1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Nghiên cứu bài tập phát triển lực và tốc độ đánh bóng ở một số kỹ thuật cơ bản cho nam vận động viên quần vợt trẻ lứa tuổi 14 16

301 590 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 301
Dung lượng 3,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để phát triển lực và tốc độ đánh bóng trong Quần vợt, trước tiên, cần hiểu rõ đặc điểm môn thể thao, đặc điểm kỹ thuật động tác cũng như định khu các cơ tham gia vào quá trình thực hiện

Trang 1

**********************

NGÔ HẢI HƯNG

NGHIÊN CỨU BÀI TẬP PHÁT TRIỂN LỰC VÀ TỐC ĐỘ ĐÁNH BÓNG Ở MỘT SỐ KỸ THUẬT CƠ BẢN CHO NAM VẬN ĐỘNG VIÊN QUẦN VỢT TRẺ LỨA TUỔI 14-16

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

**********************

NGÔ HẢI HƯNG

NGHIÊN CỨU BÀI TẬP PHÁT TRIỂN LỰC VÀ TỐC ĐỘ ĐÁNH BÓNG Ở MỘT SỐ KỸ THUẬT CƠ BẢN CHO

Chuyên ngành: Huấn luyện thể thao

Mã số: 62 14 01 04

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Cán bộ hướng dẫn khoa học

1 GS.TS Nguyễn Đại Dương

2 GS.TS Lưu Quang Hiệp

HÀ NỘI – 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả luận án

Ngô Hải Hưng

Trang 4

Trang bìa

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục ký hiệu viết tắt trong luận án

Danh mục đơn vị đo lường trong luận án

Danh mục các biểu bảng, biểu đồ trong luận án

1.1.2 Các yếu tố cấu thành thành tích thể thao trong Quần vợt 9

1.1.3 Vai trò của các tố chất thể lực đối với thành tích môn Quần

1.3.2 Đặc điểm và sự phân chia giai đoạn của quy trình đào tạo

vận động viên nhiều năm

27

Trang 5

2.2 2 Phương pháp phỏng vấn (an ket) 40

2.2 4 Phương pháp quan trắc video graphic (trong đó có phân

tích 3D, đo gia tốc bằng máy bắn bóng…)

41

3.1 Nghiên cứu xác định các yếu tố quyết định đến lực và tốc độ đánh bóng ở một số kỹ thuật cơ bản trong Quần vợt

nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 14-16

76

3.2 Nghiên cứu lựa chọn hệ thống bài tập phát triển lực và tốc độ đánh

84

3.2.1 Thực trạng chương trình huấn luyện cho nam vận động

viên Quần vợt lứa tuổi 14-16

84

3.2.2 Thực trạng sử dụng bài tập phát triển lực và tốc độ đánh

bóng cho nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 14-16

86

3.2.3 Lựa chọn bài tập phát triển lực và tốc độ đánh bóng cho

nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 14-16

87

lực và tốc độ đánh bóng cho nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 14-16

95

Trang 6

Chương 4 BÀN LUẬN 110

4.1.1 Về mức độ sử dụng và hiệu quả sử dụng các kỹ thuật đánh

bóng cơ bản trong Quần vợt

4.1.4 Bàn luận về các yếu tố quyết định đến lực và tốc độ đánh

bóng và ảnh hưởng của lực và tốc độ đánh bóng tới hiệu quả thi đấu môn Quần vợt

123

4.1.5 Bàn luận về thực trạng kết quả kiểm tra lực và tốc độ đánh

bóng c ủa nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 14-16

127

4.2.1 Bàn luận về thực trạng sử dụng bài tập phát triển lực và tốc độ đánh bóng cho nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 14-16

145

4.2.2 Bàn luận về việc lựa chọn bài tập phát triển lực và tốc độ đánh bóng cho nam VĐV Quần vợt lứa tuổi 14-16

146

Danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến luận án 159

Phụ Lục

Trang 7

1.1 Phân chia giai đoạn theo quy trình đào tạo vận động viên 29

của nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 14-16 (n=12 trận)

độ đánh bóng qua quan trắc Video graphic (n=30)

65

một số kỹ thuật cơ bản cho nam vận động viên Quần vợt lứa

tuổi 14-16 (n=49)

Sau tr

68

tích thi đấu của vận động viên Quần vợt nam trẻ lứa tuổi

14-16

Trước

tr 71

và tốc độ một số kỹ thuật cơ bản cho nam vận động viên Quần

số kỹ thuật cơ bản cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi

14 (n=16)

Sau tr

77

số kỹ thuật cơ bản cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi

15 (n=16)

Sau tr

77

số kỹ thuật cơ bản cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi

16 (n=16)

Trước

tr 78

thuật cơ bản cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 14

(n=16)

Sau tr

78

thuật cơ bản cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 15

(n=15)

Sau tr

78

Trang 8

3.17 Bảng điểm tổng hợp đánh giá lực và tốc độ một số kỹ thuật cơ

vận động viên Quần vợt lứa tuổi 14-16 tại một số đơn vị huấn

luyện Quần vợt (n=12)

Phụ lục

9

đánh bóng cho nam vận động viên Quần vợt lứa tuổi 14-16

(n=38)

Phụ lục

10

viên Quần vợt lứa tuổi 14-16 thông qua quan trắc Video

Trước

tr

101

thực nghiệm và nhóm đối chứng - thời điểm sau 06 tháng thực

nghiệm

Sau tr

101

của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau 06 tháng thực

nghiệm

Trước

tr 102

của nhóm đối chứng và thực nghiệm thời điểm sau 06 tháng

và sau 12 tháng thực nghiệm

Sau tr

103

viên Quần vợt lứa tuổi 14-16 thông qua quan trắc Video

Sau tr

105

của nhóm thực nghiệm và đối chứng thông qua quan trắc

Video Graphic thời điểm sau 12 tháng thực nghiệm

106

Trang 9

lực và tốc độ cho vận động viên Quần vợt nam lứa tuổi 14-16

69

độ đánh bóng của nhóm thực nghiệm và đối chứng sau 06 tháng thực nghiệm

102

độ đánh bóng của nhóm thực nghiệm và đối chứng sau 12 tháng thực nghiệm

104

bóng của nhóm thực nghiệm và đối chứng sau 12 tháng thực nghiệm

107

thực nghiệm và đối chứng sau 12 tháng thực nghiệm

107

đạt tốc độ cao nhất của nhóm thực nghiệm và đối chứng sau 12 tháng thực nghiệm

108

Hình

bên trái 1 tay

60

bên trái 2 tay

61

Trang 11

MỞ ĐẦU

Quần vợt là môn thể thao được phát triển từ rất sớm ở các nước Châu

Âu, Châu Mỹ Do đặc điểm phong phú đa dạng và tính hấp dẫn, Quần vợt nhanh chóng được phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước trên Thế giới và trở thành một trong những môn thể thao nằm trong chương trình thi đấu ở các kỳ Đại hội Olympic

Đầu thế kỷ 20 cùng với sự xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp, Quần vợt và một số môn thể thao hiện đại khác cũng được du nhập vào Việt Nam

và phát triển ở một số thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Sài Gòn Đặc biệt ở Nam bộ vào những năm 1920 - 1930, tuy nhiên do điều kiện đất nước còn khó khăn nên chưa có điều kiện để phát triển môn thể thao này Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất đã mở ra một thời kỳ mới cho sự nghiệp TDTT nói chung và môn Quần vợt nói riêng Nếu như trước đây Quần vợt chỉ xuất hiện ở một số thành thị lớn thì ngày nay nó

đã được lan rộng tới các tỉnh miền núi như Hà Giang, Lạng Sơn, Đắc Lắc, hay tới các tỉnh địa đầu Tổ Quốc như Quảng Ninh, Cà Mau Hàng năm Liên đoàn Quần vợt Việt Nam cùng với cơ quan thể thao các cấp tổ chức nhiều giải Quần vợt khác nhau từ địa phương tới Trung Ương như: Giải Quần vợt của Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh Các giải trong hệ thống hàng năm như: Giải Quần vợt thanh thiếu niên toàn quốc, giải vô địch Quần vợt toàn quốc, giải cây vợt xuất sắc toàn quốc, giải cúp đồng đội Với mục đích thông qua việc tổ chức các giải đấu này nhằm kiểm tra đánh giá phong trào tập luyện môn Quần vợt trong cả nước đồng thời để học hỏi, nâng cao trình

