <Organization> Acme</Organization>

Trang 38

Bảng 2.3: Bảng so sánh nhãn của hệ thống với nhãn được gán bằng tay, kèm theo mô tả lỗi tương ứng

Gán nhãn bằng tay Gán nhãn bằng hệ thống Lỗi tương ứng

Unlike <Location>

Unlike

</Location>

Hệ thống tìm thấy thực thể, nhưng thực tế không phải (thừa)

2.5.1 Cách đánh giá dựa trên độ trùng khớp

IREX và CONLL sử dụng phương pháp đánh giá đơn giản hơn MUC Phương pháp này được gọi chung là phương pháp đánh giá dựa trên độ trùng khớp (Exact Match Evaluation)

Phương pháp này sử dụng ba độ đo: độ chính xác P(Precision), độ phủ R(Recall), độ

đo trung bình F(F-Messure) Độ chính xác xác định phần trăm các mẫu đúng được hệ thống tìm thấy so với các mẫu được hệ thống cho là đúng Độ phủ xác định phần trăm mẫu đúng được hệ thống tìm thấy so với thực tế Độ đo F là giá trị trung bình giữa độ phủ và độ chính xác Ba độ đo này được tính toán theo các công thức sau:

Trang 39

2.5.2 Cách đánh giá của MUC

Trong MUC [26, 104], hệ thống được đánh giá theo: Khả năng tìm kiểu nhãn chính xác (Type) và khả năng tìm văn bản chính xác (Text) Kiểu nhãn chính xác chỉ tính các thực thể được gán kiểu chính xác, không quan tâm tới đường biên, trừ trường hợp bị trùng Kiểu văn bản chính xác (Text) chỉ tính đường biên của thực thể chính xác, không quan tâm đến kiểu thực thể Đối với cả Type và Text, 3 độ đo được dùng là: số câu trả lời hệ thống dự đoán đúng so với thực tế (COR); số câu trả lời của hệ thống được cho là đúng (ACT) và số

đáp án đúng được gán nhãn bằng tay (POS)

Cuối cùng là độ đo trung bình F giữa độ chính xác (Precision) và độ phủ (Recall) Trong MUC, độ đo trung bình F được tính theo tất cả các kiểu thực thể, chứ không tính riêng biệt cho từng kiểu thực thể Trong MUC, độ chính xác được tính bằng COR/ACT và

Trang 40

CHƯƠNG 3

CÁC PHƯƠNG PHÁP HỌC MÁY DÙNG TRONG LUẬN ÁN

Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày chi tiết các phương pháp học máy, được sử dụng, gồm mô hình trường ngẫu nhiên có điều kiện (Conditioal Random Field-CRF), mô hình máy vectơ hỗ trợ (Support Vector Machine-SVM), mô hình phân phối Dirichlet ẩn (Latent

Dirichlet Allocation -LDA) và các phương pháp học bán giám sát

3.1 Mô hình trường ngẫu nhiên có điều kiện

Như trong phần 2.3 đã nói, bài toán trích rút thực thể có thể coi là gán nhãn cho dữ liệu dạng chuỗi Để giải quyết bài toán này, phương pháp thành công nhất hiện nay là trường ngẫu nhiên có điều kiện (Conditional Random Field -CRF) CRF [58, 63, 64, 94] được giới thiệu lần đầu vào năm 2001 bởi Lafferty và các đồng nghiệp CRF là mô hình dựa trên xác suất có điều kiện, tích hợp được các thuộc tính đa dạng của chuỗi dữ liệu quan sát nhằm hỗ trợ cho quá trình phân lớp CRF sử dụng đồ thị vô hướng, điều này cho phép CRF có thể định nghĩa phân phối xác suất của toàn bộ chuỗi trạng thái khi biết chuỗi quan sát cho trước, thay vì phân phối trên mỗi trạng thái khi biết trạng thái trước đó và quan sát hiện tại Cho trước chuỗi quan sát, mô hình đồ thị vô hướng CRF lại biến đổi phân phối xác suất của chuỗi trạng thái thành tích các hàm tiềm năng trên các clique Do đó, CRFs không cần chuẩn hóa với các phân phối xác suất trên từng trạng thái Chính vì cách mô hình hóa như vậy, CRF có thể giải quyết được vấn đề “sai lệch nhãn” [65, 94] Phần này sẽ trình bày về định nghĩa CRF, vấn đề ước lượng tham số cho các mô hình CRF và vấn đề sử dụng mô hình này để phân lớp hoặc gán nhãn cho chuỗi

3.1.1 Khái niệm mô hình trường ngẫu nhiên có điều kiện CRF

Kí hiệu X là biến ngẫu nhiên nhận giá trị là chuỗi dữ liệu cần phải gán nhãn và Y là biến ngẫu nhiên nhận giá trị là nhãn tương ứng Mỗi thành phần Y i của Y là một biến ngẫu nhiên

nhận giá trị trong tập hữu hạn các trạng thái S Trong bài toán trích rút thực thể, X có thể nhận giá trị là các câu trong ngôn ngữ tự nhiên và mỗi thành phần X i của X sẽ tương ứng với một từ trong câu, Y là một chuỗi ngẫu nhiên các kiểu thực thể tương ứng với các câu và

Ngày đăng: 09/07/2017, 20:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w