độ và làm cơ sở để lựa chọn đội ngũ VĐV trẻ có năng lực, trình độ kỹ, chiến thuật, thể lực và tâm lý để từng bước trở thành lực lượng VĐV kế cận cho đội tuyển quốc gia Để nâng cao chất lượng và tạo điều kiện cho các VĐV có dịp

va chạm cọ sát với VĐV trong khu vực và thế giới Những năm gần đây Liên

Trang 12

đoàn Quần vợt Việt Nam cùng với liên đoàn Quần vợt châu Á và thế giới đã phối hợp đăng cai tổ chức một số giải lớn mang tầm cỡ Quốc tế như: Giải Chalenger, giải MenFuntre, giải U18 khu vực Ngoài các giải thi đấu trong nước và quốc tế tại Việt Nam, các VĐV Việt Nam cũng đã có mặt trên các đấu trường của khu vực và thế giới, VĐV Việt Nam cũng bước đầu giành được những thành tích nhất định Đó là huy chương đồng đôi nam - nữ của

Ôn Tấn Lực và Nguyễn Thị Kim Trang tại Seagames 18 ở Chieng Mai (Thái Lan) và huy chương bạc đôi nam - nữ, huy chương đồng đôi nam tại Seagames

19 Jakata (Indonesia) Huy chương vàng đôi nam của Huỳnh Chí Khương và

Đỗ Minh Quân tại giải Quần vợt U18 khu vực Tuy nhiên so với trình độ các VĐV Quần vợt nhà nghề trên thế giới hiện nay, thì thành tích của VĐV Việt Nam vẫn còn ở mức rất khiêm tốn, nhưng hy vọng trong một thời gian không

xa các VĐV Quần vợt Việt Nam sẽ giành được thành tích cao hơn trong các cuộc thi đấu khu vực và thế giới

chung lại có thể chia riêng làm các kỹ thuật di chuyển của chân và các kỹ thuật đánh bóng của tay Nét nổi bật của Quần vợt hiện nay là tính linh hoạt

và tốc độ, sự nắm vững kỹ chiến thuật, khả năng phối hợp ở mọi vị trí, năng lực phản ứng kịp thời với các tình huống cùng với sự tập trung chú ý cao và

ổn định về tâm lý Với tư tưởng chỉ đạo chiến thuật là "tích cực, chủ động, tấn công toàn diện và kết thúc nhanh chóng", muốn đạt được thành tích cao trong

chúng ta phải thừa nhận rằng: Yếu tố lực và tốc độ là vô cùng quan trọng nó góp phần không nhỏ mang lại hiệu quả thi đấu và có vai trò quyết định đối với thành tích đỉnh cao của VĐV Chính vì lẽ đó trong quá trình giảng dạy và huấn luyện cho VĐV thì ngoài việc phát triển các tố chất chuyên môn đặc thù

Trang 13

là yếu tố có ý nghĩa rất lớn đến hiệu quả thực hiện động tác và thành tích thi đấu của VĐV

Sức mạnh tốc độ biểu hiện trong Quần vợt là khả năng xử lý các tình huống bất ngờ trong khoảng thời gian ngắn nhất, khả năng phối hợp vận động

di chuyển để thực hiện các động tác, như: Đập bóng, giao bóng VĐV cần phải có sức mạnh bột phát, nghĩa là phải có sức mạnh Tốc độ co cơ ở mức cao Điều đó chứng tỏ huấn luyện SMTĐ trong Quần vợt là rất cần thiết và quan trọng trong việc nâng cao thành tích của môn thể thao này, nhưng mức

độ ảnh hưởng và vai trò của nó tới hiệu quả thi đấu của các VĐV nước ta vẫn còn là vấn đề đang được nghiên cứu

Qua quan sát một số trận đấu ở giải quốc gia, khu vực và một số giải quốc tế, chúng tôi đã trao đổi mạn đàm với các chuyên gia, huấn luyện viên nhiều kinh nghiệm trên toàn quốc để có những thông tin chính xác về những nguyên nhân dẫn đến thành tích thi đấu của các VĐV nước ta Các chuyên gia huấn luyện viên đều cho rằng bên cạnh những mặt mạnh mà VĐV Việt Nam

đã đạt được như: Tinh thần, kỹ, chiến thuật thì còn một nhược điểm rất lớn cần phải khắc phục đó là: Trình độ thể lực, đặc biệt là lực và tốc độ trong những động tác đánh bóng, điều này được bộc lộ qua các đường bóng chậm, thiếu uy lực, không gây khó khăn cho đối phương dẫn đến tạo cơ hội cho đối phương giành thế chủ động tấn công giành điểm Chính vì vậy một trong những nhiệm vụ hàng đầu của công tác huấn luyện VĐV Quần vợt đỉnh cao trong những năm tới phải đòi hỏi có một chương trình huấn luyện đảm bảo tính hệ thống, khoa học, cần nghiêm túc đánh giá và đưa ra các giải pháp cụ thể trên cơ sở xây dựng các bài tập phát triển thể lực chuyên môn phù hợp

Để phát triển lực và tốc độ đánh bóng trong Quần vợt, trước tiên, cần hiểu rõ đặc điểm môn thể thao, đặc điểm kỹ thuật động tác cũng như định khu các cơ tham gia vào quá trình thực hiện động tác, từ đó, lựa chọn bài tập và

Trang 14

phương pháp tác động trực tiếp vào các nhóm cơ tham gia hoạt động vận động Song song với đó, cần quan tâm đặc điểm tố chất thể lực và xu hướng huấn luyện lực và tốc độ hiện đại cho từng lứa tuổi cũng như đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi, giới tính

Xuất phát từ thực tế trên thì việc nghiên cứu lựa chọn các bài tập khoa học, hợp lý, ứng dụng vào công tác huấn luyện lực và tốc độ đánh bóng cho nam VĐV Quần vợt nước ta là điều rất cần thiết, trong khi hiện tại, chưa có tác giả nào tại Việt Nam quan tâm nghiên cứu Ở nước ngoài, đã có một số nghiên cứu đề cập đến quá trình phát triển SMTĐ ở lứa tuổi thiếu niên nhi đồng như: Tác giả Lupandin N.A., Gontrarôva N.N., Philin V.P., Nomeco

huấn luyện SMTĐ cho VĐV Tennis trẻ Theo các tác giả thì ở lứa tuổi 16 - 18 thì SMTĐ của VĐV đạt mức tối đa và phương tiện phát triển SMTĐ thường được sử dụng là những bài tập thể lực chuyên môn có sử dụng các phương tiện máy móc hiện đại Tuy nhiên trong các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài chúng tôi nhận thấy trong lĩnh vực huấn luyện lực và tốc độ cho VĐV Tennis chủ yếu mới chỉ tập chung ở lứa tuổi từ 7 - 13, còn ở lứa tuổi 14-16 chưa được quan tâm nghiên cứu sâu Chính vì vậy chúng tôi đi vào nghiên cứu luận án:

Nghiên cứu bài tập phát triển lực và tốc độ đánh bóng ở một số kỹ thuật cơ bản cho nam vận động viên Quần vợt trẻ lứa tuổi 14-16

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu xác định đặc tính sinh cơ

học một số kỹ thuật đánh bóng cơ bản, xác định và phân tích hành động vận động của kỹ thuật trên cơ sở định khu các cơ tham gia trực tiếp trong quá trình thực hiện kỹ thuật, từ đó luận án tiến hành lựa chọn những bài tập khoa học, hợp lý, có tác dụng phát triển lực và tốc độ đánh bóng cho nam VĐV Quần vợt Đồng thời tiến hành kiểm nghiệm và xác định hiệu quả hệ thống

Trang 15

các bài tập đã lựa chọn Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là cơ sở góp phần cung cấp thêm những kiến thức chuyên môn cho các chuyên gia, huấn luyện viên trên toàn quốc, giúp nâng cao chất lượng đào tạo huấn luyện VĐV Quần vợt, cải thiện thành tích thể thao của các VĐV Quần vợt trên đấu trường khu vực và thế giới

Giả thiết khoa học:

Giả thiết của luận án nếu lựa chọn được hệ thống bài tập phát triển lực

và tốc độ đánh bóng có căn cứ khoa học, phù hợp với lứa tuổi và đặc trưng môn thể thao chuyên sâu, thì có thể nâng cao được hiệu quả phát triển lực và tốc độ đánh bóng cho nam vận động viên Quần vợt trẻ lứa tuổi 14-16

Mục tiêu nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án giải quyết các mục tiêu sau:

Mục tiêu 1: Nghiên cứu xác định các yếu tố quyết định đến lực và tốc

độ đánh bóng ở một số kỹ thuật cơ bản trong Quần vợt

Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn hệ thống bài tập phát triển lực và tốc

độ đánh bóng cho nam VĐV Quần vợt trẻ lứa tuổi 14-16

Mục tiêu 3: Ứng dụng và xác định hiệu quả các bài tập lựa chọn nhằm

phát triển sức mạnh tốc độ đánh bóng cho nam VĐV Quần vợt trẻ lứa tuổi

14-16

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc điểm môn Quần vợt

Quần vợt là môn thể thao được phát triển rất sớm ở các nước châu Âu, châu Mỹ Do đặc điểm phong phú, đa dạng, hấp dẫn, Quần vợt nhanh chóng phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước trên thế giới và trở thành một trong những môn nằm trong chương trình thi đấu ở Đại hội Olimpic

Ở Việt Nam, môn Quần vợt đã được du nhập vào từ đầu thế kỷ XX, nhưng chỉ được phát triển mạnh từ sau ngày đất nước thống nhất Trong những năm gần đây, ngoài những giải thi đấu trong nước và quốc tế tại Việt Nam, các vận động viên Việt Nam đã có mặt trên các đấu trường của khu vực

Trong đánh giá đặc điểm kỹ thuật Quần vợt cần chú ý đặc biệt tới đặc điểm kỹ thuật đánh bóng và đặc điểm kỹ thuật di chuyển [9], [29], [68], [73]

Đặc điểm kỹ thuật đánh bóng

bằng tốc độ bay của bóng, sự chuẩn xác và ổn định của bóng khi rơi vào các

vị trí đã chọn trên sân Nói cách khác, nó được xác định bằng các quá trình điều khiển các hoạt động đánh bóng và truyền lực bay cho bóng Các quá

Trang 17

trình này diễn ra trong khoảng thời gian của tất cả 5 giai đoạn của hoạt động đánh bóng Mỗi giai đoạn đều phải giải quyết những nhiệm vụ riêng, đảm bảo một mục đích nhất định [27], [28], [29], [68],[74], [75] Cụ thể:

Giai đoạn 1: Giai đoạn tạo đà (Chuyển động vợt về phía sau để vung đà): Từ vị trí ban đầu, đấu thủ đưa tay cầm vợt về phía sau, co tay ở khớp khuỷu Giai đoạn này kết thúc ở thời điểm khi góc ở khớp nhỏ nhất và vợt ở

vị trí xa hơn so với lưới

Giai đoạn 2: Giai đoạn tăng tốc độ vợt (Chuyển động vợt về trước cùng với sự tăng tốc độ): Giai đoạn này bắt đầu trước thời điểm bóng chạm mặt vợt Phần thứ nhất của giai đoạn này bắt đầu từ thời điểm duỗi thẳng tay ở khớp khuỷu và kết thúc khi góc đó đạt tới tối đa

Giai đoạn 3: Giai đoạn tiếp xúc bóng (Sự tác động của vợt với bóng): Giai đoạn này bắt đầu thời điểm bóng chạm mặt vợt Trong quá trình giai đoạn này, năng lượng do vợt thu nhận được truyền vào bóng Giai đoạn này được kết thúc khi bóng rời mặt vợt

Giai đoạn 4: Giai đoạn giảm tốc (Chuyển động chậm vợt về phía trước) Trong thời gian giai đoạn này, góc khớp khuỷu vẫn không đổi hoặc có giảm chút ít Giai đoạn này được kết thúc khi đấu thủ bắt đầu co tay ở khớp khuỷu Tốc độ chuyển động của vợt về hướng đánh giảm dần tới số không

Giai đoạn 5: Đưa vợt trở về vị trí ban đầu Giai đoạn này tiếp tục cho tới khi góc ở khớp khuỷu sẽ không còn nhỏ nhất Thời điểm đó là kết thúc hoạt động đánh bóng của đấu thủ [68], [74], [75]

Tuy nhiên, việc xác định hướng đi của vợt phụ thuộc chủ yếu vào mục đích đánh bóng và các điều kiện để thực hiện quả đánh đó Nói cách khác, trong mỗi kỹ thuật khác nhau thì việc điều chỉnh bóng phụ thuộc vào khả năng điều khiển vợt của tay (cẳng tay và cổ tay) khi tiếp xúc bóng

Đặc điểm kỹ thuật di chuyển

Trang 18

Di chuyển trong Quần vợt rất đa dạng và bao gồm nhiều kỹ thuật di chuyển khác nhau Nếu căn cứ vào phương hướng di chuyển có thể chia ra là:

Di chuyển ngang, di chuyển chéo và di chuyển lên xuống; còn nếu căn cứ vào phương pháp bước chân lại có thể phân biệt là di chuyển bước đôi hoặc bước chéo, trong đó di chuyển bước chéo là kỹ thuật được sử dụng thường xuyên hơn cả Tuy nhiên ở bất cứ loại hình di chuyển nào trong quá trình thực hiện đều phải trải qua các giai đoạn sau:Tư thế chuẩn bị ban đầu  Xuất phát  Các bước di chuyển đến vị trí đánh bóng  Bước cuối cùng trước khi thực hiện động tác đánh bóng  Trở về vị trí chuẩn bị

Tóm lại, kỹ thuật di chuyển trong Quần vợt rất đa dạng và phong phú Vận động viên phải nắm vững tất cả các kỹ thuật di chuyển để ứng dụng trong từng trường hợp cụ thể trong trận đấu [3], [9], [29], [68]

1 1.1.2 Đặc điểm chiến thuật

Chiến thuật là nghệ thuật tiến hành thi đấu nhằm giải quyết các nhiệm

vụ hiện tại của cuộc thi trong quá trình giành điểm trực tiếp

Chiến thuật trong Quần vợt là những phương án chơi và sự sắp xếp vị trí trong trận đấu mà đấu thủ sử dụng nhằm đảm bảo đạt được một mục tiêu - một phần của kế hoạch chiến lược đã định sẵn

Chiến thuật trong thi đấu Quần vợt rất đa dạng và linh hoạt Trong thực

tế, chiến thuật có tầm quan trọng không kém gì kỹ thuật, là bộ phận không thể thiếu để nâng cao trình độ toàn diện của Quần vợt Những loại hình chiến thuật Quần vợt đã được hình thành cho đến nay gồm:

Chiến thuật đánh bóng ở cuối sân (Tấn công và phòng thủ chủ yếu ở đường cuối sân)

Chiến thuật giao bóng lên lưới và đánh vôlê (tấn công chủ yếu ở lưới)

công ở đường cuối sân [9], [29], [68], [73]

Trang 19

Chiến thuật trong Quần vợt thường được chia ra: Chiến thuật đánh đơn

điểm kỹ thuật của VĐV

Tóm lại, nắm vững chiến thuật Quần vợt sẽ tạo điều kiện cho người chơi nắm vững các hoạt động để sử dụng tối đa trình độ phát triển đồng thời kiểm định lại kỹ thuật của vận động viên, những phẩm chất về năng lực riêng biệt, khả năng về tâm lý và kiến thức lý luận của VĐV trong thi đấu Nắm vững chiến thuật Quần vợt cũng giúp cho vận động viên lựa chọn được những quyết định có hiệu quả trong các tình huống thi đấu hoặc duy trì thế chủ động, giành thắng lợi những pha bóng quan trọng có ý nghĩa quyết định ảnh hưởng tới kết quả trận đấu

1.1.2 Các yếu tố cấu thành thành tích thể thao trong Quần vợt

Thành tích thể thao nói chung và thành tích Quần vợt nói riêng chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau Để đào tạo được vận động viên có thành tích thể thao cao, đáp ứng được xu thế phát triển của Quần vợt hiện đại thì công tác huấn luyện phải quán triệt tốt về lý luận cũng như thực tiễn các mặt cấu thành thành tích thể thao [9], [29], [68], [73] Cụ thể gồm:

Các yếu tố mang tính di truyền (hình thái cơ thể, chức năng…)

Các yếu tố do quá trình huấn luyện tạo thành (được kết hợp chặt chẽ với các yếu tố di truyền của từng cá thể để hình thành các năng lực về kỹ chiến thuật, thể lực, tâm lý, trí lực …)

Động cơ tư tưởng và các yếu tố do môi trường xã hội tạo nên

Các mặt trên phải được huấn luyện một cách hệ thống, khoa học, có chủ đích và có mối quan hệ hữu cơ giữa chúng

Có thể xem xét sơ đồ:

Trang 20

Cần chú ý rằng: nếu các yếu tố hình thái, chức năng cơ thể mang tính tĩnh thì các yếu tố kỹ, chiến thuật, thể lực, tâm lý, trí tuệ, động cơ tư tưởng lại mang tính động, biến đổi dưới tác động của huấn luyện và đời sống

Trong huấn luyện Quần vợt hiện đại, tất cả các yếu tố cấu thành thành tích thể thao trong Quần vợt đều được quan tâm, tuy nhiên, mức độ của từng thành phần còn phụ thuộc vào tầm quan trọng của bản thân thành phần đó tới thành tích thực tế môn Quần vợt [9], [29], [49], [68], [73]

1.1.3 Vai trò của các tố chất thể lực đối với thành tích môn Quần vợt

Quá trình huấn luyện thể lực cho vận động viên là một quá trình đào tạo chuyên môn, chủ yếu bằng hệ thống bài tập nhằm hoàn thiện các năng lực thể chất, đảm bảo vận động viên đạt thành tích cao nhất

Việc nghiên cứu quan hệ mang tính đặc trưng của tố chất thể lực trong các môn thể thao được nhiều tác giả nghiên cứu như Pharphen.V.X [43],

Truyền [7], Nguyễn Toán - Phạm Danh Tốn [56], [57]… Quan hệ giữa các tố chất thể lực mang tính đặc trưng cho từng môn thể thao đã được Pharphen biểu diễn bằng hình vẽ vào năm 1962 và gần đây được một nhóm tác giả của Trung Quốc biểu diễn bằng hình không gian Những năm gần đây, khi nghiên cứu sâu hơn về tố chất thể lực theo 3 dạng cơ bản sức nhanh, sức mạnh và sức bền, phát hiện có những môn thể thao nằm giữa 3 loại trên, tức là những môn mang đặc trưng của 1 loại tố chất chủ đạo nhưng liên quan đến tố chất khác

Ta quan sát sơ đồ:

Trang 21

Trong công tác huấn luyện Quần vợt, các nhà chuyên môn cho rằng: tố chất thể lực của vận động viên Quần vợt phải được phát triển một cách toàn diện và lâu dài trong suốt quá trình tập luyện Tuy nhiên với đặc thù của Quần vợt, các tố chất thể lực phải phát triển theo đặc điểm riêng, từng tố chất thể lực phát triển dựa theo tuổi sinh học, thời kỳ nhạy cảm, từng giai đoạn huấn luyện… Nhiều môn thể thao tố chất đặc trưng được xác định dễ dàng như tố chất sức nhanh của VĐV chạy cự ly ngắn, tố chất sức mạnh của vận động viên Cử tạ… Nhưng với môn thể thao đối kháng gián tiếp như Quần vợt, việc xác định tố chất đặc trưng là rất khó do: Động tác kỹ thuật phức tạp; Chiến thuật biến hoá; Tính đối kháng cao và Thành tích phụ thuộc nhiều yếu tố

Cũng như các môn thể thao khác, trình độ thể lực rất quan trọng để vận động viên Quần vợt có thể thi đấu đạt thành tích cao nhất Trình độ thể lực của vận động viên Quần vợt được xác định chủ yếu ở các tố chất như sức mạnh để tăng lực của các quả đánh, sức nhanh để tăng tốc độ bóng, sức bền

để duy trì lực và tốc độ trong suốt thời gian thi đấu, khả năng phối hợp động tác để có thể đánh trúng bóng, di chuyển hợp lý tới điểm tiếp xúc bóng, mềm dẻo để tăng biên độ động tác đánh bóng tức là tăng khoảng cách tạo đà trước khi tiếp xúc bóng ở bất kỳ quả đánh nào [9], [29], [68], [73]

Tóm lại, khi phát triển thể lực cho vận động viên Quần vợt cần phát triển đồng thời tất cả các tố chất thể lực Tuy nhiên, ưu tiên phát triển sức mạnh để tăng lực đánh bóng và sức nhanh để tăng tốc độ đánh bóng cũng như khả năng di chuyển tới điểm đón bóng

1.1.4 Xu hướng huấn luyện vận động viên Quần vợt hiện đại

Xu hướng phát triển Quần vợt hiện đại thiên về lối đánh nhanh, mạnh, chính xác và biến hóa điểm rơi Quần vợt hiện đại đòi hỏi VĐV phải có kỹ thuật toàn diện, kết hợp giữa tốc độ, sức mạnh và điểm rơi một cách hợp lý

Trang 22

cùng với tư tưởng chỉ đạo của chiến thuật là tích cực chủ động, tấn công toàn diện và nhanh chóng dứt điểm

Trong các kỹ thuật phòng thủ của môn Quần vợt, sức mạnh tốc độ cũng

là tố chất chủ đạo cần thiết để có thể phản công lại các đường bóng có uy lực

và có tốc độ cao Vận động viên không chỉ cần có sức nhanh để phán đoán đường bóng tới và di chuyển tới vị trí đón bóng mà còn cần có sức mạnh để đánh trả các đường bóng có tốc độ cao và lực mạnh Nếu không đủ sức mạnh, với những pha bóng có lực lớn, VĐV thường bị “bung vợt” hoặc đánh trả không chính xác đường bóng đến [9], [29], [68], [73]

Vấn đề huấn luyện các tố chất thể lực cho VĐV Quần vợt là vô cùng quan trọng, nhất là cho các VĐV trẻ, ngoài phát triển một cách toàn diện thì

“quỹ thời gian huấn luyện thể lực chung và thể lực chuyên môn trong chu kỳ huấn luyện năm là 50% tổng số giờ huấn luyện” (S.Piacentini - P Missaglia

vận động viên Quần vợt, cần phát triển toàn diện các tố chất thể lực thành phần, ưu tiên phát triển sức mạnh tốc độ, sức bền tốc độ, sức mạnh bền …)

Các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu về môn Quần vợt đã nêu nên những yếu tố quan trọng về huấn luyện tố chất thể lực trong Quần vợt như:

mạnh tốc độ, sức bền tốc độ, mềm dẻo, khéo léo là cơ sở vận động của môn thể thao… Nguyễn Ngọc Cừ (1997) [14] cho rằng: Phát triển sức nhanh, mềm dẻo khéo léo và khẳ năng vận động là cơ bản, sức mạnh tốc độ, sức bền tốc độ được nâng dần theo lứa tuổi… Chỉ khi nào xác định rõ các tố chất thể lực cần thiết cho VĐV theo từng lứa tuổi, giới tính, giai đoạn huấn luyện thì việc lựa chọn nội dung huấn luyện, phương pháp huấn luyện và biện pháp huấn luyện mới đạt được hiệu quả tối đa

Trang 23

Ngày nay Quần vợt thế giới đang phát triển rất đa dạng và phong phú Mỗi khu vực, mỗi nước đều có lối đánh khác nhau Hầu hết các VĐV trên thế giới đều đã có những tiến bộ lớn về kỹ, chiến thuật cũng như phong cách lối đánh, điều này càng đặt ra những đòi hỏi cao hơn đối với VĐV và huấn luyện

1.2 Những vấn đề chung về huấn luyện lực và tốc độ trong Quần vợt

1.2.1 Cơ sở lý luận về huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao 1.2.1.1 Khái niệm về tố chất thể lực

Tố chất thể lực là trạng thái và năng lực cơ bản của toàn bộ cơ thể con người biểu hiện trong vận động như: sức mạnh, tốc độ (sức nhanh), sức bền,

… là trạng thái công năng tổng hợp của con người liên quan tới vận động, đồng thời bao hàm năng lực vận động chuyên biệt của VĐV trong một môn thể thao [1], [8], [16]

Tố chất thể lực là yếu tố của năng lực thể thao, được xác định trước hết thông qua các quá trình năng lượng và các tiền đề thành tích phù hợp với nó

Tố chất thể lực được xác định thông qua trình độ năng lực sức bền, sức mạnh, sức nhanh và các phẩm chất tâm lý phù hợp với từng loại năng lực

Sự biểu hiện và đánh giá tố chất thể lực rất đa dạng, phân thành hai loại lớn: Tố chất thể lực chung và tố chất thể lực chuyên môn

Thể lực chung là các tố chất thể lực cũng như khả năng chức phận khác nhau, không đặc trưng cho một hoạt động riêng biệt nào đó, tạo điều kiện cần thiết để nâng cao thể lực chuyện môn [1], [8], [16]

tốc độ (sức nhanh), sức bền, linh hoạt và mềm dẻo Tố chất TLCM là tố chất

cơ bản của VĐV liên quan đến vận động và kỹ thuật đặc thù của một môn thể thao [19], [35], [44]

1.2.1.2 Các quan điểm về huấn luyện thể lực trong huấn luyện thể thao

Trang 24

Theo Harre D (1996), Macximenco G (1980), Novicốp Mátvêép L.P

đào tạo VĐV, công tác huấn luyện thể lực chung được coi là then chốt, bởi thể lực chung cùng với TLCM được coi là nền tảng của việc đạt thành tích cao” [19], [35], [40], [44]

đích của từng giai đoạn huấn luyện mà tỷ trọng giữa huấn luyện thể lực chung

Khi đề cập đến thể lực chung cũng như giáo dục các tố chất TLCM trong hoạt động chung của con người thì hoạt động cơ bắp là đặc trưng và mang tính trọng tâm Hoạt động cơ bắp được thể hiện ở 3 phương diện:

Sự co cơ (phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ cấu trúc sợi cơ, số lượng sợi cơ

và thiết diện cơ);

Sự trao đổi chất (tức là các quá trình sản sinh năng lượng);

Sự dẫn truyền kích thích (hoạt động thần kinh cơ) [20], [50]

Theo Ozolin (1980), Philin (1996), phát triển ba phương diện trên đây luôn có tương quan với khả năng hoạt động của tố chất thể lực [42], [44] Tuy nhiên, các tố chất vận động trên luôn hiện diện trong mối tương tác lẫn nhau (không có biểu thị riêng tuyệt đối) Ví dụ: Động tác phát bóng hoặc đập bóng

nhiên, khi thực hiện động tác này ngoài sức nhanh, sức mạnh còn cần có khả năng phối hợp động tác và mềm dẻo tốt Hơn nữa, trong hoạt động thi đấu Quần vợt, sức bền mạnh và sức bền tốc độ là 02 yếu tố không thể thiếu khi thực hiện 02 kỹ thuật này

Quá trình chuẩn bị thể lực cho VĐV gồm: Chuẩn bị thể lực chung và chuẩn bị TLCM [2], [17], [18], trong đó chuẩn bị thể lực chung là nền tảng cho việc nâng cao TLCM Chuẩn bị TLCM phải chia làm 2 phần:

Trang 25

Chuẩn bị TLCM cơ sở hướng đến việc xây dựng các nền tảng cơ bản phù hợp với đặc thù chuyên môn của môn thể thao nhất định

Chuẩn bị TLCM cơ bản mà mục đích của nó là việc phát triển một cách rộng rãi các tố chất vận động thoả mãn những đòi hỏi của môn thể thao

Qua nghiên cứu tổng hợp nhiều quan điểm khác nhau và huấn luyện thể lực cho VĐV, về nguyên tắc trong chu kỳ huấn luyện lớn đầu tiên phải tiến hành việc huấn luyện thể lực chung để trên cơ sở đó tiến hành huấn luyện TLCM cơ sở [2], [17], [18]

Như vậy, việc phát triển các tố chất thể lực chung càng chặt chẽ bao

độ phát triển thể lực chung và chuyên môn là một quá trình liên tục và được duy trì ổn định Nó chỉ thay đổi, phát triển ở mức mới do những yêu cầu của nhiệm vụ huấn luyện mà giai đoạn đề ra Mặt khác, trong một chu kỳ huấn luyện cần thiết phải đảm bảo sự hợp lý giữa huấn luyện thể lực chung và huấn luyện TLCM [2], [17], [18]

Một quan điểm khác theo xu hướng y sinh học của các nhà khoa học Việt Nam như: Lê Bửu, Dương Nghiệp Chí [6], Nguyễn Ngọc Cừ [13], [14], Lưu Quang Hiệp, Trịnh Hùng Thanh, Lê Nguyệt Nga , thì: “Nói đến huấn luyện thể lực chung và chuyên môn trong huấn luyện thể thao là nói tới những biến đổi thích nghi và dự báo về mặt sinh học (cấu trúc và chức năng) diễn ra trong cơ thể VĐV dưới tác động của tập luyện được biểu hiện ở năng lực hoạt động cao hay thấp” [20], [21], [22], [70]

Theo quan điểm tâm lý học của một số chuyên gia Việt Nam đề cập vấn đề này như: Phạm Ngọc Viễn, Lê Văn Xem [67] cho rằng: “Quá trình

Trang 26

khó khăn liên quan đến việc thực hiện các hành động vận động là sự phù hợp những yếu tố tâm lý trong hoạt động tập luyện và thi đấu của VĐV”

Từ các quan điểm nêu trên cho thấy: Chuẩn bị thể lực nói chung và chuẩn bị TLCM nói riêng cho VĐV là tác động có định hướng của lượng vận động (bài tập thể chất) đến VĐV nhằm hình thành và phát triển khả năng vận động lên một mức độ mới, được biểu hiện ở sự hoàn thiện các năng lực thể chất, đồng thời còn nhằm nâng cao khả năng hoạt động của các cơ quan chức phận tương ứng với các năng lực vận động của VĐV, nâng cao các yếu tố tâm

lý trước hoạt động đặc trưng môn thể thao chuyên biệt

1.2.2 Đặc điểm của các bài tập thể lực và lượng vận động trong bài tập thể lực

sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích, phù hợp với quy luật giáo dục thể chất Người ta dùng chúng để giải quyết những nhiệm vụ GDTC và tinh thần của con người [19], [40], [42], [54]

Các BTTL được xây dựng phải phù hợp với mục đích, nhiệm vụ của quá trình huấn luyện, giảng dạy Tính mục đích của các bài tập trong huấn luyện thể hiện ở chỗ chúng có tác dụng nhằm phát triển thành tích người tập Các BTTL được sử dụng một cách thích hợp để phát triển các tiền đề thành tích cần thiết cho thi đấu hoặc kỹ thuật phải phù hợp với yêu cầu của cấu trúc bài tập, khả năng chịu đựng lượng vận động phải được nâng cao một cách liên tục [19], [40], [42], [54]

Để có thể điều khiển tốt việc sử dụng một cách có trọng điểm các bài tập phải xác định rõ nhiệm vụ cơ bản trong từng giai đoạn huấn luyện và phải chú ý tới thời gian ảnh hưởng tối ưu của từng bài tập Muốn làm được điều đó trong quá trình HLTL cho người tập cần phải nắm vững các vấn đề sau

1.2.2 1 Nội dung bài tập thể lực

Trang 27

Nội dung BTTL bao gồm các thành phần tạo nên các bài tập đó và các quá trình cơ bản xảy ra trong cơ thể do việc thực hiện bài tập đó tạo nên [20] Khi xem xét nội dung BTTL từ góc độ sư phạm, điều quan trọng là xem xét tác dụng tổng hợp của bài tập đó đối với việc phát triển những năng lực vận động của cơ thể và sự hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động, cũng như

sự tác động đến hành vi, nhân cách người tập

BTTL được xây dựng trên cơ sở những hoạt động có ý thức, tức là được điều khiển từ các trung tâm thần kinh ở vỏ não Đó là những hành vi vận động

có chủ đích, liên quan đến nhiều quá trình tâm lý Sự biểu tượng về động tác, hoạt động tư duy, cảm xúc… có ảnh hưởng đối với sự biểu hiện ý chí tình cảm, tính cách

1.2.2 2 Hình thức của bài tập thể lực

Là cấu trúc bên trong và bên ngoài của nó Hình thức bài tập phụ thuộc vào đặc điểm nội dung của nó

Cấu trúc bên trong của BTTL: Thể hiện ở mối quan hệ và sự phối hợp,

tác động lẫn nhau giữa các quá trình phối hợp thần kinh Cơ, sự phối hợp và tác động lẫn nhau giữa hoạt động của hệ vận động và hệ thực vật, cấu trúc của quá trình chuyển hoá năng lượng (tương quan giữa quá trình có ôxy và không

có ôxy)

Cấu trúc bên ngoài của BTTL: Là hình dáng có thể nhìn thấy của nó,

thể hiện đặc trưng ở mối quan hệ giữa các thông số không gian và thời gian và lực của các động tác tạo thành bài tập

Hình thức và nội dung của BTTL: Có quan hệ hữu cơ với nhau trong đó

nội dung mang ý nghĩa quyết định [19], [40], [42], [54]

1.2.2 3 Chất lượng bài tập thể lực

Chất lượng BTTL là yếu tố đánh giá một cách khách quan yêu cầu của lượng vận động Việc duy trì các thông số vận động quyết định ảnh hưởng

Trang 28

của mỗi bài tập Bởi vậy cần phải tìm các thông số vận động tối ưu và thường

thực hiện với chất lượng tốt nhất trong điều kiện cho phép nhằm thực hiện triệt để các nhiệm vụ được đặt ra Ngoài ra phải thường xuyên thực hiện đầy

đủ khối lượng vận động với các hình thức thực hiện khối lượng vận động khác nhau, mà trong đó có chứa các thông số vận động thi đấu

1.2.2 4 Cường độ của lượng vận động

Cường độ vận động được xác định thông qua độ lớn của từng kích thích sinh ra khi thực hiện một loạt các bài tập nhất định trên đơn vị thời gian

Cường độ vận động liên quan tới các bài tập Trong đa số các môn thể thao có thể thực hiện với mức độ dùng sức, tần số động tác và tốc độ thực hiện động tác khác nhau Độ lớn của cường độ quyết định phương hướng ảnh hưởng của bài tập đối với người tập

Việc lựa chọn cường độ vận động không cho phép chỉ căn cứ vào những thích ứng về hình thái chức năng mà còn cần chú ý đến trình độ kỹ thuật Mật độ vận động, mật độ của lượng vận động (LVĐ) là tỷ lệ thời gian giữa các giai đoạn vận động và nghỉ ngơi trong một buổi tập Thông qua mật

độ vận động LVĐ và nghỉ ngơi trong một buổi tập được xác định chặt chẽ Mật độ vận động tối ưu một mặt đảm bảo cho việc thực hiện một khối LVĐ lớn cũng như hiệu quả của LVĐ Mặt khác, tránh được hiện tượng mệt mỏi

quá sức của người tập [19], [40], [42], [54]

1.2.2 5 Khối lượng của lượng vận động

Khối lượng của LVĐ thể hiện ở số lượng các yêu cầu của LVĐ [15],

thể duy trì được LVĐ hiệu quả Trong giáo án huấn luyện chủ yếu nhằm phát triển kỹ thuật thì mức độ tối ưu của LVĐ chỉ đạt được khi người tập không còn thực hiện một cách chính xác quá trình vận động Mức độ của LVĐ trong

Trang 29

một buổi tập cần phải biết sắp xếp thống nhất với số lượng buổi tập Mặt khác tính chất nâng dần nếu không kết hợp với một nhịp độ tăng LVĐ cao đến mức đầy đủ sẽ dẫn đến sự phát triển chậm, thậm chí chững lại của trình độ tập luyện [19], [40], [42], [54]

1.2.2.6 Các phương pháp thực hiện lượng vận động

Nhằm điều khiển chính xác việc tập luyện cần hạn chế tính đa dạng về phương pháp thực hiện LVĐ, còn được gọi là các hình thức của LVĐ Các hình thức của LVĐ tiêu chuẩn bao gồm: Các loại bài tập với các loại dụng cụ tập luyện và các thông số vận động đòi hỏi; Phương pháp tập; Khối lượng và cường độ của LVĐ; Các hình thức tổ chức thực hiện các phương pháp và Đặc điểm điều kiện bên ngoài

Cần phải phân chia các hình thức của LVĐ theo việc giải quyết các nhiệm vụ trong tập luyện Việc sử dụng các hình thức của LVĐ phải phù hợp với mục đích và nhiệm vụ của từng giai đoạn Theo quy luật của quá trình thích nghi thì hiệu quả của LVĐ có thể bị giảm đi sau một thời gian dài sử dụng nó Do vậy, sự thay đổi các hình thức của LVĐ có cấu trúc khác và yêu cầu cao hơn cần được thực hiện theo yêu cầu khoa học [19], [40], [42], [54]

1.2.2.7 Cấu trúc của lượng vận động

Cấu trúc của LVĐ chỉ ra, các thành phần khác nhau và các yếu tố của huấn luyện thể thao cũng như các ảnh hưởng chung của chúng Các thành phần và yếu tố cơ bản cấu trúc của LVĐ, mà tỷ lệ của chúng trong khối lượng chung của yêu cầu LVĐ phải xác định là:

Yêu cầu của LVĐ đối với các bài tập phát triển chung và các bài tập chuyên môn

Trên cơ sở thống nhất của các yếu tố và hình thức của LVĐ cấu trúc nội dung yêu cầu của LVĐ chủ yếu quyết định mặt chất lượng của tập luyện [19], [40], [42], [54]

Trang 30

1.2.3 Vấn đề huấn luyện lực và tốc độ trong môn Quần vợt

1.2.3.1 Lực đánh bóng trong môn Quần vợt

Một trong những yếu tố tạo nên hiệu quả của kỹ thuật Quần vợt là sức mạnh (còn gọi là lực đánh bóng) được sử dụng trong đánh bóng Trong Quần vợt, lực trong đánh bóng chủ yếu là sức mạnh tốc độ và nó phụ thuộc rất nhiều vào sự phối hợp của chân, lườn thân, biên độ động tác của tay và tốc độ của động tác đánh bóng

Để hiểu thế nào là lực trong đánh bóng, trước tiên, cần tiến hành tìm hiểu lực là gì?

Khái niệm: Lực là một đại lượng vật lý được dùng để biểu thị tương tác giữa các vật, làm thay đổi trạng thái chuyển động của các vật Lực bao gồm

cả hai yếu tố là độ lớn và hướng

Lực tác động vào một vật thể có thể làm nó xoay hoặc biến dạng, hoặc thay đổi về ứng suất, và thậm chí thay đổi về thể tích

Ví dụ: lực làm cho vật thay đổi trạng thái như: lực dùng để bẻ đôi cây đũa; lực làm cho vật chuyển động như: lực dùng để đẩy hay kéo một vật làm cho vật di chuyển

Lực thường có ký hiệu là F, được đo bằng đơn vị newton trong hệ SI,

) Lực trong đánh bóng được hiểu là lực gây ra chuyển động của bóng Như chúng ta đã biết:

Mọi chuyển động có vận tốc V(t) thì lực được xác định

Theo định luật II Niuton: Lực làm cho vật di chuyển tỉ lệ thuận với khối lượng của vật và gia tốc di chuyển của vật

F = m a

Trang 31

Trong đó: F - lực, đo bằng newton (N) = KG m/s2

Với a - gia tốc, đo bằng đơn vị mét/giây²

Nếu có một lực làm cho vật di chuyển với gia tốc a, lực tác động trên vật là lực tổng của lực tác động theo chiều ngang và theo chiều dọc

F = F cos θ + F sin θ

F cos θ - lực tác động trên vật làm cho vật di chuyển theo chiều ngang

F Sin θ - lực tác động trên vật làm cho vật di chuyển theo chiều dọc Như vậy, có thể thấy rằng, trong công thức trên, để tăng lực đánh bóng, cần tăng chủ yếu là gia tốc đánh bóng bởi trọng lượng của vợt và bóng là cố định Tuy nhiên, trong điều kiện bóng đến, trọng lượng của bóng còn phụ thuộc vào lực của quả đánh bóng tới, lực này càng lớn thì trọng lượng bóng khi tiếp xúc với mặt vợt càng lớn

Bởi vậy, để tăng lực đánh bóng (F) trong điều kiện coi như trọng lượng vợt và bóng là không đổi, cần tăng chủ yếu là gia tốc đánh bóng Từ nguyên

lý trên thấy rằng: để tăng lực đánh bóng cần phải tăng cường tốc độ khi thực hiện động tác, tăng biên độ động tác… Muốn vậy, quá trình thực hiện kỹ thuật động tác cần chú ý các điểm sau:

xác định tư thế các bộ phận cơ thể trong không gian khi thực hiện kỹ thuật đánh bóng là mấu chốt cơ bản để phối hợp lực

xoay của chân, góc độ mở của tay cầm vợt ở khớp vai…

Trang 32

- Tăng tốc độ động tác tối đa vào thời điểm tiếp xúc bóng

thực hiện động tác sao cho đạt sức mạnh tối đa khi đánh bóng

mạnh tốc độ để hỗ trợ cho hiệu quả kỹ thuật [27], [28], [49], [72]

1.2.3.2 Tốc độ đánh bóng trong môn Quần vợt

Tốc độ bay của bóng trong khi đánh nhanh không chỉ buộc đối phương rơi vào tình thế bị động khi đánh trả bóng mà còn tạo điều kiện cho vận động viên chủ động dứt điểm trong thi đấu Quần vợt Ngày nay, bằng các phương tiện đo lường hiện đại, người ta đã tính được tốc độ bay của bóng trong Quần vợt có thể đạt tới 230km/h (đối với quả giao bóng) Ở tốc độ này, đối phương rất khó có thể đánh trả bóng một cách chuẩn xác và đây chính là cơ hội rất tốt

để vận động viên có thể ghi điểm trực tiếp hoặc sẽ dứt điểm ở những pha bóng tiếp theo Như đã phân tích, tốc độ bay của bóng phụ thuộc chủ yếu vào sức mạnh đánh bóng, song ở yếu tố này, cần xem xét, phân tích riêng về tốc

độ của bóng trong quá trình bay trên không trong mỗi kỹ thuật đánh bóng

Để tìm hiểu về tốc độ trong đánh bóng, trước tiên ta tìm hiểu về khái niệm tốc độ

vô hướng của vận tốc

Cụ thể, đối với chuyển động thẳng đều, tốc độ bằng tỷ số giữa độ lớn quãng đường di chuyển chia cho thời gian cần đi quãng đường đó Đối với chuyển động nói chung, nó là độ lớn của đạo hàm véc-tơ vị trí theo thời gian

Như vậy thứ nguyên của đại lượng vật lý này là khoảng cách/thời gian Tốc độ được đo bằng cùng đơn vị đo với vận tốc, nhưng không chứa thông tin

về hướng chuyển động

Trang 33

Trong hoạt động đánh bóng, tốc độ đánh bóng có thể được đánh giá bằng vận tốc bóng sau khi rời vợt Nếu tốc độ và lực đánh bóng tốt thì vận tốc bóng đánh sang sân đối phương sẽ càng lớn

Có thể hiểu khái niệm về vận tốc như sau : Vận tốc là đại lượng vật lý

mô tả cả mức độ nhanh chậm lẫn chiều của chuyển động Vận tốc ở đây được hiểu là vận tốc dài hay vận tốc tuyến tính, phân biệt với vận tốc góc Trong vật lý, vận tốc được biểu diễn bởi vectơ (có thể hiểu là "đoạn thẳng có hướng") Độ dài của vectơ vận tốc cho biết tốc độ nhanh chậm của chuyển động và chiều của vectơ biểu thị chiều của chuyển động Do đó, vận tốc là một đại lượng hữu hướng, khác với tốc độ, một đại lượng vô hướng đơn thuần

mô tả tính nhanh chậm của chuyển động Tốc độ là độ lớn của vectơ vận tốc

Vận tốc bóng sau khi rời vợt không phải là chuyển động đều mà là chuyển động biến đổi Vì vậy, để tính tốc độ bóng, người ta sử dụng vận tốc

tiếp đất ở sân đối phương

Có thể hiểu về vận tốc trung bình như sau : Khi vận tốc của vật thay đổi theo thời gian, người ta có thể sử dụng khái niệm vận tốc trung bình Vận tốc trung bình trong một khoảng thời gian nhất định được định nghĩa là tỉ số giữa

sự thay đổi vị trí trong khoảng thời gian đang xét và khoảng thời gian đó Phương trình toán học như sau:

: vận tốc trung bình

: vị trí cuối

: vị trí đầu

Trang 34

kết quả phép trừ vector còn gọi là độ dịch chuyển

Vận tốc trung bình trên những khoảng thời gian khác nhau có thể mang những giá trị khác nhau

Thêm nữa, cần phân biệt với tốc độ trung bình được định nghĩa là tổng quãng đường đi được chia cho khoảng thời gian được xét

: tốc độ trung bình

s: tổng quãng đường đi được trong khoảng thời gian được xét

t: khoảng thời gian được xét

s1, s2, , sn là những quãng đường thành phần đi được trong các khoảng thời gian thành phần t1, t2, , tn

Theo định nghĩa này, tốc độ trung bình không phải là độ lớn của vận tốc trung bình

Khi nghiên cứu chuyển động biến đổi một cách chi tiết và chính xác, một đại lượng quan trọng hơn vận tốc trung bình được sử dụng Đó là vận tốc tức thời

Vận tốc tức thời mô tả sự nhanh chậm và chiều chuyển động tại một thời điểm nào đó trên đường đi của vật Nếu vận tốc trung bình cho ta một cái nhìn tổng quát về vận tốc của vật trong một khoảng thời gian xác định thì vận tốc tức thời cho ta một cái nhìn cụ thể, tại một thời điểm

Để tính vận tốc tức thời tại một thời điểm ta xét vận tốc trung bình trong khoảng thời gian vô cùng nhỏ tính từ thời điểm đó Khái niệm giới hạn

Phương trình toán học trên cho biết: khi khoảng thời gian được xét tiến

Trang 35

Giới hạn này đồng nghĩa với đạo hàm của vị trí theo thời gian Từ đó, vận tốc tức thời được định nghĩa như sau:

Trong đó: là vectơ vận tốc tức thời

là vectơ vị trí như một hàm số của thời gian

t là thời gian Cũng có thể hiểu rằng: Vận tốc tức thời là đạo hàm của vị trí theo thời gian

Như vậy, để bóng bay được với tốc độ lớn thì có thể xác định bằng 2 cách:

quãng đường dài hơn thì có tốc độ nhanh hơn

khoảng thời gian ngắn hơn thì tốc độ nhanh hơn

Trong thi đấu Quần vợt, do điều kiện sân bãi có giới hạn cụ thể và khoảng cách đánh bóng cũng chỉ quy định trong giới hạn cho phép đó nên việc tăng tốc độ đánh bóng thường được tính theo thời gian bay của bóng ở trên không Khoảng thời gian này kể từ khi bóng rời vợt đối phương cho tới khi kết thúc đường bóng vận động viên đánh trả Tốc độ đánh bóng nhanh hay chậm phụ thuộc chủ yếu vào quãng thời gian này dài hay ngắn và nó bao gồm các công việc cần thiết sau đây: Phán đoán hướng bóng, điểm rơi của bóng, tốc độ và độ nảy của bóng, sử dụng động tác đánh bóng với các yêu cầu được tính toán như: Hướng đánh trả, mức độ dùng sức, độ dài, độ xoáy cần thiết của đường bóng… Như vậy tốc độ đánh bóng sẽ chi phối và làm ảnh hưởng rất nhiều đến các công việc nói trên Để tăng tốc độ đánh bóng, người tập cần thực hiện các yêu cầu sau:

Trang 36

- Tăng sức mạnh khi thực hiện kỹ thuật

phản ứng, tốc độ di chuyển, tốc độ động tác khi đánh bóng

không (không chờ bóng nảy)… [27], [28], [49], [72]

1.3 Đặc điểm quá trình huấn luyện nhiều năm cho VĐV Quần vợt

1.3.1 Khái quát về hệ thống đào tạo vận động viên

Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của cộng đồng từng quốc gia, dân tộc trong giai đoạn xã hội loài người văn minh, hiện đại,

có trình độ khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển, việc bồi dưỡng, nâng cao con người có tiềm năng thể chất là vấn đề cần thiết Thực tế chứng tỏ thể

mặt cấu thành của thể dục thể thao, gắn chặt với nhiệm vụ nâng cao thể chất đặc biệt của con người, tăng cường sức khỏe, từ đó làm cho “người tài” của

xã hội đa dạng và toàn diện hơn [25], [36], [39], [42]

Hệ thống đào tạo VĐV được nhiều tác giả nghiên cứu Khái niệm hệ thống đào tạo VĐV được đưa ra như sau: Hệ thống đào tạo VĐV là hệ thống bao gồm nhiều yếu tố thành phần Mỗi một yếu tố thành phần một mặt thực hiện chức năng chuyên biệt Tất cả hoạt động của các yếu tố thành phần đều nhằm vào mục tiêu và kết quả chung Các thành phần và yếu tố của hệ thống đào tạo VĐV gồm:

Hệ thống thi đấu thể thao

Hệ thống huấn luyện thể thao

Hệ thống các yếu tố nhằm nâng cao hiệu quả thi đấu và huấn luyện thể

Trang 37

Hệ thống huấn luyện thể thao là hệ thống nhiều năm chuẩn bị cho VĐV theo kế hoạch khoa học, trong đó gồm các tác động sư phạm có chủ đích, được tổ chức từ bên ngoài và từ bản thân VĐV, nhằm phát huy hết mức và hiệu quả tiềm năng con người, làm cho VĐV phát triển đúng yêu cầu của môn thể thao, phát triển nhân cách toàn diện [25], [36], [39], [42]

1.3.2 Đặc điểm và sự phân chia giai đoạn của quy trình đào tạo vận động viên nhiều năm

1.3.2.1 Đặc điểm chung của quy trình đào tạo vận động viên

thấy rằng, ở thời điểm hiện nay chưa có sự thống nhất hoàn toàn về các vấn

đề của hệ thống kế hoạch hóa đào tạo VĐV trẻ [25], [36], [39], [42]

Hầu hết các tác giả đều có quan điểm xây dựng quy trình đào tạo VĐV

là thành phần quan trọng không thể thiếu trong công nghệ đào tạo VĐV, bên cạnh hệ thống, thiết bị huấn luyện và nhân lực Đây là quá trình có thứ bậc liên tục, có hệ thống từ đầu vào đến đầu ra của sản phẩm

Từ phân tích các tài liệu và công trình nghiên cứu nêu trên, các tác giả đều có cùng quan điểm về đặc điểm chung của quy trình đào tạo gồm:

Tính tiêu chuẩn: Hệ thống các tiêu chuẩn được đưa vào của quá trình

đào tạo được xác định cả về điều kiện, đối tượng và sản phẩm đào tạo

Tính thời gian: Thời gian cơ bản của quy trình đào tạo từ những năm

cơ bản đầu tiên đến khi xuất hiện tài năng thể thao theo tiêu chuẩn đào tạo chung mất khoảng 6-8 năm Thời gian tích lũy năng lượng cho tài năng đó cũng là chuẩn mực để sử dụng tài năng đó và sau đó là quá trình hồi phục của tài năng

Tính hệ thống: Huấn luyện thể thao phải đảm bảo sự sắp xếp khoa học,

cụ thể giữa nguyên tắc hệ thống liên tục với các giai đoạn của nó

Trang 38

Tính kế hoạch và đặc điểm luôn biến đổi: Phải thực hiện sắp xếp khoa

học biểu hiện bằng các kế hoạch mà cơ sở của nó là việc dự báo và thực hiện

dự báo Sau khi tính toán kỹ tình hình, xu hướng, đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra phải tính kỹ đến các vấn đề khác gồm thời gian, biện pháp,

nhân, hệ thống tập luyện, kiểm tra cùng các mặt khác

Sự phát triển thành tích thể thao tùy thuộc rất nhiều vào hiệu quả của hệ thống tập luyện nhiều năm của VĐV Để thực hiện thành công quy trình tập luyện nhiều năm của VĐV, trong những giai đoạn tập luyện các nhà nghiên cứu lưu ý đến các chỉ số sau: Độ tuổi tối ưu để đạt thành tích cao nhất của môn thể thao chuyên sâu; Định hướng tập luyện chủ yếu trong từng giai đoạn; Trình độ tập luyện về thể lực, kỹ Chiến thuật mà VĐV cần phải đạt được; Tổ hợp các phương tiện, phương pháp và các hình thức tổ chức, đào tạo thể thao

có hiệu quả; Lượng vận động tập luyện và thi đấu được phép sử dụng và

Khi xây dựng quá trình học tập, tập luyện nhiều năm cần định hướng vào những giới hạn tuổi tối ưu mà VĐV có thể đạt thành tích thể thao cao nhất của mình Những định hướng đó là độ tuổi của VĐV được vào chung kết hoặc đạt huy chương trong các giải vô địch toàn quốc, Đại hội thể thao Đông Nam Á, Châu Á và Đại hội Olympic

Các công trình nghiên cứu đều cho thấy những VĐV năng khiếu nếu được huấn luyện, đào tạo theo kế hoạch nhằm đạt thành tích thể thao cao nhất vào độ tuổi tối ưu của họ, thường có thành tích cao và ổn định Nếu chuyên môn hóa sớm, trước tuổi quy định, phải đốt cháy giai đoạn để đạt thành tích thể thao cao nhất trước độ tuổi tối ưu thì tuổi thọ thể thao không giữ được lâu, ngoại trừ trường hợp cá biệt có VĐV xuất sắc có đặc điểm cá thể khác thường [25], [36], [39], [42]

Trang 39

1.3.2.2 Sự phân chia giai đoạn trong quy trình huấn luyện nhiều năm

Sự phân chia giai đoạn trong quy trình huấn luyện nhiều năm chỉ mang tính chất tương đối vì thực chất đặc điểm quan trọng nhất của hệ thống này là tính kế thừa và liên tục Căn cứ khoa học chủ yếu của sự phân định trên là dựa vào sự phát triển sinh học tự nhiên của con người và quy luật hình thành và phát triển thành tích thể thao

Mặc dù có sự thống nhất cao về quan điểm huấn luyện nhiều năm, song các nhà lý luận trong và ngoài nước đã có những cách phân chia giai đoạn huấn luyện khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận vấn đề (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Phân chia giai đoạn theo quy trình đào tạo vận động viên

M.Ia

Nabatnhicova

Giai đoạn huấn luyện ban đầu

chuyên môn hóa

Giai đoạn hoàn thiện

thể thao

Chuyên môn hóa ban đầu

Chuyên môn hóa sâu L.P Mátvêép

Giai đoạn chuẩn bị

sơ bộ

Giai đoạn chuẩn bị cơ

sở

Giai đoạn hoàn thiện sâu

Giai đoạn tuổi thọ thể thao Harre D

Giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ

Giai đoạn huấn luyện vận động viên cấp cao

Giai đoạn

HL ban đầu

Giai đoạn huấn luyện chuyên môn hóa

Nguyễn Toán

Tốn

Giai đoạn đào tạo ban đầu

Giai đoạn hiện thức hóa tối đa

tiền cực điểm

Giai đoạn đạt thành tích thể thao tột đỉnh

Giai đoạn duy trì thành tích thể thao

Giai đoạn duy trì trình độ tập luyện Nguyễn Thế

Truyền

GĐ phát hiện năng khiếu thể thao

Giai đoạn đào tạo tài

Trang 40

Theo Mátvêép L.P [36] có thể chia quá trình huấn luyện thể thao nhiều năm thành 4 giai đoạn lớn: giai đoạn chuẩn bị thể thao sơ bộ, giai đoạn chuyên môn hóa thể thao bước đầu hoặc chuẩn bị cơ sở, giai đoạn hoàn thiện sâu và giai đoạn tuổi thọ thể thao

giai đoạn đào tạo khác nhau: Giai đoạn VĐV trẻ và giai đoạn VĐV cấp cao Mục đích của giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ là tạo nên các tiền đề chung và

Xét trên quan điểm của nhân tài học, Nguyễn Thế Truyền [60] chia hệ thống tập luyện nhiều năm thành ba giai đoạn: Giai đoạn phát triển năng khiếu thể thao, giai đoạn đào tạo tài năng thể thao và giai đoạn bồi dưỡng nhân tài thể dục thể thao

Theo Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn [57] quá trình huấn luyện nhiều năm có thể chia thành 3 giai đoạn lớn: giai đoạn đào tạo ban đầu, giai đoạn

thể thao

Theo quan điểm thể thao trẻ, Nabatnhicova M.Ia [39] đã đề ra chương trình đào tạo VĐV trẻ từ 8 đến 10 năm và chia thành 4 giai đoạn: Giai đoạn đào tạo ban đầu (tối thiểu là 2 năm), giai đoạn bắt đầu chuyên môn hóa (2 năm), Giai đoạn huấn luyện chuyên môn sâu môn thể thao lựa chọn (2-3 năm)

và giai đoạn hoàn thiện thể thao (2-3 năm)

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 14-16

1.4.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi 14-16

Ở lứa tuổi này, vận động viên có sự phát triển nhảy vọt về thể chất và tinh thần Các em không còn là trẻ con nhưng cũng chưa phải là người lớn Các nhà tâm lý gọi đây là thời kỳ quá độ từ trẻ con lên người lớn Trong giai đoạn này, sự phát triển của trẻ diễn ra tương đối phức tạp, đời sống tâm lý có

Ngày đăng: 09/07/2017, 20:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w